Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Đề xuất sửa đổi quy định pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Những bất cập trong quy định của Luật cạnh tranh về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Luật cạnh tranh đã liệt kê rất rõ ràng những hành vi bị coi là lạm dụng vị trí độc quyền và đồng thời ban hành Nghị định chi tiết về chế tài xử phạt với từng hành vi. Việc liệt kê như vậy giúp quá trình xác định hành vi vi phạm được nhanh chóng và tránh những nhầm lẫn do hiểu lầm quy định của Luật; đồng thời cho thấy thái độ kiên quyết của nhà làm luật về những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Bên cạnh đó, sau một thời gian đi vào thực tiễn áp dụng, các quy định về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền đã bộc lộ những bất cập nhất định. Việc chỉ ra những thiếu sót này là vô cùng quan trọng, để tạo tiền đề cho một khung pháp lý chặt chẽ và tiến bộ hơn trong tương lai. Từ đó góp phần hạn chế hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, cũng như góp phần thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư của nhiều thành phần khác nhau cả trong và ngoài nước.

3.1.1 Khái niệm thị trường liên quan chưa rõ ràng

Điều Luật cạnh tranh đã quy định: doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan

Vậy để có thể kết luận một doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hay không thì việc quan trọng đầu tiên là cần xác định doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền hay không. Nói cách khác, cần xác định thị trường liên quan của doanh nghiệp để từ đó đi đến bước tiếp theo là số lượng doanh nghiệp trên thị trường đó. Tuy nhiên, trong các quy định của Luật cạnh tranh và các Nghị định có liên quan thì không hề giải thích rõ thế nào là thị trường liên quan. Thiếu sót này có thể là cơ hội cho những hành vi vi phạm của doanh nghiệp hay có thể dẫn đến sự bao che của cơ quan chức năng trong việc xử lý vi phạm.

Việc xác định thị trường liên quan trong các vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh không đơn giản. Cục Thương mại công bằng của Anh định nghĩa “thị trường là một giai đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm dụng. Bởi lẽ thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định. Do đó, nếu thị trường được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn thiện”. Các quy định về thị trường liên quan trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam khá đơn giản theo

  • Khoản 1, Điều 3 của Luật Cạnh tranh
  • Điều 4, 8 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.

Các quy định này chưa đủ để hiểu về thị trường liên quan và cách thức xác định nó

3.1.2 Chế tài đối với các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

  • Thiếu sót trong hình thức phạt tiền

Căn cứ theo Điều 24 Nghị định 120/2005/NĐ-CP: Doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sẽ bị phạt tiền đến 10% tổng doanh thu trong năm trước đó.

Vấn đề thứ nhất, trong trường hợp doanh nghiệp vi phạm mới thành lập và hoạt động chưa đủ một năm tài chính, tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản này được xác định là tổng doanh thu của doanh nghiệp kể từ ngày thành lập cho đến ngày ra quyết định điều tra chính thức về hành vi vi phạm

Việc quy định mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật trong “hiện tại” dựa trên cơ sở mức doanh thu của đối tượng vi phạm đã thực hiện trong “quá khứ”, có lẽ không phản ảnh đúng mức trách nhiệm pháp lý phải chịu tương xứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm – một trong những nguyên tắc cơ bản của việc xử lý vi phạm hành chính. Nội dung này cần được nghiên cứu, quy định lại cho phù hợp theo hướng dựa trên hậu quả gây ra do hành vi vi phạm phạm luật của đối tượng vi phạm.

Vấn đề thứ hai, về hình thức và mức độ xử lý đối với biện pháp phạt tiền có khung phạt quá rộng và doanh nghiệp bị phạt trên tổng doanh thu chứ không phải là doanh thu trên thị trường liên quan. Mức phạt cũng không căn cứ trên lĩnh vực vi phạm, vai trò của doanh nghiệp và nhóm hành vi cụ thể. Điều này có thể có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận, sự phát triển của doanh nghiệp trong những lĩnh vực độc quyền khác mà không có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Từ đây, các nhà làm luật nên quy định rõ ràng rằng: Doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sẽ bị phạt tiền đến 10% tổng “doanh thu trên thị trường liên quan’’ thay vì “tổng doanh thu’’.

  • Thiếu sót trong hình thức phạt bổ sung

Ngoài việc bị phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 120/2005/CĐ-CP, doanh nghiệp lạm dụng vị trí độc quyền có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

  • Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.
  • Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh liên quan;
  • Buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở;
  • Buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng;
  • Buộc khôi phục lại các điều khoản hợp đồng đã thay đổi mà không có lý do chính đáng;
  • Buộc khôi phục lại hợp đồng đã huỷ bỏ mà không có lý do chính đáng.

Trong trường hợp doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, với quy định như trên sẽ nảy sinh vấn đề sau

Pháp luật quy định cụ thể những trường hợp được bán dưới giá thành mà không bị coi là hành vi bán hàng hóa dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, đó là: (1) Hạ giá bán hàng hóa tươi sống; (2) Hạ giá bán hàng hoá tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; (3) Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ; (4) Hạ giá bán hàng hoá trong chương trình khuyến mại theo quy định của pháp luật; (5) Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh; (6) Các biện pháp thực hiện chính sách bình ổn giá của nhà nước theo quy định hiện hành của pháp luật về giá.

Các trường hợp hạ giá bán quy định nêu trên phải được niêm yết công khai, rõ ràng tại cửa hàng, nơi giao dịch về mức giá cũ, mức giá mới, thời gian hạ giá. Còn các nếu không thuộc các trường hợp nêu trên coi như bị xác định bán hạ giá là hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Theo cách hiểu thông thường, bán hạ dưới giá thành là hành vi của những doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, nhằm chịu lỗ trong một thời gian nhất định, đến khi các đối thủ cạnh tranh thuộc các doanh nghiệp nhỏ không chịu nổi áp lực về giá thì họ bắt buộc phải lựa chọn: Thứ nhất, bán đúng giá để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp, nghĩa là bán với giá cao hơn đối thủ cạnh tranh đưa ra, điều này dẫn đến thị trường sẽ không chấp nhận, hàng hóa sẽ bị lưu kho; thứ hai, bán hạ giá thấp hơn giá thành sẽ dẫn đến doanh nghiệp thua lỗ, và đến một thời điểm nhất định nào đó sẽ không đảm bảo cho việc tồn tại hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Đến thời điểm đó, đối thủ cạnh tranh sẽ bù đắp các khoản lỗ bằng cách: Bán đúng với giá doanh nghiệp xây dựng hoặc tăng thêm do sự khan hiếm của hàng hóa nên thị trường phải chấp nhận; doanh số sẽ tăng thêm do không còn đối thủ sản xuất loại hàng hóa tương tự.

Như vậy, nếu xét tại thời điểm cạnh tranh không lành mạnh thì doanh nghiệp có hành vi vi phạm sẽ không có lãi, như đã phân tích nêu trên. Tuy vậy, để xử lý hành vi vi phạm này, pháp luật lại quy định ngoài việc bị xử phạt tiền, còn bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm. Thiết nghĩ, đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực này khó có thể che giấu; do vậy sẽ bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện hoặc các doanh nghiệp có liên quan sẽ khiếu nại ngay từ thời điểm bắt đầu đối tượng có hành vi vi phạm

Các nhà làm luật nên xem xét bỏ quy định “tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm” vì không cần thiết

3.1.3 Các quy định về cơ quan quản lý Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Theo pháp luật cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan thuộc Bộ Công thương có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh.

Việc tổ chức hệ thống quản lý – tài phán cạnh tranh với hai cơ quan riêng biệt của nước ta đã đảm bảo được sự phân cấp, phân quyền cũng như có tính cưỡng chế thi hành trong xử lý các vụ việc cạnh tranh. Bên cạnh đó, vẫn còn một số điểm chưa thật sự hợp lý về cơ quan quản lý cạnh tranh như sau:

Thứ nhất, chức năng và nhiệm vụ của hai cơ quan chưa phù hợp. Trong khi Cục Quản lý cạnh tranh thực hiện nhiều nhiệm vụ như điều tra các vụ việc cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng… thì vai trò của Hội đồng cạnh tranh khá mờ nhạt. Bộ máy quản lý cạnh tranh của Việt Nam là mô hình duy nhất tồn tại trên thế giới.

Thứ hai, các cơ quan hành chính như Chính phủ, các bộ ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thanh tra chuyên trách cũng được coi là bộ máy thực thi cạnh tranh theo quy định của luật chuyên ngành. Nhưng lại hạn chế về nguồn nhân lực: cán bộ hành chính chỉ am hiểu về một chuyên ngành cụ thể; số lượng chuyên viên hiểu biết và có kinh nghiệm chuyên sâu về cạnh tranh chưa nhiều.

Thứ ba, hai hệ thống cơ chế giải quyết tranh chấp cạnh tranh hiện nay là cơ quan cạnh tranh và cơ quan hành chính. Với khung quy định về chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của các bộ máy này thì về cơ bản địa vị pháp lý, thẩm quyền giải quyết giữa chúng là ngang nhau mà không có sự phân định thẩm quyền. Điều đó sẽ dẫn đến mâu thuẫn, chống chéo và ỉ lại của các cơ quan xét xử.

Theo Báo cáo đánh giá năm thực thi luật cạnh tranh của Bộ Công thương, bộ máy giải quyết cạnh tranh ở Việt Nam vẫn còn lúng túng trong xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Sự thiếu kinh nghiệm của cơ quan thực thi, thiếu kiến thức, ý thức của giới kinh doanh là một trong những nguyên nhân làm cho bộ máy thực thi chưa làm tròn nhiệm vụ của mình

3.2. Phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

3.2.1 Quy định pháp luật phù hợp với quan điểm, đường lối và chủ trương phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước

 Nền kinh tế thị trường đều đặt ra vấn đề phải điều tiết cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Những yếu tố này có liên quan chặt chẽ đến việc hình thành thể chế kinh tế, việc tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước thông qua việc tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác phát triển, đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Nước ta cũng chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, nhưng có sự đặc thù là phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, bên cạnh việc tuân theo các nguyên tắc và quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, khi nghiên cứu xây dựng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền chúng ta cũng phải dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước.

 Để thực hiện chủ trương, quan điểm và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đề ra,luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí độc quyền phải là sự kết hợp hài hòa giữa chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nhưng vẫn đảm bảo thúc đẩy các doanh nghiệp sáng tạo, cạnh tranh nhau một cách lành mạnh (vì bản chất độc quyền không hề xấu). Khi có được sự thống nhất giữa hai yếu tố đó,luật cạnh tranh sẽ phát huy chức năng đúng như nó cần có đó là:

  • Tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế
  • Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh
  • Ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí độc quyền để lũng đoạn thị trường
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của doanh nghiệp và của người tiêu dùng…

Đặc biệt, pháp luật cạnh tranh phải là hành lang pháp lý chung, tạo tiền đề cho pháp luật chuyên ngành thực hiện kiểm soát cạnh tranh nói chung và kiểm soát lạm dụng sức mạnh thị trường nói riêng.

3.2.2 Quy định pháp luật phải phù hợp với nguyên tắc kinh doanh; với phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức kinh doanh; và quy luật vận động khách quan của nền kinh tế thị trường Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một trong những công cụ để nhà nước thực hiện quản lý cạnh tranh và điều tiết nền kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng và ban hành quy phạm này trong Luật cạnh tranh phải phù hợp với nguyên tắc và quy luật vận động khách quan của nền kinh tế thị trường. Trước hết các quy phạm phải tuân thủ nguyên tắc hàng đầu và cơ bản của nền kinh tế thị trường là nguyên tắc tự do kinh doanh. Nguyên tắc này được hiểu là mọi chủ thể đều có quyền đầu tư, sản xuất kinh doanh theo những hình thức luật định; có quyền tự do ấn đính giá cả theo quy luật cung cầu và sự chỉ dẫn của nhà nước về đăng ký, thương lượng và niêm yết giá; có quyền cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong môi trường kinh doanh được pháp luật quy định và bảo hộ. Nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần này trong quan hệ sản xuất, kinh doanh không bị phân biệt về quy mô, hình thức, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh; đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, bình đẳng trước pháp luật. Vì vậy, khi xây dựng quy phạm kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cần phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, khi xây dựng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cũng cần phải dựa trên nền tảng của các tập quán, thông lệ cạnh tranh lành mạnh và những chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh

3.2.3 Luật cạnh tranh là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các chủ thể kinh doanh và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng 

Mặc dù quyền tự do kinh doanh cũng như sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đã được khẳng định trong Hiến Pháp và nhiều văn bản pháp luật; song trên thực tế vẫn còn tồn tại những nội dung mang tính phân biệt đối xử, không tạo ra cơ hội cạnh tranh thực sự cho các chủ thể kinh doanh của mọi thành phần kinh tế. Bởi vậy, để khắc phục tình trạng cạnh tranh không có tổ chức như hiện nay, cần thiết phải có pháp luật để chống lại các hoạt động hạn chế cạnh tranh, đảm bảo sự công bằng, tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả các chủ thể kinh doanh có tiềm năng tham gia quá trình cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh thực sự trở thành động lực phát triển nền kinh tế. Bên cạnh việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, sự kết hợp giữa Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của luật cạnh tranh sẽ góp phần hoàn thiện hơn công cụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nhà nước. Đồng thời cũng là công cụ để các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng thực hiện tốt trách nhiệm của mình cũng như tích cực tham gia vào quá trình kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, gây thiệt hại cho người tiêu dùng Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

3.2.4 Luật cạnh tranh phải đảm bảo sự độc lập của bộ máy thực thi và sự tương tác với các lĩnh vực pháp luật khác 

  • Đảm bảo sự độc lập của bộ máy thực thi

Sự công bằng trong việc xử lý các vụ việc chỉ có thể có được nếu có sự độc lập của cơ quan “cầm cân’’ – chủ thể có thẩm quyền điều tra và giải quyết các khiếu kiện. “Độc lập không chỉ có nghĩa là phải đứng độc lập, riêng rẽ về mặt tổ chức, không trực thuộc cơ quan chủ quản nào mà phải là độc lập về hoạt động cũng như về nhiệm vụ, quyền hạn”. Nếu xem xét cơ quan thực thi cạnh tranh Việt Nam hiện nay, có thể nói, vai trò còn khá mờ nhạt và chưa đảm bảo tính công bằng. Nguyên nhân của thực trạng này là do việc tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh còn chịu nhiều tác động và chi phối của cơ quan quản lý hành chính là Bộ Công thương.

Ở nhiều quốc gia, cơ quan quản lý cạnh tranh có thể thuộc Bộ, Chính phủ hoặc một số Bộ cùng phối hợp quản lý. Nhưng cho dù được tổ chức theo mô hình nào đi nữa thì nguyên tắc quan trọng hàng đầu là phải đảm bảo cơ quan này không chịu bất kỳ một sự can thiệp hay chi phối nào từ các cơ quan khác để không làm ảnh hưởng đến sự công bằng trong xử lý vụ việc. Ở nước ta cũng nên xây dựng tính độc lập của bộ máy thực thi cạnh tranh theo quan niệm chung của các nước trên thế giới; và cần thiết phải ghi nhận trong pháp luật cạnh tranh để đảm bảo thuộc tính này như là nguyên tắc bắt buộc trong điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh.

  • Đảm bảo sự tương tác với các lĩnh vực pháp luật khác

Các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trên thị trường được đánh giá là có tính sáng tạo bất tận và thường được các chủ thể này che đậy bằng các thủ thuật rất tinh vi, phức tạp. Do đó, để nhận diện hành vi và phát hiện ra sự vi phạm, pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên ngành như pháp luật kiểm toán, pháp luật thương mại, pháp luật thuế phải có sự tương tác lẫn nhau. Hay nói cách khác, để hoàn thiện cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh, chúng ta cần tăng cường các lĩnh vực pháp luật có liên quan như: tiếp tục triển khai thi hành Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và tăng cường hoàn thiện các quy định pháp luật về gia nhập và rút lui khỏi thị trường, khuyến khích các chủ thể kinh doanh, các nhà đầu tư tham gia và hoạt động trên thị trường lành mạnh; hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, củng cố cơ chế giám sát của hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng đối với hoạt động của các chủ thể kinh doanh; tăng cường hệ thống pháp luật về kiểm soát giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền; tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về thuế, tài chính; giải quyết hài hòa lợi ích giữa các doanh nghiệp; không phân biệt doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

3.3 Đề xuất giải pháp Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Từ những bất cập đã được chỉ ra và phân tích ở trên, việc thay đổi là hoàn toàn cần thiết để đảm nâng cao tính thực thi của Luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp

3.3.1 Hoàn thiện các khái niệm

 Cần đưa ra một khái niệm cụ thể về thị trường liên quan, nói cách khác các nhà làm luật nên chỉ ra quy định rõ ràng về cách để xác định thị trường liên quan. Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất, cơ sở để các cơ quan điều tra đi đến những bước tiếp theo khi xác định một doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hay không

 Bên cạnh đó, việc liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nên được sửa đổi theo hướng bổ sung khái niệm và xây dựng các tiêu chí để xác định hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Ngoài ra,với các nhóm gây thiệt hại cho khách hàng, không nên quy định hậu quả dấu hiệu bắt buộc của hành vi; cần phải bổ sung thêm hành vi không tăng giá nhưng áp đặt một mức giá cao hơn nhiều so với giá thành toàn bộ của sản phẩm để bóc lột khách hàng trong nhóm hành vi áp đặt giá bán bất hợp lý nhằm bóc lột khách hàng. Cuối cùng, Nhà nước có thể xem xét đặt ra một số trường hợp miễn trừ, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh cũng như thể hiện sự giáo dục và khoan hồng của pháp luật.

3.3.2 Hoàn thiện bộ máy cạnh tranh

Về tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh

  • Thứ nhất, nên xây dựng mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh ngang bộ.
  • Thứ hai, pháp luật cạnh tranh cần phải đảm bảo sự độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh.
  • Thứ ba, chúng ta cần thiết phải việc hợp nhất hai cơ quan quản lý cạnh tranh thành một cơ quan duy nhất.
  • Thứ tư, chúng tôi kiến nghị nên xây dựng một bộ phận nằm trong cơ quan quản lý cạnh tranh nhưng độc lập trong rà soát, giải quyết các khiếu kiện liên quan đến quyết định của cơ quan này
  • Thứ năm, cần quy định rõ tiêu chí xác định cũng như thời hạn bổ nhiệm các chức danh này để có thể bảo đảm tính độc lập trong công tác điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh.

Về chức năng và quyền hạn Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Thứ nhất, Cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ chỉ tập trung điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các nhiệm vụ chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ sẽ thuộc thẩm quyền của Bộ Công thương.

Thứ hai, nên kết hợp đặc điểm “hành chính” và “tài phán” trong điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh.

Thứ ba, nên mở rộng quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc đánh giá, mục đích và khả năng hạn chế cạnh trạnh tranh của các hành vi lạm dụng không được pháp luật liệt kê. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần bổ sung quyền can thiệp vào cấu trúc của thị trường chứ không chỉ là vào các hành vi vi phạm.

Thứ tư, nên củng cố thẩm quyền điều tra của Cơ quan quản lý cạnh tranh.

Về nâng cao năng lực nhân sự của cơ quan quản lý cạnh tranh: Để bảo đảm tính chuyên nghiệp và có hiệu quả của đội ngũ chuyên viên, cơ quan quản lý cạnh tranh cần tuyển dụng những chuyên viên có trình độ hiểu biết sâu về cạnh tranh; xây dựng tài liệu hướng dẫn chuẩn để trang bị kiến thức cho chuyên viên điều tra và xử lý cạnh tranh; tổ chức các khóa đào tạo về kiến thức cạnh tranh trong và ngoài nước cho cán bộ chuyên viên; mô phỏng các tình huống cạnh tranh giả định hoặc sử dụng các vụ việc cụ thể đã và đang được xử lý trên thế giới để chuyên viên nghiên cứu và thực hành…

3.3.3 Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Thứ nhất, nên bổ sung chế tài hình sự. Thực tế cho thấy, có những trường hợp doanh nghiệp độc quyền Nhà nước kinh doanh xăng dầu và thu lãi rất cao do việc điều chỉnh giá bán lẽ xăng dầu. Mặc dù giá dầu thế giới giảm mạnh, tuy nhiên giá dầu trong nước lại giảm không đáng kể. Ở đây, doanh nghiệp đã lợi dụng vị trí độc quyền của mình để đưa ra một mức giá bán lẻ bất hợp lý; tuy biết có thể sẽ phải nộp phải 10% doanh thu nhưng doanh nghiệp vẫn có hành vi vi phạm vì con số 10% không đáng kể so với số lợi nhuận thu được từ hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Do đó, cần có những chế tài hình sự đủ mạnh để nâng cao ý thức của doanh nghiệp có vị trí độc quyền.

Thứ hai, bổ sung trường hợp cá nhân phải chịu trách nhiệm trước những hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí độc quyền. Nhận thức pháp luật của người đứng đầu doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì vậy cần có những chế tài cụ thể nhắm đến “đầu tàu’’ để nâng cao trách nhiệm làm việc và ý thức nghiêm túc chấp hành pháp luật của những người đứng đầu doanh nghiệp có vị trí độc quyền Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Thứ ba, nên đẩy mạnh hoạt động vận động chính sách cạnh tranh trong các cơ quan nhà nước, nhất là đối với các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh.

Thứ tư, để răn đe các chủ thể không được tái phạm, pháp luật cạnh tranh nên áp dụng mức tiền phạt lũy tiến đối với mỗi lần vi phạm của doanh nghiệp.

3.3.4 Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật cạnh tranh về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 

Thứ nhất, đảm bảo yếu tố thông tin giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cạnh tranh.

Thứ hai, trong cơ chế thực thi pháp luật cạnh tranh cần làm rõ vai trò của nhà nước và giảm ảnh hưởng của nhà nước đến sự hình thành độc quyền bằng con đường hành chính.

Thứ ba, nên đẩy mạnh hoạt động vận động chính sách cạnh tranh trong các cơ quan nhà nước, nhất là đối với các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh.

Thứ tư, cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh phải chủ động giám sát và nhanh chóng phát hiện các hành vi vi phạm.

Thứ năm, khuyến khích cơ quan thực thi áp dụng thủ tục khám xét để tìm kiếm những thông tin, bằng chứng mà các điều tra viên cho rằng doanh nghiệp không cung cấp cho cơ quan điều tra.

Thứ sáu, cơ quan thực thi cạnh tranh nên phát hành những thông cáo báo chí nhằm phổ biến những thông tin liên quan đến việc thụ lý, điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh và tăng cường công tác nghiên cứu và đạo tạo về cạnh tranh trên mọi tầng lớp xã hội.

KẾT LUẬN Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Cạnh tranh được chấp nhận như là một hiện tượng tự nhiên của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh phát triển theo lộ trình và trải qua các hình thái thị trường khác nhau; và biểu hiện cuối cùng của quá trình cạnh tranh là xuất hiện tình trạng độc quyền trong nền kinh tế. Không thể phủ nhận những độc quyền cũng có mặt tích cực là góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Song xét ở nhiều phương diện khác, nó có thể đem lại những hậu quả không mong muốn đến thị trường và xã hội nếu doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí này. Thực tế, sau khi có được vị trí độc quyền, các doanh nghiệp có xu hướng thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh đề duy trì và củng cố địa vị của mình hoặc tăng lợi nhuân. Khi đó, hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sẽ trở thành lực cản, gây trở ngại cho môi trường cạnh tranh lành mạnh và sự tăng trưởng của thị trường. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, đặc biệt khi Việt Nam đã và tiếp tục gia nhập nhiều hiệp hội thương mại quốc tế, sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ nóng hơn bao giờ hết. Để đảm bảo thu hút đầu tư từ những doanh nghiệp trong nước và cả những doanh nghiệp có tiềm lực lớn ở nước ngoài, trước tiên nền kinh tế Việt Nam cần có một sân chơi cạnh tranh công bằng. Để có được một thị trường kinh tế hấp dẫn, hệ thống pháp luật cần có những quy định hợp lý và đúng đắn, tạo cơ sở duy trì cũng như vận hành một nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh, văn minh.

Sau thời gian nghiêm túc tìm hiểu tài liệu và đi sâu phân tích thực trạng hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, sinh viên đã khẳng định được những vấn đề quan trọng liên quan đến quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp. Với kết cấu gồm 3 chương nội dung, sinh viên đã nêu rõ bản chất của độc quyền, từ đó phân tích kỹ lưỡng các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và cuối cùng đề xuất nhứng giải pháp về quy định của Luật cạnh tranh trong lĩnh vực kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

One thought on “Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464