Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Tài sản có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mỗi gia đình. Bởi lẽ, trong cuộc sống chung, vợ và chồng phải thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Những quan hệ này được pháp luật hôn nhân và gia đình của mỗi nước điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống, đạo đức, tập quán của quốc gia đó.
Mặt khác, tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên vợ, chồng, mà còn liên quan đế người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại. Chính vì thế mà vấn dề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, phổ biến nhất là sau khi vợ chồng ly hôn. Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản.
Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay đã có nhiều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng góp phần vào sự ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình.Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng đã trở thành một trong những nội dung quan trọng mà Luật hôn nhân và gia đình cần xây dựng, hoàn thiện. Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tổng hợp các quy định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đói với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được được pháp luật điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng, quá trình thực hiện và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng cho thấy vẫn còn những bất cập vướng mắc. Nguyên nhân của những bất cập vướng mắc đó có nhiều trong đó chúng ta cần kể đến một số quy định về chế đọ tài sản của vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình mới chỉ dừng ở tính chất định khung, văn bản hướng dẫn còn thiếu chưa cụ thể và đặc biệt là chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Với đề tài “ Nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, luận văn làm rõ hơn những quy định của pháp luật điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định của pháp luật điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng và đưa ra những điểm hợp lý hay không hợp lý. Từ đó, luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn như sau:
Nhóm các luận văn luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình (Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ, 2005); Xác định chế độ tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Hồng Hải, Luận văn Thạc sĩ, 2002); Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 – Thành tựu, vướng mắt và hoàn thiện (Trần Thị Thuỳ Liên, Luận văn Thạc sĩ, năm 2012); Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn và áp dụng hướng hoàn thiện (Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ, 2012).
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này phải kể đến một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2008); Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự (Học viện Tư pháp, Nxb Công an nhân dân, 2007); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2004); Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư pháp, 2008); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000 (Nguyễn Văn Cừ – Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002).
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Có thể kể đến một số bài như: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Nguyễn Phương Lan, 2002, Tạp chí Luật học, số 6); Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam (Bùi Minh Hồng, 2009, Tạp chí Luật học, số 11).
Trong các công trình trên, có công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, có công trình chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ trong vấn đề tài sản vợ chồng, có công trình nghiên cứu riêng và chuyên sâu về chế độ tài sản của vợ chồng. Song, các công trình này cho dù có những nội dung ưu việt, tiên tiến nhưng cũng còn nhiều vấn đề không bắt kịp nhịp sống xã hội vốn luôn chuyển biến ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống vợ chồng, đặc biệt là vấn đề tài sản. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Luận văn đi vào nghiên cứu một cách toàn diện, có tính hệ thống về chế độ tài sản của vợ chồng qua từng thời kỳ phát triển.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” nhằm những mục đích:
Phân tích và đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và của quá trình áp dụng luật vào thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
Với mục đích trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng qua hoạt động xét xử của ngành Toà án giải quyết các tranh chấp từ quan hệ HN&GĐ liên quan trực tiếp về vấn đề tài sản giữa vợ và chồng;
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng tại các Văn phòng công chứng thông qua hoạt động công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật thực định, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng dưới góc độ pháp luật và áp dụng pháp luật.
4. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trong khuôn khổ của một luận văn, luận văn tập trung vào một số vấn đề sau:
- Quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong đó tập trung chủ yếu vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong Luật HN&GĐ hiện hành và một số văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng. Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn, vướng mắc, điển hình,… tìm hiểu và nghiên cứu những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tế.
- Nghiên cứu một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về chế độ tài sản của vợ chồng, có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, qua đó tiếp thu những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, em sử dụng phối hợp nhiều các phương pháp nghiên cứu khác nhau như :
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu chế độ tài sản của vợ chồng thông qua các thời kỳ ở Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản được nghiên cứu trong luận văn.
- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây của Việt Nam cũng như pháp luật của một số nước khác quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn.
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá và phân tích khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Luận văn khái quát và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn nhận dạng những quy định chưa phù hợp, những điểm còn khiếm khuyết của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng cả dưới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Đồng thời, luận văn đưa ra và phân tích một số yếu tố khác tác động vào và làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng. Trên cơ sở đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp có tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tiến tới hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa khoa học: Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Luận văn góp phần nêu lên những thành tựu đã đạt được trong quá trình áp dụng pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này về chế độ tài sản của vợ chồng.
7.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng; biết được cơ sở pháp lý tạo lập các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ, chồng đối với những loại tài sản này; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng…. Từ đó qua luận văn này em mong sẽ góp phần để mỗi cá nhân và gia đình thực hiện pháp luật, xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu Tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Chương 2: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phân chia tài sản của vợ chồng
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của chế độ tài sản vợ chồng
1.1.1 Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng
Tài sản là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Kể từ khi bắt đầu cuộc sống hôn nhân, vợ chồng phải cùng nhau lao động, sản xuất, kinh doanh…để tạo ra của cải vật chất, đảm bảo nhu thiết để chăm sóc, giáo dục con cái. Vì vậy, bên cạnh quan hệ nhân thân, giữa vợ chồng còn tồn tại quan hệ tài sản. Trong đó, quan hệ tài sản hiểu theo nghĩa hẹp chính là quan hệ sở hữu tài sản. Nội dung của quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng bao gồm: việc xác định tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, tài sản tiêng của chồng; xác định quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng trong những trường hợp nhất định.
Khoản 1 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”
Bên cạnh đó, BLDS cũng quy định cụ thể quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) của cá nhân. Cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản do mình tạo ra, tài sản được thừa kế tặng cho. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Vợ chồng với tư cách là một các nhân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Xét về mặt lý thuyết, có thể áp dụng các quy định của Hiến pháp và BLDS để điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ, chồng như những công dân khác không phải là vợ, chồng. Tuy nhiên, trong thực tiễn do tính chất đặc biệt trong quan hệ hôn nhân gia đình là vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì, phát triển gia đình, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, nên quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng ngoài việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản giữa vợ chồng ngoài việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản của cá nhân vợ, chồng phải đồng thời đảm bảo lợi ích chung của vợ chồng (đảm bảo đời sống chung của vợ chồng). Do đó, không thể áp dụng các quy định của Hiến pháp và BLDS để điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ và chồng. Nói cách khác, tính chất đặc biệt của mối quan hệ giữa vợ và chồng đòi hỏi những quy định riêng nhằm điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng. Tổng hợp những quy định này chính là chế độ tài sản của vợ chồng.
Có thể đưa ra khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng như sau:
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật hoặc thoả thuận của vợ chồng về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng gồm: căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng.
Chế độ tài sản của vợ chồng luôn có vai trò quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình của tất các quốc gia trên thế giới. Pháp luật của mỗi quốc gia điều chỉnh chế độ tài sản phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống, đạo đức, tậo quán… của mình. Thông thường pháp luật các nước quy định hai loại chế độ tài sản vợ chồng là chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận (chế độ tài sản ước định) và chế độ tài sản vợ chồng pháp định. Sở dĩ có hai loại chế độ tài sản vợ chồng là vì hôn nhân được xác lập do hai bên nam, nữ thoả thuận giao ước trên cơ sở tự do, tự nguyện. Theo đó, vợ chồng đương nhiên có quyền thoả thuận với nhau về các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của mình, trong đó có quan hệ tài sản vợ và chồng. Vì vậy, một mặt pháp luật dự liệu một chế độ tài sản của vợ chồng, mặt khác quy định vợ chồng có quyền thoả thuận với nhau về tài sản (lập hôn ước). Chế độ tài sản do pháp luật dự liệu có hiệu lực khi hai vợ chồng không lập hôn ước hoặc hôn ước đã bị vô hiệu do vi phạm những quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng. Chế độ tài sản vợ chồng theo thoản thuận được quy định lần đầu tiên tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 với nội dung trước khi kết hôn vợ, chồng có thể thoản thuận với nhau về tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản giữa và chồng. Trong bản thoả thuận, vợ chồng thoả thuận lựa chọn chế độ cộng đồng (có tài sản chung) hoặc chế độ phân sản (không có tài sản chung) để duy trì và đảm bảo thực hiện trong suốt thời kỳ hôn nhân. Trong chế độ cộng đồng có sự tồn tại của khối tài sản chung của vợ chồng sẽ thoả thuận với nhau về thành phần khối tài sản chung của vợ chồng tài sản riêng của vợ chồng (nếu có), quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng… Trong chế độ phân sản giữa vợ chồng không tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng thoả thuận với nhau về việc đóng góp tài sản riêng để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái… Có thế thấy rằng đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận là việc thoả thuận giữa vợ chồng phải được thực hiện trước khi kết hôn và những thoản thuận sửa đổi thay đổi chế độ tài sản theo thoả thuận (sửa đổi, thay đổi nội dung hôn ước).
Tuy nhiên, không phải cặp vợ chồng nào khi xác lập quan hệ hôn nhân cũng thoả thuận về tài sản của vợ, chồng. Do đó, pháp luật phải tạp ra một giải pháp dành cho các cặp vợ chồng khi xác lập quan hệ hôn nhân không lập hôn ước. Giải pháp này được gọi là chế độ tài sản vợ chồng pháp định. Chế độ tài sản pháp định được tất cả các nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình.
1.1.2 Đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Có bốn đặc điểm:
- Thứ nhất: Chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này phải có đầy đủ năng lực chủ thể và phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật HN&GĐ.
- Thứ hai: Quy định về chế độ tài sản của vợ chồng nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình; tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Thứ ba: Chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
- Thứ tư: Chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, như quyền định đoạt tài sản bị hạn chế trong một số trường hợp (ví dụ, nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất của cả gia đình, khi định đoạt liên quan đến tài sản này thì phải có thoả thuận của hai vợ chồng).
Đặc điểm riêng
Ngoài các đặc điểm chung trên, chế độ tài sản thoả thuận hay còn gọi là “hôn ước” còn có đặc điểm tạo nên sự khác biệt với chế độ tài sản khác, làm nên dấu ấn riêng của nó. Đó là:
- Hôn ước phải do hai bên nam nữ tự nguyện thoả thuận.
- Hôn ước phải được lập nên trước khi kết hôn, tuy nhiên nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kì hôn nhân.
- Hôn ước phải được xác nhận tính hợp pháp bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.1.3 Vai trò của chế độ tài sản vợ chồng
Một là, chế độ tài sản được pháp luật ghi nhận (dù là chế độ tài sản theo thoả thuận – chế độ tài sản ước định, hay theo căn cứ của pháp luật – chế độ tài sản pháp định) nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ chồng có những cách “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội.
Hai là, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình. Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng và giữa các thành viên của gia đình với nhau.
Ba là, chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phải ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với người khác, nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng, các giao dịch đó được đảm bảo thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của người tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ.
1.1.4 Ý nghĩa của chế độ tài sản vợ chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật về HN&GĐ. Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của Nhà nước, người ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội (tính khách quan) và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó (tính chủ quan).
- Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằm xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau và trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được liệt với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng có lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định luôn được pháp luật quy định rõ.
- Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ và chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng.
- Chế độ tài sản của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc với những người khác trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
1.2 Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chồng Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
1.2.1. Chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định)
- Đây là loại chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (hôn ước). Miễn sao sự thoả thuận đó không trái với trật tự công cộng, với đạo đức, với thuần phong mỹ tục và những quy định của pháp luật.
- Hệ thống pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định về loại chế độ tài sản này. Hiện nay, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung quy định về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thoả thuận”. Quy định rõ hơn tại Mục 3 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thận.
1.2.2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định)
Khái niệm: Do tính chất phức tạp, nhạy cảm của quan hê ̣hôn nhân gia đình , đặc biệt là vấn đề tài sản trong quan hê ̣hôn nhân gia đình , thực tiễn cho thấy hầu hết các tranh chấp phát sinh trong quan hê ̣hôn nhân có liên quan đến tranh chấp tài sản vợ chồng. Trong khi đó các tranh chấp về tài sản giữa vợ, chồng luôn là loại việc phức tạp, khó khăn. Đối với những cặp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng trước khi kết hôn thì việc giải quyết các vấn đề tài sản giữa vợ và chồng thực hiện theo thỏa thuận của hai bên vợ chồng. Tuy nhiên, thực tế không phải cặp vợ chồng nào cũng thỏa thuận trước về vấn đề tài sản của vợ chồng. Hoặc có trường hợp thỏa thuận về tài sản của vợ chồng bi ̣vô hiệu do vi phạm các quy định chung của pháp luật. Vì thế, pháp luật đã dự liệu các quy định cụ thể để áp dụng cho những cặp vợ, chồng không thỏa thuận trước hoặc thỏa thuận bi ̣ vô hiệu, nhằm điều chỉnh các quan hê ̣sở hữu tài sản của vợ chồng. Các quy định điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng phải đảm bảo lợi ích chung của gia đình. Khi hôn nhân được xác lập, vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con cái, đảm bảo những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình. Đồng thời, trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng thường xuyên phải thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản phục vụ cho sự tồn tại phát triển của gia đình. Để làm được điều đó vợ chồng cần phải có tài sản, sản nghiệp chung. Do đó, cần thiết phải có những quy định về tài sản chung của vợ chồng, cũng như quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung. Bên cạnh việc đảm bảo lợi ích chung của gia đình, việc đảm bảo quyền và lợi ích của cá nhân vợ , chồng là một vấn đề quan trọng. Vì quyền sở hữu tài sản của mỗi cá nhân là quyền hiến định, việc xác lập quyền sở hữu riêng đối với tài sản theo quy định của pháp luật phải được Luật HN&GĐ tôn trọng. Hơn nữa, ngoài việc chăm lo cho đời sống chung của gia đình, vợ, chồng còn có những nhu cầu thiết yếu riêng, tài sản riêng của vợ, chồng được dùng để đáp ứng nhu cầu riêng. Do đó, quy định về tài sản riêng của vợ chồng, quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng là tất yếu khách quan. Các quy định điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản vợ chồng còn phải đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ. Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời và bắt đầu từ Hiến pháp năm 1946, quyền bình đẳng của phụ nữ: “đàn bà ngang quyền với đàn ông” được ghi nhận thành một nguyên tắc cơ bản. Pháp luật HN&GĐ cũng cụ thể hóa nguyên tắc này thành những quy định cụ thể trong quan hệ giữa vợ và chồng nói chung và trong quan hệ sở hữu tài sản vợ chồng nói riêng. Trên cơ sở đó, quy định điều chỉnh quan hê ̣sở hữu tài sản của vợ chồng ra đời cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định. Nội dung của quyền bình đẳng giữa vợ , chồng trong quan hê ̣sở hữu tài sản , bao gồm: vợ chồng có quyền bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, tài sản riêng, về phân chia tài sản chung của vợ chồng. Tổng hợp những quy định điều chỉnh quan hê ̣sở hữu tài sản của vợ chồng nêu trên tạo thành chế đô ̣tài sản vợ chồng pháp định. Trong lịch sử lập pháp của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam tồn tại những loại chế đô ̣tài sản vợ chồng cơ bản như sau:
- Chế độ tài sản cộng đồng: Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Chế độ cộng đồng toàn sản: Nội dung của chế đô ̣cộng đồng toàn sản là tất cả các tài sản mà vợ, chồng có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng . Trong quan hê ̣tài sản giữa vợ , chồng không tồn tại tài sản riêng của vợ chồng . Theo đó , tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản vợ , chồng tạo ra , được tặng cho , thừa kế trước khi kết hôn ; tài sản do vợ chồng cùng nhau tạo ra trong thời kỳ hôn nhân , không tính đến nguồn gốc, công sức của mỗi bên; tài sản vợ, chồng được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân. Ở Việt Nam, chế đô ̣cộng đồng toàn sản được quy định trong Luật GĐ của chính quyền Ngô Đình Diệm, Luật HN&GĐ năm 1959.
Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản là chế độ tài sản trong đó, khối tài sản chung của vợ chồng bao gồm tất cả các động sản của vợ chồng có trước khi kết hôn , trong thời kỳ hôn nhân và bất động sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân . Chế độ cộng đồng động sản vào tạo sản được quy định trong BLDS năm 1804 của Cộng hòa Pháp . Ở Việt Nam , dưới chế đô ̣ngụy quyền Sài Gòn , Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 được ban hành dưới chế độ Nguyễn Khánh và BLDS năm 1972 quy định chế độ tài sản vợ chồng pháp định là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản. Theo đó, khối tài sản chung của vợ chồng gồm có: Động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn; các động sản do vợ, chồng được thừa kế, tặng cho trong thời kỳ hôn nhân; động sản và bất động sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân ; hoa lợi thu được từ tài sản mà vợ chồng có được trước và trong thời kỳ hôn nhân . Ngoài khối tài sản chung, vợ, chồng còn có tài sản riêng là bất động sản của vợ, chồng trước khi kết hôn và bất động sản vợ, chồng được tặng cho, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân. Sắc luật cũng quy định quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, tài sản riêng
Chế độ cộng đồng tạo sản là chế độ tài sản , trong đó , khối tài sản chung của vợ chồng chỉ bao gồm tài sản mà vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và các loại hoa lợi , lợi tức phát sinh từ tài sản chung của vợ chồng . Chế đô ̣cộng đồng tạo sản được quy định tại các điều từ Điều 1400 đến Điều 1408 Đạo luật số 65-570 ngày 13/7/1965 của Pháp, Điều 13 Luật Hôn nhân năm 1980 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Điều 762 BLDS Nhât Bản và một số văn bản luật khác như Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan , Bungari… Ở Việt Nam , chế độ cộng đồng tạo sản được quy định tại Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 14, 15, 16) và Luật HN &GĐ năm 2000 (Điều 27, 28, 32, 33) Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Chế độ phân sản là chế độ tài sản trong đó không tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, tất cả tài sản vợ chồng có được trước khi kết hôn và sau khi kết hôn đều là tài sản riêng của vợ, chồng. Đối với chế độ tài sản này pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc đóng góp tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của vợ chồng, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con cái, cấp dưỡng lẫn nhau… Chế độ tài sản này đã từng được áp dụng ở Italia và Anh.
Nhìn chung, dù quy định chế độ tài sản nào thì pháp luật cũng dự liệu các căn cứ xác định các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản và việc phân chia tài sản chung của vợ chồng.
Như vậy, chế độ tài sản vợ chồng pháp định được pháp luật dự liệu từ trước do tính chất và mục đích của quan hệ hôn nhân gia đình, đồng thời phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia. Với tư cách là một loại chế độ tài sản vợ chồng, chế độ tài sản vợ chồng pháp định cũng bao gồm đầy đủ các nội dung của chế độ tài sản vợ chồng như: quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp và nguyên tấc chia tài sản giữa vợ và chồng. Trên cơ sở những lập luận trên, sau đây là khái niệm về chế độ tài sản vợ chồng pháp định:
Chế độ tài sản vợ chồng pháp định là chế độ tài sản vợ chồng do pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ xác định các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó trong mối quan hệ giữa hai vợ chồng và trong quan hệ người thứ ba; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng.
- Đặc điểm
Xuất phát từ tính chất được pháp luật dự liệu từ trước chế độ tài sản pháp định có những đặc điểm riêng biết so với chế độ tài sản ước định như sau:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, chế độ tài sản pháp định được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình, trong đó quy định cụ thể căn cứ xác lập, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản nguyên tắc phân chia tài sản. Theo đó, chế độ tài sản vợ chồng pháp định khách biệt hoàn toàn so với chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận ở tính chất tự do thoả thuận của vợ chồng. Cụ thể là, trong chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận vợ, chồng thoả thuận với nhau về tài sản chung, tài sản riêng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và các giao dịch có liên quan, tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình; nguyên tắc phân chia tài sản. Còn trong chế độ tài sản vợ chồng pháp định, các nội dung trên được pháp luật quy định cụ thể. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Thứ hai, về hình thức sở hữu đối với tài sản chung ở Việt Nam khác với chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận là vợ chồng có thể thoản thuận với nhau về hình thức sở hữu đối với tài sản chung, trong chế độ tài sản của vợ chồng pháp định chỉ có duy nhất một hình thức là sở hữu chung hợp nhất. Điều này xuất phát từ mục đích của quan hệ hôn nhân là vợ chồng yêu thương chăm sóc lẫn nhau, chăm sóc nuôi dạy con cái, vợ chồng phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc đảm bảo đời sống chung của gia đình. Theo đó toàn bộ tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời ký hôn nhân, quyền sử dụng đất vợ, chồng có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng), đều là tài sản chung của vợ chồng không phân biệt công sức đóng góp của các bên. Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong chế độ tài sản của vợ chồng pháp định theo luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng không phân việt giữa lap động trong gia đình và lao động có thu nhập. Đối với tài sản riêng(nếu có), vợ chồng có quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với tài sản riêng đó; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Tuy nhiên, quyền sở hữu đối với tài sản riêng bị hạn chế trong một số trường hợp, ví dụ như: “ Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riềng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của vợ, chồng”; “Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu cần thiết yếu của gia đình vợ, chồng có nghĩa vụ đọng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên”. Trong khi đó, chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận, quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng không bị hạn chế trong những trường hợp nêu trên, vợ chồng có thể tự do thoả thuận về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản.
- Ý nghĩa:
Chế độ tài sản vợ chồng pháp định phản ánh trung thực và chính xác trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội và ý chí của mỗi nước. Trong mỗi quốc gia, mỗi chế độ xã hội luôn có một chế độ hôn nhân và gia đình tương ứng được xác lập bằng quy định pháp luật hoặc thừa nhận bằng tập quán, trong đó có thể chế độ tài sản vợ chồng pháp định. Ví dụ như BLDS Pháp năm 1804 thể hiện quan điểm người phụ nữ không có năng lực pháp lý. Trong xã hội phong kiến pháp luật cũng thừa nhận và bảo vệ sự bất công, bất bình đẳng giữa nam và nữ, người phụ nữ trong gia đình hoàn toàn bị lệ thuộc vào người chồng. Người chồng là đại diện cho quyền lợi gia đình, đại diện cho ý chí của gia đình, có quyền ký kết bất kỳ hợp đồng, giao ước liên quan đến tài sản của vợ chồng mà không cần sự đồng ý của người vợ. Ngược lại, người vợ phải được chồng cho phép mới được ký kết, thực hiện giao ước, chỉ được đại diện trong những nhu cầu gia vụ hoặc ký kết giao ước trong trường hợp người chồng uỷ quyền.
Như vậy, chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong cổ luật và tục lệ ở Việt Nam là chế độ cộng đồng toàn sản, cụ thể là toàn bộ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn và tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân tạo thành một khối tài sản chung của vợ chồng, khối tài sản này được đặt dưới sự quản lý của người chồng.
1.3. Khái quát chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
1.3.1. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến.
Chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong thời kỳ phong kiến và tục lệ ở Việt Nam là chế độ cộng đồng toàn sản. Với quan điểm coi điền sản là chính yếu, Quốc triều Hình luật đã quy định thành phần khối tài sản chung của vợ chồng gồm ba loại: Phu điền sản, thê điền sản, tần tảo điền sản.
Tất cả các tài sản này được đặt dưới sự quản lý của người chồng – chủ gia đình. Tuy vậy, pháp luật thời Lê và tục lệ cũng dành cho người vợ được tham gia vào việc quản trị tài sản chung của vợ chồng.
1.3.2. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
Các văn bản pháp luật dân sự do thực dân Pháp ban hành và áp dụng ở nước ta trước năm 1945. Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định và áp dụng trong Bộ luật dân sự Bắc kỳ năm 1931 và Bộ luật dân sự Trung kỳ năm 1936 là chế độ cộng đồng toàn sản. Còn ở miền Nam, Tập dân luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883 không dự liệu cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng, nên được áp dụng theo án lệ, cho đến ngày ra đời Luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm.
1.3.3. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của nước ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Các điều kiện kinh tế – xã hội và thực tế các quan hệ HN&GĐ, theo thời gian, Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật về HN&GĐ, quy định về chế độ tài sản của vợ chồng; từ chỗ chưa quy định cụ thể, đến dần hoàn thiện và phù hợp với đời sống kinh tế, xã hội, có tính khả thi cao. Từ Luật HN&GĐ năm 1959, đến Luật HN&GĐ năm 1986, 2000 và 2014. Trong đó, vợ chồng có quyền bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu và định đoạt tài sản chung.
Từ 1954 – 1975 do đất nước bị chia cắt làm hai miền, ở miền Nam thời kỳ này áp dụng ba văn bản luật được chế độ nguỵ quyền Sài Gòn ban hành. Trong đó, Luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm đã dự liệu chế độ cộng đồng toàn sản giữa vợ chồng, còn Sắc luật số 15/64 và BLDS năm 1972 dự liệu chế độ cộng đồng động sản và tạo sản.
Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam trước năm 1975:
Trong thời kỳ Pháp thuộc, luật pháp về dân sự ở Việt Nam mang đậm dấu ấn của Bộ luật dân sự Napoléon. Trong ba bộ dân luật được áp dụng ở ba miền Bắc, Trung, Nam, Bộ dân luật Bắc và Bộ dân luật Trung đã ghi chép những nguyên tắc cơ bản của BLDS Pháp như: quyền tự do lập hôn ước và tính chất không thay đổi của chế độ hôn sản.Ví dụ: Điều 104 Tiết thứ IV thiên thứ V quyển thứ nhất Dân luật Bắc kì qui định rằng: “Về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến toàn thể vợ chồng là khi nào vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau mà thôi, miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và trái với quyền lợi người chồng là người chủ trương trong đoàn thể”. Dân luật giản yếu Nam kì không có ghi nhận về hôn ước cũng như vấn đề tài sản vợ chồng tuy nhiên án lệ ở Nam kì trong thời kì này lại “luôn luôn nhắc lại nguyên tắc tự do lập hôn ước mà các tòa án Pháp coi là lẽ đương nhiên được áp dụng trong khi không có luật viết”.
Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, pháp luật về vấn đề này ở hai miền thể hiện những nội dung trái chiều. Luật hôn nhân và gia đình ngày 29 tháng 12 năm 1959 ở Miền Bắc chỉ quy định về một hình thức của chế độ tài sản pháp định (chế độ cộng đồng toàn sản), và vì thế, không có một quy định nào về quyền lập hôn ước của vợ chồng. Trong khi đó, ở Miền Nam, hai đạo luật đã được lần lượt ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự, gia đình (Luật gia đình ngày 02 tháng 1 năm 1959, Bộ dân luật ngày 20 tháng 12 năm 1972), đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng và chế độ tài sản chung theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không lập hôn ước. Cụ thể, Điều 45 Luật Gia Đình 1959 qui định: “Luật lệ chỉ qui định phu phụ tài sản khi nào vợ chồng không có lập hôn ước mà họ muốn làm ra sao cũng được miễn là không trái với phong hóa, trật tự công và quyền lợi của con”. Nguyên tắc luật chỉ can thiệp vào chế độ tài sản vợ chồng khi vợ chồng không lập hôn ước đã được thể hiện ngay tại đây, đây cũng là một qui định tương đối tiến bộ bởi quyền gia trưởng của người chồng đã không còn là một trật tự công cần được bảo vệ mà thay vào đó là quyền của con .
Bộ dân luật năm 1972 quy định : “Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục” (Điều 145) và “Luật pháp chỉ quy định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước” (Điều 144).
Chế độ tài sản vợ chồng trong pháp luật Việt Nam sau năm 1975: Sau khi thống nhất hai miền, Luật hôn nhân và gia đình 1986 và Luật hôn nhân và gia đình 2000 lần lượt được ban hành nhằm khắc phục những nhược điểm và hạn chế của bộ luật trước. Đáng tiếc là qui định về quyền tự do lập hôn ước không được khôi phục lại trong hai văn bản này. Tuy nhiên, chúng ta lại tìm thấy dấu hiệu của việc thừa nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản của họ trong Nghị định số 70 của Chính phủ ngày 03 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Cụ thể là trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có quy định “thu nhập lao động”, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác” (khoản 2, điều 8). Điều 9, 10 tiếp tục qui định về khả năng khôi phục chế độ tài sản chung vợ chồng. Các qui định này tuy mâu thuẫn với một số qui định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nhưng lại cho thấy ý tưởng của nhà lập pháp trong việc thừa nhận sự thỏa thuận của vợ chồng đối với khối tài sản của họ. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Như vậy, mặc dù qui định về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật hôn nhân và gia đình không được duy trì cho đến nay ở nước ta nhưng ý tưởng khôi phục lại nguyên tắc trên đã được bàn bạc và cân nhắc trong thời gian gần đây. Sự cần thiết và tính cấp thiết của việc luật hóa qui định này ở nước ta càng rõ ràng hơn khi mà các nước trong khu vực và hầu hết các quốc gia có nền lập pháp tiên tiến trên thế giới đều đã thừa nhận và áp dụng.
1.4. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình của một số nước trên thế giới
Các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống, tập quán mà nhà làm luật dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng sao cho phù hợp. Một số nước, pháp luật dự liệu chế độ tài sản ước định (dựa theo sự thoả thuận của vợ chồng bằng hôn ước), bên cạnh chế độ tài sản của vợ chồng theo căn cứ quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) như Pháp, Nhật Bản, Thái Lan….
Một số nước theo định hước XHCN, trên cơ sở bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của vợ chồng với lợi ích chung của gia đình mà pháp luật dự liệu chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng cho phép vợ chồng có thể thoả thuận linh hoạt về vấn đề sở hữu tài sản của họ nhưng không ảnh hưởng đến thành phần tài sản chung và lợi ích của gia đình. Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
