Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Để đánh giá tổng quan và toàn diện về thực tiễn thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC của cơ quan tư pháp trong phạm vi cả nước thì chúng ta phải xem xét trên những khía cạnh khác nhau, đó là: kết quả, thành tựu đạt được và những hạn chế, khó khăn, vướng mắc còn tồn tại. Sau đây là nội dung của từng phần:
2.1. Những kết quả đã đạt được trong thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm
Luật TTHC hiện hành ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển từ các quy định của Luật TTHC năm 2010, song đã bổ sung nhiều quy định mới theo hướng đảm bảo tính công khai, minh bạch trong TTHC đồng thời đảm bảo quyền tranh tụng và mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đã và đang mang lại những hiệu quả tích cực cho công tác giải quyết VAHC. Trong đó, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC đã đem lại những khởi sắc trong việc thực hiện công tác này. Công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC đã từng bước đi vào nền nếp, có trọng tâm, chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm được đưa ra ngày càng được đảm bảo về cả nội dung và thủ tục, việc tiếp nhận và trả lời đơn đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm ngày càng được quan tâm, củng cố, kịp thời phát hiện và khắc phục những sai sót, vi phạm của Tòa án, góp phần đảm bảo tính đúng đắn, công bằng, khách quan, hợp pháp của các bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Về phía Viện kiểm sát, hoạt động tiếp nhận đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm và công tác kháng nghị giám đốc thẩm nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt từ lãnh đạo của VKSNDTC và VKSNDCC. Thời gian qua, công tác tiếp nhận, giải quyết đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức được quan tâm thực hiện đúng mức, thời hạn xử lý được bảo đảm, tránh tình trạng tồn đọng đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm một cách tối đa, tạo được niềm tin, sự an tâm cho các cá nhân, tổ chức có đơn đề nghị [62]. Song song với đó là chất lượng các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm VAHC của Viện trưởng VKSNDTC, VKSNDCC được nâng cao rõ rệt, các căn cứ kháng nghị rõ ràng, mọi hoạt động phục vụ cho công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC được khẩn trương thực hiện. Các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm được chủ thể có thẩm quyền ban hành kịp thời, đúng thời hạn Luật định, nội dung trong các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phần lớn được đảm bảo và áp dụng đúng theo các quy định của pháp luật TTHC. Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm VAHC của Viện kiểm sát nhân dân được Tòa án chấp nhận tương đối cao, nhiều năm vượt so với yêu cầu của Quốc hội đề ra. Trong năm 2021, phía Viện kiểm sát “đã ban hành 24 kháng nghị giám đốc thẩm VAHC, tăng 07 kháng nghị (41,2%), HĐXX đã xét xử 16 vụ án, chấp nhận 10 kháng nghị, đạt tỷ lệ 62,5%” [60]. Trong 2 năm 2021 và năm 2022, trong lĩnh vực hành chính, Viện kiểm sát nhân dân “đã ban hành 42 kháng nghị giám đốc thẩm được Tòa án chấp nhận kháng nghị là 30 kháng nghị (đạt 78,9%, vượt 3,9% so với chỉ tiêu Quốc hội)” [61] và theo Báo cáo công tác của Viện kiểm sát nhân dân tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV có thể thấy tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm VAHC được HĐXX chấp nhận trong năm 2023 tiếp tục tăng và vượt chỉ tiêu của Quốc hội. Điều này đã đóng góp thiết thực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong VAHC. Bên cạnh đó, để nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC nói riêng và kháng nghị giám đốc thẩm nói chung, VKSND luôn luôn chủ động, nghiêm túc thực hiện việc tự đánh giá, ban hành thường xuyên các thông báo rút kinh nghiệm về hoạt động kiểm sát, kháng nghị của Viện kiểm sát, đặt ra các tiêu chí trọng điểm nhằm hạn chế mức thấp nhất trường hợp kháng nghị giám đốc thẩm không được HĐXX chấp nhận. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Về phía Tòa án, theo quy định của pháp luật hiện hành, các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm VAHC đó là Chánh án TANDTC và Chánh án TANDCC, bên cạnh đó TANDCC và TANDTC lại là hai cơ quan có thẩm quyền trực tiếp giám đốc thẩm, tái thẩm VAHC theo phạm vi thẩm quyền mà Luật TTHC phân định. Do đó, việc thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm của lãnh đạo hai cấp Tòa án này vô cùng quan trọng và đón nhận rất nhiều sự chú ý của các chủ thể có liên quan. Nhìn chung, theo báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2022 và năm 2023, công tác kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án của Chánh án TANDTC và Chánh án TANDCC luôn được thực hiện thận trọng, chặt chẽ, có căn cứ, tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật. Công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có nhiều tiến bộ, trong năm 2022 “tỷ lệ giải quyết đơn đạt 62,4% vượt 2,4% so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra” [47]. Bên cạnh đó, theo Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2023, có thể nhận thấy được sự quan tâm chỉ đạo và quyết tâm thực hiện công tác này của các cấp có thẩm quyền giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm trong ngành Tòa án, khi tỷ lệ giải quyết đơn nhìn chung có xu hướng tăng so với năm trước đồng thời “vượt yêu cầu Nghị quyết Quốc hội và Tòa án đề ra” [48]. Chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm của các chủ thể có thẩm quyền trong ngành Tòa án ngày càng được nâng cao, đặc biệt là những kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC trong những năm gần đây luôn đạt tỷ lệ chấp nhận đến mức tuyệt đối: “100% quyết định kháng nghị của Chánh án TANDTC đều được HĐTP chấp nhận kháng nghị, không có vụ án nào do Chánh án TANDTC kháng nghị nhưng phải rút kháng nghị, không có vụ án nào để quá thời hạn giám đốc thẩm” [48]. Không khó để nhận thấy, một trong những lý do chính dẫn đến tỷ lệ quyết định kháng nghị giám đốc thẩm có chất lượng cao tăng lên là sự nghiên cứu, đánh giá kĩ lưỡng đối với các đối tượng, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và sự thận trọng trong công tác rà soát, phân loại để xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, bảo đảm không để quá hạn thời hạn giải quyết theo quy định pháp luật của Tòa án [46]. Đa phần, các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm VAHC do Tòa án ban hành đều đáp ứng yêu cầu về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đồng thời có căn cứ kháng nghị rõ ràng, chất lượng các quyết định kháng nghị không ngừng được nâng cao.
Như vậy, từ các đánh giá, phân tích trên đây, chúng ta thấy công tác kháng nghị giám đốc thẩm đối với các vụ án nói chung và VAHC nói riêng đã đạt được những thành tựu, kết quả tích cực và góp phần vào thành tích chung của toàn ngành tư pháp, kiểm sát và công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Để tăng thêm tính thuyết phục cũng như chứng minh cho các đánh giá, nhận định trên, tác giả đã công phu nghiên cứu tất cả các báo cáo tổng kết công tác năm của ngành Tòa án từ năm 2019 đến năm 2023 để trích lọc số liệu, tính tỷ lệ % và mã hóa thành các số liệu tổng hợp ở bảng số liệu và biểu đồ sau:
Bảng số liệu chi tiết thể hiện tình hình kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính trong phạm vi cả nước từ 01/1/2019 đến 31/12/2023
| Năm | Số vụ án hành chính đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm | Tổng số vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm | Tỷ lệ vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm (%) | Số vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm được thụ lý | Số vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm đã xét xử | Số vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm được chấp nhận | Số vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm không được chấp nhận | Tỷ lệ vụ án hành chính có kháng nghị giám đốc thẩm được chấp nhận |
| 2019 | 7142 | 68 | 0,95% | 64 | 45 | 40 | 5 | 88,89% |
| 2020 | 8582 | 64 | 0,75% | 60 | 51 | 46 | 5 | 90,20% |
| 2021 | 5693 | 33 | 0,58% | 30 | 26 | 22 | 4 | 84,62% |
| 2022 | 8524 | 47 | 0,55% | 41 | 38 | 35 | 3 | 92,11% |
| 2023 | 9130 | 45 | 0,49% | 43 | 41 | 39 | 2 | 95,12% |
| Tổng | 39071 | 257 | 0,65% | 238 | 201 | 182 | 19 | 90,55% |
Thông qua các số liệu được thể hiện trong bảng và biểu đồ biểu thị nêu trên, chúng ta có thể thấy được tình hình công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC trên phạm vi cả nước từ năm 2019 đến năm 2023 như sau: tình hình kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC có biến động, tuy nhiên nhìn chung có xu hướng giảm. Mặc dù số lượng các VAHC đã được xét xử sơ thẩm, phúc thẩm có chiều hướng tăng theo các năm tuy nhiên số lượng VAHC có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm lại giảm dần qua từng năm. Năm 2019 trên phạm vi cả nước đã ban hành 68 kháng nghị giám đốc thẩm chiếm 0,95% tổng số VAHC đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; đến năm 2023 đã giảm xuống còn 45 kháng nghị giám đốc thẩm chiếm tỷ lệ 0,49%; đã giảm 0,46% so với năm 2019. Qua đó, có thể nhận thấy rằng các Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã thực hiện khá tốt các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng cũng như áp dụng pháp luật nội dung trong giải quyết các VAHC nhờ đó mà chất lượng của công tác này ngày càng được nâng cao, tỷ lệ VAHC có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm giảm dần. Bên cạnh đó, tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm của các chủ thể có thẩm quyền được HĐXX chấp nhận ngày càng cao, năm 2019 tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm được chấp nhận là 88,89% đến năm 2023 con số này là 95,12% tăng 6,23%. Tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm VAHC được HĐXX chấp nhận tăng dần đồng nghĩa với tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm VAHC được HĐXX không chấp nhận giảm dần, năm 2019 tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm bị bác là 11,11% đến năm 2023 giảm xuống còn 4,88% giảm 6,23%. Những số liệu này đã cho thấy những tín hiệu tín cực trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC ở nước ta; qua các năm, chất lượng việc thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm VAHC luôn được đảm bảo và ngày càng được nâng cao.
Thêm vào đó, để có thể làm sâu hơn phần trình bày trên, tác giả xin được trích lược VAHC mà có kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC. Kháng nghị được ban hành có căn cứ rõ ràng, việc kháng nghị được thực hiện hợp pháp, chính xác nên đã được HĐXX giám đốc thẩm chấp nhận, cụ thể như sau: Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Nguồn gốc diện tích 3.442,5 m² (đo thực tế là 3.433,4 m²) đất tại Thửa đất số 84, Tờ bản đồ số 13, phường XB, thành phố LK, tỉnh ĐN là của bà H1 đã được cấp GCN quyền sử dụng đất số U 328804, mục đích sử dụng “CD/XD”, thời hạn sử dụng đất đến năm 2037. Ngày 06/8/2010, ông H và vợ là bà T nhận chuyển nhượng của bà H1 toàn bộ diện tích đất nêu trên. Ngày 13/4/2011, UBND thị xã LK cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 183452 cho ông H và bà T; diện tích đất 3.408 m², thời hạn sử dụng đất đến năm 2037, nguồn gốc sử dụng đất là “Công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất”. Hàng năm, ông H có thực hiện đóng thuế tiền sử dụng đất. Để thực hiện Dự án xây dựng Trung tâm thương mại và Dân cư LK tại phường XB, thị xã LK (nay là thành phố LK), ngày 29/8/2019, UBND thành phố LK ban hành Quyết định số 1958/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 3.433,4 m² đất tại Thửa đất số 84 nêu trên của gia đình ông H. Ngày 11/9/2019, UBND thành phố LK ban hành Quyết định số 2026/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông H, bà T với tổng giá trị là 3.232.859.155 đồng (trong đó không bồi thường giá trị đất, lý do: “đất không thu tiền sử dụng đất”). Ngày 11/9/2019, ông H có đơn khiếu nại. Đến ngày 21/1/2020, Chủ tịch UBND thành phố LK ban hành quyết định số 117/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông H với nội dung bác đơn khiếu nại. Ngày 13/2/2020, ông H có đơn khởi kiện đề nghị hủy Quyết định số 1958/QĐ-UBND ngày 28/9/2019 của UBND thành phố LK và Quyết định số 117/QĐ-21/1/2020 của Chủ tịch UBND thành phố LK.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2020/HC-ST ngày 14/9/2020, TAND tỉnh ĐN quyết định: bác yêu cầu khởi kiện của ông H về việc hủy Quyết định số 1958/QĐ- UBND ngày 28/9/2019 và Quyết định số 117/QĐ-21/1/2020 Ngày 24/9/2020, ông H có đơn kháng cáo đối với Bản án hành chính sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 541/2020/HC-PT ngày 31/12/2021, TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: chấp nhận kháng cáo của ông H; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H; hủy Quyết định số 1958/QĐ-UBND ngày 28/9/2019, Quyết định số 117/QĐ-21/1/2020 và Quyết định số 2026/QĐ-UBND ngày 11/9/2019 đều của Chủ tịch UBND thành phố LK.
Nhận thấy một số sai lầm trong bản án phúc thẩm của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20/6/2023, Chánh án TANDTC đã ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 38/2023/KN-HC đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 541/2020/HC-PT ngày 31/12/2021 của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Chánh án TANDTC đã nêu rõ: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện là chính xác, đúng quy định của pháp luật. Khi xét xử phúc thẩm (ngày 31/12/2021), Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy Quyết định số 2026/QĐUBND ngày 11/9/2019 của UBND thành phố LK là không đúng, vì trước đó vào ngày 21/10/2020, TAND tỉnh ĐN đã thụ lý, giải quyết bằng một vụ án khác đối với Quyết định này theo yêu cầu khởi kiện của ông H và ngày 17/3/2022. Trước khi ban hành Quyết định số 1958/QĐ-UBND, UBND thành phố LK đã ban hành Thông báo số 1062/TB-UBND ngày 18/9/2018 về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông H để thực hiện Dự án và ngày 29/8/2019 ban hành Quyết định số 1957/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tổng thể, trong đó có hộ ông H, bà T là đúng quy định. Như vậy, UBND thành phố LK ban hành Quyết định số 1958/QĐ-UBND thu hồi đất của hộ gia đình ông H, bà T là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên giám đốc thẩm, xét thấy quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC là hợp pháp, căn cứ kháng nghị rõ ràng, chính xác, HĐXX đã quyết định chấp nhận quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 38/2023/KN-HC ngày 20/6/2023 của Chánh án TANDTC đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 541/2020/HC-PT ngày 31/12/2021 của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 541/2020/HC-PT ngày 31/12/2021 của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh. [41]
Tựu chung lại, trong thời gian vừa qua, việc thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC của các chủ thể có thẩm quyền có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng của công tác kháng nghị được nâng cao. Đây là những tín hiệu tích cực, những thành tích đáng ghi nhận của toàn ngành tư pháp nói chung và những chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nói riêng, đóng góp không nhỏ vào việc bảo đảm các quy định của pháp luật được tuân thủ chính xác, chặt chẽ, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được bảo vệ.
2.2. Những khó khăn trong thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Có thể nhận thấy, trong những năm qua công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận, góp phần bảo đảm về cả số lượng và chất lượng của các quyết kháng nghị đồng thời nâng cao uy tín và thể hiện trọn vẹn trách nhiệm giám sát hoạt động xét xử vụ án hành chính của TAND đối với các chủ thể có thẩm quyền. Song, với tính chất là một loại hoạt động phức tạp, đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị cần phải thật sự thận trọng, tỉ mỉ trong tất cả các bước từ khi tiếp nhận đơn đề nghị giám đốc thẩm tới khi ban hành quyết định kháng nghị, cùng với một số lý do khách quan và chủ quan mà vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện công tác này.
Thứ nhất, việc xử lí bước đầu với đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm chưa được đảm bảo
Theo báo cáo Tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2024 có thể thấy, tổng số đơn đề nghị tái thẩm, giám đốc thẩm được Tòa án giải quyết vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết Quốc hội giao, tuy nhiên vì một số lý do chủ quan và khách quan nêu trên mà tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với các vụ án mà đặc biệt là án hành chính chưa thật sự cao. Một trong những nguyên nhân đó là bởi công tác giải quyết, xem xét, xử lý bước đầu đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với VAHC chưa đạt được con số tuyệt đối, chưa đáp ứng chỉ tiêu mà ngành Tòa án đề ra. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm là nguồn cung cấp thông tin về việc phát hiện sai lầm, vi phạm trong bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Trong nhiều trường hợp đây còn là điều kiện để các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm giám đốc thẩm thực hiện kháng nghị. Do đó, có thể thấy, loại đơn này có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm. Mặc dù có vai trò khá to lớn, song hiện nay việc xử lý bước đầu với đơn đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện chưa thật sự hiệu quả, chưa đáp ứng được kỳ vọng của chủ thể làm đơn. Hiện nay, tỷ lệ đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng nói chung và TTHC nói riêng rất nhiều, điều này phần nào xuất phát từ tâm lý sau khi nhận được bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành đương sự có ngay đơn đề nghị giám đốc thẩm, từ đó đặt ra nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lý đơn. Mặt khác, nhiều đơn, vụ việc không có chứng cứ rõ ràng gây mất nhiều thời gian xác minh trong khi số lượng công chức thực hiện công tác thẩm định, xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm hiện nay còn thiếu hụt trầm trọng và chưa được đào tạo qua một lớp nghiệp vụ chuyên sâu nên công tác xem xét đơn đó còn rất chậm và ở dạng thức tản mạn chưa có sự tập trung cao [44, tr.30]. Trong một số trường hợp, việc trả lời đơn chưa chính xác, lập luận chưa thật sự thuyết phục, vẫn còn một vài trường hợp trả lời là không có căn cứ kháng nghị nhưng sau đó lại phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nên đã bị Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị giám đốc thẩm. Điều này phần nào đã gây tâm lý không tốt cho người làm đơn đề nghị chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đồng thời đã tạo nên những áp lực cho công tác xử lý đơn đề nghị giám đốc thẩm. Tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực Kiểm sát tại Phiên họp Thứ 21 của UBTVQH ngày 21/3/2023, Viện Trưởng VKSNDTC Lê Minh Trí đã nêu rõ “giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là áp lực lớn cho cả Tòa án và Viện Kiểm sát” [67]. Nhìn chung, công tác xử lý bước đầu với đơn đề nghị giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án còn tồn tại những hạn chế nhất định về trình tự, thủ tục, tài lực, vật lực trong tiếp nhận và xử lý đơn, từ đó đã và đang gây ra nhiều khó khăn cho việc thực hiện công tác này.
Thứ hai, việc thực hiện chuyển hồ sơ giám đốc thẩm tới các cơ quan có thẩm quyền theo yêu cầu của TAND, VKSND và công tác xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chưa đảm bảo Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Bên cạnh những hạn chế còn tồn tại trong công tác xử lý bước đầu đơn đề nghị giám đốc thẩm, trong công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm còn tồn tại một số hạn chế nhất định trong việc chuyển hồ sơ giám đốc thẩm, phối hợp giữa các cơ quan có liên quan. Viện trưởng VKSNDTC Lê Minh Trí đã nêu rõ tất cả những vụ việc mà Viện có hồ sơ thì đều được giải quyết vượt chỉ tiêu đề ra, song vẫn tồn tại những vụ việc mà Viện không có hồ sơ để giải quyết do đó nếu tính cứ có đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm là phải giải quyết thì công tác giải quyết loại đơn này của ngành Kiểm sát không đạt mục tiêu đề ra [67]. Thực tế, hiện nay việc thực hiện yêu cầu chuyển hồ sơ giám đốc thẩm cho VKSND, TAND có thẩm quyền giải quyết còn chậm, thậm chí có tình trạng một số Tòa án không gửi hồ sơ hoặc không tiến hành thông báo, thông báo không đúng thời hạn quy định cho Viện kiểm sát có yêu cầu biết về việc đã chuyển hồ sơ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền, cá biệt có trường hợp chậm chuyển hồ sơ giám đốc thẩm dẫn đến hết thời hạn kháng nghị. Ngoài ra, công tác xác minh, thu thập chứng cứ để tiến hành giải quyết một số vụ án vẫn còn còn chậm, thậm chí không nhận được kết quả ủy thác, một số thẩm tra viên chưa thật sự phát huy được tính chủ động, tích cực trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan, sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án chưa thật sự đảm bảo chặt chẽ và kịp thời. Chính vì vậy đã đặt ra nhiều khó khăn trong việc làm rõ các nội dung của vụ án đồng thời có thể làm ảnh hưởng tới chất lượng của kháng nghị được đưa ra.
Thứ ba, chất lượng các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC còn chưa được bảo đảm, một số kháng nghị giám đốc thẩm chưa toàn diện, thiếu căn cứ kháng nghị, nội dung kháng nghị chưa rõ ràng
Trong tố tụng nói chung và TTHC nói riêng, kháng nghị giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt, có tính phức tạp cao, luôn đặt các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị ở trạng thái phải thực hiện xem xét chắc chắn, tỉ mĩ, kỹ lưỡng trước khi quyết định ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Qua thực tiễn hiện nay, về cơ bản công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC được thực hiện tương đối tốt, tỷ lệ kháng nghị thành công cao, sự giám sát của Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới được đảm bảo. Song, không thể phủ nhận sự thật rằng án hành chính thường liên quan đến quá trình dài, tính chất phức tạp cao, công tác cung cấp tài liệu, hồ sơ, chứng cứ có liên quan đến vụ án không phải lúc nào cũng được các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện kịp thời kịp thời và đầy đủ. Cũng bởi điều này và tính phức tạp vốn có của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm mà trên thực tế vẫn còn tồn tại một vài quyết định kháng nghị giám đốc thẩm chưa bảo đảm, còn có những thiếu sót, sai lầm, một số quyết định kháng nghị giám đốc thẩm không đầy đủ căn cứ kháng nghị, nội dung kháng nghị không rõ ràng, gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động giám đốc thẩm của Tòa án có thẩm quyền. Cá biệt, tồn tại một vài quyết định kháng nghị giám đốc thẩm không đưa ra được căn cứ kháng nghị, có quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát đề nghị Tòa án thực hiện giám đốc thẩm hủy, sửa bản án của Tòa cấp dưới nhưng không nêu rõ điểm sai sót trong bản án, quyết định đó. Ngoài ra, còn tồn tại hiện tượng, ban hành kháng nghị giám đốc thẩm với những căn cứ, nhận định không chính xác làm kéo dài việc thi hành án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời gia tăng khối lượng công việc cho các TANDCC, gây áp lực về tâm lý cho các Tòa án địa phương [45, tr.7]. Để làm rõ lập luận này, tác giả xin trích lược VAHC có kháng nghị giám đốc thẩm sau:
Khoảng từ năm 2014 đến ngày 31/8/2016, ông H là Hiệu trưởng Trường THCS thị trấn X, huyện X, tỉnh Y. Trong thời gian này, ông H có dấu hiệu phạm tội Tham ô tài sản. Ngày 20/4/2017, UBND huyện X chuyển hồ sơ kiến nghị khởi tố đối với ông H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện X. Do không chứng minh được dấu hiệu tội phạm nên Công an huyện X kết luận: Giai đoạn ông H làm hiệu trưởng đã thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, không phát hiện kế toán chiếm đoạt ngân sách nhà nước với số tiền 81.340.276 đồng, do số tiền không đủ định lượng cấu thành tội phạm thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, đề nghị UBND huyện X kiểm điểm, xử lý hành chính ông H theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/12/2018, Chủ tịch UBND huyện X ban hành Quyết định số 1859/QĐUBND xử lý kỷ luật công chức bằng hình thức buộc thôi việc đối với ông H. Không đồng ý, ông H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1859/QĐ-UBND nêu trên và bồi thường thiệt hại. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2019/HC-ST ngày 13/11/2019, TAND huyện X, tỉnh Y đã quyết định với nội dung: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Không đồng ý với Bản án hành chính sơ thẩm nêu trên, ông H kháng cáo.
Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2020/HC-PT ngày 06/3/2020, TAND tỉnh Y đã quyết định: Bác kháng cáo của ông H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Ngày 08/10/2020, Viện trưởng VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 236/QĐKN-VKS-HC kháng nghị đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2020/HC-PT ngày 06/3/2020 của TAND tỉnh Y theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại phiên tòa, Hội đồng giám đốc thẩm nhận định:
Về thời hạn ban hành quyết định kỷ luật buộc thôi việc: Về nội dung Kháng nghị của Viện trưởng VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng VKSND tỉnh Y ban hành Công văn số 199/VKS-P3 ngày 09/7/2018 đã xác định không đủ căn cứ chứng minh ông H có yếu tố vụ lợi, chiếm đoạt cá nhân nên Công an huyện X đề nghị UBND huyện X xử lý hành chính đối với ông H. Căn cứ theo khoản 2 Điều 80 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì thời hạn để xử lý kỷ luật đối với ông H tối đa không quá 04 tháng. Tòa án hai cấp của tỉnh Y chưa đề nghị UBND huyện X cung cấp tài liệu pháp lý giải thích việc để quá thời hạn xử lý vi phạm hành chính đối với ông H mà bác đơn khởi kiện là chưa đủ căn cứ vững chắc.
Tuy nhiên, để có cơ sở xác định hành vi của ông H có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, phải chờ kết quả xét xử phúc thẩm của TAND tỉnh Y đối với bị cáo A (nguyên kế toán của trường do ông H làm Hiệu trưởng), do bị cáo A kháng cáo cho rằng bỏ lọt tội phạm là hành vi của ông H. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 92/2018/HS-PT ngày 08/10/2018 của TAND tỉnh Y đã xác định không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông H. Do đó, ngày 28/12/2018 Chủ tịch UBND huyện X ban hành Quyết định số 1859/QĐ-UBND xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với ông H là còn thời hạn ban hành theo quy định tại khoản 2 Điều 80 Luật Cán bộ công chức năm 2008.
Về áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với ông H. Về nội dung Kháng nghị của Viện trưởng VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh có nêu: Căn cứ khoản 5 Điều 14 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức, đồng thời dẫn chiếu Điều 3 Nghị định số 107/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ để cho rằng UBND huyện X ban hành quyết định xử lý kỷ luật ông H bằng hình thức buộc thôi việc là không phù hợp với các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, tại thời điểm ông H bị xử lý kỷ luật thì Nghị định số 107/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ không còn hiệu lực và đã được thay thế bởi Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ. Mặt khác, tại Nghị định số 34/2011/NĐCP nêu trên, không có quy định nào làm căn cứ xác định hành vi vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 Nghị định số 34/2011/NĐCP đồng thời dẫn chiếu Quyết định số 2203/QĐ-HU ngày 21/12/2018 của Huyện ủy X về thi hành kỷ luật ông H bằng hình thức khai trừ vì đã xác định: những vi phạm của ông H là vi phạm rất nghiêm trọng, vi phạm nhiều nội dung, có tính hệ thống, lặp đi lặp lại nhiều lần”.
Do đó, tại Quyết định số 1859/QĐ-UBND ngày 28/12/2018, Chủ tịch UBND huyện X căn cứ khoản 5 Điều 14 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ để xử lý kỷ luật công chức bằng hình thức buộc thôi việc đối với ông H là có căn cứ, đúng pháp luật. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Vì lẽ đó, HĐXX giám đốc thẩm quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh. [37]
2.3. Nguyên nhân của những khó khăn trong thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm
Để có thể đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện, khắc phục các hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC Việt Nam, cần phải xác định các nguyên nhân gây nên những hạn chế, bất cập đó. Do đó, tác giả tập trung phân tích 2 nhóm nguyên nhân căn bản sau:
2.3.1. Nguyên nhân pháp lý
Việc thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm VAHC có được thực hiện chính xác, khách quan, bảo đảm hiệu quả hay không phần lớn phụ thuộc vào các quy định của Luật TTHC năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 và một số văn bản có liên quan về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Về cơ bản, so với Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC hiện hành đã bổ sung, làm rõ một số quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện đúng đắn. Tuy nhiên, qua đánh giá việc thực hiện quy định của Luật TTHC về kháng nghị giám đốc thẩm trong thực tiễn, tác giả nhận thấy một vài quy định của Luật TTHC còn hạn chế, chưa rõ ràng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Luật Tố tụng hành chính quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính chưa rõ ràng
Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng nói chung và TTHC nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng, là nội dung cốt lõi của chế định giám đốc thẩm. Nhìn chung, Luật TTHC hiện hành đã quy định tương đối ổn về các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, phần nào tạo điều kiện thuận lợi để chủ thể có thẩm quyền thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm. Song, theo quan sát và nghiên cứu chuyên sâu, tác giả nhận thấy quy định của Luật TTHC còn chưa thật sự toàn diện, một số quy định còn thiếu rõ ràng, gây không ít khó khăn, lúng túng và cách hiểu không thống nhất trong quá trình nghiên cứu, áp dụng và thực thi pháp luật.
Một là, đối với căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 255 Luật TTHC hiện hành, Luật TTHC và các văn bản có liên quan chưa giải thích rõ ràng thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tục Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Trên thực tế, có thể nhận thấy căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật” là một trong những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm khá phổ biến. Tuy nhiên, hiện nay trong cả Luật TTHC hiện hành, các văn bản hướng dẫn thi hành và các công văn giải đáp thắc mắc của TANDTC hằng năm vẫn chưa chi tiết hóa thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thế nào là vi phạm thủ tục tố tụng chưa đến mức nghiêm trọng. Do đó, khó tránh khỏi có cách hiểu không thống nhất, hiểu theo lối suy diễn mang tư duy chủ quan về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”, đồng thời khiến cho việc thực tiễn giải quyết án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã có nhiều trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng mặc dù không vi phạm một số nguyên tắc cơ bản của Luật TTHC nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Vì vậy thiếu sót này được xem là khiếm khuyết nghiêm trọng của Luật TTHC hiện hành. Với những cách hiểu khác nhau về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”, các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm sẽ thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm thiếu đồng bộ, tùy tiện thậm chí mang màu sắc của việc lạm quyền gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự. Mặt khác, khi không giải thích cụ thể thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng sẽ gây ra những khó khăn, lúng túng cho Hội đồng giám đốc thẩm khi tiến hành xem xét chấp nhận hay không chấp nhận quyết định kháng nghị giám đốc thẩm và đây chính là nguyên nhân mấu chốt làm cho chất lượng cũng như hiệu quả của công tác giám đốc thẩm chưa được bảo đảm, việc thực hiện chưa thống nhất trên phạm vi cả nước. Với các phân tích trên đây, chúng ta đã thấy căn cứ kháng nghị nêu trên còn thiếu sự minh thị và cần được đưa ra đánh giá, làm rõ và hoàn thiện hơn.
Hai là, đối với căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 255 Luật TTHC hiện hành chưa có hướng dẫn, giải thích rõ thế nào là có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật
Có thể thấy, công tác giải quyết VAHC là một quá trình phức tạp, gồm nhiều trình tự, thủ tục khác nhau, để có thể ban hành bản án, quyết định được đúng đắn, khách quan, hợp pháp Tòa án phải áp dụng khá nhiều các văn bản quy phạm pháp luật. Về nguyên tắc, việc áp dụng pháp luật phải chính xác, không được có sai sót, nhầm lẫn bởi nếu chỉ áp dụng sai nội dung của điều khoản, sai văn bản pháp luật thì toàn bộ kết quả trong bản án, quyết định của Tòa án chắc chắn sẽ không hợp pháp, không công bằng, không khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do đó, việc Luật TTHC đặt ra căn cứ “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật” là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là rất cần thiết. Song, việc đưa ra quy định nhưng chưa thực sự làm rõ về quy định đó đã gây ra những cách hiểu không chính xác, đôi khi gây ra tranh cãi trong khoa học pháp lý, bên cạnh đó, không bảo đảm được tính nhất quán trong việc áp dụng pháp luật giữa các Tòa án.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý có 2 cách hiểu được cho là điển hình về định nghĩa “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật”. Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật là việc Tòa án vận dụng sai quy định của pháp luật điều chỉnh loại tranh chấp mà Tòa án đang giải quyết. Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật là việc áp dụng sai điểm, khoản, điều luật của đạo luật hoặc áp dụng một văn bản pháp luật đã hết hiệu lực thi hành hoặc đã được thay thế bằng văn bản pháp luật mới” [31, tr.185]. Quan điểm thứ hai là: “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật là việc áp dụng không đúng quy phạm pháp luật trong việc xem xét tính hợp pháp của đối tượng khiếu kiện, áp dụng quy phạm pháp luật không còn hiệu lực pháp luật, áp dụng không đúng với tinh thần nội dung của quy phạm pháp luật giải quyết vụ án” [23, tr.368]. Có thể thấy, hai quan điểm trên đều có những điểm chung nhất định, đều xác định áp dụng pháp luật ở đây là áp dụng pháp luật nội dung nhằm giải quyết tranh chấp hành chính, tuy nhiên cách hiểu nào là chính xác và thuộc về cách giải thích của chính các nhà làm luật hiện nay thì lại chưa có lời giải đáp. Vì vậy, việc hiểu đầy đủ, toàn diện, thống nhất về khái niệm “sai lầm trong việc áp dụng pháp luật” hiện nay mới chỉ dừng lại ở quan điểm cá nhân và theo nhận thức chủ quan của mỗi người, dẫn đến sự tùy tiện, thậm chí lạm quyền khi đưa ra căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm. Hạn chế này khó có thể được nhìn nhận và cần phải có sự hướng dẫn rõ ràng từ các nhà lập pháp. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Thứ hai, Luật TTHC hiện hành quy định về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm chưa thực sự hợp lý
Điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC được quy định khá rõ tại khoản 2 Điều 255 Luật TTHC. Nhìn chung, đặt ra quy định về điều kiện kháng nghị là cơ sở để kiểm soát hoạt động kháng nghị của các chủ thể có thẩm quyền, bảo đảm cho việc thực hiện công tác kháng nghị được chặt chẽ, phù hợp và hiệu quả. Song, theo quan sát điều khoản luật này và liên hệ với thực tiễn giám đốc thẩm, tác giả nhận thấy, phần nào quy định về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC chưa thật sự hợp lý, có phần quá chặt chẽ làm giảm đi ý nghĩa của công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC. Bởi lẽ, theo quy định của điều khoản này thì trừ trường hợp bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực của Tòa án “xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba” thì các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm không cần tới đơn của người đề nghị giám đốc thẩm vẫn có thể thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; còn đối với tất cả các trường hợp còn lại, để có thể thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, các chủ thể có thẩm quyền cần có đủ 2 điều kiện đó là: phải có một trong các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 255 và phải có đơn của cá nhân, cơ quan, tổ chức (có thể là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc bất kỳ cá nhân khác, cơ quan, tổ chức nào đó). Một điểm hạn chế có thể thấy rõ trong quy định này đó là với quy định như vậy thì khi chủ thể có thẩm quyền kháng nghị phát hiện ra căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nhưng không có đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm đồng thời không thuộc trường hợp có thể kháng nghị giám đốc thẩm mà không cần tới đơn đề nghị giám đốc thẩm thì các chủ thể này không thể thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm, dẫn tới những sai lầm, vi phạm không được kịp thời sửa chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong VAHC không được đảm bảo. Đây là quy định còn thiếu sự hợp lý, không kịp thời đảm bảo được tính chính xác và đúng đắn của bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Mặt khác, việc đặt ra điều kiện thứ hai trong các điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm đã nêu là thực sự chưa hợp lý khi quy định các chủ thể có quyền được làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm rất rộng, rộng tới mức không cần thiết, bao gồm tất cả các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Thêm vào đó, các chủ thể là “cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” được quy định tại khoản 2 Điều 256 cũng chưa được giải thích rõ ràng, gồm những ai, những chủ thể này có nhất định có liên quan trực tiếp, gián tiếp đến VAHC hay chỉ cần biết về tình tiết vụ án là đều có thể thông báo cho những chủ thể có thẩm quyền kháng nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Sự hoài nghi này, thực sự có những trăn trở nhất định. Qua thực tiễn công tác giám đốc thẩm, hầu hết chủ thể thường xuyên làm đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự bởi vì họ là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp bởi những bản án, quyết định đó. Ngược lại, các chủ thể khác mà không phải là đương sự trong VAHC, họ rất ít và thậm chí là không làm đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Hơn nữa, việc quy định như vậy là chưa thực sự phù hợp với tinh thần của Luật TTHC hiện hành, khi mà người khởi kiện là những chủ thể trực tiếp bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. Chính bởi các lý lẽ này, tác giả cho rằng quy định về điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm thứ hai không khả thi đồng thời vô hình chung cản trở hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm của các chủ thể có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, việc quy định quá nhiều chủ thể có quyền làm đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm như tại khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 256, Điều 257 Luật TTHC là một trong những nguyên nhân gây ra tình quá tải đơn, thư yêu cầu giám đốc thẩm; không những gây lãng phí về nhân lực cũng như vật lực của cơ quan, người tiến hành tố tụng mà còn tạo ra những khó khăn cho công tác áp dụng pháp luật. Đồng thời, khi quá tải đơn, thư yêu cầu giám đốc thẩm có thể dẫn tới tình trạng đơn, thư yêu cầu không được trả lời kịp thời gây ra tình trạng khiếu nại, tố cáo làm suy giảm uy tín của cơ quan tư pháp, kiểm sát. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Ngoài ra, việc đặt ra quy định: trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án “xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba” [7] thì các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị có thể thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm mà không cần tới đơn đề nghị chỉ là quy định mang tính “ứng phó” của các nhà làm luật, đây không được xem là một quy định hay mà ngược lại là quy định còn quá mập mờ, chưa rõ ràng. Bởi, đến thời điểm hiện tại chỉ có Luật TTHC và Luật TTDS có ghi nhận quy định trên, song cả hai đạo luật này không có hướng dẫn hay giải thích cụ thể thế nào là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng. Xét về mặt lý luận, bản thân các bản án, quyết định không đúng, không khách quan, thiếu công bằng, minh bạch đều sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến Nhà nước. Vì vậy, các nhà làm luật đưa ra quy định trên còn mang tính nửa vời, lấp lửng, phần nào gây ra những khó khăn cho công tác kháng nghị giám đốc thẩm.
Thứ ba, Luật TTHC quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm tại Điều 265 còn chưa toàn diện, thiếu rõ ràng
Nhìn chung, nội dung quy định tại Điều 265 Luật TTHC quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm đã và đang góp phần bảo đảm quyền của người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, đảm bảo cho tính chính xác, đầy đủ của kháng nghị được đưa ra. Tuy nhiên, xét ở góc độ lý luận và nhìn nhận, đánh giá thực tiễn có thể thấy quy định tại Điều 265 Luật TTHC còn một số khiếm khuyết nhất định cần sớm được hoàn thiện. Vì thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị có sự khác nhau nhất định trong tính chất nên tác giả phân tích theo hai nội dung dưới đây:
Một là, quy định về việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm tại khoản 1 Điều 265 Luật TTHC còn một số hạn chế, chưa rõ ràng
Khá tương đồng với cách quy định về quyền thay đổi, bổ sung rút kháng nghị phúc thẩm tại giai đoạn phúc thẩm; trong giai đoạn giám đốc thẩm VAHC, thẩm quyền thay đổi, sổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm thuộc về các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị đã thực hiện kháng nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm. Hai nội dung này tuy nằm ở hai giai đoạn khác nhau trong quy trình TTHC nhưng nhìn chung giữa chúng có những sự tương đồng là đều bảo đảm cho các chủ thể đã kháng nghị có cơ hội để thay đổi, bổ sung các nội dung kháng nghị nhằm “bảo toàn tính chính xác, trọn vẹn trong quyết định kháng nghị của mình, bảo đảm tính chỉn chu trong hoạt động thực thi pháp luật” [68]. Tuy nhiên, trên bình diện đối chiếu với các quy định về thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm tại Điều 218 Luật TTHC, tác giả nhận thấy quy định của Luật TTHC hiện hành về thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm còn mang tính “mờ nhạt”, chưa toàn diện.
Đầu tiên, Luật TTHC chưa đưa ra quy định cụ thể về thời điểm mà chủ thể đã kháng nghị giám đốc thẩm được quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị. Hiện nay, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm được quy định như sau: “Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 263 của Luật này” [7]. Việc không quy định cụ thể về thời điểm được thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm là một khiếm khuyết mà cần phải xem xét và đánh giá lại, thiếu sót này có thể dẫn đến tình trạng hiểu và áp dụng pháp luật không đồng bộ. Thực tiễn chỉ ra, không ít chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm lúng túng trong việc xác định thời điểm mà bản thân được quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị. Cá biệt, có trường hợp người có thẩm quyền kháng nghị và công chức quản lý việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm có cách hiểu không thống nhất về thời điểm thay đổi, bổ sung kháng nghị làm ảnh hưởng tới việc khắc phục những thiếu sót, sai lầm và hoàn thiện chất lượng quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Việc quy định cụ thể hơn về thời điểm thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm sẽ giúp cho những sai sót trong quyết định kháng nghị được kịp thời khắc phục, hạn chế những trường hợp chậm thay đổi, bổ sung kháng nghị do không xác định chính xác thời điểm được thay đổi, bổ sung kháng nghị từ đó nâng cao chất lượng hơn chất lượng của quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Do vậy, tác giả thiết nghĩ pháp luật hiện hành nên có quy định đề cập rõ ràng về thời điểm thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Bên cạnh đó, Luật TTHC hiện hành chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm, tuy đây không phải là một khiếm khuyết nghiêm trọng, tuy nhiên để có thể đảm bảo tính thống nhất trong việc thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của các chủ thể có thẩm quyền và cũng là hoàn thiện chặt chẽ chế định giám đốc thẩm thì khiếm khuyết này cũng nên được hoàn thiện. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Tiếp theo, Luật TTHC hiện hành chưa có quy định phân tách về nội dung rút kháng nghị một phần hay toàn bộ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 265 thì việc rút kháng nghị giám đốc thẩm có thể được các chủ thể có thẩm quyền đã thực hiện kháng nghị thực hiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm. Với thời điểm rút kháng nghị khác nhau, trình tự thực hiện cũng sẽ khác nhau, nếu rút kháng nghị giám đốc thẩm trước khi mở phiên tòa thì việc rút kháng nghị phải được lập thành văn bản và tiến hành gửi theo đúng quy định tại Điều 264 Luật TTHC hiện hành; còn trong trường hợp các chủ thể có thẩm quyền thực hiện rút kháng nghị tại phiên tòa giám đốc thẩm thì việc rút kháng nghị này phải được ghi vào biên bản phiên tòa và HĐXX tiến hành ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Với quy định này, các nhà làm luật đã đề cập đến thời điểm, trình tự, thủ tục rút kháng nghị giám đốc thẩm tuy nhiên chưa có quy định chi tiết về việc rút kháng nghị một phần hoặc toàn bộ. Điều này dẫn đến cách hiểu chưa thỏa đáng, không đồng nhất trong cách xử lý hậu quả của việc rút kháng nghị toàn bộ hay chỉ rút một phần. Trong khi, hậu quả của việc rút toàn bộ kháng nghị và rút một phần kháng nghị là hoàn toàn khác nhau. Nếu như rút một phần kháng nghị, Tòa án sẽ chỉ đình chỉ giải quyết phần bị rút và tiếp tục giải quyết phần còn lại thì khi rút toàn bộ kháng nghị, Tòa án sẽ đình chỉ xét xử giám đốc thẩm toàn bộ vụ án trừ trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm của chủ thể khác. Nhìn chung, việc không phân tách về nội dung rút một phần kháng nghị và rút toàn bộ kháng nghị sẽ dẫn đến việc xử lý hậu quả của việc rút kháng nghị trên thực tế không đảm bảo tính chính xác, ảnh hưởng đến công tác sửa chữa sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, có thể xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự [68].
Cuối cùng, Luật TTHC hiện hành chưa quy định rõ ràng về thẩm quyền đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Hiện nay, theo quy định của Luật TTHC, thẩm quyền đình chỉ xét xử giám đốc thẩm thuộc về HĐXX giám đốc thẩm. Qua xem xét ở khía cạnh lý luận và thực tiễn, nhận thấy quy định này chỉ phù hợp với trường hợp rút kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên tòa mà chưa chưa phù hợp với việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa bởi lẽ, trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm, việc hội ý, thảo luận để thông qua quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm của HĐXX giám đốc thẩm là không thuận tiện, thậm chí gây khó khăn, tạo thêm gánh nặng cho Tòa án. Thiết nghĩ, cần có một chế định phù hợp, giúp đơn giản hóa thủ tục tố tụng, giảm tải áp lực cho Tòa án đồng thời nâng cao chất lượng của việc xử lý hậu quả của việc rút kháng nghị giám đốc thẩm.
Tựu chung lại, quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC hiện hành chưa chi tiết, thiếu rõ ràng đã làm ảnh hưởng đến cách hiểu và áp dụng thống nhất pháp luật trên thực tế còn nhiều khó khăn. Đồng thời, điều này làm cho việc khắc phục và nâng cao chất lượng công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC của các chủ thể có thẩm quyền bị hạn chế, chưa đạt được kì vọng như mong đợi. Có thể thấy, sự thiếu sót này là một khiếm khuyết trong quy định của Luật TTHC hiện hành cần sớm được khắc phục.
2.3.2. Nguyên nhân khác Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Thứ nhất, việc bố trí công chức có năng lực thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm tại một số cơ quan tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra
Hiện nay, ở một số Tòa án hoặc Viện kiểm sát công tác tập trung lực lượng, bố trí đội ngũ công chức có năng lực để thực hiện kiểm tra, giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện chưa hiệu quả, điều này phần nào là do nhận thức của một số công chức làm việc trong hai hệ thống cơ quan này chưa đầy đủ về tầm quan trọng của kháng nghị giám đốc thẩm. Bên cạnh đó, trình độ, năng lực của một số công chức tiến hành công tác kiểm tra bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án còn hạn chế nên không phát kịp thời phát hiện được những sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đó. Về vấn đề này, tác giả Lê Kim Quế nhận định: “ Một số cán bộ qua thực tiễn công tác đã chứng tỏ không đủ điều kiện tiêu chuẩn để làm công tác giám đốc việc xét xử nhưng việc thuyên chuyển làm việc khác rất khó, nên ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, chất lượng của công tác giám đốc việc xét xử” [36, tr.37]. Một trong những nguyên nhân của điều này là do lượng đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm hằng năm khá nhiều, thêm vào đó một số Viện kiểm sát và Tòa án thiếu biên chế, không đủ người để tiến hành kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giải quyết đơn đề nghị. Về phía Tòa án, hiện nay ở TANDTC, TANDCC đã thành lập những vụ, phòng có chức năng xem xét, giải quyết (Vụ Giám đốc kiểm tra I, II, III) hoặc nghiên cứu, đề xuất giải quyết đơn, thư đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm VAHC (Phòng Giám đốc, kiểm tra về hình sự, hành chính). Bên cạnh đó Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án tại các TAND cấp tỉnh cũng có chức năng nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong việc xem xét, kiểm tra các bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện thuộc thẩm quyền quản lý để có thể kịp thời phát hiện các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, đề xuất Chánh án TAND cấp tỉnh kiến nghị Chánh án TANDCC xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm [14]. Nhìn chung, hoạt động của các vụ, phòng này góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hơn chất lượng của công tác xem xét các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án. Song, qua thực tế khối lượng đơn kháng nghị giám đốc thẩm rất nhiều, tính phức tạp của các VAHC có xu hướng tăng cùng với yêu cầu về sự tỉ mỉ, thận trọng trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm đã chỉ ra một hiện thực là số lượng công chức làm công tác giải quyết đơn đề nghị kháng giám đốc thẩm chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ngoài ra, một số đơn vị thuộc VKSNDTC chưa thực sự làm tốt vai trò tham mưu, hướng dẫn, quản lý, chỉ đạo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công tác kháng nghị giám đốc thẩm, đặc biệt là quản lý các nhiệm vụ theo chuyên đề về kháng nghị giám đốc thẩm hành chính; chưa thực sự làm tốt nhiệm vụ tổng hợp, rút kinh nghiệm những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn của Viện kiểm sát trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm để có thể chỉ đạo, hướng dẫn tháo gỡ, kiến nghị biện pháp khắc phục. Các chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho công chức công tác tại VKSND và TAND còn chậm đổi mới, hiệu quả mang lại chưa cao.
Thứ hai, năng lực, trình độ của một số chủ thể thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm còn hạn chế
Thực tiễn thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm hiện nay vẫn còn tồn tại một số trường hợp chủ thể có thẩm quyền tiến hành giải quyết đơn đề nghị chưa thực sự đảm bảo, có trường hợp trả lời đơn đề nghị giám đốc thẩm không có căn cứ, nhưng sau đó xem xét lại thì phát hiện ra những sai lầm nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nên Chánh án Toà án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy về phía Tòa án đã có những vụ, phòng như Vụ Giám đốc kiểm tra I, II, III; các Phòng Giám đốc, kiểm tra… song với khối lượng công việc lớn, mức độ phức tạp cao, hiện nay lực lượng công chức làm công tác xem xét, giải quyết đơn kháng nghị giám đốc thẩm chưa đáp ứng cả về số lượng và chất lượng. Số lượng thẩm phán, thẩm tra viên được bố trí cho các TAND chưa đáp ứng yêu cầu mà khối lượng công việc lớn đặt ra. Bên cạnh đó, một số thẩm tra viên, thẩm phán có tinh thần, trách nhiệm làm việc chưa thật sự cao dẫn tới chất lượng, hiệu quả công việc còn hạn chế [69]. Về phía Viện kiểm sát, trình độ năng lực của Kiểm sát viên, kiểm tra viên chưa đồng đều nên chất lượng nghiên cứu đơn, tham gia tranh tụng bảo vệ quan điểm kháng nghị tại Tòa án gặp khó khăn [28, tr.9]. Một số Kiểm sát viên mới bổ nhiệm nên năng lực và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, nên đôi lúc không phát hiện vi phạm của bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hay việc nghiên cứu hồ sơ chưa sâu, phân tích đánh giá chưa toàn diện các tài liệu, chứng cứ, tình tiết liên quan của vụ án. Bên cạnh đó, thực tế chỉ ra rằng cùng một vụ án nhưng có nhiều đơn trùng lặp nên Tòa án và Viện kiểm sát phải mất nhiều thời gian trong việc loại đơn trùng lặp, không đúng thẩm quyền.
Thứ ba, công tác kiểm tra, giám đốc xét xử tuy được các đơn vị triển khai và thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Hoạt động giám đốc xét xử chính là sự kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, thông qua đó kịp thời phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới để đưa ra những góp ý, chấn chỉnh, sửa chữa kịp thời nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong hoạt động xét xử đồng thời bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Qua thực tiễn hoạt động này đồng thời đối chiếu vào các quy định của pháp luật hiện hành, TANDTC đưa ra những kiến nghị, đề xuất với Quốc hội sửa đổi, bổ sung kịp thời các hạn chế trong quy định của Luật TTHC, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của mình cho phù hợp tinh thần và các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, thực hiện công tác giám đốc xét xử chính là việc Tòa án đang nghiêm túc, nỗ lực trong việc đảm bảo cho quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án không bị xâm phạm, pháp chế xã hội chủ nghĩa được nâng cao. Do đó mà việc thực hiện công tác này nhận được nhiều sự quan từ của các cơ quan tư pháp, tuy nhiên vì nhiều lý do chủ quan và khách quan mà hiệu quả mang lại vẫn chưa cao. Vẫn còn tình trạng TAND cấp tỉnh chưa mạnh dạn và thiếu cứng rắn trong việc kiến nghị kháng nghị xem xét bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện theo thủ tục giám đốc thẩm để kịp thời sửa chữa những sai sót. Công tác kiểm tra chưa bảo đảm chất lượng, thiếu quyết liệt, thậm chí bỏ qua những sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, thực tiễn công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC đã chỉ ra sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả. Thể hiện rõ nhất đó là việc các cơ quan, tổ chức chưa làm hết trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ khi một số Tòa án, chậm trễ trong việc chuyển hồ sơ vụ án để phục vụ công tác giám đốc thẩm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Thêm vào đó, hoạt động sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính, nêu lên ưu điểm đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân qua đó kiến nghị những giải pháp hoàn thiện chưa được quan tâm đúng mức ở các cấp Tòa án và Viện kiểm sát [51, tr.90].
Thứ tư, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, điều kiện làm việc tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
Trong những năm qua, VKSNDTC và TANDTC đã thường xuyên chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, tiến hành rà soát kiến nghị bổ sung mức kinh phí và thực hiện nhiều đề án quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cơ sở vật chất tại nơi làm việc như: đề án trang bị phương tiện làm việc giai đoạn IV (2019 – 2023), đề án trang thiết bị, phương tiện làm việc của TAND các cấp giai đoạn 2014 – 2018… của ngành Tòa án; đề án đề án mua sắm trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác nghiệp vụ, Đề án tin học hoá quản lý nhà nước trong ngành, Đề án xây mới, chống xuống cấp trụ sở làm việc của Viện kiểm sát các cấp của ngành Kiểm sát [70]. Việc thực hiện các đề án này đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giải quyết các vụ án nói chung và công tác kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng, song vẫn còn tồn tại một số khó khăn nhất định. Không khó để nhận ra điều này khi nhìn vào hiện trạng trụ sở làm việc đã xuống cấp của VKSND, TAND một số địa phương; máy móc, trang thiết bị không đáp ứng yêu cầu mà khối lượng đặt ra, kinh phí để đảm bảo cho hoạt động công vụ của ngành tư pháp còn thấp so với yêu cầu thực tế; hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất chưa đạt được hiệu quả như mong đợi [71]. Nhất là ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa giao thông còn nhiều khó khăn làm cho điều kiện, phương tiện, chế độ cho chủ thể có thẩm quyền đi giải quyết vụ án gặp khó khăn [28, tr.10]. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của Tòa án, các phần mềm nội bộ dùng chung và dịch vụ công tư pháp cho Tòa án các cấp được triển khai còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức trong ngành tư pháp và kiểm sát còn hạn chế nên chưa thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao. Có thể thấy, những hạn chế này cũng là một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp đến chất lượng của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Thứ năm, trình độ nhận thức và ý thức pháp luật của công dân còn tồn tại một số hạn chế
Song hành với sự tiến bộ và phát triển của xã hội, nhận thức và ý thức pháp luật của người dân đang dần hoàn thiện hơn và ngày càng nâng cao hơn. Xuất phát từ nguyên nhân này, việc thực hiện các quy định pháp luật của người dân hiện nay đã và đang có những cải thiện mạnh mẽ. Tuy vậy, phần nào ý thức và nhận thức pháp luật của người dân trong lĩnh vực tố tụng nói chung và TTHC nói riêng vẫn còn một số hạn chế. Đặc biệt là nhận thức của người dân ở vùng nông thôn, miền núi còn rất thấp. “Rất nhiều người tham gia pháp luật mà không biết những quy định của pháp luật mặc dù nó rất gần gũi, phổ biến trong cuộc sống” [72]. Nhận thức của người dân về TTHC còn nhiều hạn chế là một trong những nguyên nhân nổi trội dẫn đến tình trạng làm đơn đề nghị giám đốc thẩm mang tính cảm tính, thậm chí có đơn đề nghị giám đốc thẩm ngay sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án gây nên tình trạng đơn không có căn cứ kháng nghị chiếm tỷ lệ lớn đồng thời gây tốn nhiều thời gian, tài lực, vật lực của các chủ thể có thẩm quyền thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm, tạo áp lực lớn cho cơ quan tư pháp trong việc thụ lý, xử lý đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
Kết luận chương 2 Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
Thông qua số liệu về công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC từ năm 2019 đến năm 2023, có thể thấy trong thời gian qua công tác này ngày càng được hoàn thiện và nâng cao về cả mặt chất lượng cũng như số lượng. Đây là những thành tựu đáng ghi nhận của các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm VAHC, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời là tín hiệu tích cực trong việc nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp. Bên cạnh những thành công đã đạt được thì thực tiễn chỉ ra công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC hiện nay vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế. Những bất cập này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau; có thể là nguyên nhân pháp lý như do các quy định hiện hành điều chỉnh hoạt động này chưa có rõ ràng, minh thị về các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm; các quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm còn thiếu toàn diện, mập mờ hoặc các nguyên nhân khác như năng lực, trình độ của một số chủ thể thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm còn hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho quá trình làm việc chưa đáp ứng yêu cầu mà khối lượng công việc lớn đặt ra. Việc kịp thời phát hiện và sửa chữa, khắc phục những sai phạm trong quá trình giải quyết VAHC là một đòi hỏi khách quan. Trong đó, hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm là một công cụ hữu hiệu, có sức tác động rất lớn nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc sửa chữa, loại trừ những sai lầm, thiếu sót trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Vì vậy, nâng cao hơn nữa tính chính xác trong các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm không chỉ giúp kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm tồn tại trong bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đồng thởi bảo đảm tính công bằng xã hội, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
