Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Các quy định pháp luật hiện hành về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
2.1.1. Chủ thể góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định của luật doanh nghiệp 2014, chủ thể góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ là các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền sở hữu trí tuệ. Chỉ có chủ sở hữu hợp pháp với các quyền này mới có quyền sử dụng các quyền đó như một tài sản đó để góp vốn vào doanh nghiệp.[ Điều 35]
Cụ thể, đối với từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, ta có những chủ sở hữu như sau:
- Một là, quyền tác giả và quyền liên quan:
(1) Đối với quyền tác giả: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của luật này”[Điều 36]. Các quyền tài sản đó là:
- Làm tác phẩm phái sinh;
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
- Sao chép tác phẩm;
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Cần lưu ý rằng chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả có thể là hai chủ thể khác nhau. Từ mối quan hệ giữa chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả có thể phân ra làm các trường hợp:
Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả, trường hợp này xảy ra khi tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm. Lúc này tác giả tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này. [Điều 37]
Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả, trường hợp này xảy ra khi:Các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm. Do đó, họ có chung các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với tác phẩm đó. Và các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm quy định tại trên, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với phần riêng biệt đó[Điều 38].
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, xảy ra khi Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả và tác giả là người thuộc tổ chức giao nhiệm vụ. Hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm. Lúc này tổ chức, cá nhân nói trên tuy không là người sáng tạo ra tác phẩm nhưng là chủ sở hữu của tác phẩm và có các quyền tài sản (quy định tại Điều 20) và quyền nhân thân (quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này) [Điều 39].
Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế:trường hợp này xảy ra khi tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa kế. Và cũng giống như trường hợp trên, tổ chức và cá nhân cũng là chủ sở hữu các quyền tài sản (quy định tại Điều 20)và quyền nhân thân (khoản 3 Điều 19 của Luật này[Điều 40]
Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao: trường hợp này xảy ra khi tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này theo thoả thuận trong hợp đồng. Lúc này, tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu quyền tác giả.Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh cũng được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định[Điều 41]
(2) Đối với quyền liên quan: Chủ sở hữu quyền liên quan được xác định trong các trường hợp:
Tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sản xuất bản ghi âm, ghi hình là chủ sở hữu đối với bản ghi âm, ghi hình.
Tổ chức phát sóng là chủ sở hữu đối với chương trình phát sóng của mình [Điều 44].
Hai là quyền sở hữu công nghiệp: chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp là chủ sở hữu của đối tượng được bảo hộ theo cơ chế cấp văn bằng bảo hộ (ngoại trừ bí mật kinh doanh) bao gồm:
- Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng.
- Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng.
- Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh.
Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Ba là quyền đối với giống cây trồng:Chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng là tổ chức cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng. Đó là tổ chức, cá nhân chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.
Tổ chức, cá nhân được bảo hộ bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc nước có ký kết với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thoả thuận về bảo hộ giống cây trồng; tổ chức, cá nhân nước ngoài có địa chỉ thường trú tại Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam.[ Điều 157]
2.1.2. Chủ thể nhận vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên nhận góp vốn có thể là tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Như phần trước đã trình bày, hành vi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ có hai hệ quả pháp lý. Thứ nhất là góp vốn để thành lập pháp nhân mới. Trường hợp này tức người góp vốn tham gia góp vốn để thành lập doanh nghiệp.Chủ thể nhận góp vốn thành lập doanh nghiệp có thể là một trong các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014, các tổ chức kinh tế được tổ chức theo các loại hình: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân thì vấn đề nhận góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ dường như không được đặt ra bởi theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay loại hình doanh nghiệp này không có tư cách pháp nhân.
Thứ hai, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ không hình thành nên pháp nhân mới, tức góp vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động. Trong trường hợp này, các bên chỉ hợp tác sản xuất, kinh doanh với nhau trên sở sở hợp đồng hợp tác sản xuất, kinh doanh; hoặc trường hợp chủ sở hữu quyền SHTT góp vốn bằng quyền sử dụng quyền SHTT vào doanh nghiệp đang hoạt động.
2.1.3. Đối tượng góp vốn Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Về nguyên tắc, quyền nhân thân do không thể chuyển giao nên nó không thể trở thành đối tượng để được góp vốn. Tuy nhiên quyền nhân thân đối với tài sản sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân gắn liền với tài sản sở hữu trí tuệ và quyền nhân thân không gắn liền với quyền tài sản. Quyền nhân thân không gắn liền với quyền tài sản bao gồm: quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm [4, Điều 19]- đây là những quyền gắn liền với bản thân tác giả nên không được mang đi góp vốn; còn các quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản thì có thể. Hơn nữa, quyền tài sản là nội dung đem lại nhiều lợi ích vật chất to lớn nên quyền tài sản trở thành đối tượng đem đi góp vốn là chủ yếu.
Cụ thể: Quyền tài sản của các đối tượng được tham gia làm tài sản góp vốn bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
2.1.4. Điều kiện góp vốn
Tài sản sở hữu trí tuệ với đặc tính là tài sản vô hình, ta không thể cầm nắm như những tài sản hữu hình khác. Quyền sở hữu trí tuệ mặc dù có nhiều quan niệm định nghĩa khác nhau nhưng dù với cách hiểu nào thì nó vẫn trừu tượng, rất khó để xác định giá trị. Vì những đặc tính đó mà điều kiện để góp vốn đối với hình thức này cũng khác hơn so với các hình thức khác.
Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định cụ thể các điều kiện để được góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động góp vốn bằng hình thức này. Tuy chưa được quy định các điều kiện cụ thể nhưng theo đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ và thực tiễn áp dụng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, ta có thể nhận thấy các điều kiện cần thiết để quyền sở hữu trí tuệ có thể là tài sản được tham gia góp vốn vào doanh nghiệp bao gồm:
- Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Là đối tượng được tham gia góp vốn được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam. Tài sản sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản, ta không thể cầm nắm như các tài sản khác được. Vậy làm như thế nào ta biết được ai có quyền sở hữu đối với các đối tượng của quyền sở hữu ấy? Theo pháp luật hiện hành, văn bằng chứng minh được ai là chủ sở hữu của các đối tượng được mang đi góp vốn là văn bằng bảo hộ. Văn bằng này được cấp khi các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đã đáp ứng đủ các điều kiện để được bảo hộ và trình tự, thủ tục cấp văn bằng bảo hộ được cấp theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành. Việc xuất trình được văn bằng bảo hộ chứng minh quyền sở hữu của mình đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ như một đảm bảo pháp lý cho chủ sở hữu khi có tranh chấp hay khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra.
Tuy nhiên các đối tượng của quyền sở trí tuệ không phải đối tượng nào cũng phải bắt buộc đăng ký cấp văn bằng bảo hộ thì mới được bảo hộ và mới có quyền sở hữu trí tuệ. Có những đối tượng được bảo hộ theo cơ chế tự động, không cần đăng ký cấp văn bằng bảo hộ tức khi nào đối tượng đó đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được bảo hộ thì quyền được bảo hộ đối với đối tượng đó sẽ phát sinh. Trường hợp với các đối tượng này thì làm thế nào để biết được ai có quyền sở hữu đối với các đối tượng đó? Khi đó các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu có thể đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền tác giả quyền liên quan. Việc đăng ký cấp giấy chứng nhận này không phải là thủ tục bắt buộc và khi cá nhân tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận này không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan có thuộc về mình hay không khi có tranh chấp xảy ra trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Văn bản này cũng không phải là căn cứ để phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan.
Đối với những đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mà pháp luật quy định phải được cấp vằn bằng bảo hộ (ví dụ như Nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế…) thì yêu cầu chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đối tượng góp vốn cần được cụ thể hóa dưới dạng thức văn bản, có sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này là quan trọng bởi lẽ: (1) Là căn cứ xác nhận ai là chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ đem góp vốn; (2) Có sự xác nhận của cơ quan nhà nước sẽ thuận lợi và khách quan hơn cho các bên trong việc xác định giá trị của quyền sở hữu trí; (3) Chứng nhận của cơ quan nhà nước là cơ sở quan trọng để các bên có thể thỏa thuận về việc khai thác sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ phải là các đối tượng vẫn còn hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ VN: quyền sở hữu trí tuệ có nguyên tính chất lãnh thổ, tức là các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ ở Việt Nam hoặc có thể được bảo hộ tại nước khác khi các đối tượng này được nước đó công nhận.Thời hạn bảo hộ của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là một căn cứ để các bên thỏa thuận thời hạn góp vốn vào doanh nghiệp. Khi đã hết thời hạn bao hộ theo pháp luật Việt Nam, chủ sở hữu sẽ mất quyền kiểm soát đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được mang đi góp vốn, khi đó bên doanh nghiệp hoặc bất cứ ai cũng có quyền sử dụng bởi khi đó đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó đã trở thành tài sản chung của cộng đồng.
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ không phải là đối tượng đang bị tranh chấp. Nếu như chúng đang bị tranh chấp, thế chấp cầm cố,… thì việc xác định chủ thể, chủ sở hữu xác định khó khăn và hơn nữa các bên tham gia hợp đồng góp vốn cũng không muốn mình gặp rắc rối, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của mình nên yêu cầu xem xét về tình trạng của đối tượng góp vốn là rất cần thiết. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
2.1.5. Định giá tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ
Đối với các doanh nghiệp (DN), tài sản trí tuệ đóng vai trò là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của DN trong tương lai. Việc định giá tài sản trí tuệ giúp các DN khẳng định được vị thế, uy tín trên thị trường, đồng thời DN có thể tiến hành thương mại hóa được các tài sản trí tuệ một cách thuận lợi.
Định giá là loại hoạt động chuyên môn vừa mang tính kinh tế – kỹ thuật, tính pháp lý, vừa mang tính xã hội. Hoạt động định giá hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của thị trường
Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về định giá tài sản góp vốn như sau:
“1.Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.
2.Tài sản khi góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên hoặc cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời đểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.
3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”
- Theo quy định trên, việc định giá tài sản góp vốn có một số vấn đề sau:
Thứ nhất :Tài sản góp vốn cần phải định giá: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Ngoài các tài sản góp vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các loại tài sản khác đều phải được định giá để xác định phần vốn góp của mỗi thành viên. Như vậy nếu vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản thì phải được định giá theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, người có thẩm quyền định giá tài sản góp vốn:Người thực hiện việc định giá tài sản góp vốn là các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Luật doanh nghiệp năm 2005 đã phân chia hai trường hợp định giá tài sản dựa vào thời điểm góp vốn vào công ti của thành viên:
Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí.
Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức chuyên nghiệp định giá.Trường hợp tổ chức chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận.
- Quy định trên về cơ bản là phù hợp nhưng tồn tại hai vấn đề đó là:
Khi góp vốn thành lập doanh nghiệp, nếu như gặp khó khăn trong việc tự định giá, các sáng lập viên hoàn toàn có thể thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện việc định giá nhưng khoản 2 điều 30 luật Doanh nghiệp lại không tính đến khả năng này;
Nếu góp vốn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, “doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá” là quy định phù hợp nhưng đại diện cho doanh nghiệp để thực hiện quyền hạn này là ai thì Luật doanh nghiệp 2005 không có quy định cụ thể.
Vì vậy khi Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời đã khắc phục được những điểm hạn chế trên của luật 2005. Cụ thể:
- (1)Người có thẩm quyền định giá tài sản góp vốn:
Khi thành lập doanh nghiệp có thêm thẩm quyền của một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá nhưng giá trị tài sản góp vốn vẫn phải được chấp thuận của đa số thành viên,cổ đông sáng lập và tổ chức định giá sẽ không chịu trách nhiệm liên đới khi thiệt hại xảy ra vì đã có sự chấp thuận của đa số thành viên,cổ đông sáng lập doanh nghiệp.Cụ thể được thể hiện Khoản 2 Điều 37 Luật doanh nghiệp 2014 : “ Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên ,cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá .Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên,cổ đông sáng lập chấp thuận”.
Ngoài ra nếu Luật doanh nghiệp 2005 quy về trách nhiệm liên đới đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Nhưng Luật Doanh nghiệp 2014 thì quy định rõ các thành viên,cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá và đồng thời chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.Với quy định này thấy được sự rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của thành viên và các cổ đông sáng lập khi có sự định giá góp vốn cao,đó là điểm khắc phục cho Luật doanh nghiệp 2005.
Khoản 3 Điều 30 Luật doanh nghiệp 2005 không nói rõ về ai là người đại diện theo pháp luật. Để khắc phục thiếu sót này, luật doanh nghiệp 2014 đã quy định về tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu,Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh,Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và phải chịu trách nhiệm liên đới với thiệt hại do định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế mà Tổ chức định giá tài sản không phải chịu trách nhiệm liên đới cùng khi có thiệt hại xảy ra như Luật doanh nghiệp 2005. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Qua sự phân tích trên thì định giá tài sản góp vốn ở Luật doanh nghiệp 2014 có những sửa đổi tiến bộ,giúp cho việc thực thi pháp luật và quy định quyền nghĩa vụ cho các doanh nghiệp được rõ ràng.
Có thể thấy rằng Việt Nam hiện nay chưa có một văn bản pháp luật quy định cụ thể phương pháp và tiêu chuẩn định giá tài sản trí tuệ, chưa quy định cơ quan nào có thẩm quyền quản lý và xác định giá trị của quyền SHTT. Điều này đã tạo ra sự tự do cho các bên trong quan hệ góp vốn, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận trong quan hệ dân sự. Tuy nhiên, mặt hạn chế của sự tự do thỏa thuận là tình trạng các bên thống nhất định giá tài sản trí tuệ không đúng với giá trị của nó, điều này gây ảnh hưởng tới quyền lợi của cả bên góp vốn và bên nhập vốn góp.
Do việc chưa có những quy định cụ thể về phương pháp cũng như tiêu chuẩn để định giá tài sản sở hữu trí tuệ, việc định giá TSTT ở nước ta dựa vào các phương pháp chung trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp định giá tài sản sở hữu trí tuệ khác nhau, mỗi phương phương pháp lại có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.Theo ủy ban kinh tế của Liên Hợp Quốc, hiện nay các phương pháp được sử dụng một các rộng rãi như:
Phương pháp dựa vào thu nhập: Đây là phương pháp định giá tài sản sở hữu trí tuệ được sử dụng một cách phổ biến nhất. Có nhiều dạng khác nhau của phương pháp dựa vào thu nhập và đôi khi, các biến thể được gọi là các phương pháp riêng biệt. Về cơ bản, phương pháp này tập trung vào nguồn thu nhập ước tính mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ mong muốn nhận được trong thời gian hiệu lực của quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy, phương pháp này sử dụng khấu hao nguồn tiền mặt để tạo ra giá trị hiện tại cho nguồn thu nhập tương lai. Có thể ước tính được nguồn thu nhập khi nhìn vào số tiền mà doanh nghiệp thu được từ phí lixăng nếu doanh nghiệp li-xăng một quyền sở hữu trí tuệ cụ thể.
Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm của nó. Đó chính là sự phức tạp của nó. Phương pháp này có biến thể chính là giảm trừ phí li-xăng. Trong biến thể này, mức phí sẽ được tính nhằm ước tính nguồn tiền mặt/ lợi nhuận dự kiến hoặc vốn hóa lợi nhuận/ tiền mặt trung bình. Tỷ lệ phí có thể được xác định bằng cách sử dụng các tỷ lệ hiện có trong các loại hợp đồng(li-xăng) tương tự hoặc các dữ liệu hiện có từ bảng phí chuẩn.
Phương pháp dựa vào chi phí: phương pháp này được sử dụng để ước tính các lợi ích trong tương lai của tài sản trí tuệ bằng cách tính số tiền cần để thay thế tài sản sở hữu trí tuệ được đề cập.Phương pháp này có thể được sử dụng với các biến thể:
Chi phí tái sản xuất: Nếu hồ sơ được giữ tốt, các chi phí tái sản xuất có thể được tính bằng cách tổng gộp, theo giá hiện hành, số tiền được sử dụng để phát triển tài sản sở hữu trí tuệ được đề cập (phương pháp này còn được biết đến là xu hướng giá gốc). Nếu hồ sơ không được lưu giữ tốt, chi phí tái sản xuất được tính bằng cách gộp tiền công và chi phí cần thiết để tạo ra tài sản tương tự. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Chi phí thay thế: số tiền cần để có được tài sản trí tuệ có cùng tính năng. Việc khấu trừ chi phí của tài sản trí tuệ có liên quan phải được thực hiện trong khi tính chi phí thay thế/ tái sản xuất trước khi đưa ra giá/ giá trị cuối cùng.
Phương pháp dựa vào chi phí là rất hữu ích khi xem xét các quyền sở hữu trí tuệ có trong các tài sản vô hình như phần mềm máy tính, bản vẽ ký thuật, kiểu dáng sản phẩm,… phương pháp này thường được sử dụng bổ sung cho phương pháp dựa vào thu nhập. Nhược điểm chính của phương pháp này là cơ hội dẫn đến kết quả nhầm lẫn cao. Sở dĩ như vậy là do hầu hết các trường hợp, chi phí liên quan đến việc phát triển một thứ gì đó không nhất thiết liên quan một cách trực tiếp đến giá trị của nó. Điều này đặc biệt đúng trong hoạt động nghiên cứu và triển khai.
Phương pháp dựa vào thị trường: Phương pháp này dựa vào chi phí bên thứ ba sẵn sàng chi ra để mua hoặc thuê tài sản trí tuệ và nó cũng có thể được sử dụng bổ sung cho phương pháp dựa vào thu nhập. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng một số doanh nghiệp coi đây là phương pháp tốt nhất vì đơn giản và khả năng sử dụng thông tin thị trường. Điểm yếu của phương pháp là không cung cấp được thông tin về cách xử lý các đặc điểm riêng biệt của các giao dịch cụ thể.
- Giống như các phương pháp khác, phương pháp này cũng có các biến thể, bao gồm:
Phương pháp so sánh doanh thu: Những người sử dụng biến thể này dựa vào định giá một tài sản trí tuệ tương tự trên thị trường. Nhược điểm của nó là do mỗi giao dịch tài sản trí tuệ là duy nhất nên hầu như không gặp một thỏa thuận tương tự nào để làm căn cứ cho việc định giá mới.
Sử dụng mức phí chuẩn: phương pháp này sử dụng mức phí chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp chuẩn được thiết lập. Một số ngành công nghiệp thiết lập và sử dụng mức phí chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp một cách tự nguyện trong một vài năm.
Các phương pháp tùy chọn dựa vào giá cả: các phương pháp này thường được sử dụng trong việc xác định giá thị trường của quyền chọn lựa mua cổ phiếu của doanh nghiệp. Những người định giá tài sản sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sáng chế sử dụng phương pháp này càng nhiều. Trong khi tồn tại các phương pháp định giá có tính rủi ro trung bình khác, phương pháp này được coi là có ưu thế hơn cả. Giống như các phương pháp khác, phương pháp này cũng có những biến thể như phương pháp định giá tùy chọn của Black-Scholes, Technology Risk- Rewward Units và IPscore được xây dựng bởi cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Đan Mạc
Tuy nhiên, theo hướng dẫn số 4 của Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế, có ba phương pháp để thẩm định giá tài sản vô hình. Cụ thể là phương pháp chi phí, phương pháp thu nhập và phương pháp thị trường. Có nhiều ý kiến khác nhau về phương pháp và tiêu chuẩn định giá TSTT, để áp dụng được một cách hiệu quả, các phương pháp định giá TSTT kể trên phải dựa vào các điều kiện phù hợp ở nước ta hiện nay.
2.1.6. Hợp đồng góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể góp vốn. Hợp đồng này được tạo lập trên cơ sở tự do ý chí của các bên. Hiện nay, tuy chưa có văn bản nào quy định về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền SHTTnhưng loại hợp đồng này cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, về nguyên tắc pháp luật sẽ không ràng buộc hoặc hạn chế sự tự do thỏa thuận của các bên.
Hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng là một loại hợp đồng nên trước hết nó cần phải tuân theo pháp luật Dân sự về các nội dung và yêu cầu chung nhất về hợp đồng, từ điều 385- 429 về hợp đồng theo luật dân sự 2015.Theo Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Xét về bản chất, hợp đồng là sự thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo đó, trong quan hệ hợp đồng, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, quyền và nghĩa vụ là quan hệ đối ứng với nhau. Khi hợp đồng được xác lập, các bên có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện đúng những nội dung như đã cam kết trong hợp đồng.
Theo Điều 398 của BLDS 2015 thì các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp.
- Đối với loại hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ này, nội dung hợp đồng cụ thể:
Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng và đối tượng của hợp đồng: Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bao gồm bên góp vốn là chủ sở hữu của những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và bên nhận vốn góp là những doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện được nhận vốn góp theo quy định của PLVN. Đối tượng của hợp đồng này đặc biệt hơn các loại hợp đồng khác đó là quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản hoặc quyền tài sản của chủ sở hữu đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được phép tham gia góp vốn theo PLVN. Đối tượng của hợp đồng phải được quy định rõ để tránh gây nhầm lẫn và tranh cãi, làm cơ sở pháp lý để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Phạm vi, hình thức và giá trị tài sản vốn góp: Do đặc trưng của tài sản sở hữu trí tuệ, các chủ thể tham gia góp vốn cần lưu ý đến những phạm vi, hạn chế góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ(như thời hạn bảo hộ,..). Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ ở đây là góp vốn bằng quyền nhân thân gắn liền với quyền tài sản và quyền tài sản đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền nhân thân không gắn liền với quyền tài sản của các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ không phải là đối tượng của hợp đồng bởi chúng gắn liền với tác giả, không thể chuyển giao. Thêm nữa, các bên tham gia ký kết hợp đồng còn cần lưu ý đến hình thức góp vốn, tức góp vốn bằng quyền sử dụng đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ hay góp vốn bằng quyền sở hữu đối với các đối tượng quyền sở hữu đối với đối tượng đó để có phương thức chuyển giao phù hợp và cách định giá tài sản gón vốn được chính xác hơn.
Quyền lợi và nghĩa vụ các bên: Hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ là hợp đồng song vụ, quyền lợi của bên này đồng thời là nghĩa vụ của bên kia.
Khi nhắc đến tên của hợp đồng, hợp đồng “góp vốn”, như đã tìm hiểu ở trên, chủ thể góp vốn sẽ chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp để được hưởng phần lợi ích tương ứng với phần vốn đã góp từ công ty. Vậy nên trong phần quyền và lợi ích của các bên này sẽ quy định lợi ích mà chủ thể góp vốn nhận được từ doanh nghiệp đồng thời cũng có nghĩa vụ chuyển quyền, đảm bảo nghĩa vụ góp vốn đầy đủ và cho doanh nghiệp khai thác tài sản vốn góp được thuận lợi. Phía doanh nghiệp cũng sẽ được quy định những lợi ích khai thác từ tài sản góp vốn và đồng thời cũng phải đảm bảo được cho chủ thể góp vốn được hưởng những lợi ích từ doanh nghiệp mà hai bên đã cam kết thỏa thuận. Như vậy những quy định về quyền về nghĩa vụ của các bên này cần phải được quy định thành các điều khoản cụ thể để tránh thiếu sót và gây tranh chấp.
Xử lý vi phạm hợp đồng: Sau khi ký kết, các bên có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện những nội dung hợp đồng mà mình đã thỏa thuận. Khi một bên hoặc cả hai bên đều không thực hiện đúng thì cần phải có biện pháp xử lý để tránh gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên còn lại. Những điều khoản quy định về biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng là những điều khoản mà bất cứ loại hợp đồng nào cũng cần thiết và được đề cao bởi nó là những điều kiện sẽ đảm bảo được hai bên sẽ phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Biện pháp và hình thức xử lý vi phạm hợp đồng sẽ do các bên thỏa thuận với nhau dựa trên các quy định của pháp luật.
2.1.7. Chuyển giao tài sản góp vốn là quyền sở hữu trí tuệ
Sau khi ký kết hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao tài sản góp vốn là bước để hoàn thiện quy trình góp vốn này. Các bên cần phải căn cứ vào hình thức góp vốn(góp vốn bằng quyền sở hữu hay góp vốn bằng quyền sử dụng với đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được đem đi góp vốn) đã thỏa thuận trong hợp đồng để thực hiện việc chuyển giao cho phù hợp.
Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác.Chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng đó thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình. Việc chuyển nhượng hay chuyển quyền sử dụng các đối tượng góp vốn cho doanh nghiệp được thực hiện bằng văn bản. Tuy nhiên có những sự khác biệt và giới hạn đối với từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ nhất, đối với đối tượng được bảo hộ với cơ chế tự động, không phải đăng ký văn bằng bảo hộ như quyền tác giả, quyền liên quan quyền tác giả,quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh thì thủ tục chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng không cần phải thông qua đăng ký chuyển giao mà các bên chỉ cần lập thành văn bản hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng sử dụng. Nhưng nội dung của văn bản này tùy thuộc vào đối tượng được chuyển giao.
Thứ hai, Đối với các đối tượng quyền SHTT được xác lập trên cơ sở đăng ký bảo hộ như quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, quyền đối với giống cây trồng thì thủ tục chuyển giao quyền SHTT sang do doanh nghiệp phải được thực hiện bằng văn bản và văn bản này chỉ có hiệu lực khi được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp, về quyền đối với giống cây trồng theo thủ tục của pháp luật quy định.
Về hiệu lực của hợp đồng chuyển giao đối với đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp kể trên chỉ có hiệu lực khi:
- Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 6, Luật SHTT hiện hành, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
- Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 6, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
- Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên giao bị chấm dứt. Điều 148, LSHTT]
Muốn chuyển giao đối tượng góp vốn thuộc những đối tượng kể trên, các chủ thể phải lập hồ sơ đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:
- Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
- Bản gốc hoặc bản sao hợp lệ hợp đồng;
- Bản gốc văn bằng bảo hộ đối với trường hợp chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp;
- Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, văn bản giải trình lý do không đồng ý của bất kỳ đồng chủ sở hữu nào về việc chuyển giao quyền nếu quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu chung;
- Chứng từ nộp phí, lệ phí;
- Giấy uỷ quyền nếu nộp hồ sơ thông qua đại diện.[ Điều 149]
2.1.8. Những hạn chế trong góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Một, quyền tác giả: Quyền tác giả có hai nội dung là quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong quyền nhân thân có quyền nhân thân không gắn liền với quyền tài sản góp vốn bằng quyền nhân thân ko gắn liền với quyền tài sản. Quyền nhân thân không gắn với quyền tài sản gồm: quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, bảo vệ toàn vẹn của tác phẩm [4, Điều 19]. Đây là những quyền nhân thân gắn với tác giả không thể chuyển giao nên không được quyền sử dụng mang đi góp vốn kinh doanh.
Hai,quyền chuyển nhượng đối tượng sở hữu công nghiệp( khoản 4, điều 139)
Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009: “Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác” [4, Điều 133]. Khi chủ sở hữu góp vốn bằng việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cho tổ chức, cá nhân khác thì cần phải chú ý các điều kiện hạn chế theo quy định của pháp luật cụ thể như sau:
Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chỉ được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được bảo hộ.Phạm vi quyền sở hữu công nghiệp xác định theo phạm vi bảo hộ được ghi nhận trong văn bằng bảo hộ. Trong trường hợp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được cấp chung cho nhiều tổ chức, cá nhân thì quyền sở hữu công nghiệp sẽ thuộc sở hữu chung của các tổ chức, cá nhân đó. Các chủ sở hữu chung phải thực hiện quyền sở hữu theo quy định của pháp luật dân sự. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Quyền đối với chỉ dẫn địa lý không được chuyển nhượng.Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ cụ thể. Theo Luật SHTT, nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý nhưng không trở thành chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý đó, chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước Việt Nam. Mỗi vùng miền địa lý có những đặc điểm khác nhau vì vậy có những sản phẩm là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ chỉ đặc trưng cho một vùng, khu vực địa lý nào đó mà không thể đặc trưng cho vùng khác. Nếu quyền đối với chỉ dẫn địa lý được chuyển nhượng tức chuyển quyền sở hữu thì chủ thể nhận vốn góp có quyền định đoạt đối với đối tượng này, điều đó sẽ có thể gây lên sự nhầm lẫn, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng. Đây chính là lý do chính hạn chế và giải thích tại sao chỉ dẫn địa lý không được chuyển nhượng.
Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Nếu chuyển nhượng tên thương mại cho tổ chức, cá nhân khác mà không chuyển nhượng cơ sở kinh doanh gắn liền với tên thương mại thì sẽ dẫn đến tính trạng gây nhẫm lẫn về sản phẩm, ảnh hưởng tới quyền lợi người tiêu dùng và không đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
Việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa dịch vụ mang nhãn hiệu.Vì nhãn hiệu chỉ được bảo hộ khi là một dấu hiệu (nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc) và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Khi chủ sở hữu tiến hành chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu thì không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đó.
Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng được các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó.
Theo Luật SHTT hiện hành, các tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc nước ngoài có hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đều có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho sản phẩm do mình cung cấp [4, Điều 87]. Thương nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường do người khác sản xuất, với điều kiện người sản xuất đó không sử dụng nhãn hiệu và không phản đối việc đăng ký đó. Như vậy, nhà sản xuất và các nhà phân phối sản phẩm, dịch vụ đều có quyền đăng ký nhãn hiệu. Bên chuyển nhượng nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đăng ký nhãn hiệu nêu trên. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Ba,hạn chế đối với hình thức chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp:
- Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao
Tên thương mại:Sử dụng tên thương mại là dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo. Do đó tên thương mại gắn với uy tín của chủ thể kinh doanh đối với các hàng hóa dịch vụ kinh doanh của mình trên thị trường. Do đó, chủ sở hữu tên thương mại không được quyền chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại cho một chủ thể kinh doanh khác. Bởi lẽ, nếu chuyển nhượng quyền sử dụng tên thương mại cho chủ thể kinh doanh khác sẽ dẫn đến tình trạng gây nhẫm lẫn về chất lượng, uy tín của sản phẩm dịch vụ chủ sở hữu kinh doanh trên thị trường gây thiệt hại cho chủ sở hữu và người tiêu dùng.
Chỉ dẫn địa lý: Nhà nước chỉ trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý. Bên cạnh đó, chỉ dẫn địa lý là chỉ đích danh một địa chỉ, một vùng miền với những đặc trưng nổi bật, riêng biệt dễ nhận biết mang tính tích cực, tính thu hút và có lợi ích đối với vùng, địa danh đó. Với bản chất để phát huy, duy trì đặc tính đặc biệt và giữ cho địa danh của mình điều kiện phát triển và thu lợi tức cộng với các ưu điểm là sự sẵn có, tính tự nhiên (văn hóa, tiếng tăm, địa hình, khí hậu…) không thể nào là đối tượng để đem ra trao đổi giữa địa phương này với địa phương khác. Một khi chỉ dẫn địa lý được chuyển giao và đem ra quảng bá, bản chất của nó sẽ không còn được bảo đảm nguyên vẹn và không có nền tảng để chỉ dẫn địa lý phát huy được vai trò của nó đối với vùng miền sở hữu quyền đó.
Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó.Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể. Mỗi thành viên sở hữu nhãn hiệu tập thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định trong quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đã được các thành viên thống nhất áp dụng. Vì vậy, chỉ có thành viên thuộc chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể mới có quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể của mình cho các thành viên khác. Bởi nếu chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể cho tổ chức, cá nhân không thuộc nhóm chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể cũng như từng thành viên của tổ chức này.
Bên được chuyển giao quyền sử dụng sở hữu công nghiệp không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép.Bên nhận chuyển quyền sử dụng sở hữu công nghiệp không có đầy đủ quyền của một chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp. Họ chỉ có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng. Vì vậy, khi muốn ký kết hợp đồng với bên thứ ba, cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thì phải được sự đồng ý của bên chuyển quyền. Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền kiểm soát đối tượng sở hữu công nghiệp của chủ thể có quyền. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa về việc hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.Bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hoá mang nhãn hiệu và phải đảm bảo chất lượng hàng hoá như hàng hoá bên chuyển giao. Để đảm bảo uy tín và tránh việc nhẫm lẫn chất lượng hàng hóa, dịch vụ thì bên nhận chuyển giao phải có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bao bì về việc hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu. Bên chuyển nhượng được quyền kiểm soát việc đảm bảo chất lượng của hàng hóa sử dụng nhãn hiệu của mình khi chuyển giao quyền sử dụng.
Bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế.
Theo Luật sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội [4, Điều 136]. Khi có các nhu cầu của quốc gia và xã hội mà chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của sở hữu trí tuệ- nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội. Bản chất của nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích xã hội là sự dung hoà quyền lợi giữa tác giả, chủ sở hữu với lợi ích cộng đồng, nguyên tắc này đảm bảo khuyến khích tính sáng tạo của chủ thể sáng tạo và đồng thời cũng đảm bảo được sự tiếp cận với những công nghệ kỹ thuật mới, phát triển đời sống của cộng đồng. Để đảm bảo được điều này, mỗi bên sẽ phải hi sinh một phần quyền lợi của mình để hướng tới lợi ích chung lớn hơn và sâu xa hơn chính là tạo ra một xã hội phát triển bền vững, công bằng và bình đẳng.
2.1.9. Thủ tục góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện qua các bước sau:
- Bước 1. Cam kết hoặc thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Bước 2: Thông qua điều lệ doanh nghiệp trong đó có ghi nhận tỷ lệ vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ.
- Bước 3: Đăng ký kinh doanh
- Bước 4: Cấp giấy chứng nhận vốn góp cho thành viên/cổ đông góp vốn.
- Bước 5:Chủ thể góp vốn chuyển giao vốn góp cho doanh nghiệp
Thủ tục góp vốn vào doanh nghiêp đang hoạt động:
- Bước 1:Chủ thể góp vốn xuất trình giấy tờ chứng mình chủ thể đó có quyền góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ (chủ thể góp vốn là chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ)
- Bước 2: Định giá tài sản vốn góp
- Bước 3: Thông qua điều lệ của doanh nghiệp để xem xét tỷ lệ phần góp vốn tương ứng với phần lợi ích mà chủ thể góp vốn nhận được
- Bước 4: Thỏa thuận hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
- Bước 5: Cấp giấy chứng nhận góp vốn cho chủ thể góp vốn
- Bước 6: Chuyển giao tài sản góp vốn như đã thỏa thuận
2.1.10. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Có nhiều trường hợp dẫn đến hành vi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chấm dứt. Đầu tiên, việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chấm dứt khi hợp đồng góp vốn hết thời hạn hay thời hạn góp vốn do hai bên thỏa thuận đã hết hoặc thời hạn bảo hộ đối với đối tượng được góp vốn đã hết. Khi đó chủ sở hữu sẽ được nhận lại tài sản đã đem đi góp vốn; hoặc đối tượng góp vốn vẫn còn thời hạn bảo hộ, doanh nghiệp vẫn còn muốn sử dụng và chủ sở hữu không sử dụng đến thì doanh nghiệp sẽ vẫn được tiếp tục sử dụng nếu có sự thỏa thuận và đồng ý của chủ sở hữu đối với đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ đó.
Hai là thời hạn bảo hộ đối với đối tượng được mang đi góp vốn đó đã hết, doanh nghiệp vẫn có thể được sử dụng nhưng không được chuyển quyền sở hữu bởi khi đó tài sản sở hữu trí tuệ đã trở thành tài sản chung.
Trong quá trình góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT, bên nhận góp vốn hoặc bên góp vốn bằng quyền SHTT phá sản thì quyền SHTT đã góp vốn được xử lý theo quyết định của Tòa án nhân dân có thẩm quyền về việc tuyên bố phá sản.
Mặc khác, khi cá nhân tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT chết, bị tuyên bố mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì quyền SHTT được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu doanh nghiệp nhận góp vốn bằng quyền SHTT bị giải thể hoặc bên góp vốn bằng quyền SHTT là tổ chức bị giải thể thì quyền SHTT đã góp vốn được xử lý theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của Luật SHTT và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
2.2. Đánh giá pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
2.2.1. Các kết quả đạt được
Việc góp vốn bằng quyền sở hữu công nghiệp lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều lệ đầu tư nước ngoài tại nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ban hành kèm theo Nghị định số 115-CP ngày 18 tháng 4 năm 1977 của Hội đồng
Chính phủ và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nam 1987 ra đời đã có đề cập đến việc góp vốn thành lập xí nghiệp liên doanh của bên Việt Nam và bên nước ngoài bằng một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Nhưng quyền này chỉ được dành cho các các nhà đầu tư nước ngoài còn phía Việt Nam không được ghi nhận. Hiện nay, với luật Doanh nghiệp 2014,luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung 2009,…, cho thấy hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn, xây dựng được khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được phát triển, đáp ứng nhu cầu cao của xã hội nhất là trong nền kinh tế hội nhập như ngày nay.
Bên cạnh đó, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ đã góp phần làm thay đổi cơ bản nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong việc thiết lập quyền bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ. Do một trong những điều kiện để các tổ chức cá nhân có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp là họ phải là chủ sở hữu đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Để có thể thực hiện được quyền năng này các cá nhân, tổ chức sẽ phải quan tâm đến việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật.
Như vậy, các quy phạm pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tuy chưa đạt được nhiều hiệu quả trên thực tế nhưng ta cũng cần ghi nhận các giá trị đã đạt được của chúng.
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ hiện nay chưa hiệu quả. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ đã được đề cập trong nhiều bộ luật hiện nay như Luật dân sự 2015, luật doanh nghiệp 2014, luật đầu tư 2014, luật sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung 2009, tuy nhiên vẫn có nhưng điểm hạn chế làm cho việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ chưa đạt được hiệu quả cao.
Thứ nhất, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu tính đồng bộ. Hiện nay pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh chủ yếu bằng luật doanh nghiệp và luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, trình tự thủ tục tiến hành góp vốn thành lập doanh nghiệp sẽ tuân theo luật doanh nghiệp trong khi đó quy định về các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp, thủ tục chuyển giao tài sản góp vốn hiện nay được tiến hành theo luật sở hữu trí tuệ.
Mâu thuẫn trong việc coi TSTT nào là TSCĐ vô hình để góp vốn thành lập doanh nghiệp: Trong Thông tư 203/2009/TT-BTC tại Khoản 2 Điều 4 quy định tất cả các đối tượng của quyền SHTT đều được coi là TSCĐ vô hình và từ đó là cơ sở để định giá và tính vào giá trị của doanh nghiệp. Điểm b Khoản 1 Điều 6 của Thông tư 203/2009/TT-BTC đã coi “chỉ dẫn địa lý” là một loại TSCĐ vô hình của doanh nghiệp đã mâu thuẫn với quy định tại Khoản 4 Điều 121 của Luật SHTT: “chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước”. Do đó, không thể coi “chỉ dẫn địa lý” là một loại TSCĐ vô hình của doanh nghiệp được.
Theo quy định Khoản 1 Điều 142 Luật sở hữu trí tuệ “quyền sử dụng tên thương mại không được chuyển giao” như vậy không thể góp vốn bằng quyền sử dụng “tên thương mại” được. Nhưng quy định tại Khoản 3 Điều 139 Luật sở hữu trí tuệ “Quyền sở hữu tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại”. Như vậy hai quy định này đã thiếu thống nhất với nhau vì việc chuyển nhượng quyền sở hữu sẽ bao gồm cả chuyển quyền sử dụng và quyền sử dụng tên thương mại sẽ không thể trở thành tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp được. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 139 LSHHT thì chỉ được góp vốn bằng “nhãn hiệu tập thể” trong trường hợp người góp vốn chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu đó cho tổ chức, cá nhân có các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, pháp luật nước ta đang sử dụng thuật ngữ góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng “giá trị quyền sở hữu trí tuệ” chưa thống nhất với các quy định của pháp luật nói chung trong hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp, cũng chưa phản ánh được bản chất của hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ ba, hệ thống pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ chưa mang tính khả thi cao. Bất cập trong việc sử dụng phương pháp định giá tài sản sở hữu trí tuệ: Hiện nay, việc định giá tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp dựa trên cơ sở sự thỏa thuận nhất trí giữa các thành viên, cổ đông sáng lập tuy nhiên chưa dự liệu trường hợp các bên không thể thỏa thuận được. Khoản 2 Điều 4 của Thông tư 203/2009/TT-BTC quy định về việc xác định nguyên giá tài sản cố định vô hình (TSCĐ): “Nguyên giá của tài sản cố định vô hình là quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của luật sở hữu trí tuệ là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra” (Điểm e). “Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có các chương trình phần mềm” (Điểm g).Và Điều 18 Thông tư 202/2011/TT-BTC quy định việc xác định giá trị “thương hiệu” là để góp phần xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp khi định giá doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa: “Giá trị thương hiệu được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc tạo dựng và bảo vệ nhãn hiệu, tên thương mại trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp…”.Như vậy, theo quy định của Thông tư 203/2009/TT-BTC và Thông tư 202/2011/TCBTC thì việc xác định giá của tài sản trí tuệ là theo phương pháp định giá dựa trên chi phí quá khứ. Có thể thấy rằng, theo các quy định của pháp luật thì phương pháp để định giá Tài sản trí tuệ ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là dựa trên phương pháp chi phí quá khứ.Ưu điểm của phương pháp này là làm cho tài sản trí tuệ (TSTT) xuất hiện trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp với tư cách là một tài sản được hạch toán, do đó góp phần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về giá trị kinh tế của TSTT. Tuy nhiên, phương pháp chi phí lại bộc lộ khá nhiều nhược điểm khiến cho phương pháp này không được áp dụng phổ biến trong thực tiễn định giá TSTT. Nhược điểm lớn nhất là chỉ sử dụng một yếu tố (yếu tố chi phí) để xác định giá trị của tài sản trí tuệ và hoàn toàn không xem xét tới lợi ích kinh tế tương lai mà tài sản trí tuệ đó có khả năng mang lại. Do đó, việc định giá TSTT chỉ dựa vào các chi phí trong quá khứ để tạo ra, phát triển TSTT là chưa thực sự đánh giá được tiềm năng kinh tế tương lai của TSTT đó.
Cá nhân, tổ chức chỉ có thể trở thành chủ sở hữu của những đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nếu họ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (đối với những đối tượng sở hữu trí tuệ pháp luật quy định bảo hộ dựa trên cơ chế đăng ký cấp văn bằng). Nhưng vấn đề đặt ra trong trường hợp họ mới nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình thì họ có được góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ đó không? Đây chính là điểm bất cập trên thực tế, gây ra khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ của mình.
Thứ tư,Việt Nam hiện nay, do chưa có văn bản nào quy định riêng về việc góp vốn bằng quyền SHTT nên việc góp vốn thường được lập hợp đồng như các loại hợp đồng góp vốn thông thường. Các bên sẽ xác định giá trị quyền SHTT theo thỏa thuận và theo đó lập hợp đồng góp vốn, trong đó quy định rõ tỷ lệ góp vốn là bao nhiêu và nghĩa vụ, quyền lợi các bên như các loại hợp đồng thương mại thông thường. Khó khăn xảy ra là việc các doanh nghiệp thực hiện góp bằng quyền SHTT, vốn chưa được định giá, song lại ghi trong giấy đăng ký kinh doanh là “góp vốn bằng tiền”. Và chính “hành động góp vốn bằng tiền nhưng lại không có tiền” này sẽ gây rắc rối cho hệ thống kế toán; đồng thời, gây ra rất nhiều vướng mắc nếu doanh nghiệp góp vốn muốn rút vốn, hay doanh nghiệp nhận vốn góp không muốn tiếp tục hợp tác. Do vậy, cần phải quy định cụ thể về hợp đồng góp vốn bằng quyền SHTT để các tổ chức, cá nhân áp dụng thống nhất.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả của hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT trên thực thế. Ta có thể lý giải bằng một số nguyên nhân như sau: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
Nguyên nhân chủ quan: Xuất phát từ nhận thức trong hoạt động bảo hộ quyền SHTT của các chủ thể quyền ở Việt Nam hiện nay. Việc bảo hộ đối với các đối tượng quyền SHTT chưa thực sự được các chủ thể quan tâm. Hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở nước ta bắt đầu triển khai từ những năm 80, nhưng chỉ khi Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự (1995) thì hoạt động này mới bắt đầu tiến triển. Đặc biệt, từ khi Quốc hội ban hành Luật SHTT 2005 và Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO thì hoạt động này trở nên sôi động với tất cả các dạng TSTT được bảo hộ. Thực tế, không phải chủ thể quyền nào cũng có nhận thức một cách đúng về việc bảo hộ quyền SHTT của mình, có nhiều chủ thể, sự hiểu biết về pháp luật sở hữu trí tuệ còn hạn hẹp, họ cho rằng việc đăng ký văn bằng bảo hộ là không cần thiết, rắc rối. Do đó nên có rất nhiều trường hợp, các tổ chức, cá nhân sử dụng các tài sản sở hữu của mình mà không đăng ký( nhất là với các đối tượng yêu cầu phải cấp văn bằng bảo hộ), điều này đã làm hạn chế việc thực hiện quyền góp vốn bằng SHTT của các chủ thể.
- Nguyên nhân khách quan:
Một là, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp tồn tại trong một thời gian dài và còn ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật của Việt Nam. Trong những năm đổi mới vừa qua, với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta tuy đã đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng mới chỉ vượt qua thời kỳ đầu. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật nói chung và chế định góp vốn bằng quyền SHTT nói riêng còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn.
Hai là, pháp luật doanh nghiệp và pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam xuất hiện muộn và gần như mới bắt đầu từ con số không nên pháp luật không tránh khỏi những thiếu sót và lạc hậu. Trước năm 1990, ở nước ta chỉ duy trì và phát triển hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể còn thành phần kinh tế tư nhân bị cấm, tình trạng này được duy trì trong một thời gian dài. Các hoạt động kinh tế không theo cơ chế thị trường mà từ sản xuất đến phân phối sản phẩm đều do Nhà nước điều hành. Từ môi trường kinh doanh đến pháp luật về kinh tế tư nhân đều không tồn tại. Vì thế nên hoạt động góp vốn kinh doanh không diễn ra. Cho tới sau khi cải cách, mở cửa đến năm 1990, Việt Nam mới có Luật Doanh nghiệp, chính thức cho phép thành lập doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam. Chính trong thời gian dài không có sự phát triển của kinh doanh và kinh tế tư nhân đã khiến cho văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, pháp luật về kinh doanh tư nhân gần như bắt đầu từ vạch xuất phát. Vì vậy, pháp luật kinh doanh của Việt Nam không tránh khỏi sự lạc hậu, khiếm khuyết.
Ba là, việc xây dựng pháp luật thiếu một tư duy hệ thống, bao quát. Tính logic và hệ thống là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của những hệ thống pháp luật hướng tới pháp điển hóa. Do thiếu tư duy hệ thống và bao quát nên hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT nói riêng trở nên manh mún, thiếu tính nhất quán và chưa khả thi; và hệ quả là chúng dẫn đến nhiều quy định pháp luật nhanh chóng rơi vào trạng thái không phù hợp, không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đời sống xã hội.
Bốn là, tổ chức bộ máy cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật còn kém hiệu quả. Hoạt động xây dựng pháp luật cần được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khâu như: khảo sát thực tiễn, nghiên cứu lý luận, soạn thảo, thẩm định văn bản, đánh giá tác động của văn bản đến các quan hệ xã hội… nên cần có đội ngũ đông đảo và chuyên nghiệp để đảm nhận công tác này. Trong khi đó, đội ngũ những người làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung, pháp luật góp vốn bằng quyền SHTT nói riêng còn mỏng, được biên chế dàn trải ở nhiều cơ quan khác nhau và thiếu sự phối hợp chặt chẽ. Vì vậy, nhìn chung về hoạt động lập pháp được đánh giá là chưa hiệu quả, kém nhạy bén trong việc kịp thời phát hiện và xử lý những điểm bất hợp lý trong pháp luật hiện hành. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ