Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: những biến đổi trong luật tục hôn nhân của người dao đỏ và giải pháp giữ gìn giá trị văn hóa trong hôn nhân của người dao đỏ ở huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Những biến đổi trong luật tục hôn nhân người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

3.1.1. Các yếu tố biến đổi

  • Các quan niệm, nguyên tắc

Các quan niệm về chọn vợ chọn chồng dựa trên các tiêu chí hầu như đã không còn lưu giữ, việc chọn dâu chọn rể cũng không còn tồn tại. Các bậc cha mẹ ngày nay tôn trọng quyết định của con cái, con cái yêu nhau mới hỏi cưới cho nhau, không còn sự ép buộc như ngày xưa.

Việc cư trú sau hôn nhân cũng có sự thay đổi, những đôi vợ chồng trẻ cuới nhau không bắt buộc làm dâu hay ở rể muốn sông bên nhà vợ hay nhà chồng đều được. Tuy nhiên vấn đề sống với nhau trước hôn nhân lại diễn ra ngày càng phổ biến ở các thế hệ trẻ.

  • Các quy định

Quy định về độ tuổi kết hôn có sự khắt khe hơn, bắt buộc phải đủ tuổi theo pháp luật: Nữ đủ 18, nam đủ 22 tuổi mới được kết kết hôn

Nghi lễ trong hôn nhân một số nghi lễ phức tạp cũng được bỏ bớt như lễ trói buộc, lễ rửa mặt cho ông bà mai mối và đoàn nhà gái đã không còn lưu giữ, còn các nghi lễ chính bắt buộc thì được lưu giữ nhưng được giảm bớt về thời gian làm lễ, giảm về một số thủ tục không quan trọng.

Về công tác chuẩn bị cho đám cưới cũng có những thay đổi đáng kể về thực phẩm, sính lễ và trang phục.

  • Ẩm thực

Trong đám cưới của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà không thể thiếu đi những món ăn truyền thống như: Thịt lợn hầm, thịt lợn quay, thịt gà luộc, thịt trâu xào, lòng lợn xào mang, đậu hoa, sôi ngũ sắc và các món canh rau rừng.

Ngày nay ẩm thực trong đám cuới có thêm những món ăn mới như: giò lợn, giò bò, tôm chiên, chim nướng, trứng vịt lộn, và các món cá suối, khẩu nhục và có thêm hoa quả tráng miệng. Đặc biệt trong đám cưới không thể thiếu đi nước chấm tương ớt và món rau thơm.

  • Biến đổi về sính lễ, thách cưới và biết đổi khác Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

Qua kết quả nghiên cứu ở huyện xã Nậm Đét huyện Bắc Hà cho thấy, bên cạnh việc bảo lưu các giá trị truyền thống, văn hóa hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét cũng đã tiếp thu, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố mới, hiện đại.

Tuy vậy bản sắc văn hóa nói chung, đặc trưng và các giá trị mang tính tộc người trong hôn nhân của đồng bào nói riêng vẫn thể hiện một cách rõ nét.

Theo đó, những tập tục không phù hợp với cuộc sống hiện nay như tảo hôn, thời gian làm lễ kéo dài, thách cưới lễ vật với số lượng nhiều…đã được bỏ đi hoặc cải biến, rút gọn. Tuy nhiên, ở những nơi vùng sâu so với trung tâm xã, địa bàn gần thị trấn và các tầng lớp cán bộ, công nhân, nông dân… thì mức độ biến đổi cũng khác nhau, phụ thuộc vào trình độ nhận thức và khả năng về điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình.

Quyền quyết định hôn nhân tuy vẫn là của bố mẹ, nhưng ngày nay bố mẹ người Dao Đỏ ở đây để cho đôi bạn trẻ tự tìm hiểu và quyết định có kết hôn hay không, bố mẹ chỉ đứng lên tổ chức các nghi lễ cho các con.

Sự biến đổi lớn nhất trong đám cưới người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét từ năm 1986 đến nay chính là sính lễ và thách cưới. Những năm trước 1986 người Dao Đỏ ở đây muốn cưới được vợ phải chuẩn bị rất nhiều sính lễ và đồng bạc thách cưới. Có những gia đình thách cưới đến hơn 120 đồng bạc trắng, nhiều gia đình không thể hỏi được vợ cho con vì độ thách cưới qúa cao, vượt xa so với khả năng của gia đình. Ngày nay các gia đình chỉ thách cưới 20 đồng bạc tráng sau đó có thể quy đổi về tiền mặt 1 đồng có thể quy đổi về 800 đến 1 triệu đồng. Trong quá trình thách cưới bố mẹ cô gái sẽ quyết định lấy bao nhiêu đồng bạc và bỏ bớt bao nhiêu cho con gái của mình. Ngoài thách cưới ra, sính lễ cũng được bố mẹ hai bên thỏa thuận và giảm bớt rất nhiều, lễ vẫn đầy đủ nhưng chỉ giảm bớt về sống lượng lễ vật.

  • Trang phục

So với các dân tộc khác, đến nay, các giá trị văn hóa của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà vẫn được tiếp nối, gìn giữ. Tuy nhiên, song hành với cuộc sống hiện đại không thể tránh khỏi sự xâm lấn, mai một đi các nét văn hóa vốn có, và trang phục của người Dao cũng vậy.

Trong đám cưới người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà, cái được mọi người quan tâm nhiều nhất là bộ trang phục cưới của cô dâu. Trang phục này, ngày xưa bắt buộc phải có đầy đủ gồm 18 thành tố với 21 đầu hiện vật, được mặc theo thứ tự như sau: khăn quấn tóc, yếm, áo, quần, dây đai, dây đai đính chuông bạc, thắt lưng vải trắng, 2 khăn quấn chéo ngực, vòng cổ, mũ cưới, khăn đỏ dài, 2 khăn đính đồng bạc, 2 khăn đính quả bông đỏ, khăn sau lưng, khăn đính quả chuông bạc, khăn thêu hoa văn, khăn vải trắng và cuối cùng là ô che đầu.

Với bộ trang phục đồ sộ này, cô dâu phải chuẩn bị hàng năm trời. Trong đó, công phu nhất là công đoạn nhuộm chàm và thêu hoa văn. Riêng thêu hoa văn mất từ 3 đến 4 tháng và phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt. Hoa văn trên áo phía trước thêu hình quả núi, trên có cây to, dưới cây nhỏ; hoa văn sau lưng là hình cây cỏ; chỉ có hoa văn ở cổ áo là tùy ý thích của cô gái.

Ngày nay sự cầu kỳ về bộ trang phục cưới được giảm bớt chỉ còn áo dài, áo yếm đính bạc, khăn thêu quấn đầu hoặc khăn hồng đính tua chỉ, một dây đai màu đỏ, vòng cổ, vòng tay, mũ cưới và ô che đầu. Các đường nét hoa văn được thêu tùy thích theo ý của cô dâu. Công đoạn nhuộm chàm cũng không còn, bố mẹ cô dâu sẽ đi chọn và mua vải lanh nhuộm chàm về cho cô thêu. Con gái khi đi lấy chồng không còn phải thêu áo cho bố chồng và chồng như ngày xưa nữa, việc mặc nhiều bộ trang phục trong ngày cưới của cô dâu cũng được giảm bớt chỉ còn phải mặc một cái áo dài.

Bộ trang phục được cô dâu và nhà gái hết lòng chăm lo. Vì vậy ấn tượng mạnh mẽ ban đầu của chú rể với cô dâu chính là bộ trang phục ngày cưới, có thể coi đây là một tác phẩm độc đáo của sắc màu và sự tinh xảo trong từng đường nét hoa văn, do cô dâu làm. Nhìn vào bộ trang phục nói lên sự nhẫn nại, tính khéo léo và đức hạnh của cô dâu. Vì thế, các bé gái người Dao Đỏ ở Nậm Đét ngay từ khi lên 8 đến 10 tuổi đã được mẹ và chị dạy từ dễ đến khó các công đoạn để hoàn tất một bộ trang phục.

Một trong những vấn đề khiến tôi lưu tâm nhất trong quá trình đi thực tế đó cũng là về vấn đề mặc trang phục dân tộc trong ngày cưới. Hầu như đám nào cũng vậy, ngoài cô dâu, chú rể, phù dâu phù rể và thầy cúng ra thì hầu hết bà con ở đây không còn mặc áo dân tộc của mình nữa. Việc nhìn thấy bà con mặc áo dân tộc là rất hy hữu, chỉ những ai có nhiệm vụ về đi lễ xin cưới, đón dâu mới mặc. Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

Một thực tế hiện hữu của thế hệ trẻ người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét ngày nay là không biết may thêu quần áo, do đòi hỏi sự khéo léo, kiên nhẫn nên nhiều người chọn cách mua hơn là tự mình làm ra y phục truyền thống. Chính vì vậy, nhiều nét văn hóa đặc thù của trang phục truyền thống người Dao Đỏ nơi đây đang dần mất đi. Bà Ghế cho biết “Trang phục ngày thường của người Dao ở Bắc Hà hiện không khác biệt với các dân tộc trong vùng, đều theo lối âu hóa. Trang phục truyền thống từ thường phục đến lễ phục chỉ mặc trong dịp lễ Tết”.

Nếu lớp trẻ không có ý thức gìn giữ và phát triển trang phục dân tộc thì sẽ mất đi một phần rất quan trọng của văn hóa dân tộc. Nếu việc thêu thùa không còn được phần đông phụ nữ Dao Đỏ ở xã Nậm Đét yêu thích và thực hành thường xuyên, thế hệ trẻ không biết thêu và không hiểu ý nghĩa của các hoa văn thì nguy cơ mai một giá trị của bộ trang phục truyền thống là không tránh khỏi.

  • Quy mô và hình thức

Biến đổi về không gian tổ chức đám cưới, không gian ngày càng được mở rộng. Trước kia chỉ tổ chức bó hẹp ở nhà chính, giờ có thể mở rộng ra sân đất, bãi cỏ, nhà hàng xóm, và đặc biệt hơn là có nhà còn tổ chức ở nhà hàng, chỉ làm lễ cúng khi về nhà. Sân khấu đám cưới cũng được dựng lên nơi thôn quê, tiếng trống tiếng kèn, pha lẫn tiếng loa tiếng đài, tiếng nhạc sập sình. Khi làm xong nghi lễ cô dâu chú rể ra sang sân khấu tiếp tục lễ cắt bánh, đeo nhẫn, trao quà theo phong cách đám cưới của dân tộc Kinh. Sau đó cùng tổ chức các trò chơi, câu đố, câu hò cùng chung vui với bà con, thanh niên trong bản [phụ lục 1; ảnh 20].

  • Những điều kiêng kị

Những vẫn đề kiêng kị được đặt ra trong hôn nhân đã có sự đổi mới, đặc biệt là do sự thay đổi về nhận thức của thế hệ trẻ, họ không tin vào những vấn đề tín ngưỡng tâm linh phá bỏ những nguyên tắc mà dân tộc đặt ra. Các vấn đề sau khi cưới không được về nhà mẹ đẻ, không được vào nhà người khác khi chưa đầy tháng, nhiều thế hệ trẻ đã không còn lưu giữ, Khi chưa làm lễ lạy mặt thì không được về nhà mẹ đẻ ngủ nhưng thực tế cho thấy những cô gái sau khi lấy chồng được khoảng 1-2 tháng là về bên mẹ đẻ ở trong khi chưa làm lễ lại mặt. Những quan niện như dâu đến nhà chồng không được ngồi cùng mâm ăn cơm với bố mẹ chồng, không được ngồi ghế, phải ngồi xổm để lễ bố mẹ , ông bà, bắc, chú bên nhà chồng hầu như đã không còn trong các gia đình.

Việc vợ sinh con ở cữ chưa đầy tháng thì chồng không được đến gần buồng, không được chăm sóc vợ, bế con. Ngày nay quan niệm này hoàn toàn không còn, mà ngược lại là khi vợ ở cữ hầu như toàn chồng chăm sóc, giặt rũ, cơm nước cho vợ…

Nhìn chung, những biến đổi trong hôn nhân thời gian gần đây đã giúp cho tinh thần người Dao Đỏ thêm phong phú, làm cho nguyên tác hôn nhân trong nội bộ người Dao Đỏ dần được đổi mới và ngày càng có nhiều cặp vợ chồng hỗn hợp dân tộc xuất hiện. Bởi vì trong bối cảnh đổi mới và tăng cường giao lưu, đây là xu hướng mới của sự phát triển quan hệ hôn nhân giữa người Dao Đỏ với các dân tộc khác, một minh chứng cho sự hội nhập giữa các dân tộc anh em trong vùng. Hôn nhân hỗn hợp có thể xem như những tác nhân dẫn đến những thay đổi nhất định trong nếp sống truyền thống của đồng bào Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà.

Giống như ở nhiều tộc người, cùng với sự phát triển của thế hệ chính trị, kinh tế, khoa học – kỹ thuật và những tiến bộ về y tế, giáo dục… thì các hình thức nghi lễ liên quan đến hôn nhân, nhất là việc tổ chức đám cưới ở người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà hiện nay cũng có sự biến đổi, với xu hướng giảm dần về thời gian, nhưng quy mô tổ chức vẫn diễn ra đầy đủ các thủ tục, nghi lễ theo phong tục tập quán và hiện đại về hình thức. Tuy nhiên phạm vi và mức độ thay đổi giữa các địa bàn, các tầng lớp, lứa tuổi… cũng có sự khác biệt nhau. Đối với tầng lớp thanh niên, cán bộ, giáo viên, sự thay đổi này diễn ra nhanh hơn sâu sắc hơn; còn tầng lớp trung niên, người già, người lao động bình thường lại muốn duy trì bảo lưu các phong tục, tập quán truyền thống dân tộc, coi đó là chỗ dựa tinh thần trong đời sống tâm linh của họ.

Mặc dù vậy, cuộc sống mỗi gia đình người Dao Đỏ xã Nậm Đét huyện Bắc Hà vẫn bị chi phối ít nhiều phong tục tập quán riêng của dân tộc. Vì thế, nhìn nhận những biến đổi trong hôn nhân của người dân ở đây là khó nhưng lý giải và hiểu thấu đáo về sự biến đổi ấy thì không dễ, do phạm vi, mức độ biến đổi giữa các địa bàn, các tầng lớp, lứa tuổi…có khác biệt nhau.

3.1.2. Nguyên nhân sự biến đổi Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

  • Điều kiện cư trú

Điều kiện cư trú xen cài “Một trong những nhân tố của sự tiếp xúc giữa các dân tộc là điều kiện cư trú xen cài. Đặc điểm nổi bật của các dân tộc ít người ở các tỉnh phía Bắc là cư trú xen kẽ, nhiều khi rất đậm đặc. Chính do sự cư trú xen cài lâu dài trong lịch sử, văn hóa, các dân tộc ít người ở Việt Nam nói chung vốn có truyền thống đoàn kết gắn bó trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống (kể cả đời sống hôn nhân và gia đình) đã trở thành duyên cớ làm nảy sinh các cuộc hôn nhân hỗn hợp dân tộc” [2, tr.25]. Chính việc cùng cư trú lâu dài trên địa bàn, các dân tộc anh em ngoài trao đổi kinh tế, văn hóa, còn trao đổi hôn nhân lẫn nhau. Việc cư trú xen cài giữa các tộc người trên cùng một địa bàn, cùng với đó là sự giao lưu trong các hoạt động học tập, lao động, tập huấn … đã tạo điều kiện để các tộc người có thể xích lại gần nhau và xóa dần những khác biệt về mặt văn hóa.

  • Tác động của các chính sách đổi mới và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

Từ sau năm 1986, người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà đã tiếp thu và xây dựng đời sống văn hóa mới, đặc biệt là trong hôn nhân. Nếu như trước đây nam nữ thanh niên hầu như sinh ra, lớn lên và lấy vợ trong làng thì ngày nay thanh niên đã đi học, đi làm ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, thậm chí còn ra cả nước ngoài. Chính sự mở rộng không gian làm việc và học tập là một trong những nguyên nhân giúp các bạn trẻ gần nhau hơn, thu hẹp khoảng cách giữa các dân tộc. Ngoài ra còn xuất hiện xu hướng đi lao động xuất khẩu ở các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia… Vì thế, hôn nhân của người Dao Đỏ không chỉ vượt ra khỏi làng, xã mà còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia, lãnh thổ. Những mặc cảm, lo lắng về sự không tương đồng văn hóa như ngôn ngữ, các sinh hoạt vật chất trong cuộc sống thường ngày… đã không còn là rào cản cho các cặp hôn nhân hỗn hợp với người nước ngoài.

  • Tác động của các yếu tố văn hóa, xã hội

Quá trình giao thoa văn hóa giữa các dân tộc đã tác động tới văn hóa của mỗi dân tộc cả mặt tích cực và tiêu cực. Giao thoa văn hóa góp phần thúc đẩy quá trình xích lại gần nhau và hiểu biết giữa các dân tộc, đồng thời là tác nhân quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình biến đổi văn hóa truyền thống của các dân tộc, khiến cho nhiều giá trị văn hóa mới thâm nhập ảnh hưởng đến đời sống văn hóa như ngôn ngữ, giáo dục, khoa học, ẩm thực, trang phục,…  Hiện nay, khi đến những vùng người Dao sinh sống, rất khó phân biệt đâu là người dân tộc Dao và các dân tộc thiểu số khác. Hầu như trong đám cưới chỉ có cô dâu và chú rể, phù dâu, phù rể là mặc trang phục của dân tộc mình (khi làm lễ), ngoài ra đều mạc trang phục thường ngày đi làm. Qua phỏng vấn một nhóm thanh niên trẻ cho biết “Chúng tôi chỉ thích mặc những bộ quần áo thường ngày như của người Kinh, vì nó rất mát dễ đi lại, di chuyển”, Theo cô Ghến “Việc không thấy nhóm thanh niên trẻ ngày nay mạc trang phục dân tộc, một phần vì trang phục dân tộc may bằng vải chàm nên rất nóng cộng với vải này dễ bị phai mầu, nên không thể giặt được, nếu bị dính nước thì các họa tiết hoa văn sẽ phị pha màu hết. Mặt khác là do hoạt động sản suất đi lại nhiều nên việc khoác trên mình bộ áo nặng nề sẽ bất tiện. Chính vì vậy việc nhìn thấy bóng dáng trang phục dân tộc ở đây là rất hiếm”.

Điều này cũng dễ hiểu vì các bạn trẻ hiện nay được giao lưu văn hóa với các vùng miền, qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo,… cho nên họ có sự lựa chọn giữa cái truyền thống và cái hiện đại cho việc ăn mặc và tổ chức lễ cưới của mình. Tuy nhiên, cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người theo hướng “hòa nhập” mà không “hòa tan”. Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

  • Tác động của các chính sách pháp luật

Một trong những nguyên nhân chính làm thay đổi vai trò của các cá nhân trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét như đã đề cập ở trên là do có sự tác động của các chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua việc tuyên truyền, vận động thực hiện nếp sống văn hóa, các quy ước làng bản, trong đó có vai trò của các cán bộ hội phụ nữ, thanh niên, người dân đã phần nào nhận thức được các vấn đề liên quan đến hôn nhân. Trước đây, tình trạng kết hôn của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét có trường hợp ở độ tuổi 13, 14 nhưng sau khi có Luật Hôn nhân và Gia đình quy định rất rõ về độ tuổi kết hôn (nữ từ 18 tuổi, nam từ 20 tuổi) thì tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết không còn nữa.

Luật Hôn nhân và Gia đình ra đời đã tác động tích cực đến nhận thức của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình. Thực tế hiện nay, phần lớn thanh niên người Dao Đỏ ở đây kết hôn muộn hơn so với độ tuổi tối thiểu mà Nhà nước quy định, thường là nữ 20-22 tuổi, nam 20-24 tuổi. Nguyên nhân chính tác động đến sự thay đổi này là do thế hệ trẻ nhận thức được việc kết hôn sớm sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống tương lai, hơn nữa thanh niên người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét ngày càng được đi học nhiều hơn, biết lo lắng cho tương lai và họ đã làm nhiều công việc khác nhau để đảm bảo cho cuộc sống sau khi kết hôn.

Trước xu thế hiện đại hóa, toàn cầu hóa văn hóa của thế giới, nhận thức và suy nghĩ của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà cũng đang chịu nhiều tác động trực tiếp. Việc cha mẹ lựa chọn để dựng vợ, gả chồng cho con không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại và là phong tục gây ra nhiều hệ lụy, đau khổ cho các cặp vợ chồng sống với nhau mà không có tình yêu. Tình cảm, tình yêu đôi lứa của các chàng trai, cô gái ngày nay đã được gia đình, dòng họ tôn trọng và ủng hộ. Hiện nay, bản thân thanh niên người Dao Đỏ cũng không muốn lấy vợ, lấy chồng sớm như các thế hệ trước. Họ muốn phấn đấu học tập để có trình độ cao hơn, cũng như mong muốn có một công việc tốt hơn. Để tạo nên sự thay đổi này, ngoài nỗ lực của đôi bạn trẻ còn có sự chuyển biến trong nhận thức của cha mẹ hai bên.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới” đã được tuyên truyền, vận động đến từng thôn bản. Đặc biệt trong các buổi sinh hoạt cộng đồng đã lồng ghép tuyên truyền, giáo dục mọi người dân tuân thủ việc kết hôn phải dựa trên sự tự nguyện và tình yêu, được pháp luật công nhận thông qua đăng ký kết hôn, nam đủ 20 tuổi, nữ đủ 18 tuổi mới được lấy vợ, lấy chồng. Đây chính là sự thay đổi nhận thức quan trọng đối với người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét trước xu thế phát triển của xã hội, họ không chỉ chấp hành theo luật tục mà còn phải sống và thực hiện theo chính sách, pháp luật của Nhà nước.    

3.2. Giải pháp, khuyến nghị nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai hiện nay

3.2.1 Một số giải pháp nhằm giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục hiểu biết văn hóa tộc người, phong tục tập quán nói chung và những quy định có tính pháp luật nói riêng đến người dân, đưa những kiến thức hữu ích và cụ thể vào đời sống. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, công tác này ở các địa phương vẫn bị coi nhẹ, người dân chưa ý thức và hiểu biết một cách đầy đủ về chính sách, pháp luật của nhà nước. Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

Tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc; phát huy hội nghệ nhân dân gian các xã, thị trấn, người có uy tín trong cộng đồng; tăng cường hoạt động của đội tuyên truyền văn hóa lưu động; mở các lớp truyền dạy ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc Dao; các loại hình nghệ thuật dân gian, chế tác nhạc cụ dân tộc; duy trì các bước trong lễ truyền thống của người Dao Đỏ.

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế phải do chính các cá nhân, bản làng người Dao thực hiện, phải có ý thức tự giác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Những giải pháp phát triển về kinh tế để đáp ứng những nhu cầu dân sinh phải gắn với nhu cầu bảo vệ đời sống tinh thần, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Muốn vậy, mọi chính sách đều phải gắn với cộng đồng dân tộc, tôn trọng quyền quyết định của cộng đồng dân tộc, đồng thời phải đầu tư nghiên cứu sâu sắc về những giá trị của văn hóa dân tộc để có những giải pháp phù hợp.

Cán bộ công tác gia đình văn hóa cần trang bị những hiểu biết cơ bản về độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, về sức khỏe sinh sản vị thành nên, tác hại của việc kết hôn sớm, khuyến khích người dân sử dụng đa dạng các biện pháp tránh thai, nhất là đối với lớp trẻ.

Phát triển kinh tế và văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đây là một trong những nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của dân tộc. Đặc biệt việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cần gắn với giữ gìn không gian văn hóa – nơi duy trì đời sống của cộng đồng dân tộc.

3.2.2 Dựa trên nghiên cứu thực tế ở huyện Bắc Hà về hôn nhân của người Dao Đỏ tác giả xin đề xuất một vài khuyến nghị như sau: Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

Trước hết cần thay đổi nhận thức của người dân về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, khắc phục tư tưởng tự ti về văn hóa tộc người và hướng ngoại về văn hóa tộc người khác dẫn đến đánh giá không đúng các giá trị văn hóa của dân tộc mình, thậm chí quay lưng với các giá trị văn hóa truyền thống, nhất là thế hệ trẻ. Chỉ trên cơ sở nhận thức đúng, có lòng tự hào chính đáng về văn hóa truyền thống của cha ông để lại thì mới có thể bảo vệ và phát huy được giá trị trong xã hội hiện tại.

Chúng ta cần giáo dục thế hệ trẻ người Dao Đỏ nhận thức, trân trọng những giá trị văn hóa dân tộc. Bởi họ chính là chủ nhân tương lai nắm giữ vốn văn hóa đó. Khuyến khích cộng đồng mặc trang phục truyền thống, nhưng cũng cần tạo ra môi trường để họ có cơ hội phô diễn trang phục với niềm vinh dự, tự hào. Nghiên cứu cải tiến chất liệu, kiểu dáng, màu sắc truyền thống trên cơ sở tôn trọng bản sắc văn hóa Dao nhưng vẫn phù hợp với bối cảnh hiện nay.

Bộ y phục, trang sức của người Dao Đỏ ngày nay vẫn được các gia đình lưu giữ, nhưng việc may thêu các bộ mới cần khuyến khích, bởi chúng có thể trở thành mặt hàng lưu niệm phục vụ phát triển du lịch ở địa phương. Kỹ thuật thêu truyền thống cần bảo tồn, và mở rộng thêm bằng việc không chỉ thêu lên y phục mà thêu trên nhiều sản phẩm gia dụng, hợp với thị hiếu của khách hàng như thêu trên gối, chăn, đệm, thảm, túi.

Nhà nước cần có những chiến lược đầu tư thỏa đáng về các chiến dịch truyền thông để tuyên truyền, phổ biến các ấn phẩm văn hóa, xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình… bằng tiếng Dao. Các cấp các ngành có sự quan tâm sâu sắc, quản lý chặt chẽ, chính xác, khoa học. Nếu công tác tổ chức quản lý không được tốt, về các vấn đề hôn nhân và gia đình thì tình trạng tảo hôn và các hủ tục lạc hậu trong hôn nhân vẫn không được bài trừ và các nét đẹp truyền thống hôn nhân không được lưu giữ thì vấn đề xây dựng nếp sống văn minh trong hôn nhân sẽ rất khó đạt được.

Xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý trong ngành văn hóa hội tụ đầy đủ những yếu tố: kinh nghiệp, nhiệt tình, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có hiểu biết về văn hóa nghi lễ truyền thống, các phong tục tập quán của dân tộc. Để thực hiện tốt vấn đề này cần có sự chung tay và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, trưởng thôn.

Chú trọng hơn nữa công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ người Dao, trang bị cho họ những kiến thức cần thiết cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Tiểu kết

Trong chương 3 tác giả đã đi tìm hiểu những biến đổi trong hôn nhân của người Dao Đỏ, chủ yếu tập chung vào tìm hiểu nguyên nhân tác động đến sự biến đổi đó thông qua các đối tượng phỏng vấn. Từ những biến đổi trong quá trình nghiên cứu để kết luận và đưa ra một số giải pháp khuyến nghị để giữ gìn những nét đẹp, các giá trị trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

Trong quá trình di cư sinh sống cộng cư, cư trú xen cài với các dân tộc khác ở Bắc Hà, văn hóa người Dao Đỏ nói chung và hôn nhân nói riêng đã và đang có nhiều thay đổi. Cùng với đó, do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa nên nghi lễ hôn nhân của người Dao Đỏ đã có nhiều thay đổi, cụ thể là đã tiếp nhận một số yếu tố mới của các nền văn hóa khác, nhất là của người Kinh và dân tộc bản địa nơi người Dao Đỏ di cư đến.

Những biến đổi trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan. Một mặt, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa ở khu vực miền núi. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và Gia đình cũng được áp dụng sâu rộng vào trong đời sống của đồng bào. Mặt khác, cùng với những bước phát triển về kinh tế, giao lưu với xã hội hiện đại diễn ra thuận lợi hơn, các yếu tố văn hóa mới được truyền bá và tiếp thu theo nhiều chiều. Nhờ vậy, trình độ dân trí của người dân không ngừng được nâng cao.

Trong những nguyên nhân đó, sự điều chỉnh của pháp luật và những chuyển biến trong nhận thức của người dân đóng vai trò hàng đầu. Trong tương lai, hai yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại sẽ cùng tồn tại, đan xen và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, cho dù hai yếu tố văn hóa này cùng song hành tồn tại nhưng bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Đỏ ở Bắc Hà thể hiện trong hôn nhân vẫn được giữ gìn và phát huy. Những nét đặc sắc trong phong tục tập quán trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở Bắc Hà là một kho tàng giá trị nhân văn tạo nên bản sắc văn hóa của người Dao nói riêng và các dân tộc Việt Nam nói chung. Trong bối cảnh hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, xác định mục tiêu, nhiệm vụ “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” là một quan niệm đúng đắn và cấp thiết. Chúng ta cần có ý thức và trách nhiệm, từ cá nhân đến cộng đồng và toàn xã hội, trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần vào phát triển kinh tế-xã hội, ổn định về chính trị, vững về quốc phòng, an ninh, xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Luật tục hôn nhân của người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà

One thought on “Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464