Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, sự khó khăn chung của nền kinh tế thế giới, tác động của biến đổi khí hậu hay dịch bệnh Covid-19 và nhiều khó khăn khác đã tạo ra không ít những cản trở cho sự phát triển của nước ta song nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, vượt qua những khó khăn Việt Nam đã và đang vươn lên một cách mạnh mẽ, những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đạt được ngày càng nhiều. Hòa mình vào sự vươn lên của đất nước, nền tư pháp nước nhà thời gian qua cũng đã đạt được nhiều thành tích quan trọng góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nước, đáp ứng phần nào mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Với việc đẩy mạnh thực hiện nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tư pháp mà đặc biệt là Tòa án và Viện kiểm sát, Đảng và Nhà nước đã từng bước đem lại bộ mặt mới hoàn thiện hơn, toàn diện hơn cho nền tư pháp nước nhà. Bên cạnh đó; những năm qua, cán bộ, các công chức trong ngành tư pháp đã không ngừng nỗ lực trong việc bảo đảm pháp luật được thực hiện hiệu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Song, với sự phát triển của xã hội, yêu cầu đặt ra cho hệ thống cơ quan tư pháp ngày càng nhiều và phức tạp hơn trong khi nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của hệ thống cơ quan này phần nào còn hạn chế, do vậy mà khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình công tác. Đặc biệt phải kể đến những sai lầm trong các bản án, quyết định của Tòa án, sai phạm trong quá trình xét xử các vụ án, bởi xét xử là hoạt động trực tiếp bảo vệ công lý, có ý vô cùng nghĩa lớn lao và luôn là hoạt động mà người dân đặt trọn niềm tin với mong muốn quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo đảm. Bất kỳ sai phạm nào trong quá trình xét xử đều có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Để có thể kịp thời xem xét, phát hiện và sửa chữa những sai phạm trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chế định giám đốc thẩm đã được đặt ra và tiền đề để thực hiện hoạt động giám đốc thẩm là kháng nghị giám đốc thẩm. Với vai trò là phương thức góp phần bảo đảm tính đúng đắn của bản án, quyết định của Tòa án, giúp Tòa án cấp trên tổng kết, rút kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, củng cố niềm tin của người dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, công tác này đã và đang được quan tâm thực hiện trong thời gian qua. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Qua thực tiễn thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính hiện nay, có thể nhận thấy phần nào công tác này vẫn còn những hạn chế và vướng mắc. Về mặt quy định pháp luật, hiện nay quy văn bản hướng dẫn chi tiết về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm; cách quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính hiện hành chưa rõ ràng. Những điều này đã tạo ra không ít khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật và phần nào làm giảm tính hiệu quả của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính. Về mặt thực tiễn, không quá khó để tìm ra những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có sai lầm, có vi phạm nhưng chưa được kịp thời phát hiện, sửa chữa; những quyết định kháng nghị giám đốc thẩm không đạt yêu cầu, thiếu căn cứ, căn cứ kháng nghị thiếu rõ ràng, không chính xác dẫn đến vẫn còn một tỷ lệ quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhất định không được Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận. Có thể thấy, mặc dù kháng nghị giám đốc thẩm là một chế định pháp luật có vai trò hết sức quan trọng, song thực tiễn thực hiện và áp dụng quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm còn tồn tại nhiều bất cập, khó khăn. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, với mục đích nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng, việc nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với yêu cầu mà cải cách tư pháp ở Việt Nam đặt ra.

Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, đề tài sẽ nêu lên các vấn đề còn tồn tại của pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hiện nay về kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính và từ đó tác giả đưa ra một số quan điểm, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vì tính chất đặc thù của thủ tục giám đốc thẩm là hoạt động xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, hiện nay đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Phần lớn, các công trình hiện nay mới chỉ nghiên cứu khái quát về các vấn đề liên quan đến kháng nghị giám đốc thẩm mà chưa có một công trình nào thực hiện nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về kháng nghị giám đốc thẩm trong Tố tụng hành chính. Song, trên cơ sở nghiên cứu đã có từ trước, có thể dùng để tham khảo một số vấn đề trong đó có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như sau:

  • Giáo trình, sách chuyên khảo:

Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, sửa đổi bổ sung, Hoàng Văn Sao chủ biên, Nxb. Công an nhân dân: Giáo trình đã có giá trị tham khảo vấn đề lý thuyết về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính như: thủ tục kháng nghị, thẩm quyền của Hội đồng xét xử,… và phân tích các quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015. Giáo trình có giá trị tham khảo về mặt lý luận về quy trình, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Nguyễn Cảnh Hợp (2017), Bình luận và giải thích Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam. Tác phẩm có một chủ đề với tên gọi là “Thủ tục giám đốc thẩm vụ án hành chính” phân tích chi tiết các quy định về giám đốc thẩm bao gồm hoạt động kháng nghị. Bên cạnh đó, tác giả vừa giải thích vừa đưa ra bình luận, so sánh với các điều của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm, cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu. Tác phẩm có giá trị tham khảo chính về những kiến thức cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính

  • Tạp chí khoa học: Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Lê Thị Mơ (2023), “Bất cập trong quy định của Luật Tố tụng hành chính về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử. Bài viết đưa tới độc giả những kiến thức tổng quan về quy định thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm của Luật Tố tụng hành chính. Từ đó, tác giả chỉ ra một số bất cập, hạn chế còn tồn tại trong quy định của pháp luật về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính như: chưa quy định về thời điểm mà chủ thể đã kháng nghị giám đốc thẩm được quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị; quy định về rút kháng nghị giám đốc thẩm tại khoản 2 Điều 265 Luật Tố tụng hành chính 2015 cũng chưa toàn diện, thiếu rõ ràng; chưa có quy định về thời hạn cũng như việc bắt buộc Tòa án giám đốc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho các chủ thể có liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm.

Trần Thị Quỳnh (2022), “Luật Tố tụng Hành chính 2015, một số vướng mắc và kiến nghị sửa đổi”, Tạp chí Tòa án nhân dân. Bài viết này đã cung cấp những quy định liên quan về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra một số quan điểm khác nhau về thẩm quyền kháng nghị và thẩm quyền giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện có hiệu lực pháp luật nhưng vụ án lại có Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Từ đó, tác giả nêu quan điểm giải thích và kiến nghị hoàn thiện quy định tại Khoản 2 Điều 260 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 theo hướng quy định rõ Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị đối với các Bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ mà có Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

  • Khóa luận

Võ Văn Sơn Thất (2014), Kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: khóa luận đã trình bày các vấn đề lý luận chung về kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính, bên cạnh đó tác giả đã so sánh các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính với các quy định về cùng vấn đề này trong tố tụng dân sự. Thêm vào đó, tác giả đã phân tích những quy định pháp luật của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và thực tiễn áp dụng để chỉ ra các bất cập còn tồn tại trong kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hành chính. Qua đó, tác giả các đưa ra các kiến nghị với mong muốn góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

3. Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của khóa luận nhằm xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm, tiến hành nghiên cứu các quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam.

Trong đó, mục đích cơ bản của khóa luận là chỉ ra một số ưu điểm, những hạn chế của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chưa giải quyết được về chế định kháng nghị giám đốc thẩm. Ngoài ra, kiến nghị các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng thời nâng cao chất lượng công tác kháng nghị giám đốc thẩm.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào các quy định của Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, thực tiễn thi hành. Từ đó, tác giả nêu lên quan điểm, ý kiến và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

  • Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 (sau đây gọi là Luật Tố tụng hành chính năm 2015). Trong khuôn khổ của khóa luận, trên cơ sở xây dựng khái niệm về kháng nghị giám đốc thẩm, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá một cách toàn diện quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính. Thông qua đó, tác giả chỉ ra một số nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại gồm có nguyên nhân về mặt pháp lý và nguyên nhân về mặt thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Tố tụng hành chính về kháng nghị giám đốc thẩm. Thêm vào đó, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp về mặt pháp lý, thực tiễn để góp phần hoàn thiện những quy định pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm.

Đề tài không nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên quan đến tạm hoãn thi hành án khi thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở Chương 1 “Một số vấn đề cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam” để trình bày và làm rõ những luận điểm nêu ra trong khóa luận, giải thích các vấn đề lý luận, các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm. Ngoài ra, phương pháp này cũng được tác giả sử dụng ở Chương 2 của khóa luận trong việc phân tích thực tiễn xét xử của Tòa án.

Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm tập hợp tất cả các tài liệu đã thu thập được để hoàn thành đề tài. Đồng thời, tác giả sử dụng để đúc kết lại các vấn đề đã trình bày, qua đó nêu lên quan điểm của cá nhân mình trong việc góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật.

Phương pháp so sánh luật học: được sử dụng nhằm để chỉ ra được những sửa đổi, bổ sung của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành về chế định kháng nghị giám đốc thẩm tham chiếu với các quy định được ban hành trước đây.

Phương pháp thống kê: tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu tại Chương 2 của công trình nhằm đưa ra các số liệu chi tiết liên quan đến công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong 05 năm gần nhất như số vụ án có kháng nghị giám đốc thẩm, số kháng nghị được chấp nhận và không được chấp nhận. Qua số liệu đó, tác giả đưa ra những minh chứng cụ thể về thực tiễn thực hiện công tác kháng nghị giám đốc thẩm, qua đó rút ra những thành tựu và hạn chế trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm qua từng năm.

Phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình: với việc sử dụng phương pháp này, tác giả cung cấp những minh chứng cụ thể trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm. Đồng thời, làm tăng thêm tính thuyết phục cho các vấn đề lý luận, số liệu mà tác giả đưa ra.

6. Bố cục tổng quát của khóa luận

Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận tốt nghiệp này gồm có ba chương:

  • Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam.
  • Chương 2. Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm.
  • Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả  kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính Việt Nam.  

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính ở Việt Nam

1.1.1. Khái niệm

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong TTHC là một nội dung quan trọng, đây là hoạt động có tính chuyên biệt của một số chủ thể đặc biệt được Nhà nước trao quyền. Thuật ngữ “kháng nghị giám đốc thẩm” đã xuất hiện rất nhiều trong các diễn đàn khoa học pháp lý, tuy nhiên không phải ai cũng thật sự nắm chắc được đầy đủ nội hàm của khái niệm này. Do đó, việc hiểu chính xác và đầy đủ khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm là hết sức cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng trong khoa học nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC ở Việt Nam. Để đảm bảo được tính logic, toàn diện và dễ hiểu, tác giả sẽ minh thị nội hàm của khái niệm “kháng nghị giám đốc thẩm” thông qua việc giải thích về hai cụm từ “kháng nghị” và “giám đốc thẩm”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, kháng nghị được hiểu là “sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức”[64, tr.621], bên cạnh đó theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì “kháng nghị” có thể hiểu là “sự bày tỏ quan điểm phản đối, chống đối về một vấn đề, một ý kiến gì đó bất kì mà chủ thể kháng nghị cho rằng vấn đề đó, ý kiến đó là sai lầm” [27, tr.927]. Như vậy, xét theo góc độ ngôn ngữ thông thường, kháng nghị là bày tỏ ý kiến không đồng ý, phản đối đối với một quyết định, ý kiến nào đó. Nhận thấy, những từ điển đưa ra khái niệm trên là từ điển giải thích từ ngữ chung cho mọi lĩnh vực trong cuộc sống nên phần nào còn mang tính tổng quát, khái quát, thiếu chuyên sâu do đó các đặc điểm và đặc trưng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC vẫn chưa được thể hiện rõ ràng.

Theo Từ điển Luật học, kháng nghị là “việc người có thẩm quyền bằng văn bản của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm làm cho vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật” [63, tr.249]. Với cách tiếp cận này, khái niệm kháng nghị đã làm nổi bật được một số đặc điểm của kháng nghị theo pháp luật như: thẩm quyền kháng nghị chỉ thuộc về một số cá nhân có thẩm quyền, hình thức kháng nghị được thể hiện bằng văn bản, mục đích hướng tới của kháng nghị là làm cho vụ án được giải quyết, xét xử một cách chính xác và đúng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, có sự khác biệt hơn, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học có nêu: “kháng nghị là việc người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm” [56, tr.183]. Thông qua khái niệm này, một số vấn đề về chủ thể có thẩm quyền kháng nghị, đối tượng của kháng nghị là bản án, quyết định của Tòa án chưa có hoặc đã có hiệu lực pháp luật đã được làm rõ. Như vậy, từ khái niệm, khía cạnh giải thích từ ngữ như trên, có thể hiểu: kháng nghị trong TTHC là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án nhằm bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Để có thể xây dựng khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC đầy đủ và toàn diện thì việc giải thích khái niệm “giám đốc thẩm” cũng rất quan trọng. Không khó để nhận thấy, khái niệm giám đốc thẩm hiện nay được đề cập trong khá nhiều công trình khoa học, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhay và khá gần gũi. Về mặt thuật ngữ, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học xác định đây là một giai đoạn tố tụng đặc biệt trong TTHC trong đó Tòa án cấp trên có thẩm quyền tiến hành xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới nếu phát hiện sai lầm dựa trên cơ sở kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền [56, tr.54]. Như vậy, thông qua cách hiểu này, khái niệm giám đốc thẩm không quá phức tạp và từ đây chúng ta thấy được tính chất đặc thù của việc giám đốc thẩm trong tố tụng nói chung và TTHC nói riêng. Với tính chất là việc “ xem xét bản án do một Tòa án ban hành, chứ không phải xét xử một vụ án do người dân khiếu kiện” [35, tr.16] có thể thấy giám đốc thẩm là một giai đoạn tố tụng đặc biệt mà không phải là một cấp xét xử độc lập trong TTHC nói chung và giai đoạn tố tụng đặc biệt này chỉ phát sinh khi người có thẩm quyền kháng nghị trên cơ sở họ đã phát hiện những sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm “chữa lỗi” của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, cho dù là lỗi về khía cạnh pháp lí hay khía cạnh sự kiện của vụ án, chứ không nhằm mục đích trực tiếp giải quyết vụ án về mặt nội dung” [22, tr.12]. Mặt khác, về mặt quan điểm khoa học, trong sách Bình luận Luật Tố tụng hành chính, tác giả Lê Việt Sơn cũng nhận định “giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt nhằm xét lại tính đúng đắn, hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi có đủ căn cứ và điều kiện theo quy định của pháp luật” [23, tr.365]. Qua cách tiếp cận này, tác giả cũng đã khẳng định giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt với mục đích là xét lại tính đúng đắn, hợp pháp của bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật, cơ sở để phát sinh giám đốc thẩm là bị các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị dựa trên các căn cứ và điều kiện do pháp luật quy định. Về mặt pháp lý, hiện nay Luật TTHC nước ta không có điều khoản nào quy định chính thức về khái niệm giám đốc thẩm tuy nhiên với quy định về tính chất của hoạt động giám đốc thẩm tại Điều 254 khi nêu ra rằng “Giám đốc thẩm là xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 255 của Luật này” phần nào đã làm rõ cách hiểu, cách tiếp cận của các nhà làm luật về chế định này. Do vậy, dù các học giả, các nhà nghiên cứu có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm giám đốc thẩm nhưng nhìn chung hiện nay họ đều thừa nhận những đặc điểm cơ bản của giám đốc thẩm như: một là, giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử độc lập, là thủ tục đặc biệt trong TTHC; hai là, đối tượng của giám đốc thẩm là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; ba là, điều kiện để phát sinh giám đốc thẩm là phải có kháng nghị của các chủ thể đặc biệt được Nhà nước trao quyền và bốn là, cơ sở để kháng nghị giám đốc thẩm phải có các căn cứ pháp luật quy định. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Đối với thuật ngữ “kháng nghị giám đốc thẩm”, cả về mặt lý luận và học thuật cũng có những quan điểm có đề cập. Với TTHC, tác giả Võ Văn Sơn Thất cho rằng: “kháng nghị giám đốc thẩm là hoạt động tố tụng, do người có thẩm quyền thực hiện theo một trình tự, thủ tục luật định, khi phát hiện sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, để yêu cầu Tòa án xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm” [52, tr.7]. Với TTHS, tác giả Phạm Ngân Giang cho rằng kháng nghị giám đốc thẩm là việc ban hành một văn bản để can thiệp trực tiếp vào toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật nhưng có căn cứ cho rằng có sai lầm nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án và văn bản này phải được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục luật định; đây sẽ là cơ sở để phát sinh việc xét lại tính đúng đắn, hợp pháp của một bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và có thể dẫn tới sự thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp luật của toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định bị kháng nghị [19, tr.8]. Có thể thấy, dù khái niệm này không đặt trong bối cảnh của TTHC tuy nhiên thông qua cách tiếp cận đó chúng ta có thể tiếp cận hoàn chỉnh hơn về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Như vậy, trong khuôn khổ quan điểm học thuật, các tác giả đều cùng chung quan điểm rằng kháng nghị giám đốc thẩm là hành vi tố tụng của chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng nhằm yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ do Luật quy định.

Từ các phân tích, bàn luận chi tiết nêu trên, đặt trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả rút ra được khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC như sau: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho việc xét xử VAHC luôn được chính xác, công bằng, khách quan. 

1.1.2. Đặc điểm

Làm rõ các đặc điểm của kháng nghị giám đốc thẩm luôn là phần quan trọng không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu, giúp chúng ta nhận thấy được sự khác biệt với kháng nghị phúc thẩm, kháng nghị tái thẩm trong TTHC. Theo đó, từ khái niệm đã nêu trên, kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là hành vi của một số chủ thể có thẩm quyền

Nhìn chung, trong TTHC, hầu hết các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều bảo đảm được tính chính xác, hợp pháp, đúng đắn. Tuy nhiên, điều này khó có thể tuyệt đối. Bởi quá trình giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm VAHC là quá trình phức tạp, gồm nhiều trình tự, thủ tục khác nhau, các văn bản pháp luật được áp dụng để đưa ra phán quyết cũng rất đa dạng, phức tạp, trải rộng ở nhiều lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước do vậy còn tồn tại một số bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm mặc dù đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thật sự chính xác, chỉn chu, không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm dân chủ trong xét xử VAHC, bảo đảm hiệu quả trong công tác xét xử và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, pháp luật TTHC đã ghi nhận quyền kháng nghị giám đốc thẩm của một số chủ thể đặc biệt. Theo đó, chỉ khi có kháng nghị của các chủ thể có thẩm quyền mà Luật TTHC trao quyền, thủ tục giám đốc thẩm VAHC mới có thể được phát sinh. Xem xét dưới khía cạnh là quyền, việc kháng nghị giám đốc thẩm phụ thuộc vào ý chí của chủ thể có thẩm quyền; dựa trên những căn cứ, điều kiện được Luật quy định họ có quyền thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi đặt dưới khía cạnh là hành động thì kháng nghị giám đốc thẩm phải là hành vi tố tụng của một số chủ thể có thẩm quyền với mục đích đề nghị Tòa án có thẩm quyền tiến hành việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm. Quá trình thực hiện hành vi này, các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về trình tự, thủ tục trong Luật TTHC, không được tiến hành một cách tùy tiện. Tòa án có thẩm quyền sẽ chỉ tiến hành giám đốc thẩm để thẩm định lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị chủ thể có thẩm quyền đã kháng nghị khi việc thực hiện hành vi kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đáp ứng đầy đủ các quy định về cách thức, thủ tục, trình tự thực hiện và Tòa án chỉ xem xét theo phạm vi, đối tượng đã bị kháng nghị. Ngược lại, khi kháng nghị không đáp ứng đúng trình tự, thủ tục do luật định thì sẽ không làm phát sinh trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền. Nói chung, khi đặt dưới khía cạnh là hành động thì kháng nghị giám đốc thẩm được hiểu là hành vi tố tụng của một số chủ thể đặc biệt có thẩm quyền. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Thứ hai, đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính là bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật

Khi xem xét các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng và hệ thống pháp luật tố tụng ở Việt Nam nói chung; có thể thấy kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC, TTDS, TTHS sẽ có những khác biệt nhất định điều này phần nào xuất phát từ bản chất, nguyên tắc trong các lĩnh vực này là khác nhau, song đều có chung một đặc điểm đó là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Đây chính là một trong những sự khác biệt lớn nhất giữa kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Bởi khác với kháng nghị giám đốc thẩm, đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật. Không khó để nhận thấy tính chất của hoạt động giám đốc thẩm chính là nguyên nhân của sự khác biệt này, khi đây không phải là một cấp xét xử mà là một thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị bởi các chủ thể có thẩm quyền. Từ đó có thể nhận định rằng những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nếu chưa có hiệu lực pháp luật thì không phải là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm. Quan điểm này cũng được kế thừa bền vững trong lịch sử tố tụng ở nước ta và phù hợp với mô hình thẩm xét.

Cụ thể hơn, đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; những quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban thẩm phán TANDCC. Về mặt lý luận, bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm sau khi xét xử sẽ chưa phát sinh hiệu lực pháp luật ngay lập tức mà sau khi xét xử sẽ có một khoảng thời gian nhất định để nếu như không đồng ý với bản án, quyết định được Tòa án đưa ra, các chủ thể tham gia tố tụng có thể thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị, việc kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm sẽ làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án; nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật. Một vụ án khi trải qua hai cấp xét xử thì coi như đã được giải quyết xong. Tuy nhiên, bên cạnh những bản án chính xác, hợp pháp, nghiêm minh thì vẫn còn số ít những bản án, quyết định của Tòa án vì một số nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan mà xuất hiện những sai lầm, những vi phạm nghiêm trọng trong công tác giải quyết vụ án. Xuất phát từ sự tôn trọng công lý, sự thật, lẽ công bằng trong TTHC, trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống cơ quan tư pháp cho nên pháp luật đã quy định về việc kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng phát hiện có sai lầm nghiêm trọng. Tựu chung lại, đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC là bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Thứ ba, kháng nghị giám đốc thẩm phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định

Để đảm bảo tính thống nhất, trật tự của các thủ tục tố tụng, giống như Luật TTHS, TTDS, Luật TTHC cũng đặt việc thực hiện các hành vi tố tụng trong khuôn mẫu chuẩn chỉnh trên những trình tự, thủ tục chặt chẽ. Do đó, tương tự như các hành vi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC cũng phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định. Như đã nêu ở trên, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm thuộc về một số chủ thể đặc biệt Luật định, tuy nhiên không phải vì vậy mà việc kháng nghị không phải tuân theo quy trình nào. Các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm khi thực hiện kháng nghị không chỉ tuân theo các quy định về mặt nội dung như: đối tượng kháng nghị, căn cứ kháng nghị, điều kiện kháng nghị… mà còn phải tuân theo các quy định về mặt thủ tục như: cách ban hành quyết định kháng nghị, gửi quyết định kháng nghị tới cơ quan có thẩm quyền, thông báo về việc kháng nghị. Những thủ tục này đều được quy định trong Luật TTHC và đều đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền thật sự cẩn thận, tỉ mỉ trong việc thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc đặt ra trình tự, thủ tục đối với hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm không chỉ để đảm bảo tính thống nhất, trật tự của các thủ tục tố tụng mà còn bởi kháng nghị giám đốc thẩm là hoạt động mang tính định hướng của các chủ thể có thẩm quyền khi tham gia tố tụng nên chỉ khi hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thì việc ban hành quyết định kháng nghị mới đạt được giá trị pháp lý cao nhất từ đó các Tòa án có bản án, quyết định bị kháng nghị có thể kịp thời, nghiêm túc nhìn nhận những sai lầm; Tòa án giám đốc thẩm có căn cứ đầy đủ nhất, tốt nhất để xem xét giải quyết tính hợp pháp hay không hợp pháp cả về hình thức và nội dung của kháng nghị. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Thứ tư, kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở phát sinh trách nhiệm giám đốc thẩm của Tòa án có thẩm quyền 

Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt trong TTHC, nó không phải là một thủ tục mặc nhiên tồn tại đối với tất cả các VAHC mà chỉ phát sinh khi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện kháng nghị hợp pháp. Nói cách khác, kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm giám đốc thẩm của Tòa án cấp có thẩm quyền. Dù muốn hay không thì Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm cũng phải thực hiện xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị giám đốc thẩm hợp pháp của các chủ thể có thẩm quyền. Trong TTHC, Tòa án nhân dân được chia thành 4 cấp, tuy nhiên theo quy định tại Điều 264 Luật TTHC năm 2015 thì chỉ có TANDCC, TANDTC là có thẩm quyền giám đốc thẩm. Việc giám đốc thẩm rất quan trọng đồng thời có tính phức tạp cao, do đó cần có đội ngũ Thẩm phán có chuyên môn cao mới có đủ kinh nghiệm, kiến thức để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, do đó việc pháp luật giao thẩm quyền giám đốc thẩm cho TANDCC, TANDTC là hoàn toàn hợp lí. Qua đây cũng thể hiện được tư duy tiến bộ của những nhà làm luật khi đã nhìn nhận, xem xét một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng để có thể chọn lọc được Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, từ đó đã khắc phục được những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết VAHC, bảo đảm tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đồng thời góp phần đảm bảo hiệu quả, chất lượng của công tác giám đốc thẩm.

1.1.3. Ý nghĩa

Từ mục đích của việc kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC là nhằm khắc phục, sửa chữa những sai lầm, những vi phạm pháp luật xuất hiện trong quá trình giải quyết vụ án đồng thời đảm bảo tính hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tính thống nhất trong hoạt động xét xử, chúng ta nhận thấy việc tìm hiểu và phân tích về ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật Tố tụng hành chính Việt Nam là một nội dung quan trọng góp phần làm sâu thêm phạm vi nghiên cứu của đề tài. Trên những góc độ nhất định, việc kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC có những ý nghĩa sau:

Thứ nhất, kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở để đảm bảo tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Về nguyên tắc, khi Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm ban hành bản án, quyết định đều phải đảm bảo tính hợp pháp, chính xác, đúng đắn, công bằng và bảo đảm khách quan, dân chủ. Đây là yêu cầu quan trọng đồng thời là mục tiêu của hoạt động TTHC nói riêng hay bất kỳ hoạt động tố tụng nào khác trong công cuộc cải cách hoàn thiện ngành tư pháp nước ta nói chung. Tuy nhiên, có thể thấy trên thực tế do TTHC là một quy trình nhiều bước, tính phức tạp cao, các văn bản áp dụng ở mỗi giai đoạn cũng rất đa dạng nên khi tiến hành xét xử sơ thẩm, phúc thẩm VAHC, những chủ thể tiến hành tố tụng khó tránh khỏi những sai sót, thậm chí có những quan điểm, nhận định chưa thật sự chính xác gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bản án, quyết định được ban hành, “gây hậu quả là làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự” [30, tr.154] và hậu quả sẽ càng nghiêm trọng hơn nếu các bản án, quyết định này đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, việc một số chủ thể đặc biệt trong phạm vi, quyền hạn của mình thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm trên cơ sở phát hiện những sai lầm, vi phạm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại tính đúng đắn, hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm là rất cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Qua hoạt động giám đốc thẩm, Tòa án sẽ kịp thời phát hiện ra những thiếu sót, sai phạm trong bản án và quá trình giải quyết VAHC từ đó kịp thời đưa ra những quyết định cho phù hợp như: quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị sửa hoặc bị hủy; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm để tiến hành xét xử sơ thẩm lại hoặc phúc thẩm lại; hủy bản án, quyết định của Tòa án đã giải quyết vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án; sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [7] nhằm làm cho bản án, quyết định đó trở nên hoàn chỉnh, hợp pháp, quyền và lợi ích của các đương sự trong VAHC được bảo vệ, nâng cao chất lượng trong công tác xét xử VAHC, đảm bảo tính khách quan, công bằng. Nhìn chung, kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở để Tòa án có thẩm quyền tiến hành hoạt động thẩm định lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án từ đó đảm bảo sự minh thị, rõ ràng, hoàn chỉnh về cả mặt nội dung và hình thức của bản án, quyết định đó. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Thứ hai, kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở để Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm thận trọng, kỹ lưỡng hơn khi xét xử

Hiện nay, đối với hoạt động xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, pháp luật nước ta quy định theo hướng “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” [1], ở Việt Nam đây được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản, rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án khi đảm bảo cho việc xét xử được đúng đắn, chính xác. Với hướng quy định này làm cho các chủ thể tiến hành tố tụng trong VAHC đặc biệt là các thẩm phán luôn mong muốn các phán quyết của mình trong bản án, quyết định là chính xác, hợp pháp, đúng đắn, không có bất kỳ vi phạm pháp luật, thiếu sót nào. Song, hoạt động xét xử của Tòa án trên thực tế luôn tồn tại tính khách quan và tính chủ quan. Tính chủ quan thể hiện hoạt động xét xử là quá trình nhận định, đánh giá những tình tiết của vụ án và tiến hành áp dụng pháp luật trong việc đảm bảo trình tự, thủ tục cũng như trong việc ra các quyết định của vụ án [57] của người tiến hành tố tụng. Tính khách quan lại thể hiện ở việc những tình tiết trong vụ án, những chứng cứ thu thập được là sự thật của vụ án, là luận điểm quan trọng để giải quyết VAHC. Vì vậy, việc xét xử VAHC cũng khó tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót về thủ tục cũng như về nội dung giải quyết tranh chấp phát sinh từ phía các chủ thể tiến hành tố tụng, tác động tiêu cực tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án. Do đó, việc quy định cơ chế thẩm định lại tính đúng đắn, chính xác trong các phán quyết của Tòa án là vấn đề cần được đặt ra. Theo quy định của Luật TTHC, khi có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hợp pháp, trách nhiệm thẩm định lại tính chính xác, hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ được phát sinh từ đó giúp cho bản án, quyết định sơ thẩm này được khách quan, công bằng và đúng đắn. Song, chúng ta không thể chắc chắn rằng bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, bản án phúc thẩm đều hợp pháp, chính xác hoàn toàn nên Luật TTHC đã quy định cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Giám đốc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng nghị hợp pháp của chủ thể có thẩm quyền, thông qua việc tiến hành giám đốc thẩm Tòa án thực hiện hoạt động giám đốc thẩm sẽ thấy được tính chính xác, đúng đắn, hợp pháp trong bản án, quyết định bị kháng nghị có được bảo đảm hay không từ đó đưa ra các quyết định như hủy bản án hoặc sửa bản án cho phù hợp. Qua phán quyết này của Hội đồng giám đốc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm có cơ hội để xem xét lại quá trình xét xử của mình, từ đó nhận thấy được những điểm sai phạm, hạn chế, yếu kém để có thể nhanh chóng sửa chữa, khắc phục. Đây là giá trị, ý nghĩa quan trọng của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC.

Thứ ba, kháng nghị giám đốc thẩm là phương thức giúp Tòa án cấp trên tổng kết, rút kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc phán quyết của Tòa án đưa ra là không chính xác, một trong những nguyên nhân đó là việc áp dụng và giải thích pháp luật giữa các chủ thể có thẩm quyền chưa thực sự thống nhất. Điều này dẫn tới kết quả là các Tòa án khác nhau áp dụng và giải thích pháp luật không thống nhất đối với cùng vụ việc có tình tiết giống nhau, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chồng chéo trong việc áp dụng pháp luật. Với những đặc điểm của mình, kháng nghị giám đốc thẩm sẽ giúp các chủ thể có thẩm quyền kịp thời phát hiện được những thiếu sót, sai phạm trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra hướng giải thích và áp dụng thống nhất pháp luật.

Ngoài ra, “kháng nghị giám đốc thẩm góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới” [15, tr.143], thông qua đó Tòa án cấp trên có thể kịp thời sửa chữa những sai phạm, đảm bảo cho Tòa án các cấp áp dụng pháp luật một cách đúng đắn và thống nhất. Do đó, chủ thể có thẩm quyền khi phát hiện ra những căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cần phải cẩn thận, tỉ mỉ và kịp thời ban hành kháng nghị để từ đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành giám đốc thẩm kiểm tra và khắc phục những vi phạm, sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị chậm trễ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ qua, tổ chức không bị xâm phạm. Thông qua công tác giám đốc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm sẽ chỉ ra những sai phạm nghiêm trọng trong công tác xử lý vụ án để định hướng những chủ thể đã trực tiếp tiến hành giải quyết vụ án nhận thức được sai lầm của mình. Bên cạnh đó, những sai lầm, thiếu sót, vi phạm trong việc áp dụng pháp luật này sẽ được nêu ra trước các hội nghị, hội thảo, báo cáo tổng kết để rút kinh nghiệm cho các công chức làm công tác xét xử khi giải quyết VAHC. Do đó, có thể thấy “kết quả của hoạt động giám đốc thẩm được coi như là kinh nghiệm đồng thời là những định hướng quý báu hướng dẫn hoạt động xét xử của tòa án cấp trên đối với tòa án cấp dưới” [55, tr.386].

Thứ tư, kháng nghị giám đốc thẩm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, củng cố niềm tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt động xét xử của Tòa án Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Tại Hiến pháp năm 2013, nhiệm vụ của TAND đã được xác định rõ là bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa [1]. Vì vậy, có thể nhận thấy bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong TTHC nói riêng là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành Tòa án. Khi xét xử các VAHC, các chủ thể của TTHC và đặc biệt là những chủ thể tiến hành tố tụng phải luôn phải đặt quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự lên hàng đầu, tuyệt đối không vì bất cứ nguyên nhân gì mà ban hành bản án, quyết định thiếu chính xác, tồn tại nhiều khiếm khuyết về mặt thủ tục hay mặt nội dung làm phương hại đến lợi ích chính đáng của các đương sự. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật khi được vận dụng, thực thi, Luật TTHC đã quy định các cách thức để “chống án, phá án” đó là kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Mỗi cách thức khác nhau, sẽ được áp dụng trong các trường hợp khác nhau, theo những trình tự, thủ tục khác nhau để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và phát huy hiệu quả trong từng giai đoạn TTHC nhất định. Đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm, vi phạm nghiêm trọng thì phương thức hữu hiệu được đặt ra để sửa chữa những sai lầm, vi phạm đó là kháng nghị giám đốc thẩm. Nhờ sự tác động của phương thức này mà các bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực của Tòa án được tầm soát lại, kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót, nâng cao chất lượng công tác xét xử VAHC, “củng cố thêm niềm tin của người dân vào cơ quan xét xử” [16, tr.19]. Khi nhìn nhận dưới góc độ là quyền lợi của đương sự trong VAHC, đây là mấu chốt để quyền và lợi ích hợp pháp của họ được đảm bảo, bên cạnh đó củng cố lòng tin của nhân dân đối với nhà nước, hệ thống pháp luật, củng cố trật tự xã hội và nâng cao hơn nữa sự tôn trọng đối với kỉ cương pháp luật [55, tr.386].

1.2. Kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt đồng thời là một chế định vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật nói chung và Luật TTHC nói riêng. Các quy định của pháp luật TTHC Việt Nam về chế định này từng bước được hoàn thiện qua các Luật TTHC năm 2010 và 2015 điều này đã tạo cơ sở pháp lý để Tòa án thực hiện thủ tục giám đốc thẩm đạt hiệu quả cao hơn; các bản án, quyết định của tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, công bằng, dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Khi tìm hiểu về thủ tục giám đốc thẩm, việc nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm là sự thự cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng. Theo Luật TTHC, kháng nghị giám đốc thẩm được tiếp cận và hiểu qua các tiêu chí như: đối tượng, căn cứ, điều kiện, chủ thể có thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm và thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm. Dưới đây, tác giả sẽ trình bày, phân tích:

1.2.1. Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm

Khi xem xét về kháng nghị giám đốc thẩm thì việc nghiên cứu, xem xét về đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm giữ vai trò rất quan trọng. Luật TTHC Việt Nam hiện chưa quy định về đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm trong một điều luật cụ thể mà được thể hiện gián tiếp thông qua nhiều điều luật tại Chương XV như: Điều 254 quy định về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, Điều 255 quy định về căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và quy định tại một số điều luật khác như Điều 256, Điều 260, Điều 263,..Theo đó, có thể thấy, đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC là bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Điều này đã phân biệt rõ ràng giữa đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm và đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong luật TTHC; khi đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật còn đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là bản án, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Để có thể nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện, người nghiên cứu sẽ phân tích tách biệt về bản án đã có hiệu lực pháp luật và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC.

Thứ nhất, về bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy hiện nay chưa có quy định cụ thể về bản án đã có hiệu lực pháp luật là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là bản án như thế nào, của Tòa án cấp nào nhưng có thể hiểu bản án đã có hiệu lực pháp luật là bản án sơ thẩm đã phát sinh hiệu lực pháp luật và bản án phúc thẩm.

Bản án hành chính sơ thẩm là văn bản tố tụng được lập bởi HĐXX sơ thẩm, thể hiện quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về xét xử VAHC lần đầu. Nội dung và hình thức của bản án sơ thẩm VAHC phải tuân theo quy định tại Điều 194 Luật TTHC. Bản án hành chính sơ thẩm phản ánh những kết quả của phiên tòa sơ thẩm và ý kiến của HĐXX sơ thẩm đồng thời cũng đánh dấu sự kết thúc của toàn bộ quá trình xét xử sơ thẩm. Cũng giống như trong TTDS, TTHS, bản án hành chính sơ thẩm khi được HĐXX ban hành chưa có hiệu lực ngay lập tức mà còn có thời gian nhất định để các đương sự trong vụ án có thể thực hiện kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nếu thấy cần thiết. Khi bản án hoặc phần của bản án sơ thẩm VAHC bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì sẽ được Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm và sẽ có hiệu lực pháp luật khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định tại các Điều 229 và 241 của Luật TTHC. Khi bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm “không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị” [7] trừ trường hợp pháp luật có quy định được thi hành ngay.

Bản án phúc thẩm VAHC là văn bản tố tụng ghi nhận phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền sau khi xét xử lại phần bị kháng cáo, kháng nghị. Nội dung và hình thức của bản án phúc thẩm VAHC luôn phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật mà cụ thể là Điều 242 của Luật TTHC. Khác với Bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Lý giải cho điều này là do khi thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử thì xét xử phúc thẩm là cấp xét xử cuối cùng do đó bản án ngay sau khi được tuyên sẽ có hiệu lực ngay lập tức. Bản án phúc thẩm đã đánh dấu sự kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử và bản án, quyết định được tuyên trong bản án có tính chất mệnh lệnh nhà nước buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân theo. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Từ các phân tích trên, chúng ta thấy, ở nước ta chỉ bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, bản án phúc thẩm mới là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Quy định này đã tạo một cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn tính đúng đắn của các phán quyết trong bản án đã có hiệu lực pháp luật đồng thời bảo đảm triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án, sự công bằng và nghiêm minh trong công tác xét xử VAHC

Thứ hai, về quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đây cũng là một trong những đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC. Thế nhưng, nếu như bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là đối tượng bị kháng nghị giám đốc thẩm khá phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trên thực tế [49] thì quyết định đã có hiệu lực pháp luật ít bị kháng nghị giám đốc thẩm hơn, chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 18,9% trong tổng các vụ giám đốc thẩm trên cả nước. Để có thể giải quyết VAHC, trong quá trình TTHC, chủ thể tiến hành tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm VAHC có thể ban hành rất nhiều quyết định khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề trong thời gian xử lý vụ án như: quyết định chuyển vụ án, quyết định hoãn phiên tòa, quyết định tạm ngừng phiên tòa… Trong quá trình giải quyết phúc thẩm VAHC, chủ thể tiến hành tố tụng có thể ban hành quyết định hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm, quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định hủy bản án sơ thẩm…Có thể thấy, trong quá trình sơ thẩm, phúc thẩm VAHC chủ thể tiến hành TTHC có thể ban hành các quyết định khác nhau để giải quyết các vấn đề cần thiết nhưng không phải tất cả các quyết định này đều là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm mà chỉ có những quyết định mang tính chất đặc biệt, có ảnh hưởng lớn tới công tác giải quyết vụ án cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án mới là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Hiện nay, trong Luật TTHC không có quy định cụ thể quyết định đã có hiệu lực pháp luật nào của Tòa án là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm. Tuy nhiên, nhìn nhận vào lý thuyết và căn cứ vào thực tiễn hoạt động giám đốc thẩm, tác giả nhận thấy các quyết định có hiệu lực pháp luật là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm thường là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đã phát sinh hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, quyết định công nhận đối thoại thành và đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, quyết định giải quyết kháng cáo đối với quyết định đình chỉ, quyết định giải quyết kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm… Ví dụ như: Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết VAHC số 60/2019/QĐPT-HC ngày 23/7/2019 của TANDCC tại Hà Nội về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Ngày 01/9/2021, Chánh án TANDTC đã ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết VAHC số 60/2019/QĐPT-HC ngày 23/7/2019 của TANDCC tại Hà Nội [39].

Bên cạnh một số quyết định nêu trên, trong TTHC, các quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án nhân dân có thẩm quyền cấp dưới cũng là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, để có thể có được một phán quyết cuối cùng đồng thời tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án nên quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC sẽ không là đối tượng bị kháng nghị giám đốc thẩm và phán quyết được đưa ra bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC sẽ là phán quyết cuối cùng, đánh dấu sự kết thúc toàn bộ một vụ án.

1.2.2. Căn cứ, điều kiện kháng nghị giám đốc thẩm Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Theo quy định tại Điều 254 Luật TTHC, có thể thấy kháng nghị giám đốc thẩm sẽ là cơ sở duy nhất để Tòa án có thẩm quyền tiến hành hoạt động giám đốc thẩm từ đó kịp thời phát hiện và sửa chữa những vi phạm, sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nếu có. Hơn nữa, như đã chỉ ra ở trên giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt chứ không phải là một cấp xét xử. Xuất phát từ nguyên nhân này, có thể thấy “căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm phải phù hợp với tình chất của giám đốc thẩm đó là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án”. Trên cơ sở kế thừa và phát huy so với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã liệt kê 3 căn cứ để kháng nghị giám đốc theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:

Thứ nhất, kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Những tình tiết khách quan của vụ án là những sự kiện có thật diễn ra trên thực tế liên quan đến việc giải quyết vụ án và đây cũng là những tình tiết tồn tại ngoài ý muốn của con người. Những tình tiết này đóng vai trò rất lớn trong công tác xét xử, giải quyết vụ án bởi thông qua chúng, các vấn đề trong vụ án được làm rõ. Để nhìn nhận, đánh giá các tình tiết này một cách bao quát, chính xác đòi hỏi thẩm phán – người trực tiếp tiến hành giải quyết vụ án phải có quan điểm rõ ràng, toàn diện và thật sự khách quan. Đối với mỗi tình tiết, Tòa án phải xem xét thận trọng và đánh giá đầy đủ các mặt, các mối liên hệ của nó, đồng thời đặt nó trong mối liên hệ biện chứng với những tình tiết khác trong vụ án. Khi chưa xem xét, đánh giá toàn diện các tình tiết trong vụ án các chủ thể tiến hành tố tụng tuyệt đối không được đưa ra những nhận định, kết luận phiến diện, không có căn cứ để tránh làm ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án. Tòa án luôn phải sử dụng sự thật làm căn cứ cho những quyết định được đưa ra. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thu thập các chứng cứ này không phải lúc nào cũng đầy đủ và đúng đắn mà có đôi khi vì lý do chủ quan hoặc khách quan mà việc thu thập những tình tiết khách quan của vụ án có nhiều thiếu sót dẫn tới “quyết định của Tòa án không phản ánh đúng bản chất vụ án” [43, tr.18] thậm chí làm thay đổi bản chất và sự thật của vụ án. Từ đó, làm giảm tính chính xác của công tác giải quyết vụ án, làm giảm tính hiệu quả của bản án, quyết định được ban hành, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án không được đảm bảo. Một trong những biểu hiện của việc Tòa án đưa ra kết luận để giải quyết vụ án không thật sự phù hợp với các tình tiết khách quan là việc chưa thu thập đủ các tài liệu chứng cứ, chưa đánh giá toàn diện các tình tiết khách quan nhưng vẫn tiến hành giải quyết vụ án vì vậy mà quyết định, phán quyết được đưa ra không chính xác, thiếu cơ sở, đánh giá sai chứng cứ, tài liệu và thậm chí xâm hại nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ án. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Với tư cách là cơ quan “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [1] Tòa án có trách nhiệm đánh giá một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện và khách quan các tình tiết trong vụ án. Nếu việc thu thập các tình tiết khách quan chưa đầy đủ, thiếu chính xác thì Tòa án phải nhanh chóng khắc phục để có thể đưa ra phán quyết công minh nhất. Song, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà không ít những sai lầm, hạn chế vẫn còn tồn tại án như: kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không dựa vào chứng cứ có ý nghĩa quan trọng nhưng Tòa án không đề nghị bổ sung, làm rõ mà vẫn ban hành quyết định; các chứng cứ mà Tòa án thu thập được không thống nhất với nhau…

Ví dụ: Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 69/2018/HCST ngày 08/11/2018, TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc đề nghị hủy Công văn số 1590/UBND-TNMT ngày 17/4/2018 của Chủ tịch UBND huyện Xuyên M, Công văn số 45/UBND-TNMT ngày 26/3/2018, Quyết định số 163/QĐKPHQ ngày 03/82018 và quyết định số 188/QĐ-CCXP ngày 14/8/2018 của Chủ tịch UBND xã Bình C, huyện Xuyên M.

Ngày 19/11/2018, bà M có Đơn kháng cáo. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 128/2020/HC-PT ngày 20/05/2020, TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M hủy các văn bản: Công văn số 1590/UBNDTNMT ngày 17/4/2018 của Chủ tịch UBND huyện X; Công văn số 45/UBND-TNMT ngày 26/3/2018, Quyết định số 163/QĐ-KPHQ về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 188/QĐ-CCXP ngày 14/8/2018 đều của Chủ tịch UBND xã Bình C về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà M.

Tuy nhiên, qua quá trình tập hợp, xác minh và đánh giá toàn diện các tình tiết khách quan, kết quả cho thấy rằng kết luận của TANDCC tại thành phố Hồ Chí Minh trong bản án phúc thẩm là không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án trên thực tế, làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.

Khi nhận thấy điều này, Chánh án TANDTC đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 32/2023/KN-HC ngày 12/5/2023 đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 128/2020/HC-PT ngày 20/5/2020 của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 128/2020/HC-PT. Tại phiên Tòa giám đốc thẩm, HĐXX xét thấy quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC là hợp pháp, căn cứ kháng nghị rõ ràng nên đã ra phán quyết Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 32/2023/KN-HC ngày 12/05/2023 của Chánh án TANDTC. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 69/2018/HCST ngày 08/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. [42]

Thứ hai, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến việc đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình do đó quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

So với quy định của Luật TTHC trước kia, căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm này đã được phát triển và quy định khá công phu, có phần chi tiết hơn tại Luật TTHC hiện hành. Với quy định về căn cứ kháng nghị này rất sơ khai “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” [8] mà không có bất kỳ giải thích nào thêm để có thể hiểu chính xác và sâu hơn về cụm từ “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” dẫn tới việc thực hiện trên thực tế còn chưa thật sự thống nhất. Đến Luật TTHC năm 2010, quy định này vẫn chưa được phát triển nên vẫn tiếp tục đi theo lối mòn cũ và giữ nguyên bản tại Điều 210. Đúc rút từ những bài học thu được qua thực tiễn và đối chiếu vào với vấn đề lý luận, có thể thấy rõ những hạn chế còn tồn tại trong các quy định của Luật TTHC nước ta. Mặc dù Luật TTHC hiện hành đã quy định có phần cụ thể hơn về thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”, khi đã làm rõ hơn rằng đây là các vi phạm trực tiếp ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án, làm cho đương sự không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảo vệ. Tuy nhiên, nhìn nhận dưới góc độ học thuật và nghiên cứu chuyên sâu thì căn cứ này của Luật TTHC hiện hành vẫn còn mang tính “đơn điệu”, “hời hợt” và dường như các nhà lập pháp còn cố ý hay vô tình né tránh việc giải thích cụ thể hơn về thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để có thể hiểu sâu và phân biệt được với vi phạm thủ tục tố tụng không nghiêm trọng. Đây là gợi mở sẽ được tác giả bàn luận chu đáo, kỹ lưỡng hơn trong chương sau của khóa luận này.

Các quy định về trình tự, thủ tục trong TTHC là căn cứ pháp lý để các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền tham gia tiến hành tố tụng thực hiện thống nhất và đúng pháp luật các hoạt động tố tụng. Trong quá trình giải quết VAHC, quy trình, thủ tục TTHC được tuân thủ nghiêm ngặt sẽ đảm bảo kết quả giải quyết vụ án được chính xác, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm. Tuy nhiên, trên thực tế, vì một số lý do chủ quan và khách quan mà vẫn xuất hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như: Tòa án thụ lý vụ việc không thuộc thẩm quyền xét xử của mình, Tòa án xác định không chính xác tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng là chủ thể bị pháp luật quy định cấm hoặc vi phạm các quy định về việc Thẩm phán và Hội thẩm phải từ chối hoặc bị thay thế khi tham gia tố tụng và một số sai phạm khác. Trong quá trình giải quyết vụ án, chỉ cần một bước hay một khâu xảy ra vi phạm hoàn toàn có thể làm thay đổi tính chất của vụ án, phán quyết đưa ra không thật sự chính xác, xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Để bổ sung và làm rõ cho những phân tích ở trên, tác giả xin đưa ra một vụ án trong đó Chánh án TANDTC đã kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm do quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 1837/2018/HC-ST ngày 10/12/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ Nguyễn Thị M về hủy các Quyết định số 10676/QĐ-UBND-TNMT ngày 28/7/2009  của Ủy  ban  nhân  dân  Quận H;  Quyết định  số 4853/QĐ-UBND-TNMT ngày 25/11/2015 của UBND Quận H; Quyết định số 5126/QĐ-UBND ngày 15/12/2015 của UBND Quận H; Quyết định số 3742/QĐUBND ngày 07/11/2016 của Chủ tịch UBND Quận H và Quyết định số 3775/QĐ-UBND ngày 13/6/2017 của Chủ tịch UBND Quận H.  Không nhất trí với phán quyết được đưa ra trong bản án sơ thẩm; ngày 09/1/2019, Chủ tịch UBND Quận H và UBND Quận H đã có đơn kháng cáo đối với bản án hành chính sơ thẩm đó. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 920/2019/HC-PT ngày 26/12/2019, TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của UBND Quận H và Chủ tịch UBND Quận H. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 1837/2018/HC-ST ngày 10/12/2018 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, quá trình xem xét lại quá trình tố tụng vụ án, không có tài liệu nào để thể hiện ông N và bà T đồng ý cho bà Lê Thị Tuyết H6, đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ M nhận tiền bồi thường, hỗ trợ.

Ngày 11/7/2022, Chánh án TANDTC ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/2022/KN-HC đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 920/2019/HC-PT ngày 26/12/2019 của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh; tiến hành giao hồ sơ vụ án cho TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. [38]

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, sau khi xem xét và đánh giá toàn diện các vấn đề được đặt ra, HĐXX đã ra phán quyết chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/2022/KN-HC ngày 11/7/2022 của Chánh án TANDTC.

Thứ ba, “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc bản án, quyết định không đúng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba” Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Về nguyên tắc, trong quá trình giải quyết bất kỳ một vụ án nào Tòa án luôn phải có hoạt động áp dụng, tuân thủ và thực thi pháp luật. Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể thế nào là áp dụng pháp luật. Về cơ bản, có thể hiểu đây là hoạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi những cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc được nhà nước trao quyền nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức cụ thể. Trong hoạt động tư pháp, áp dụng pháp luật là yêu cầu cơ bản nhằm đảm bảo tính dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình giải quyết VAHC, các chủ thể tiến hành tố tụng không chỉ áp dụng pháp luật TTHC mà còn áp dụng pháp luật chuyên ngành để giải quyết vụ án. Nhìn chung, việc áp dụng pháp luật không quá phức tạp. Thế nhưng với VAHC có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng tranh chấp, nhiều lĩnh vực pháp luật chuyên ngành thì Tòa án khó tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật từ đó làm ảnh hưởng xấu đến kết quả giải quyết vụ án, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đơn cử là các trường hợp Tòa án áp dụng văn bản quy phạm pháp luật không chính xác, đã hết hiệu lực, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật không có liên quan đến vụ án… Do đó, để có cơ chế để có thể kịp thời xem xét lại tính chính xác, hợp lý, hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, Luật TTHC hiện hành đã quy định: có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba [7] là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm.

Dựa trên các quy định của pháp luật và quan sát toàn bộ căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tác giả nhận thấy không phải mọi sai lầm trong việc áp dụng pháp luật đều là căn cứ của kháng nghị giám đốc thẩm mà chỉ những sai lầm có hệ quả làm cho việc ra bản án, quyết định được đưa ra không chính xác, gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba [7] là căn cứ của kháng nghị giám đốc thẩm. Đối chiếu quy định này với quy định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tại Điều 210 Luật TTHC năm 2010, có thể thấy quy định này trong Luật TTHC hiện hành đã được quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn, tạo hành lang pháp lý chỉn chu hơn để đảm bảo công tác kháng nghị giám đốc thẩm đạt được hiệu quả.

Tác giả xin dẫn chứng bằng một vụ án mà Tòa án đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật bị Chánh án TANDTC kháng nghị giám đốc thẩm. Tại bản án hành chính sơ thẩm số 35/2019/HC-ST ngày 29/11/2019, TAND thành phố CT quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C. Hủy một phần Quyết định 3105/QĐ-UBND ngày 18/9/2018 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích lịch sử Địa điểm thành lập Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng Đ tại phần phê duyệt cho ông C về đất. Hủy một phần Quyết định 1925/QĐ-UBND ngày 10/5/2019 của Chủ tịch UBND huyện Đ tại Điều 1 về việc giải quyết khiếu nại của ông C. Ngày 12/12/2019, UBND huyện Đ và Chủ tịch UBND huyện Đ có đơn kháng cáo không đồng ý đối với toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm nêu trên. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 323/2020/HC-PT ngày 28/7/2020, TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của UBND huyện Đ và Chủ tịch UBND huyện Đ; giữ nguyên bản án số 35/2019/HC-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố CT.

Quá trình xem xét lại quá trình giải quyết vụ án nhận thấy, “Nhà đất” theo Nghị quyết 755/2005/NQ-UBTVQH11 nêu trên bao gồm nhà ở kể cả khuôn viên (nếu có) và các loại nhà khác, nên diện tích đất mà hộ gia đình ông C bị thu hồi không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị quyết này và theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993, thì Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật về đất đai của Nhà nước qua các thời kỳ [40]. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Ngày 10/7/2023, Chánh án TANDTC đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 47/2023/HC-GĐT đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 323/2020/HC-PT ngày 28/7/2020 của TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, Chánh án TANDTC đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 323/2020/HC-PT ngày 28/7/2020 của TANDCC  tại  Thành  phố  Hồ Chí Minh  và  Bản  án  hành  chính  sơ  thẩm  số 35/2019/HC-ST ngày 29/11/2019 của TAND thành phố CT; giao hồ sơ vụ án cho TAND thành phố CT xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật Tại phiên Tòa giám đốc thẩm, HĐXX đã ra phán quyết chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 47/2023/HC-GĐT của Chánh án TANDTC.

Tựu chung lại, quy định về các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tại khoản 1 Điều 255 Luật TTHC hiện hành đã có những thay đổi, bổ sung mang tính làm rõ hơn, cụ thể hơn, hoàn thiện hơn so với quy định tại Điều 210 Luật TTHC năm 2010. Điều này đã thể hiện được tính pháp điển hóa rất mạnh mẽ của Luật TTHC, thể hiện sự quan tâm của các nhà lập pháp đối với công tác hoàn thiện luật TTHC. Việc này có vai trò rất quan trọng, góp phần bảo đảm công tác kháng nghị giám đốc thẩm luôn được thực hiện đúng đắn, hợp pháp, các bản án, quyết định đưa ra có chất lượng đảm bảo.

Bên cạnh việc hoàn thiện quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, một điểm rất nổi bật của Luật TTHC hiện hành so với Luật hành chính trước đó là đã có quy định về điều kiện để kháng nghị giám đốc thẩm. Cụ thể thì “Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 260 của Luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn của người đề nghị theo quy định tại Điều 257 và Điều 258 của Luật này, trừ trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần thiết phải có đơn đề nghị” [7]. Với quy định này, có thể hiểu, trong trường hợp xuất hiện căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nhưng nếu không có đơn đề nghị thì chủ thể có thẩm quyền kháng nghị cũng không thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm mà không cần có đơn đề nghị. Có thể nói, với các trường hợp thuộc các căn cứ kháng nghị đã nêu trên, pháp luật quy định đơn đề nghị là điều kiện đủ để chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thực hiện kháng nghị để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án không bị xâm hại.

1.2.3. Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Nếu như chủ thể có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm lại khác biệt hơn, mang tính chất đặc thù. Điều 260 Luật TTHC hiện hành, quy định khá rõ về các chủ thể này, đó là:

“1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Căn cứ theo quy định này có thể thấy, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm chỉ được giao cho bốn chủ thể có địa vị cao nhất trong ngành TAND và VKSND ở tối cao và cấp cao. Theo quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Nghị quyết số 953/NQ-UBTVQH13 và Nghị quyết số 957/NQ-UBTVQH đều ban hành ngày 28/5/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì TANDTC, VKSNDTC có 1 tòa đặt tại Hà Nội; TANDCC và VKSNDCC được thành lập ở 3 thành phố trực thuộc trung ương ở ba khu vực bắc, trung, nam đó là Thành phố Hà Nội, Thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm cụ thể sẽ gồm có tám cá nhân là: Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDCC tại Hà Nội, Viện trưởng VKSNDCC tại Hà Nội, Chánh án TANDCC tại Đà Nẵng, Viện trưởng VKSNDCC tại Đà Nẵng, Chánh án TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện trưởng VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, cũng theo quy định tại Điều 260 Luật TTHC, nhận thấy dựa vào phạm vi quản lý theo vùng, lãnh thổ khác nhau mà các chủ thể đứng đầu TANDCC và VKSNDCC ở ba thành phố trực thuộc trung ương nói trên sẽ có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của mình. Điều này đã góp phần giảm tải áp lực cho Tòa án, Viện kiểm sát cấp trên đồng thời hạn chế trường hợp quyền hạn chỉ tập trung về một cấp Tòa, cấp Viện kiểm sát.

1.2.4. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm

Thời hạn để thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm là “khoảng thời gian mà pháp luật cho phép các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Điều 260 Luật TTHC hiện hành thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự” [52, tr.18]. Hiện nay, theo quy định tại Điều 263 Luật TTHC, thời hạn để thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là “03 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật” [7]. Có thể thấy, thời hạn thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm không quá dài nhưng cũng không quá ngắn mà có sự phù hợp tương đối, vẫn bảo đảm để các chủ thể có thẩm quyền thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm. Khi đặt lên để so sánh với quy định trong Luật TTHC 2010 về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tác giả nhận thấy, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo Luật TTHC hiện hành được quy định rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn và xúc tích hơn khi đã lược bỏ quy định tại khoản 2 Điều 215 Luật TTHC năm 2010. Việc quy định chi tiết, rõ ràng về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC một mặt giúp cho các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị xác định thời hạn chính xác để thực hiện kháng nghị, là cơ sở để họ thực hiện tốt quyền hạn, trách nhiệm của mình, tránh tình trạng kháng nghị giám đốc thẩm không đảm bảo được thời hạn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự; mặt khác giúp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đương sự trong vụ án có căn cứ để giám sát hoạt động kháng nghị của các chủ thể có thẩm quyền. Đồng thời việc lược bỏ quy định tại khoản 2 Điều 215 Luật TTHC năm 2010 là một điều đúng đắn bởi nếu giữ nguyên quy định này thì “sẽ gây ra nhiều khó khăn trong công tác giải quyết vụ án, vụ án có thể bị kéo dài khi thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện sau rất nhiều năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực bị kháng nghị” [23, tr.376]. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Ngoài ra, đối với phần dân sự trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTDS. Khá tương đồng với quy định về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC, tại Điều 334 Bộ Luật TTDS có quy định thời hạn để chủ thể có thẩm quyền kháng nghị thực hiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án phát sinh hiệu lực pháp luật. Bên cạnh đó, Bộ Luật TTDS còn có trường hợp ngoại lệ có thể kéo dài thời hạn kháng nghị thêm 02 năm kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị đó là “a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị; b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.”

Đánh giá một cách tổng quát thì nhìn chung các quy định về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm trong Luật TTHC hiện hành đã được quy định khá rõ ràng, cụ thể là cơ sở quan trọng thúc đẩy trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm đồng thời tạo ra “điểm dừng” cho vụ án.

1.2.5. Trình tự, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm

Kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC là quyền cũng là nghĩa vụ của một số chủ thể nhất định nhằm bảo đảm tính đúng đắn, hợp pháp của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án ban hành đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, củng cố lòng tin của người dân vào cơ quan nhà nước đồng thời tạo điều kiện để các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng nhận biết được tình hình của vụ án theo sự quan tâm riêng của mình. Để đảm bảo cho hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện có hiệu quả và thống nhất thì Luật TTHC có quy định về trình tự, thủ tục khi thực hiện hoạt động này tại các Điều 262, 264 và ngoài ra được hướng dẫn tại một số văn bản có liên quan.

Về nội dung của quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải đầy đủ 9 nội dung: “1. Số, ngày, tháng, năm của quyết định kháng nghị; 2. Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị; 3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; 4. Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; 5. Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, 6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị; 7. Quyết định kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; 8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án đó; 9. Đề nghị của người kháng nghị” [7]. Mỗi nội dung đều chứa đựng những ý nghĩa và vai trò khác nhau nhưng đều chung một mục đích làm rõ dụng ý kháng nghị giám đốc thẩm của chủ thể có thẩm quyền đồng thời giúp Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm nhận định rõ cơ sở của việc kháng nghị và giải quyết triệt để tất cả các nội dung.

Về hình thức, đối với quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của chủ thể có thẩm quyền thuộc khối Tòa án thì phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật TTHC và mẫu do Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành; đối với quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của các chủ thể có thẩm quyền thuộc khối Viện kiểm sát phải tuân theo mẫu số 52/HC thuộc danh mục 65 biểu mẫu tố tụng, nghiệp vụ trong công tác kiểm sát việc giải quyết VAHC ban hành kèm theo quyết định số 410/QĐ-VKSTC ngày 25/11/2021 của Viện trưởng VKSNDTC. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Về việc gửi quyết định kháng nghị, Khoản 1 Điều 264 Luật TTHC quy định: “Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị”. Bên cạnh đó, khoản 2,3,4 Điều này còn quy định: đối với quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC, Chánh án TANDCC thì quyết định kháng nghị và hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án thì Viện kiểm sát nghiên cứu và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền tiến hành giám đốc thẩm; đối với quyết định kháng nghị giám đốc thẩm do Viện trưởng VKSNDTC, Viện trưởng VKSNDCC thì sẽ được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm; đối với trường hợp Chánh án TANDTC kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án khác thì khi xét thấy cần thiết có quyền giao cho TANDCC xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm.

Như vậy, có thể thấy việc quy định về trình tự, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm đóng vai trò rất quan trọng khi góp phần nâng cao đồng thời đảm bảo được hiệu quả của hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC.

1.2.6. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Nội dung của quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phản ánh chất lượng làm việc của các chủ thể có thẩm quyền và quyết định tới việc xác định có tồn tại sai phạm trong quá trình tố tụng hay không. Tuy nhiên có thể vì một số nhận định chủ quan, thiếu toàn diện về mức độ chính xác của bản án, quyết định đã phát sinh hiệu lực pháp luật mà quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đưa ra chưa thật sự chính xác. Do đó, để điều chỉnh các hành vi trong trường hợp này, việc Luật TTHC đặt ra quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm tại Điều 265 là rất cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, về thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm. Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm được quy định tại Khoản 1 Điều 265 Luật TTHC hiện hành. Theo từ điển Tiếng Việt, “Thay đổi” là “đổi khác đi, trở nên khác trước” [66, tr.662] và “bổ sung” là “thêm vào cho đủ” [66, tr.61]. Vậy, có thể hiểu thay đổi kháng nghị giám đốc thẩm là việc sửa đổi nội dung kháng nghị giám đốc thẩm khác đi so với nội dung ban đầu, còn bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm là thêm nội dung kháng nghị mới vào nội dung kháng nghị ban đầu để làm cho đủ nội dung kháng nghị giám đốc thẩm. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 265 nêu trên, chỉ những chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đã thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm mới có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị giám đốc thẩm. Và việc thay đổi, bổ sung này chỉ được thực hiện trong thời hạn nhất định cụ thể là trong thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm. Tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm. Phải chăng, cần bổ sung thêm các quy định về trình tự, thủ tục khi thực hiện thay đổi, bổ sung kháng nghị trước phiên tòa để đảm bảo chất lượng và tính thống nhất của hoạt động này.

Thứ hai, về việc rút kháng nghị giám đốc thẩm. Quy định về việc rút kháng nghị giám đốc thẩm được đặt ra tại khoản 2 Điều 265 Luật TTHC. Theo cách giải thích của từ điển Tiếng Việt thì “rút” là “lấy trở về, thu trở lại cái đã đưa ra” [65, tr.767], theo đó có thể hiểu rút kháng nghị giám đốc thẩm là việc người đã tiến hành kháng nghị giám đốc thẩm thu trở lại một hoặc toàn bộ các nội dung kháng nghị mà họ đã đưa ra. Khác với việc thay đổi, bổ sung kháng nghị giám đốc thẩm sẽ làm tăng thêm hoặc thay đổi nội dung kháng nghị thì rút kháng nghị giám đốc thẩm sẽ làm bớt đi về nội dung kháng nghị. Về thời hạn rút kháng nghị, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đã thực hiện kháng nghị có quyền rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm. Về thủ tục, việc rút kháng nghị giám đốc thẩm trước khi mở phiên tòa sẽ cần được lập thành văn bản và được gửi tới các chủ thể theo quy định tại Điều 264 Luật TTHC; việc rút kháng nghị giám đốc thẩm tại phiên tòa sẽ cần được ghi lại trong biên bản phiên tòa và HĐXX giám đốc thẩm sẽ ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.

Việc quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm  có vai trò quan trọng, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể có thẩm quyền đã kháng nghị giám đốc thẩm có thể kịp thời khắc phục những sai lầm, thiếu sót.

Kết luận chương 1 Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

Song hành với sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ của nhân loại, nền tư pháp nước ta cũng đang từng bước phát triển và dần hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động xét xử có thể nhận thấy, không ít những sai lầm, vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật vẫn còn tồn tại. Từ đây, đặt ra yêu cầu về việc khắc phục những sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải nhanh hơn, tốt hơn và chính xác hơn. Do đó, việc quy định về kháng nghị giám đốc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án giúp sửa chữa sai lầm của các cơ quan tố tụng đồng thời được xem như phương tiện để người dân tìm đến công lý trong việc giải quyết các tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của bản thân. Trong phạm vi Chương 1, tác giả trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC ở Việt Nam. Từ các lý luận đó tiếp tục phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm qua các khía cạnh như chủ thể có thẩm quyền, đối tượng, thời hạn, trình tự, thủ tục và thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm. Bên cạnh đó, thông qua nghiên cứu quy định về kháng nghị giám đốc thẩm tại Bộ Luật Thủ tục tư pháp của một số quốc gia trên thế giới cung cấp cái nhìn khách quan, toàn diện về quy định kháng nghị giám đốc thẩm dưới sự điều chỉnh của các thể chế kinh tế, chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên thế giới. Bên cạnh đó, qua việc tham khảo từ một số quốc gia có thể cung cấp giải pháp để hoàn thiện Luật TTHC Việt Nam nói chung và quy định về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHC nói riêng. Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về kháng nghị giám đốc thẩm của một số quốc gia trên thế giới nhận thấy rằng quy định của pháp luật TTHC Việt Nam về kháng nghị giám đốc thẩm là khá đầy đủ. Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực tiễn Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng

One thought on “Khóa luận: Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng hành chính

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp Kháng nghị giám đốc thẩm trong tố tụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464