Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền theo quy định của luật cạnh tranh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 

2.1.1 Quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam

Điều 12 Luật cạnh tranh 2004 xác định doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Tại Điều 13 và Điều 14 Luật cạnh tranh 2004, các nhà lập pháp đã liệt kê và minh thị rõ tám hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm.

Mục 4 Nghị Định 116/ 2005 NĐ-CP – Quy định chi tiết thi hành một số quy định của Luật cạnh tranh, đã giải thích rõ các khái niệm quan trọng trong việc xác định hành vi của doanh nghiệp có vị trí độc quyền có phải là hành vi lạm dụng hay không và giải thích chi tiết về những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Nghị định số 120/2005/NĐ-CP – Quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh có quy định rõ về chế tài xử phạt với những hình vi lạm dụng vị trí độc quyền

Nghị định số 05/2006/NĐ-CPNghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của hai cơ quan quản lý cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ giám sát và xử lý các trường hợp lạm dụng vị trí độc quyền là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng quản lý cạnh tranh.

2.1.2 Đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của pháp luật xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Đặc điểm của pháp luật Cạnh tranh kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nhằm mục đích tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, cân bằng lợi ích của các chủ thể trên thị trường và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội quốc gia.

Thứ hai, pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền chỉ can thiệp vào những nơi, những quan hệ, những hành vi không đảm bảo sự cạnh tranh mang tính hiệu quả.

Thứ ba, trách nhiệm kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trước hết sẽ thuộc về các cơ quan có thẩm quyền quản lý cạnh tranh mà không cần thiết phải có sự tố cáo hay khiếu kiện từ phía đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng của doanh nghiệp bị kiểm soát hay từ phía người dân.

Nguyên tắc của pháp luật Cạnh tranh xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 120/2005/ NĐ-CP Nguyên tắc xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh, ta có:

  1. Việc xử lý hành vi vi phạm quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
  2. Mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện kịp thời. Việc xử lý hành vi vi phạm phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
  3. Việc xử lý hành vi vi phạm phải tuân theo các trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh được quy định tại chương III của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh và các quy định tại Nghị định này;
  4. Việc xử lý hành vi vi phạm phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng thẩm quyền do pháp luật quy định;
  5. Một hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh chỉ bị xử lý một lần; một doanh nghiệp thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì bị xử lý đối với từng hành vi vi phạm;
  6. Không tiến hành xử lý hành vi vi phạm theo quy định của Nghị định này đối với những hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Vai trò của quy định pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền:

Thứ nhất, góp phần duy trì tương quan thị trường trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Kiếm soát doanh nghiệp có vị trí độc quyền nhằm tránh hành vi lạm dụng. Đồng thời, điều hòa lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường với lợi ích chung của toàn xã hội.

Thứ hai, khuyến khích doanh nghiệp có vị trí độc quyền bằng con đường cạnh tranh lành mạnh. Thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hậu quả tiêu cực do hành vi lạm dụng vị trí độc quyền gây ra. Góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường.

Thứ ba, thúc đẩy sự phát triển của nguyên tắc tự do kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo có sự quản lý và điều tiết của nhà nước.

Thứ tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh lành mạnh nhưng yếu thế của các doanh nghiệp có vị trí độc quyền. Tăng cường sức mạnh tự bảo vệ của người tiêu dùng trước những hành vi lạm dụng của doanh nghiệp độc quyền.

Thứ năm, giúp Việt Nam nhanh chóng mở rộng thị trường và đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và bảo vệ nền kinh tế thị trường quốc gia.

2.2 Phân tích chi tiết quy định pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

 Theo Điều 12 Luật cạnh tranh 2004, Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.

 Đồng thời, căn cứ Điều 13 và Điều 14 Luật cạnh tranh 2004, các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm bao gồm:

  1. Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;
  2. Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
  3. Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
  4. Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;
  5. Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
  6. Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
  7. Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;
  8. Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.

Nhận xét, Luật cạnh tranh đã liệt kê rõ ràng và chi tiết những hành vi bị coi là lạm dụng vị trí độc quyền. Căn cứ vào tính chất và mục đích của chủ thể thực hiện, có thể chia các hành vi lạm dụng thành hai nhóm hành vi sau đây

2.2.1 Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột

Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột là những hành vi của doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan đã áp đặt những điều kiện thương mại bất lợi cho khách hàng nhằm thu lợi nhuận độc quyền. Nhóm hành vi này có các dấu hiệu cơ bản sau: Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Thứ nhất, đối tượng mà nhóm hành vi này hướng đến là khách hàng của doanh nghiệp làm phát sinh trong quan hệ giữa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có vị trí độc quyền với khách hàng. Ở đó, hiện tượng trăm người bán, vạn người mua sẽ là cơ hội cho người bán tận dụng để đưa ra những điều kiện bất lợi cho người mua trong giao dịch.

Thứ hai, hành vi lạm dụng đem lại lợi ích cho doanh nghiệp không từ hiệu quả kinh doanh mà từ những điều kiện thương mại bất lợi mà khách hàng phải gánh chịu. Theo Luật Cạnh tranh, nhóm hành vi này bao gồm các hành vi sau đây:

  1. Áp đặt giá mua giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
  2. Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
  3. Phân biệt đối xử trong các giao dịch như nhau;
  4. Áp đặt các điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc các doanh nghiệp khác phải chấp nhận những nghĩa vụ không liên quan đến hợp đồng.

2.2.1.1 Áp đặt giá mua giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 

Hành vi áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại gây thiệt hại cho khách hàng được coi là điển hình cho nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột. Với hành vi này, khách hàng đã phải chịu thiệt hại bởi giá mà họ phải mua quá cao so với giá trị thực tế của sản phẩm; hoặc phải bán với giá thấp hơn giá thành của sản phẩm. Giá mua, bán sản phẩm trên thị trường không được hình thành từ cạnh tranh mà do các doanh nghiệp độc quyền ấn định. Mức chênh lệch giữa giá được ấn định với giá cạnh tranh (giả định) là khoản lợi ích độc quyền mà doanh nghiệp có vị trí độc quyền có được.

Do đó, lợi nhuận mà việc ấn định giá bất hợp lý đem lại cho doanh nghiệp không phải do khả năng kinh doanh hay do khả năng đàm phán, trả giá mang lại, mà do kết quả của sự lạm dụng vị trí độc quyền, lạm dụng tình trạng không có khả năng lựa chọn khác của khách hàng để buộc họ phải chấp nhận mức giá mà doanh nghiệp có sức mạnh thị trường áp đặt.

Theo Luật Cạnh tranh và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, nhóm hành vi này có ba loại vi phạm cụ thể sau đây:

LOẠI THỨ NHẤT: Hành vi áp đặt giá mua hàng hoá dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, là “việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường liên quan khi mua hàng hoá, dịch vụ đã áp đặt giá mua được đặt ra thấp hơn giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ trong điều kiện chất lượng hàng hóa không suy giảm và thị trường không có biến động về giá bán buôn của hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ”. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Trong trường hợp này, doanh nghiệp thực hiện hành vi đang đóng vai trò là người mua hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Với quy định trên, để xác định hành vi, cần chứng minh hai dấu hiệu sau đây:

  • Thứ nhất, giá của hàng hóa, dịch vụ đã bị doanh nghiệp thực hiện hành vi áp đặt thấp hơn giá thành sản xuất. Để xác định dấu hiệu này, cơ quan có thẩm quyền so sánh giá mua bán của sản phẩm với giá thành của chúng. Dấu hiệu này được thỏa mãn nếu kết quả so sánh cho thấy giá mua bán thấp hơn giá thành của hàng hóa, dịch vụ và ngược lại.
  • Thứ hai, việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thành là bất hợp lý. Việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ thấp hơn giá thành là bất hợp lý nếu thỏa mãn hai điều kiện:
  • Chất lượng hàng hoá, dịch vụ không kém hơn trước đó;
  • Không có khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa hoặc biến động bất thường làm giá bán buôn hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan giảm tới mức dưới giá thành sản xuất trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp so với trước đó. Bằng việc áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý, doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã buộc khách hàng phải chấp nhận lỗ để tiêu thụ được sản phẩm mà không có lý do chính đáng. Doanh nghiệp đã sử dụng vị trí độc quyền làm lợi thế trước khách hàng để gây bất lợi cho họ nhằm thu lợi ích độc quyền

LOẠI THỨ HAI, Hành vi áp đặt giá bán hàng hoá, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng nếu cầu về hàng hoá, dịch vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp và hành vi đó xảy ra trong hai trường hợp sau đây:

  • Giá bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp được đặt ra tăng một lần vượt quá 5%; hoặc tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá 5% so với giá đã bán trước khoảng thời gian tối thiểu đó;
  • Không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hoá, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng giá

LOẠI THỨ BA, Áp đặt giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức đã quy định trước

Giá bán lại là kết quả của sự áp đặt của nhà sản xuất đối với người phân phối, thiếu vắng yếu tố tự nguyện, tự do ý chí của người phân phối trong việc xác định mức giá bán lại. Theo đó, với vị trí độc quyền, doanh nghiệp không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức đã quy định trước. Nhà phân phối, nhà bán lẻ chỉ còn có thể bán hại hàng hóa bằng hoặc cao hơn mức giá sàn đã được doanh nghiệp ấn định. Với hành vi này, doanh nghiệp đã không gây thiệt hại trực tiếp cho các nhà phân phối, các nhà bán lẻ mà buộc họ phải hợp tác với mình để bóc lột khách hàng mua lại hàng hóa.

2.2.1.2 Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý, giới hạn thị trường cản trở phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng  Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Là người nắm giữ thị phần lớn,doanh nghiệp độc quyền sẽ đại diện cho khả năng cung hoặc cầu của thị trường liên quan, các quyết định về lượng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, mua, bán sẽ ảnh hưởng đến mức độ thoả mãn nhu cầu cho khách hàng. Do ở vào địa vị thấp hơn trong giao dịch bởi quyền lựa chọn bị hạn chế, nên khi bị vi phạm quyền lợi, khách hàng rất khó phản ứng lại vì không thể sử dụng các cơ chế trừng phạt tự nhiên của thị trường để răn đe doanh nghiệp.

Nhóm hành vi này bao gồm ba loại hành vi cụ thể sau đây:

  1. Hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi giảm khả năng cung hàng hoá, dịch vụ một cách giả tạo để lũng đoạn thị trường, làm biến động quan hệ cung – cầu theo hướng có lợi cho doanh nghiệp trong giao dịch với khách hàng.

Hậu quả mà hành vi này gây ra cho khách hàng không chỉ là nhu cầu của họ về hàng hoá, dịch vụ không được đáp ứng đầy đủ theo đúng khả năng thực có của thị trường mà còn là những điều kiện mua bán như giá cả, phương thức phân phối, cung ứng… sẽ thay đổi theo hướng bất lợi cho khách hàng.

  1. Hạn chế thị trường gây thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đã tự giới hạn khu vực bán hoặc giới hạn nguồn mua sản phẩm mà không có lý do chính đáng gây thiệt hại cho khách hàng.

Với hành vi này, doanh nghiệp đã giới hạn thị trường mua hàng hóa, dịch vụ theo nguồn cung cấp (theo khách hàng). Chứng cứ về hành vi này là việc doanh nghiệp đã từ chối không mua hàng hóa, dịch vụ từ những nguồn cung khác mà không có lý do chính đáng. Theo Điểm b Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 116/2005/NĐ- CP, doanh nghiệp được quyền từ chối mua hàng hóa, dịch vụ từ các nguồn khác nếu các nguồn này không đáp ứng được những điều kiện hợp lý và không phù hợp với tập quán thương mại thông thường do bên mua đặt ra.

  1. Hạn chế sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng là việc doanh nghiệp thực hiện những hành vi nhằm cản trở việc nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc ngăn cản việc ứng dụng tiến bộ khoa hoặc kỹ thuật vào hoạt động kinh doanh.

 Cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng bao gồm các loại hành vi sau đây:

  • Một là, mua sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng.Việc tiêu hủy hoặc không sử dụng những đối tượng trên cho thấy doanh nghiệp thực hiện hành vi không có ý định khai thác lợi ích của sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh mà chỉ lợi dụng quyền được bảo hộ để ngăn cản các doanh nghiệp khác không được tiếp cận và sử dụng những đối tượng đó. Vì vậy, dù đã xác lập tư cách chủ sở hữu đối với các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp, song pháp luật không thể bảo hộ, che chắn cho những toan tính không tử tế nói trên của doanh nghiệp có quyền lực thị trường.
  • Hai là, đe dọa hoặc ép buộc người đang nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ phải ngừng hoặc hủy bỏ việc nghiên cứu đó. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

2.2.1.3 Hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau cho các giao dịch như nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng cho khách hàng (còn gọi là hành vi phân biệt đối xử trong thương mại) 

Điều 29 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định việc áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong điều kiện giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh là hành vi phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp về điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng trong những giao dịch mua, bán hàng hoá, dịch vụ tương tự về mặt giá trị hoặc tính chất hàng hoá, dịch vụ để đặt một hoặc một số doanh nghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn so với doanh nghiệp khác.

Quy định trên cho thấy cấu thành pháp lý của hành vi này bao gồm các yếu tố sau đây:

  • Thứ nhất, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã áp dụng các điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số lượng khác nhau trong những giao dịch như nhau.
  • Thứ hai, hành vi gây ra tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các khách hàng. Xét về mặt hậu quả, hành vi phân biệt đối xử không xâm hại đến đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp vi phạm mà nó bóp méo diện mạo cạnh tranh giữa các khách hàng của doanh nghiệp. Do đó, các khách hàng của doanh nghiệp phải là những chủ thể kinh doanh và hoạt động trên cùng thị trường liên quan với nhau. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định sự bất bình đẳng là tình trạng một một số doanh nghiệp có được vị trí có lợi hơn so với doanh nghiệp khác. Vị trí cạnh tranh có lợi mà Nghị định mô tả nhìn dưới góc độ kinh tế học được xem xét dưới hai tình huống, sau đây:
  • Việc phân biệt đối xử tạo ra những ưu thế cho một số khách hàng so với những khách hàng khác, ví dụ giá sản phẩm được tính rẻ hơn người khác hoặc thời gian giao hàng được sớm hơn…;
  • Việc phân biệt đối xử tạo ra những tình trạng bất lợi hơn của một hoặc một số khách hàng so với những khách hàng khác, ví dụ như áp đặt các điều kiện giao sản phẩm bất lợi hơn, giá cả cao hơn… người khác. Hai tình huống trên tương ứng với hai nội dung của sự phân biệt, đó là áp đặt các điều kiện thương mại ưu đãi cho một hoặc một vài khách hàng nhất định nào đó trong các giao dịch tương tự với các khách hàng còn lại; hoặc áp đặt điều kiện thương mại mang tính bất lợi cho một hoặc một số khách hàng khác so với điều kiện thương mại thông thường của các giao dịch tương tự khác.

2.2.1.4 Hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc buộc các doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng 

  1. Hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ

Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định “Áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ là việc áp đặt những điều kiện tiên quyết mà khách hàng phải chấp nhận trước khi ký kết hợp đồng, bao gồm:

  • Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa khác; hạn chế mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý;
  • Hạn chế về địa điểm, bán lại hàng hoá trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật; Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.
  • Hạn chế về khách hàng mua lại hàng hoá trừ những hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật;
  • Hạn chế về hình thức, số lượng hàng hoá được cung cấp”.

Quy định trên cho thấy cấu thành pháp lý của hành vi này bao gồm các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, doanh nghiệp đã buộc khách hàng khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ phải chấp nhận các điều kiện có nội dung hạn chế cạnh tranh. Như vậy, ngoài nghĩa vụ của bên mua hoặc bên bán hàng hóa dịch vụ, khách hàng phải chấp nhận thêm các điều kiện ký kết hợp đồng do doanh nghiệp đặt ra. Những điều kiện này có thể là một nghĩa vụ nằm trong một vài điều khoản của hợp đồng hoặc chỉ là một yêu cầu độc lập được doanh nghiệp đưa ra khi đàm phán ký kết hợp đồng.

 Thứ hai, các điều kiện được đưa ra phải là điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Cho đến nay, pháp luật cạnh tranh chưa giải nghĩa cụm từ điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng. Do đó, điều kiện tiên quyết cho việc ký kết hợp đồng có thể được hiểu là những yêu cầu được đưa ra mà khách hàng phải chấp nhận thì mới tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Nếu khách hàng không chấp nhận điều kiện đưa ra, doanh nghiệp sẽ không tiến hành đàm phán hoặc ký kết hợp đồng.

  • Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định “buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng là hành vi gắn việc mua bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng với việc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết thực hiện hợp đồng” .

Với hành vi buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng, doanh nghiệp đã bắt khách hàng phải mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc từ người thứ ba được chỉ định hoặc phải thực hiện thêm những nghĩa vụ nằm ngoại phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng. Như vậy, có hai vấn đề được đặt ra khi nghiên cứu và xác định hành vi này:

Một là, hành vi này đã hình thành nên các hợp đồng mua bán kèm. Hợp đồng mua bán kèm là loại hợp đồng mà ngoài đối tượng chính của việc mua bán, khách hàng phải chấp nhận mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác hoặc thực hiện thêm những nghĩa vụ khác (đối tượng phụ). Đối tượng phụ của hợp đồng mua bán không phải là những nghĩa vụ đương nhiên phát sinh từ hợp đồng mua bán đối tượng chính. – Hai là, đối tượng chính và đối tượng phụ trong hợp đồng mua bán kèm không liên quan trực tiếp với nhau. Nghị định số 116/2005/NĐCP giải nghĩa không liên quan trực tiếp là việc mua thêm hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện thêm những nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng.

2.2.2 Nhóm hành vi mang tính độc quyền Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Hành vi lạm dụng mang tính độc quyền là những hành vi do doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền thực hiện nhằm kìm hãm cạnh tranh bằng cách loại bỏ, ngăn cản đối thủ tham gia thị trường để duy trì, củng cố quyền lực thị trường. Có hai dấu hiệu cần phải chú ý khi phân tích bản chất của nhóm hành vi này là:

Thứ nhất, đối tượng mà hành vi này hướng đến là đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh có thể là các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hoặc các đối thủ tiềm năng (bao gồm những doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường khác và những nhà đầu tư có ý định tham gia vào thị trường liên quan của doanh nghiệp).

Thứ hai, nhóm hành vi này có thể không đem lại lợi ích vật chất trực tiếp nhưng tạo cơ hội cho doanh nghiệp củng cố địa vị bằng cách loại bỏ đối thủ. Sự ra đi hoặc việc từ bỏ ý định gia nhập thị trường sẽ giảm bớt sức ép cạnh tranh cho doanh nghiệp, đồng thời khách hàng sẽ mất đi cơ hội có được sự lựa chọn trong giao dịch trên thị trường liên quan.

Nhóm hành vi này bao gồm hai hành vi là:

  • Hành vi bán hàng hoá, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (còn gọi là hành vi định giá cướp đoạt hoặc hành vi định giá hủy diệt).
  • Hành vi ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới.

2.2.2.1 Hành vi bán hàng hoá, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh (còn gọi là hành vi định giá cướp đoạt hoặc hành vi định giá hủy diệt) 

Điều 23 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định “trừ những trường hợp đặc biệt, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ canh tranh là việc bán hàng với mức giá thấp hơn tổng các chi phí sau đây:

  • Chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc gia mua hàng hoá để bán lại;
  • Chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật”

Từ quy định trên, khi điều tra về hành vi cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác định và so sánh giữa giá bán trên thực tế và giá thành toàn bộ của cùng một sản phẩm như sau: Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

  • Xác định giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ. Giá bán hàng hoá, dịch vụ là giá bán thực tế của doanh nghiệp trong các giao dịch với khách hàng.
  • Xác định giá thành sản xuất toàn bộ. Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá cơ bản được cấu thành từ các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông…của sản phẩm và được các doanh nghiệp sử dụng làm các căn cứ xác định giá bán hàng hoá, dịch vụ của mình.
  • So sánh giá bán thực tế và giá thành toàn bộ của sản phẩm để xác định hành vi

2.2.2.2 Hành vi ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới

Ngăn cản việc gia nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới là hành vi tạo ra những rào cản về giá hoặc về nguồn tiêu thụ, nguồn nguyên vật liệu… trên thị trường liên quan. Việc xác định hành vi ngăn cản cần phải làm rõ một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, cần xác định rõ đối thủ cạnh tranh mới. Đối thủ cạnh tranh mới là doanh nghiệp đang tìm cách tham gia thị trường (có thể gọi là doanh nghiệp mới). Cần phân biệt thuật ngữ doanh nghiệp mới và doanh nghiệp mới thành lập. Thuật ngữ doanh nghiệp mới trong Luật Cạnh tranh mô tả những doanh nghiệp đang tìm cách tham gia vào một thị trường cụ thể, bao gồm:

  • Các doanh nghiệp tiềm năng, tức là chưa được thành lập theo pháp luật về doanh nghiệp;
  • Đã được thành lập và hoạt động ở một thị trường khác, đang có ý định tham gia thị trường tồn tại rào cản gia nhập.

Thứ hai, xác định các rào cản cho sự gia nhập. Theo Black’s Law Dictionary, rào cản gia nhập thị trường là những nhân tố kinh tế gây khó khăn cho các nhà kinh doanh trong việc tham gia vào thị trường và trong cuộc cạnh tranh với các doanh nghiệp đang tồn tại trên thị trường đó. Trong kinh tế học, người ta chia rào cản ra làm hai loại:

  • Rào cản cơ cấu là những nhân tố ngăn chặn sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng.
  • Rào cản chiến lược là hành vi trong chiến lược của các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường nhằm ngăn cản sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng, ví dụ như chiến lược định giá để ngăn chặn đối thủ; chiến lược thiết lập các rào cản theo chiều dọc…

Theo Điều 31 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, các rào cản cho việc gia nhập thị trường có thể được hình thành bằng việc các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp độc quyền thực hiện một trong các hành vi sau đây:

Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược tẩy chay bằng cách yêu cầu khách hàng của mình không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới. Bằng việc yêu cầu khách hàng của mình không giao dịch với đối thủ cạnh tranh mới, các doanh nghiệp đã tạo ra những khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm hoặc làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh của đối thủ. Nếu khách hàng là người tiêu thụ hoặc phân phối sản phẩm, thì hành vi này đã làm cho đối thủ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn đầu ra. Ngược lại, nếu khách hàng là người cung cấp nguyên liệu đầu vào, hành vi này đã ngăn cản đối thủ mới tiếp cận các nguồn nguyên liệu quan trọng trên thị trường. Trong mọi trường hợp, đối thủ cạnh tranh buộc phải tổ chức kế hoạch tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới hoặc nguồn tiêu thụ mới. Việc thâu tóm các nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn tiêu thụ đã làm tăng chí phí của đối thủ, có thể làm cho đối thủ bị suy giảm sức cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược thiết lập rào cản chiều dọc bằng cách đe dọa hoặc cưỡng ép các nhà phân phối, các cửa hành bán lẻ không chấp nhận phân phối những mặt hàng của đối thủ cạnh tranh mới. Với chiến lược này, doanh nghiệp có quyền lực thị trường đã hạn chế khả năng phân phối sản phẩm của đối thủ mới bằng cách khống chế ý chí của những nhà phân phối hoặc các cửa hàng bán lẻ, ép buộc họ không được phân phối sản phẩm của đối thủ. Lúc này, để có thể tiêu thụ được sản phẩm, đối thủ mới buộc phải có chiến lược xây dựng và phát triển mạng lưới phân phối hoàn toàn mới (không phải là những nhà phân phối hoặc cửa hàng bán lẻ hiện đang tồn tại trên thị trường). Kế hoạch này sẽ là mạo hiểm bởi sẽ làm tăng chi phí và tăng độ rủi ro khi tiêu thụ sản phẩm do người sản xuất và nhà phân phối đều là lính mới trên thị trường.

Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược ngăn cản qua giá bằng cách bán hàng hoá với mức giá đủ để đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập thị trường nhưng không thuộc trường hợp bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ. Với lập luận tương tự như trường hợp của hành vi định giá dưới giá thành toàn bộ, chiến lược ngăn cản qua giá được thực hiện để làm cho các nhà kinh doanh có ý định gia nhập phải cân nhắc khả năng có được lợi nhuận hay không với mức giá hiện tại (đã được hạ thấp). Đối với trường hợp này, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP chưa đưa ra được căn cứ để xác định mức giá ngăn cản, các quy định mới chỉ dừng lại ở việc mô tả chung là “không thuộc trường hợp bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ…. Vì thế vấn đề tiếp theo mà pháp luật phải làm rõ là xác định ranh giới về giá của hai trường hợp định giá dưới giá thành toàn bộ và định giá ngăn cản.

Thứ ba, mặc dù một trong những căn cứ để xác định sự vi phạm là đã ngăn cản sự gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới, nhưng cơ quan có thẩm quyền chỉ cần xác định được rằng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, có vị trí độc quyền đã thực hiện một trong ba chiến lược ngăn cản kể trên, không cần phải xác định chiến lược ngăn cản đã hoàn thành hay chưa. Việc ngăn cản mà Luật Cạnh tranh nói đến tồn tại ở dạng tiềm năng của hành vi, tức là nếu các hành vi kể trên đã mang trong mình khả năng ngăn cản sự nhập cuộc của doanh nghiệp mới, là đủ để kết luận về sự vi phạm.

2.2.3 Nhóm hành vi khác Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Đối với các doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường, kể cả các doanh nghiệp độc quyền tự nhiên hay độc quyền Nhà nước, ngoài những hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh kể trên, Luật Cạnh tranh còn nghiên cấm thêm hai hành vi sau đây:

  • Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng là hành vi buộc khách hàng phải chấp nhận vô điều kiện những nghĩa vụ gây khó khăn cho khách hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng;
  • Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng là hành vi của doanh nghiệp độc quyền thực hiện một trong các hình thức sau:

Đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không cần thông báo trước cho khách hàng và không phải chịu biện pháp chế tài nào;

Đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết căn cứ vào một hoặc một số lý do không liên quan trực tiếp đến các điều kiện cần thiết để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng và không chịu biện pháp chế tài nào

2.2.4 Chế tài xử phạt với những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Căn cứ theo Điều 24 Nghị định 120/2005/NĐ-CP: Doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sẽ bị phạt tiền đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của doanh nghiệp có vị trí độc quyền đối với một trong các hành vi lạm dụng đã phân tích ở trên

Ngoài việc bị phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều 24 này, doanh nghiệp lạm dụng vị trí độc quyền có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

  • Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;
  • Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh liên quan;
  • Buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp đã cản trở;
  • Buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng;
  • Buộc khôi phục lại các điều khoản hợp đồng đã thay đổi mà không có lý do chính đáng;
  • Buộc khôi phục lại hợp đồng đã huỷ bỏ mà không có lý do chính đáng.

2.3 Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia trong lĩnh vực kinh tế ngày càng phát triển và khốc liệt hơn bao giờ hết. Để tạo điều kiện cho môi trường kinh tế cạnh tranh lành mạnh và văn minh, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích sự tham gia đầu tư kinh tế của nhiều thành phần khác nhau và đồng thời thu hẹp sự bảo hộ với những lĩnh vực mà trước đây thuộc độc quyền kinh doanh của Nhà nước. Kinh tế phát triển mạnh đồng nghĩa với quy trình chọn lọc tự nhiên diễn ra càng khắt khe, những doanh nghiệp chậm đổi mới hay không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn sẽ nhanh chóng bị loại ra khỏi cuộc chơi, nhường chỗ cho những doanh nghiệp đủ mạnh. Nói cách khác, nhiều doanh nghiệp bằng chính năng lực và sự cạnh tranh lành mạnh đã đạt được vị trí độc quyền.

Bên cạnh những doanh nghiệp đạt được vị trí độc quyền nhờ quá trình cạnh tranh lành mạnh, đa số doanh nghiệp có được vị trí độc quyền là do Nhà nước bảo hộ, nắm quyền chi phối, độc quyền mục đích là nhằm đảm bảo cho hoạt động của đất nước được ổn định, thống nhất, đảm bảo tốt hơn nhu cầu thiết yếu của người dân, tránh manh mún, lũng đoạn của tư nhân, tư bản. Người ta gọi đó là độc quyền nhà nước như ở một số ngành như điện, xăng dầu, ngân hàng, cấp nước…

Tuy nhiên, những doanh nghiệp độc quyền Nhà nước khi trong tay sẵn có sức mạnh thị trường to lớn, lại them sự bảo hộ của Nhà nước, đã nhiều lần có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền gây những thiệt hại to lớn đến quyền lợi của người dân trong sinh hoạt và cuộc sống hằng ngày. Đây chính là sự độc quyền nhà nước đã bị biến tướng thành độc quyền doanh nghiệp. Thực tế cho thấy tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp, bảo hộ, bù lỗ của Nhà nước, các doanh nghiệp này không tăng cường đầu tư, cải tiến trang thiết bị, cơ sở vật chất và đổi mới phương pháp làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động để cạnh tranh và phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, đồng thời cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa thị trường và gia nhập WTO.

Vấn đề đặt ra cho bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam là sự mất cân đối trong tương quan thị trường giữa khu vực kinh tế Nhà nước và các khu vực khác. Vị trí độc quyền hiện nay gần như hoàn toàn thuộc về khối doanh nghiệp nhà nước. Khách quan nhìn nhận rằng, sự cạnh tranh diễn ra trên thị trường kinh doanh Việt Nam ngày càng khốc liệt và có nguy cơ bị lạm dụng từ phía các doanh nghiệp có vị trí độc quyền trong và ngoài nước.

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, sau 10 năm thi hành Luật Cạnh tranh, những kết quả thực thi bước đầu đạt được đã giúp nâng cao nhận thức của toàn cộng đồng xã hội về vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh, giúp định hình văn hoá cạnh tranh trong kinh doanh và giúp điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp không chỉ đối với cộng đồng các doanh nghiệp mà cả đối với các cơ quan quản lý nhà nước và toàn thể cộng đồng xã hội. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Rõ ràng, kết quả bước đầu đạt được trong thực thi các quy định về chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của cơ quan cạnh tranh đã tác động một cách trực tiếp tới nhận thức và hành vi không chỉ của các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường mà còn cả đối với mọi tổ chức, cá nhân khác trong xã hội.

Luật Cạnh tranh không chỉ giúp bảo vệ các hoạt động cạnh tranh, góp phần giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng xã hội về cạnh tranh và bảo vệ cạnh tranh, mà còn giúp điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh và mọi cá nhân, tổ chức khác trong xã hội cho phù hợp để hướng tới một môi trường cạnh tranh có văn hoá, lành mạnh và bình đẳng.

Trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm Cục Quản lý cạnh tranh thực hiện điều tra tiền tố tụng từ 10 đến 12 vụ việc liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh. Đồng thời, thông qua quá trình điều tra, xử lý 08 vụ việc hạn chế cạnh tranh, với gần 70 doanh nghiệp bị điều tra, các cơ quan cạnh tranh đã ra quyết định xử lý, thu về ngân sách nhà nước tổng số tiền phạt và phí xử lý vụ việc cạnh tranh gần 5,5 tỷ đồng. Mặc dù trong các vụ việc này ngoài hình thức xử phạt tiền, không có hình thức xử phạt bổ sung và/hoặc biện pháp khắc phục hậu quả nào được áp dụng, nhưng Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh cũng đã đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp, hiệp hội và các cơ quan quản lý nhà nước về việc tuân thủ pháp luật cạnh tranh, tránh thực hiện các hành vi vi phạm tương tự trong tương lai.

Tính đến hết năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiếp nhận hơn 300 khiếu nại về cạnh tranh không lành mạnh, tiến hành điều tra tổng số 158 vụ và ra quyết định xử phạt trong 150 vụ đã điều tra. Đáng quan tâm, trên thực tế, nhận thức của DN đối với Luật Cạnh tranh còn thấp và tâm lý ngại khiếu nại đã dẫn đến tình trạng nhiều DN tự từ bỏ quyền được bảo vệ của mình. Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương do chưa nhận thức hoặc chưa hiểu một cách đầy đủ các quy định của pháp luật cạnh tranh nên đã vô tình ban hành văn bản hoặc có những hành vi mang tính chất hành chính không phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong số các vụ việc bị phát hiện và xử lý trên, số lượng các vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí độc quyền được thống kê là không nhiều. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp độc quyền Nhà nước đã có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền đưa ra những quyết định ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế. Có thể nêu ra trường hợp điển hình như sau:

  • Vụ việc giữa công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (PA) – nay là JP Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Tóm tắt vụ việc

Vụ việc xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không giữa doanh nghiệp độc quyền nhà nước là Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (PA) – nay là JPA. Theo Hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 ngày 31/12/2007 giữa Vinapco và PA, hai bên thỏa thuận mức phí cung ứng nhiên liệu là 593.000 đồng/tấn tại thời điểm ký kết; khi có sự thay đổi về mức phí cung ứng, Vinapco có trách nhiệm thông báo cho PA bằng văn bản qua đường fax; mọi sửa đổi, bổ sung Hợp đồng đều phải được hai bên thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của người có thẩm quyền; khi có tranh chấp, các bên phải giải quyết thông qua thương lượng, trường hợp thương lượng không thành sẽ đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; lý do duy nhất để Vinapco có thể ngừng thực hiện Hợp đồng đã giao kết là khi PA chậm thanh toán quá 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bảng kê của Vinapco.

Đầu tháng 3/2008, do ảnh hưởng bởi biến động giá xăng dầu thế giới nên Vinapco đã có Công văn số 446/XDHK-KDXNK mời đại diện của PA đến họp để xác định lại mức phí cung ứng mới. Việc thương lượng diễn ra bằng các cuộc họp và công văn trao đổi qua lại giữa Vinapco và PA. Tuy nhiên, cả hai bên đều chưa có được sự đồng thuận về mức phí mới. Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn số 512/XDHK-VPĐN gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo:

  • Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn;
  • Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp.

Trong các cuộc họp và các văn bản gửi Vinapco, PA bày tỏ quan điểm thừa nhận việc tăng phí cung ứng khi chi phí thị trường tăng là hợp lý, nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty hàng không Việt Nam (VNA), đồng thời đề nghị Vinapco và PA cùng kiến nghị Chính phủ và các bộ liên quan xem xét, quyết định.

Do không đạt được thỏa thuận về mức phí mới, ngày 28/3/2008, Vinapco có Công văn số 560/XDHK-KDXNK gửi PA qua đường fax yêu cầu PA chấp thuận bằng văn bản mức phí cung ứng mới là 750.000 đồng/tấn trước ngày 31/3/2008. Trường hợp Vinapco không nhận được trả lời bằng văn bản theo thời hạn trên, Vinapco sẽ dừng cung ứng nhiên liệu cho mọi chuyến bay của PA cho đến khi PA chấp thuận. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Ngày 31/3/2008, Vinapco có Công văn số 570/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo ngừng tra nạp nhiên liệu cho mọi chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 01/4/2008.

Ngày 01/4/2008, Cục Hàng không Việt Nam đã có Công văn số 985/CHK-TC yêu cầu VNA chỉ đạo Vinapco không được đơn phương ngừng cung cấp xăng dầu nếu không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngay sau đó, Vinapco có Công văn số 573/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo cung cấp nhiên liệu cho PA trong hai ngày 01 và 02/4/2008. Và ngày 02/4/2008,

Vinapco có Công văn số 597/XDHK-KDXNK gửi PA thông báo tiếp tục nạp nhiên liệu cho tất cả chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 3/4/2008.

  • Đối tượng bị điều tra và xử lý trong vụ việc

Đối tượng bị điều tra và xử lý trong vụ việc này là doanh nghiệp độc quyền nhà nước hoạt động trong thị trường dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng -Vinapco. Theo hồ sơ vụ việc cạnh tranh số KNCTHCCT0004, thụ lý ngày 06/01/2009, Vinapco bị điều tra vì đã thực hiện hai hành vi hạn chế cạnh tranh theo Điều 14 của Luật Cạnh tranh là áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng. Doanh nghiệp bị áp đặt các điều kiện bất lợi và có giao kết hợp đồng bị hủy bỏ với Vinapco là PA. Vào thời điểm xảy ra hành vi, trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay trong nước chỉ có PA và VNA trực tiếp cạnh tranh với nhau mà Vinapco là doanh nghiệp trực thuộc VNA. Với tình trạng này, có hai vấn đề cạnh tranh được đặt ra:

Một là, nhiên liệu bay là đầu vào thiết yếu cho các hãng hàng không. Vinapco là doanh nghiệp độc quyền cung cấp nhiên liệu bay cho các hãng hàng không dân dụng tại các sân bay dân dụng của Việt Nam. Khi Vinapco dừng cung cấp nhiên liệu bay cho bất kỳ công ty kinh doanh vận tải hàng không nào, công ty ấy không thể tiếp tục hoạt động vì không có nguồn cung cấp thay thế. Đã có quan điểm cho rằng, việc áp dụng Luật Cạnh tranh vào môi trường độc quyền là chưa phù hợp. Nhưng trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay, vì nhiều lý do, có hàng trăm doanh nghiệp kinh doanh ở vị trí độc quyền, việc nhận định các tranh chấp thương mại của doanh nghiệp độc quyền theo hướng xử phạt hành chính như trên sẽ tạo ra một tiền lệ không tốt cho phát triển kinh tế nói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cạnh tranh nói riêng1. Quan điểm này cho thấy vẫn còn một số doanh nghiệp chưa hiểu rõ về khả năng điều chỉnh và vai trò của Luật Cạnh tranh trong thị trường hiện đại.

Hai là, trong vụ việc này, những hành vi mà các cơ quan tiến hành tố tụng hướng đến điều tra là những hành vi không nhằm bóc lột khách hàng của Vinapco mà chủ yếu là gây ra những khó khăn cho PA trong hoạt động kinh doanh.

Như vậy, đối tượng bị điều tra khá đặc biệt không chỉ bởi vị thế độc quyền mà còn liên quan khá lớn đến thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay. Việc xử lý hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh không chỉ bảo vệ quyền cho PA trước Vinapco mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sự cạnh tranh trên thị trường vận tải hàng không dân dụng nội địa giữa PA và VNA.

  • Thực tế xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền với vụ việc

Ngày 22/4/2008, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh ra Quyết định số 21/QĐ-QLCT về việc điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh và ngày 28/5/2008, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh ra Quyết định số 34/QĐ-QLCT về việc điều tra chính thức vụ việc cạnh tranh. Như vậy, Cục Quản lý cạnh tranh đã áp dụng triệt để khoản 2, Điều 86 để ra quyết định điều tra sơ bộ khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh. Ngày 14/4/2009, Hội đồng xử lý vụ việc ra quyết định xử lý vụ việc. Theo quyết định này, Vinapco bị xử lý vì đã thực hiện hai hành vi hạn chế cạnh tranh theo Điều 14 của Luật Cạnh tranh (đã đề cập ở trên) và bị xử phạt với mức 0,05% doanh thu của Công ty này trong năm 2007 (năm trước đó) và đưa ra ba kiến nghị:

  • Tách Vinapco ra khỏi VNA; Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.
  • Cấp giấy phép cho các doanh nghiệp khác cùng được thực hiện chức năng cung cấp xăng dầu hàng không;
  • Tăng cường hơn nữa quản lý nhà nước đối với dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không tại Việt Nam.

Ngày 26/6/2009, Hội đồng Cạnh tranh đã ra quyết định giải quyết khiếu nại của Vinapco đối với Quyết định số 11/QĐ-HĐXL ngày 14/4/2009 của Hội đồng Xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong quyết định này, về cơ bản, Hội đồng Cạnh tranh ủng hộ những đánh giá và kết luận trong Quyết định 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng Xử lý vụ việc.

Diễn biến của vụ việc cho thấy thủ tục tố tụng cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh đã được áp dụng triệt để từ các giai đoạn điều tra cho đến giai đoạn giải quyết khiếu nại ở Hội đồng Cạnh tranh. Vì là vụ việc hạn chế cạnh tranh đầu tiên nên việc tiến hành tố tụng trên thực tế được coi như sự kiểm nghiệm hữu hiệu về tính khả thi của các quy định của đạo luật này và những tác động của nó đến thị trường.

Luật Cạnh tranh là một công cụ pháp lý mới của Nhà nước trong quá trình Việt Nam chuyển sang vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Luật Cạnh tranh cùng với Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Hàng không dân dụng… tạo thành một khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy, việc xử lý vụ việc đã khẳng định giá trị của khoản 1, Điều 2 của Luật Cạnh tranh là: Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả những doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Mặc dù Vinapco là doanh nghiệp độc quyền nhà nước nhưng điều đó không cho phép các doanh nghiệp này đứng trên pháp luật và cũng không cho phép họ tự tạo ra một kỷ luật kinh doanh riêng. Thực tế, các doanh nghiệp độc quyền nhà nước được bao bọc bởi những rào cản gia nhập thị trường và có những ưu thế cạnh tranh bởi cơ chế chủ quản hành chính – kinh tế.

Pháp luật cạnh tranh chưa có chức năng xóa bỏ những rào cản và những thiết chế pháp lý khác để khôi phục cạnh tranh, nhưng lại có nhiệm vụ quan trọng để ngăn chặn và xử lý những hành vi khai thác thế mạnh độc quyền (kể cả thế mạnh do những rào cản nói trên đem lại) nhằm bóp méo sự lành mạnh của thị trường và làm suy giảm hiệu quả của cạnh tranh. Những quan ngại về môi trường kinh doanh không bình đẳng do sự tồn tại của các doanh nghiệp độc quyền nhà nước có thể được trấn an bằng việc thẳng thắn và nghiêm túc xử lý hành vi vi phạm của các doanh nghiệp này.

Khi khởi đầu vụ việc, cũng không ít quan điểm lo ngại cho các cơ quan quản lý cạnh tranh về những sức ép bên ngoài có thể ảnh hưởng đến kết quả và tính khả thi của việc xử lý doanh nghiệp độc quyền. Cuối cùng, các kết quả của vụ việc cho thấy sự quyết tâm của các cơ quan này trong việc thi hành trách nhiệm của mình. Dưới góc độ ý thức kinh doanh, việc xử lý doanh nghiệp độc quyền về hành vi lạm dụng quyền lực thị trường sẽ buộc các doanh nghiệp độc quyền phải nhận thức lại về trách nhiệm của mình đối với thị trường và xã hội. Ngay cả khi muốn khai thác quyền lực sẵn có để kiếm lợi ích, các doanh nghiệp này cũng không dám công nhiên coi thường khách hàng mà phải e dè và nể sợ trước pháp luật cạnh tranh.

Trong vụ việc này, vấn đề cạnh tranh đã được các cơ quan thực thi luật phân tích ở nhiều góc độ để từ đó đưa ra những kết luận đúng đắn, cụ thể như sau: Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

  • Hành vi lạm dụng của Vinapco ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của PA.

Theo đó, hành vi ngừng cung cấp nhiên liệu đã làm cho hoạt động kinh doanh của PA bị đình trệ, uy tín của doanh nghiệp này bị tổn thương trước khách hàng. Về thiệt hại vật chất, mặc dù chưa có số liệu chính thức, song bằng những diễn biến thực tế của vụ việc, có thể nhận thấy rằng PA đã phải gánh chịu những khoản thiệt hại do phải trả tiền chậm chuyến cho các hành khách đã mua vé máy bay trong ngày 01/4/2008, các khoản lợi nhuận có thể thu được từ các chuyến bay bị đình chuyến

Hành vi của Vinapco đã bóp méo tình trạng cạnh tranh trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay giữa PA và VNA. Trong bối cảnh Vinapco là doanh nghiệp trực thuộc VNA, thì hành vi này dễ tạo ra những nghi vấn rằng đã có chiến lược chèn ép đối thủ cạnh tranh của một tập đoàn hàng không lớn nhất Việt Nam. Trong quyết định xử lý vụ việc, Hội đồng Xử lý đã mạnh dạn bình luận rằng việc PA bị ngừng cung cấp nhiên liệu bay sẽ dẫn đến hậu quả là hủy bỏ cạnh tranh trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay. Vào thời điểm xung quanh tháng 4/2008, chỉ có PA và VNA đang trực tiếp cạnh tranh trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay. Mặc dù chưa đi sâu phân tích khía cạnh này, song nhận định trên đã cho thấy các cơ quan cạnh tranh đã bước đầu mở rộng phân tích ảnh hưởng của một hành vi lạm dụng đến tình trạng cạnh tranh của nhiều vùng thị trường có liên quan. Từ đó có thể thấy rằng, tình trạng độc quyền và thống lĩnh thị trường của các tập đoàn kinh tế lớn hiện nay (đặc biệt là các tập đoàn nhà nước) khá phức tạp. Vị trí độc quyền không chỉ còn phản ảnh qua thị phần hoặc qua tình trạng độc chiếm thị trường mà chúng hoạt động mà còn có thể là khả năng chi phối các nguồn đầu vào và các lực lượng khác trên thị trường. Chỉ cần có hành vi kiểm soát được một vài nguồn đầu vào thiết yếu là có thể chi phối những thị trường thứ cấp tiếp theo. Do đó, giải pháp xử lý hành vi vi phạm chỉ có thể tác động đến ý thức pháp luật của doanh nghiệp thực hiện hành vi mà chưa thể giải quyết triệt để tình trạng cạnh tranh trên các vùng thị trường đang có độc quyền và đang có nguy cơ xuất hiện hành vi lạm dụng. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Hành vi của Vinapco còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Người tiêu dùng đã mua vé của PA bị lỡ chuyến. Nguy hiểm hơn nếu PA bị ngừng hoạt động, người tiêu dùng sẽ ít lựa chọn hơn trong việc di chuyển bằng hàng không nội địa, sẽ bị hạn chế khả năng di chuyển khi nhà cung cấp còn lại bị quá tải. Cùng với việc mạnh dạn xử lý doanh nghiệp độc quyền nhà nước, các cơ quan cạnh tranh đã chính thức cảnh báo về những tác động của việc lạm dụng độc quyền để gây hại cho môi trường cạnh tranh, coi thường người tiêu dùng và cản trở sự phát triển lành mạnh của thị trường và khuyến nghị các cơ quan có thẩm quyền chú trọng hơn nữa đến việc xây dựng môi trường cạnh tranh trong những ngành không cần thiết phải duy trì độc quyền.

Từ việc phân tích kỹ bản chất vụ việc, các cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng Luật cạnh tranh một cách hiệu quả như sau:

Tuy là vụ việc đầu tiên về hành vi hạn chế cạnh tranh và cũng là lần đầu tiên các cơ quan cạnh tranh Việt Nam tiến hành tố tụng cạnh tranh. Hệ thống cơ quan cạnh tranh Việt Nam (Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh) còn khá non trẻ. Hai cơ quan này mới được thành lập theo Nghị định số 05/2006/NĐ-CP và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006. Lực lượng điều tra viên chưa mạnh cả về số lượng và kinh nghiệm điều tra, xử lý vụ việc. Các quy định về tố tụng cạnh tranh phần lớn được xây dựng từ sự kết hợp những đặc thù của thủ tục xử lý vi phạm hành chính, những nguyên tắc trong tố tụng dân sự – kinh tế và những kinh nghiệm pháp lý của các nước. Luật Cạnh tranh và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP chỉ mới mô tả một cách cơ bản quy trình tố tụng. Việc chuyển hóa những khung pháp lý thành hành vi tố tụng thực tế đòi hỏi khả năng xử lý và kinh nghiệm của các cơ quan có thẩm quyền và của người tiến hành tố tụng.

Quá trình điều tra và xử lý vụ việc đã kiểm chứng hiệu quả của quy trình tố tụng cạnh tranh, khả năng làm việc của các điều tra viên, của người xử lý vụ việc. Hơn nữa, Việt Nam mới tiếp cận với pháp luật cạnh tranh nên kinh nghiệm thực thi còn nhiều hạn chế, mặc dù các tình tiết của vụ việc không gây nhiều tranh cãi trong khoa học pháp lý của Việt Nam về hành vi và về thủ tục tố tụng, song nó đã thể hiện được bản lĩnh và năng lực của các cơ quan quản lý cạnh tranh, của người tiến hành tố tụng. Đây là những kinh nghiệm đầu tiên cho các cơ quan này trong việc thực thi chức năng của mình. Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

One thought on “Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

  1. Pingback: Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464