Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nghiên cứu phát triển du lịch theo hướng bền vững tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tốc độ phát triển nhanh, chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới và cả ở Việt Nam.
Thành phố Đồng Hới là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Quảng Bình, nằm trong chuỗi các đô thị ven biển Miền Trung; là điểm “nhấn” vừa mang tính “động lực” vừa mang tính “trung tâm” để phát triển du lịch của Tỉnh. Đây là một địa bàn giàu tiềm năng du lịch biển; năm 2022 bãi biển Nhật lệ Đồng Hới được tổ chức kỷ lục Việt Nam đánh giá là một trong 10 bãi biển đẹp nhất Việt Nam; song du lịch Đồng Hới vẫn còn nhiều vấn đề bất cập; đó là cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn yếu, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu, văn hóa du lịch chậm đổi mới, chất lượng phục vụ khách du lịch chưa cao, môi trường du lịch có xu hướng bị ảnh hưởng bởi chất thải từ khu công nghiệp Vũng Áng tỉnh Hà Tỉnh, cảng Hòn La tỉnh Quảng Bình…công tác phục hồi, bảo vệ các tài nguyên du lịch chưa tương xứng, ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới;
Vì vậy, nghiên cứu phát triển du lịch, nhất là phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới là rất cần thiết và cấp bách; làm sao để vừa phát triển du lịch, vừa bảo tồn, gìn giữ phát triển những giá trị của tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng xã hội;
Đó là lý do tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch theo hướng bền vững tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp của mình; nhằm nghiên cứu các kiến thức về phát triển bền vững áp dụng cho ngành du lịch tại thành phố Đồng Hới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiển nhằm áp dụng vào Đồng Hới với mục tiêu phát triển du lịch có tốc độ ổn định, bảo vệ các tài nguyên du lịch và môi trường, tăng cường bảo tồn và chia sẽ lợi ích với cộng đồng, đảm bảo sự phát triển kinh tế một cách bền vững; kết hợp hài hòa giữa hiện tại và tương lai trên hai góc độ sản xuất và tiêu dung du lịch nhằm đạt được ba yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển du lịch bền vững;
- Phân tích thực trạng và đánh giá sự bền vững của du lịch tại thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua;
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tại Đồng Hới theo hướng bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển du lịch theo hướng bền vững tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
3/2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch theo hướng bền vững.
- Về không gian: Các nội dung trên được tập trung nghiên cứu tại thành phố Đồng Hới, và các điểm du lịch trong tỉnh Quảng Bình có liên quan.
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2017 đến 2024, các giải pháp được đề xuất cho 5 năm tới.
4.Phương pháp nghiên cứu
4.1.Phương pháp thu thập số liệu: Để có lượng thông tin đầy đủ tác giả đã tiến hành tìm kiếm và thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sau đó so sánh và chọn lọc, tập hợp thành những dữ liệu có tính hệ thống đáng tin cậy.
Số liệu thứ cấp:Được thu thập từ kết quả điều tra hoạt động du lịch hàng năm và một số cuộc điều tra khác của ngành Thống kê từ Chi cục Thống kê Đồng Hới; Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Bình, Niên giám Thống kê Đồng Hới các năm từ 2017 – 2023 và số liệu năm 2024; các thông tin và số liệu chính thức của Sở Du lịch Quảng Bình; từ các trang thông tin điện tử chuyên ngành, và các tài liệu sách báo, tạp chí du lịch khác. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Số liệu sơ cấp:Điều tra khảo sát 4 đối tượng với tổng số 415 người cụ thể: Đối với du khách phỏng vấn 200 khách nội địa để thăm do sự hài lòng của du khách; đối với người dân phỏng vấn 100 người để thăm do về sinh kế liên quan và không liên quan đến du lịch;đối với doanh nghiệp hoạt động du lịch điều tra 100 chủ doanh nghiệp điển hình trên địa bàn thành phố Đồng Hới thăm dò ý kiến về xu hướng phát triển của ngành du lịch và 15 chuyên gia là cán bộ quản lý ngành du lịch thuộc các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Về phương pháp chọn mẫu khảo sát số liệu sơ cấp:
- Đối với khảo sát khách du lịch
- Đơn vi điều tra là cơ sở lưu trú: Tháng 7/2024 Đồng Hới có 96 khách sạn.
- Tính kích thước mẫu: Do tổng thể chung có quy mô nhỏ, để đảm bảo tính đại diện nên áp dụng công thức tính cỡ mẫu sau:
Trong đó:n: Cỡ mẫu, N: Số lượng tổng thể, e: Sai số chọn mẫu Với xác suất tin cậy là 98%, sai số chọn mẫu là 2%
- Tính khoảng cách mẫu:
Cách chọn: Căn cứ vào danh sách cơ sở lưu trú sắp xếp theo hạng từ 5 sao đến 0 sao, phân thành 6 hạng nhằm đảm bảo tính đại diện cho tất cả các đối tượng du khách cần hỏi từ hạng sang cho đến hạng trung;chọn ngẫu nhiên một cơ sở ở hạng 5 sao chẳng hạn rơi vào cơ sở có số thứ tự 2; tiếp tục chọn cơ sở thứ hai ta lấy (2+k), cơ sở thứ 3 lấy (2+2k) .v.v..đến cơ sở số cuối cùng là cơ sở (2+19k); như vậy kết qua ta chọn được 20 cơ sở lưu trú như sau: Hạng 5 sao điều tra 1 cơ sở, 4 sao điều tra 1 cơ sở, hạng 3 sao điều tra 2 cơ sở, hạng 2 sao điều tra 5 cơ sở, hạng 1 sao điều tra 9 cơ sở, hạng o sao điều tra 2 cơ sở.
Đối tượng điều tra là khách du lịch:Với 20 đơn vị điều tra, mỗi đơn vị điều tra 10 khách du lịch:20 x 10 = 200 khách.
Đối với khảo sát doanh nghiệp cách chọn mẫu cũng như trên: Đơn vị điều tra là doanh nghiệp;đối tượng điều tra là giám đốc; cách tính cỡ mẫu và khoảng cách mẫu như trên; sắp xếp danh sách doanh nghiệp theo quy mô doanh thu từ cao đến thấp, sau đó chọn theo phương pháp chọn mẫu hệ thống như trên.
Đối với khảo sát người dân và nhà quản lý; được thực hiện theo phương pháp chuyên gia, chọn có chủ đích vì cỡ mẫu quá nhỏ; phương pháp chủ yếu dựa trên kinh nghiệm để chọn đối tượng điều tra đảm bảo tính đại diện và độ tinh cậy. Đối với người dân phỏng vấn 100 người trong đó: 50 người lao động trong ngành du lịch, và 50 người sống gần các điểm du lịch để thăm do về sinh kế liên quan và không liên quan đến du lịch; 15 chuyên gia là cán bộ quản lý ngành du lịch thuộc các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu:Luận văn sử dụng một số phương pháp sau để phân tích đánh giá, so sánh mối liên hệ tính tương quan, giữa các yếu tố và sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự phát triển của du lịch cụ thể:
4.2.1. Phương pháp phân tổ:Nhằm tổng hợp các số liệu thu thập được theo những tiêu thức và chỉ tiêu khác nhau phù hợp với mục đích đề tài và yêu cầu nghiên cứu.
4.2.2. Phương pháp so sánh:Nhằm định hướng cho tác giả thấy được mối liên hệ tính tương quan, giữa các yếu tố và sự ảnh hưởng của các yếu tố đó, tới hoạt động du lịch tại địa bàn nghiên cứu để có đánh giá chính xác.
4.2.3. Phương pháp biểu đồ, hình ảnh: Nhằm thể hiện một cách trực quan sinh động các nội dung nghiên cứu, các số liệu cụ thể trên biểu đồ, hình ảnh cũng như xác định được địa điểm của các đối tượng nghiên cứu.
4.2.4. Phương pháp toán và thống kê du lịch:Nhằm nghiên cứu về mặt định lượng của các chỉ tiêu trong hoạt động du lịch; những thông tin, số liệu có liên quan đến các hoạt động du lịch ở địa phương sẽ thu thập, thống kê làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích, đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu của đề tài.
4.2.5. Phương pháp dự báo: Dựa vào các nguyên nhân, xu hướng phát triển, hệ quả và tính hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch, từ đó dựa vào phương pháp dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch trong tương lai.
5. Bố cục của đề tài:Đề tài gồm: phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, kết luận và kiến nghị. Nội dung của đề tài gồm 03 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch theo hướng bền vững;
- Chương 2: Thực trạng và sự bền vững trong phát triển du lịch tại Đồng Hới;
- Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
1.1. Những vấn đề lý luận về phát triển và phát triển du lịch bền vững
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Phát triển:
Phát triển được định nghĩa khái quát trong từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn…”.Theo quan điểm triết học, phát triển là quá trình vận động theo chiều hướng đi lên từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; trong khái niệm này, phát triển là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện. Phát triển và tăng trưởng đều nói đến sự chuyển biến của sự vật theo hướng đi lên, nhưng khác nhau về bản chất; tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về lượng, còn phát triển bao gồm cả gia tăng về lượng và về chất của sự vật; do đó, khái niệm phát triển rộng hơn có ý nghĩa lớn hơn.
Phát triển kinh tế được hiểu là một quá trình tăng tiến theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, môi trường, khoa học kỹ thuật…Phát triển kinh tế là một quá trình thay đổi liên tục làm gia tăng chất lượng cuộc sống con người cả về vật chất, văn hóa và tinh thần. Để phán ánh đúng thực chất và khách quan về phát triển, ngoài các chỉ tiêu phản ánh về kinh tế như: Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần phải bổ sung các chỉ tiêu phản ánh về tiến bộ và công bằng xã hội và các chỉ tiêu phản ánh về môi trường; người ta còn bổ sung thêm các yếu tố phản ánh về việc áp dụng khoa học vào gia tăng sản lượng kinh tế, những vấn đề dẫn đến công nghiệp hóa, đô thị hóa và tăng trưởng bùng nổ dân số [1. 35].Như vậy khái niệm: “Phát triển là một quá trình vận động đi lên. Trong khái niệm này, phát triển phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện. Do vậy, khái niệm phát triển kinh tế cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định” [1. 47]; mục tiêu của sự phát triển là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống tinh thần của con người.
1.1.1.2. Phát triển bền vững Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Tại hội thảo của Liên hiệp quốc về Con người và Môi trường (UNHE, 1972) tổ chức tại Thụy Điển, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội và môi trường lần đầu tiên đã đề cập đến:” Nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất, bao gồm không khí, nước, đất, thực vật, động vật và đặc biệt các mẫu hệ sinh thái tự nhiên phải được bảo vệ vì lợi ích của thế hệ hôm nay và tương lai, thông qua hoạch định và quản lý thận trọng” [1,45].
Thuật ngữ phát triển bền vững (Sustainable Development) lần đầu tiên được sử dụng trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” ( World Conservation Strategy) do Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1980) đề xuất; mục tiêu tổng thể của chiến lược là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” [12, 18]; thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.
Trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Our Common Future), Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ” [12,18]; Định nghĩa của WCED được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Báo cáo của WCED đã khẳng định mối liên quan chặt chẽ giữa sự phát triển và môi trường; “Môi trường là nơi chúng ta sinh sống, phát triển là những gì chúng ta làm để cố gắng cải thiện tất cả mọi thứ ở bên trong nơi chúng ta đang sống, và do vậy, hai vế này không thể tách rời nhau” (Gro Harlem Brundtland – Chủ tịch WCED) [12,18].Báo cáo này cũng đã nhấn mạnh 8 nội dung của phát triển bền vững là: (1) Quan niệm lại khái niệm về tăng trưởng; (2) Thay đổi chất lượng của sự tăng trưởng; (3) Đáp ứng các nhu cầu cốt yếu về việc làm, năng lượng, nước sạch và vệ sinh; (4) Sự bền vững về dân số; (5) Bảo tồn và phát triển tài nguyên; (6) Định hướng công nghệ và quản lý rủi ro; (7) Tích hợp công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế (8) Định hướng quan hệ quốc tế trong phát triển kinh tế. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị thượng đỉnh thế giới RiodeJaneiro, Brazil (1992) và bổ sung hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg, Nam Phi (2002): “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển đó là: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [12, 18].
Theo Stephen Viederman: “Bền vững không phải là một vấn đề kỹ thuật cần giải quyết mà là một tầm nhìn vào tương lai, bảo đảm cho chúng ta có một lộ trình và giúp tập trung chú ý vào một tập hợp có giá trị và những nguyên tắc mang tính lý luận về đạo đức để hướng dẫn hành động của chúng ta” [12,19].
Tổng hợpnhữngquan điểmcóthể hiểurằng: “Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thoả mãn được nhu cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt nam,
Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (2011) đã đưa ra: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường” [4, 21].
Hình 1.1. Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới
1.1.1.3. Các tiêu chí của phát triển bền vững
Cũng như tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc trưng; tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và khó xác định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện kinh tế – xã hội – môi trường.
Thứ nhất, phát triển bền vững về kinh tế: Là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên đó cho các hoạt động kinh tế được chia sẽ một cách bình đẳng;
Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng)[12,22]. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: (1) Có tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem là phát triển bền vững về kinh tế. (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế; chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững. (3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá.
Thứ hai, phát triển bền vững về xã hội: Được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn. Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh. Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được. Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa; Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định[12, 23-27].
Thứ ba, phát triển bền vững về môi trường:Chúng ta thấy rằng quá trình phát triển công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp, phát triển du lịch; quá trình đô thị hóa,…đều tác động và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đến tự nhiên; bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm; đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan; chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá, kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.
Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống; phát triển bền vững về môi trường đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng, giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác, những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định, cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất.
Phát triển bền vững về môi trường gồm những nội dung cơ bản: Một là, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tầng ôzôn; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm[12, 30].
1.1.2. Phát triển du lịch bền vững Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
1.1.2.1. Các khái niệm về du lịch và du khách
Khái niệm về du lịch: Du lịch có hai nghĩa: Một mặt khi nói đến Du lịch người ta hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác (cách xa nơi ở thường xuyên của họ) để nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, tham quan chữa bệnh, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, giao lưu, công vụ…
Mặt khác Du lịch được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm phục vụ cho việc thực hiện các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của người đi du lịch, thông qua việc tổ chức phục vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn tham quan, lưu niệm, mua sắm… Tất cả những hoạt động nêu trên tạo nên ngành du lịch. Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm “Du lịch” được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Theo Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch do Viện Hàn lâm Khoa học quốc tế về Du lịch xuất bản: “Du lịch là một cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ” [12, 17]. Định nghĩa này đã khái quát đầy đủ các yếu tố tham gia vào hoạt động du lịch.
Du khách là: “Người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để có thu nhập ở nơi đến” [12,17]. Khái niệm này bao gồm cả du khách kết hợp đi du lịch trong một số loại hình du lịch đang được khai thác phát triển hiện nay như du lịch MICE, du lịch công vụ, du lịch thương gia…; bao gồm cả khách du lịch nội địa và quốc tế.
Sản phẩm du lịch là: “Tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [12,17]. Sản phẩm du lịch có thể phân biệt thành sản phẩm du lịch trọn gói và sản phẩm du lịch riêng lẻ.
Loại hình du lịch là: “Một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá nào đó”[12,18]
Tài nguyên du lịch là: “Cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [12,19]. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Điểm du lịch là: “Nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [12,19]; được đầu tư phát triển du lịch hàng năm đón được từ 50.000 lượt khách trở lên.
Khu du lịch là: “Nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường” [12,20] ; hàng năm phải thu hút từ 500.000 lướt khách trở lên.
Tuyến du lịch là: “Lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”[12,20] . Việc nghiên cứu các khái niệm về du lịch có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để xây dựng các giải pháp khai thác tiềm năng, lợi thế du lịch tại thành phố Đồng Hới, bảo đảm tính bền vững và tính hiệu quả trong hoạt động du lịch.
1.1.2.2. Các khái niệm về phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan tâm trong những năm gần đây. Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) cho rằng: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai; khái niệm này chỉ ra rằng mọi hoạt động du lịch ở hiện tại không được xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạt động ấy một cách liên tục và lâu dài””[13,4] .
Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992: Du lịch bền vững: Là việc phát triển các hoạt động du lịch, nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai”.“Du lịch bền vững phải có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự vẹn toàn về văn hóa, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người””[13, 6] ; trong định nghĩa mới này thì du lịch đã được hiểu một cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực kinh tế – xã hội – môi trường.
Năm 1996, WTTC đưa ra khái niệm: “Du lịch bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”. Và mới đây hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á- Thái Bình Dương tổ chức tại Việt Nam đã đưa ra quan điểm về du lịch bền vững đó là: “…các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau, du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy môi trường mà tương lại của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương”. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Đối với Việt Nam, “phát triển bền vững” được thể hiện trong Chỉ thị 36/CT của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25/6/1998: Mục tiêu và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững.
Theo quan điểm của Tổng cục du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải được định hướng và quản lý theo phương châm: Kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai gốc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên, chú trọng bảo ồn, tôn tạo và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện đại hóa hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch.
Điều 5, Luật du lịch Việt Nam:“Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo hài hòa giữa kinh tế – xã hội – môi trường, phát triển có trọng tâm,trọng điểm theo xu hướng du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị văn hóa. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh.
Đảm bảo lịch ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch; mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam”.
Từ những quan điểm và khái niệm nêu trên có thể hiểu: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển các hoạt động du lịch có sự quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch, đồng thời giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác hại xấu đến môi trường, kinh tế, xã hội nhằm phục vụ nhu cầu hiện tại của du khách và của điểm du lịch mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”[14, 5] . Như vậy, có thể nói đối với cả Việt Nam và thế giới, du lịch bền vững không phải là một loại hình hay trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh phát triển du lịch của thời đại.
Muốn củng cố khái niệm du lịch bền vững, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu tác động của du lịch và so sánh các yếu tố được coi là bền vững với các yếu tố được coi là không bền vững; trên cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường đã đưa ra so sách các yếu tố được coi là không bền vững và bền vững trong phát triển du lịch thể hiện ở (Phụ lục01).
1.1.2.3. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Muốn đảm bảo phát triển du lịch bền vững, thì nhất thiết chúng ta phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của phát triển bền vững, bao gồm 10 nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lý và bền vững; bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn; đó được coi là nền tảng cơ bản nhất để duy trì phát triển du lịch lâu dài.
Nguyên tắc 2: Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên du lịch và giảm thiểu chất thải từ hoạt động du lịch ra môi trường; thực hiện nguyên tắc này nhằm giảm chi phí khôi phục tài nguyên và giảm chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Nguyên tắc 3: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế – xã hội.
Nguyên tắc 4: Phát triển du lịch phải gắn liền với việc bảo tồn, tôn tạo tính đa dạng tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đa dạng tính nhân văn và văn hóa; việc duy trì tính đa dạng sẽ tạo điều kiện cho du lịch phát triển một cách bền vững.
Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải chú trọng đến việc chia sẽ lợi ích với cộng đồng địa phương như: Ưu tiên giải quyết việc làm tạo thu nhập cho người lao động tại địa phương….
Nguyên tắc 6: Phát triển du lịch phải khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch; Du lịch được coi là một ngành kinh tế tổng hợp; vì vậy sự phát triển của du lịch phải kéo theo sự phát triển các ngành nghề dịch vụ phục vụ tại địa phương; từ đó làm tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch và bảo vệ môi trường.
Nguyên tắc 7: Phải lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng liên quan, điều đó giúp thống nhất trong quá trình phát triển du lịch, giảm thiểu những mâu thuẫn của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước, đi đến tính thống nhất cao về quan điểm phát triển du lịch.
Nguyên tắc 8: Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực; như chúng ta đã biết nguồn nhân lực phục vụ du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng; nguồn nhân lực có chất lượng sẽ giúp cho du lịch phát triển đa dạng và bền vững hơn.
Nguyên tắc 9: Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm (maketing du lịch); đó là việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ, trung thực cho du khách. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Nguyên tắc 10: Coi trọng việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào du lịch; nhằm mang lại lợi ích cho du lịch, đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách.
Tóm lại: Muốn du lịch phát triển bền vững thì nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế và môi trường xã hội; du lịch bền vững sẽ tác động tích cực đến đời sống xã hội và kinh tế; du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng và là ngành kinh tế mũi nhọn, chỉ khi nó được phát triển một cách bền vững; mặt khác cần triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nền kinh tế – xã hội thì mới đem lại hiệu quả tốt.
1.1.2.4. Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch bền vững
Nguồn tài nguyên: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo lập ra sự hấp dẫn cho du khách.
Tài nguyên du lịch gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch thiên nhiên. Tài nguyên du lịch thiên nhiên như: Đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản…tạo thành cảnh quan, các dạng địa hình, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thu hút du khách, giúp du lịch phát triển.Tài nguyên nhân văn gồm:
Hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội…
Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng: Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị hạ tầng là vấn đề không thể thiếu được, là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch nó có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút khách du lịch đến với điểm du lịch nó bao gồm:
Mạng lưới giao thông vận tải, là nhân tố quyết định đến việc phát triển du lịch cũng như khai thác những tiềm năng du lịch của địa phương, mạng lưới giao thông thuận lợi mới thu hút được du khách đến với địa điểm du lịch.
Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Giúp trao đổi thông tin, tìm kiếm dễ dàng các điểm du lịch mà du khách thích, từ đó lên kế hoạch cho chuyến đi giúp chuyến đi được thuận lợi; mặt khác có mạng lưới thông tin và internet giúp cho du khách tuy cập các thông tin phục vụ cho cá nhân, đồng thời giúp liên kết các doanh nghiệp du lịch với nhau, trao đổi kinh nghiệm và cùng nhau phát triển. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Bao gồm trang thiết bị, phương tiện, cơ sở cần thiết để đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú cho du khách, khu vui chơi giải trí… là yếu tố quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của du khách.
Đào tạo lao động chuyên ngành du lịch (yếu tố con người): Là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của du lịch; quá trình kinh doanh có phát triển hay không, phụ thuộc rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chất lượng; bởi vì lao động làm việc trong du lịch không những thực hiện công việc của mình, mà họ còn thực hiện nhiệm vụ rất quan trọng đó là trao đổi, giao tiếp nét văn hóa, tạo cho du khách có cảm giác thân thiện, yên tâm, hứng khởi, lưu luyến trong chuyến du lịch.
Yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch: Các yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch bao gồm mức thu nhập, trình độ văn hóa, thời gian nhàn rỗi.
Thứ nhất, trình độ văn hóa: Khi nhận thức của con người ngày càng cao thì việc họ thích thú khám phá thế giới, thiên nhiên, vui chơi, giải trí muốn khám phá nét văn hoá các vùng miền các nước trên thế giới ngày càng tăng, khi đó động cơ đi du lịch tăng lên. Theo số liệu điều tra du lịch của ngành thống kê cho thấy: Nếu người chủ gia đình có trình độ văn hóa ở mức trung học thì tỷ lệ đi du lịch là 65%, trình độ cao đẳng là 72%, trình độ đại học thì tỷ lệ này lên tới 84%.Thứ hai, mức thu nhập (hay điều kiện sống), đây là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch; khi thu nhập của người dân tăng lên thì ngoài việc chi tiêu cho cơm ăn áo mặc thì họ sẵn sàng chi tiêu cho các dịch vụ trong đó có cả việc đi du lịch. Thứ ba, là thời gian rỗi: Phần lớn mọi người đi du lịch khi họ rảnh rỗi (ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, cuối tuần…) nhân tố này cũng rất quan trọng để phát triển du lịch.
Đường lối chính sách phát triển du lịch: Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển du lịch, với một đường lối chính sách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy du lịch phát triển; đường lối phát triển du lịch nằm trong đường lối phát triển chung, đường lối phát triển kinh tế – xã hội; vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự phát triển chung của xã hội.
Tham gia của cộng đồng: Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho du lịch phát triển bền vững hơn; sự tham gia của cộng đồng dân cư không những tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư, mà còn tăng tính trách nhiệm trong việc phát triển du lịch; việc tham gia này là hết sức cần thiết và không thể thiếu được.
Trên đây là một số yếu tố chủ yếu để phát triển du lịch ở mỗi địa phương; tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội của mỗi địa phương mà có những yếu tố đặc trưng riêng; tuy nhiên các yếu tố này không thể tách rời nhau mà kết hợp lại với nhau thành một khối thống nhất tạo nên sức mạnh cho việc phát triển du lịch theo hướng bền vững thành công.
1.1.3. Nội dung của phát triển du lịch bền vững Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
1.1.3.1. Phát triển du lịch bền vững về kinh tế
Phát triển du lịch bền vững về kinh tế là sự phát triển có hiệu quả, ổn định và lâu dài của tất cả các yếu tố liên quan đến quá trình kinh doanh trong ngành du lịch; thể hiện ở kết quả và hiệu quả đem lại từ hoạt động kinh doanh của ngành du lịch;
a) Nội dung của phát triển du lịch bền vững về kinh tế:
- Tăng trưởng về quy mô của ngành du lịch
Thể hiện ở sự tăng trưởng ổn định về số lượt khách du lịch; khách du lịch là yếu tố quyết định trong việc hình thành nên “cầu” du lịch, là một trong những nội dung quan trọng nhất thể hiện sự phát triển bền vững du lịch; sự gia tăng khách du lịch thể hiện sự nổi tiếng, sức hấp dẫn của điểm du lịch, khả năng “cung” và đáp ứng các nhu cầu của du khách tại các điểm du lịch…
Sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và quy mô các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, các văn phòng lữ hành, các cơ sở dịch vụ du lịch…cơ sở kinh doanh du lịch vừa là khách thể vừa là chủ thể để phát triển bền vững du lịch.
Sự gia tăng vốn đầu tư cho du lịch sẽ cho chúng ta những nhận định cơ bản về quy mô hiện tại và tương lai phát triển của ngành du lịch.
Mức tăng trưởng vốn đầu tư cho du lịch với một cơ cấu hợp lý sẽ đem lại sự gia tăng về quy mô, chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Nếu không được đầu tư tương xứng, đồng bộ thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển cả về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của du lịch.
Sự gia tăng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, bao gồm: Các điểm du lịch, khu du lịch, mạng lưới giao thông, phương tiện vận chuyển…và các hạ tầng kỹ thuật khác, là thước đo phản ánh trình độ phát triển bền vững du lịch.
Tăng trưởng về quy mô của ngành du lịch còn thể hiện ở sự gia tăng quy mô số lượng lao động tham gia trực tiếp và gián tiếp vào du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
- Phát triển hợp lý các sản phẩm, loại hình, tuyến du lịch
Sự phát triển đa dạng và phong phú các sản phẩm du lịch sẽ đem đến sự phát triển bền vững du lịch; các sản phẩm du lịch là phương tiện để tác động đến du khách; trong đó, việc bảo tồn và phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù sẽ tạo nên hình ảnh và sức hút của các điểm du lịch; việc phát triển các sản phẩm du lịch thiết yếu và sản phẩm du lịch bổ sung sẽ tạo nên mức độ tiện nghi trong quá trình du khách hưởng thụ kéo dài thời gian lưu lại của du khách.
Sự phát triển đa dạng và phong phú các loại hình du lịch làm gia tăng khả năng thu hút các đối tượng khách du lịch khác nhau trong và ngoài nước, đồng thời mở ra cho khách du lịch điều kiện lựa chọn các loại hình du lịch khác nhau.
Sự phát triển đa dạng và phong phú các tuyến du lịch thể hiện sự gia tăng việc liên kết của ngành du lịch tại địa phương, cũng như với các điểm du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch tại các vùng, địa phương, các quốc gia khác nhau nhằm khai thác, phát triển bền vững tiềm năng du lịch của địa phương.
- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong ngành du lịch
Trước hết là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả, ổn định, lâu dài các tài nguyên du lịch, điểm và khu du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của du khách và đem lại nguồn thu lâu dài cho địa phương, tránh sự suy thoái, xuống cấp của tài nguyên du lịch, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho tương lai.
Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, thể hiện ở cơ cấu lao động hợp lý, lực lượng lao động có trình độ, chất lượng và năng suất lao động cao trong ngành du lịch. Trình độ chuyên môn nghề nghiệp, văn hoá giao tiếp, khả năng hiểu biết về các kiến thức sinh thái học, quản lý kinh tế, môi trường; kiến thức về xã hội khác của lực lượng lao động du lịch, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tương lai phát triển của ngành du lịch.
Sự phát triển ổn định và sử dụng có hiệu quả các yếu tố nguồn lực khác trong hoạt động du lịch, bao gồm: sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đã được đầu tư, nhằm tăng công suất sử dụng, nâng cao hiệu suất đầu tư, giảm chi phí và tăng lợi nhuận; ứng dụng có hiệu quả kiến thức khoa học, công nghệ vào hoạt động du lịch để phát triển bền vững….
- Gia tăng kết quả và hiệu quả kinh tế của ngành du lịch
Sự gia tăng thu nhập từ du lịch và đóng góp từ du lịch đối với sự phát triển của nền kinh tế địa phương; thu nhập từ du lịch phản ánh kết quả và hiệu quả đem lại từ hoạt động kinh doanh du lịch, bao gồm tất cả các khoản tiêu dùng mà khách du lịch đã chi trả cho các sản phẩm du lịch, như: Chi cho dịch vụ tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm hàng hoá, đồ lưu niệm…và các sản phẩm du lịch bổ sung khác; Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Sự gia tăng kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các cơ sở kinh doanh du lịch một cách ổn định, lâu dài, gắn với quá trình nâng cao năng suất lao động sẽ thể hiện tính bền vững về kinh tế trong phát triển du lịch; nó là cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh để các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch và các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển và đạt lợi nhuận lâu dài.
Sự gia tăng hiệu quả khai thác khách du lịch thể hiện ở sự thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch; chứng tỏ khả năng cung cấp những dịch vụ, sản phẩm du lịch an toàn, chất lượng; chứng tỏ sự hài lòng của du khách về thái độ đón tiếp, trật tự an toàn xã hội, văn hóa ứng xử của địa phương, không phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, thu nhập cũng như các mặt khác; nó góp phần tăng mức chi tiêu của du khách, khuyến khích du khách quay trở lại, kéo dài thời gian lưu trú của du khách, từ đó hoạt động du lịch sẽ có hiệu quả kinh tế cao hơn.
b) Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá phát triển du lịch bền vững về kinh tế – Quy mô và tốc độ gia tăng lượng khách du lịch.
- Số ngày lưu trú trung bình của khách, tỷ lệ khách quay trở lại, – Mức chi tiêu của khách,
- Mức độ hài lòng của du khách.
- Số lượng và quy mô cơ sở kinh doanh du lịch.
Các loại sản phẩm du lịch, loại hình du lịch, tuyến du lịch.
- Quy mô, chất lượng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chủ yếu.
- Hiệu suất sử dụng cơ sở vật chất: buồng, giường, phương tiện du lịch.
- Mức tăng vốn đầu tư cho du lịch; Tỷ lệ so tổng đầu tư địa phương.
- Số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động trong ngành du lịch.
- Các tài nguyên du lịch, điểm và khu du lịch đã đưa vào khai thác.
- Quy mô và tốc độ gia tăng thu nhập của ngành du lịch.
- Tỷ lệ đóng góp của du lịch trong cơ cấu GRDP và Ngân sách địa phương.
- Năng suất lao động trong ngành du lịch, (Doanh thu BQ/ lao động).
1.1.3.2. Phát triển du lịch bền vững về xã hội
Phát triển du lịch bền vững về xã hội là những đóng góp cụ thể của ngành du lịch cho quá trình phát triển bền vững chung của toàn xã hội, như: Tạo công ăn việc làm cho người lao động, tham gia xóa đói giảm nghèo, phân phối công bằng các lợi ích có được từ hoạt động du lịch, nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng địa phương; bảo tồn các di sản văn hoá, lịch sử, giữ gìn bản sắc và các giá trị văn hoá của cộng đồng địa phương trên cơ sở tăng cường văn minh, văn hoá du lịch.
a) Nội dung của phát triển du lịch bền vững về xã hội:
- Giải quyết việc làm trong ngành du lịch Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Thể hiện ở sự gia tăng số lượng việc làm do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ; góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp; sự gia tăng số lượng việc làm thể hiện hoạt động kinh doanh du lịch phát triển đã góp phần vào mở mang các ngành nghề sản xuất, tạo ra nhiều cơ hội về công ăn việc làm, đóng góp cho phát triển bền vững và giảm thiểu vấn đề thất nghiệp.
- Đóng góp của ngành du lịch trong việc nâng cao đời sống của người dân
Sự gia tăng thu nhập của người lao động trong ngành du lịch, góp phần giảm nghèo; nội dung này bao gồm cả cơ cấu tổ chức xã hội và cách thức tiếp cận nguồn tài nguyên du lịch để tạo ra thu nhập, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức.
Việc nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho cộng đồng dân cư tại điểm du lịch, đảm bảo an sinh cộng đồng, an sinh xã hội; thể hiện ở việc duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, góp phần nâng cao dân trí, trình độ văn minh và cải thiện các điều kiện, về y tế, sức khoẻ, giáo dục, đào tạo…
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thể hiện ở việc phân phối công bằng các lợi ích có được từ hoạt động du lịch, giảm khoảng cách giàu nghèo; bao gồm việc phân phối lại lợi ích kinh tế và xã hội thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng cho tất cả những người trong cộng đồng đáng được hưởng; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa việc đáp ứng nhu cầu của du khách với việc đảm bảo lợi ích đem lại cho cộng đồng địa phương.
- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển
Việc bảo tồn và tăng cường giá trị các di sản văn hoá, lịch sử; tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa – xã hội của cộng đồng dân cư ở các điểm du lịch, bảo tồn di sản văn hóa và những giá trị, đạo đức truyền thống trong cuộc sống; bảo vệ tính đa dạng văn hóa và bản sắc đặc biệt của cộng đồng dân cư địa phương.
Tăng cường và mở rộng giao lưu văn hóa với du khách, tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương tham gia vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và chấp nhận có chọn lọc các tinh hoa từ các nền văn hóa khác; gia tăng số lượng, chất lượng các hoạt động văn hóa trong phát triển du lịch như: Hoạt động giao lưu, kỷ niệm, lễ hội…
- Đảm bảo khả năng kiểm soát của địa phương đối với du lịch
Các tác động tiêu cực đến xã hội phải được kiểm soát và quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống thể chế, quy chế quản lý xã hội và năng lực của chính quyền địa phương, nhằm giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, phòng chống các tệ nạn xã hội như: mại dâm, ma túy, đánh bạc, ăn xin, trộm cắp, chèn ép giá cả, sự du nhập những văn hóa ngoại lai độc hại và nhiều vấn đề xã hội khác. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Đảm bảo sự hài lòng và quyền tham gia quyết định của cộng đồng địa phương đối với hoạt động phát triển du lịch; cộng đồng địa phương không chỉ là người chịu tác động trực tiếp của hoạt động du lịch mang lại, họ còn là người am hiểu sâu sắc các giá trị của tài nguyên du lịch và ít nhiều tham gia vào các hoạt động phát triển du lịch, vì vậy, sự ủng hộ của cộng đồng địa phương là một yếu tố góp phần phát triển bền vững du lịch;
b) Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá phát triển du lịch bền vững về xã hội – Tỷlệ gia tăng việc làm trong ngành du lịch.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo trong ngành du lịch.
- Thu nhập bình quân của người lao động trong ngành du lịch.
- Các đóng góp của du lịch trong việc thực hiện công bằng xã hội.
- Hiện trạng các di sản văn hoá, di dích lịch sử, lễ hội truyền thống.
- Các đóng góp của du lịch để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa.
- Tệ nạn xã hội và các tác động đến xã hội từ hoạt động du lịch.
- Mức độ hài lòng và sự tham gia cộng đồng đối với hoạt động du lịch
1.1.3.3. Phát triển du lịch bền vững về môi trường
Phát triển du lịch bền vững về môi trường chính là việc khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các tài nguyên du lịch; bảo vệ, duy trì và cải thiện chất lượng môi trường tự nhiên và sự đa dạng sinh học; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả một cách tối ưu để những tài nguyên này không bị suy thoái, xuống cấp, trở thành chổ dựa bền vững, lâu dài, là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch, đảm bảo phúc lợi lâu dài cho các thế hệ tương lai.
a) Nội dung của phát triển du lịch bền vững về môi trường:
- Bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch
Thể hiện ở công tác quản lý, giám sát và những đóng góp tích cực cho việc tôn tạo, bảo vệ tài nguyên du lịch, các khu, điểm du lịch; vì tài nguyên du lịch là hạt nhân đóng vai trò trung tâm quyết định đến hiệu quả hoạt động du lịch; tài nguyên du lịch càng đặc sắc, phong phú, đa dạng thì sức hấp dẫn của du khách và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao.
Việc bảo vệ, duy trì và cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường, cảnh vật, tạo sự thống nhất về tự nhiên kể cả ở nông thôn cũng như thành thị, phòng tránh sự xuống cấp do hoạt động du lịch đem lại; tổ chức nghiên cứu khoa học, tìm kiếm và áp dụng các hình thức, công nghệ để bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch.
- Mức độ khai thác tài nguyên du lịch Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Việc khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên du lịch để những tài nguyên này không bị suy thoái, xuống cấp, luôn thực sự là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong phát triển bền vững du lịch.
Việc giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được trong quá trình phát triển du lịch; việc áp dụng các cách thức, công nghệ sử dụng nguồn tài nguyên để đạt hiệu quả tối ưu.
- Quản lý áp lực lên môi trường
Việc quản lý áp lực lên môi trường tại các khu, điểm du lịch, sao cho không vượt quá khả năng giới hạn (khả năng tải) của điểm du lịch. “Khả năng tải hay sức chứa (carying capacity) là lượng du khách cực đại mà điểm du lịch có thế chấp nhận được, thể hiện ở chổ không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa người dân với du khách và không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng địa phương” [8, tr.21].
Đồng thời qua việc xác định cường độ hoạt động của các khu, điểm du lịch, để xem xét khả năng cung ứng của các nguồn tài nguyên, năng lượng và các tiêu chuẩn về môi trường, như: cấp nước, điện, xử lý rác thải, nước thải…,nhu cầu về hàng lưu niệm, các món ăn đặc sản…nhằm đảm bảo khả năng cung cấp đủ các nhu cầu cho cả cộng đồng cũng như cho du khách.
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Giảm thiểu ô nhiễm không khí, đất, nước, tiếng ồn, rác thải, mùi hôi, bụi, môi trường sinh học và những vấn đề khác phát sinh từ hoạt động du lịch.
Trình độ công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, các điều kiện cơ sở vật chất để phòng ngừa và xử lý vấn đề ô nhiễm, cải thiện môi trường, như rừng phòng hộ, cây xanh, bãi rác, hệ thống thoát nước, nghĩa trang…
b) Các chỉ tiêu đánh giá phát triển du lịch bền vững về môi trường – Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch.
- Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ.
- Cường độ sử dụng các tài nguyên du lịch, các điểm du lịch.
- Mức độ suy thoái bãi biển, mức độ xói mòn bề mặt.
- Mức tiêu thụ các tài nguyên du lịch quý hiếm.
- Nguồn điện, nước sinh hoạt cung cấp cho hoạt động du lịch.
- Mức độ thu gom, xử lý rác thải, nước thải tại các điểm du lịch.
- Tỷ lệ che phủ rừng; tỷ lệ đất cây xanh tại các điểm du lịch.
1.2. Đánh giá tính bền vững của du lịch dựa vào bộ chỉ tiêu của tổ chức du lịch thế giới UNWTO Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Chỉ tiêu môi trường là những thông tin tổng hợp giúp đánh giá các hoạt động bền vững của du lịch; để đánh giá mức độ bền vững của điểm du lịch, chúng ta thường dùng các chỉ tiêu đơn và bộ chỉ tiêu đơn. Tổ chức du lịch thế giới WTO xây dựng hai bộ chỉ tiêu đơn là: Chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững và chỉ tiêu đặc thù cho điểm du lịch; ngoài ra, còn sử dụng phương pháp PRA (đánh giá có sự tham gia của cộng đồng) để đánh giá.
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu chung cho phát triển du lịch bền vững
Ngoài các chỉ tiêu chung cho ngành du lịch, để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch thì UNWTO đã đưa ra một số chỉ tiêu để đánh giá tính bền vững của điểm du lịch, chúng ta thường sử dụng thêm hệ thống chỉ tiêu về môi trường; trên thực tế du lịch bền vững còn được xem xét bởi mối quan hệ mới thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Nhu cầu của du khách: Được đáp ứng cao.
- Phân hệ sinh thái tự nhiên: Không suy thoái.
- Phân hệ xã hội – nhân văn: Giữ được bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương trên cơ sở tăng cường văn minh do mở rộng giao lưu với các du khách, các nền văn hóa khác.
Bảng 1.2: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của điểm du lịch
Cách xác định chỉ tiêu
1.Bộ chỉ tiêu về đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
- Tỷ lệ % số khách trở lại/tổng số khách
- Số ngày lưu trú bình quân/đầu du khách
- Tỷ lệ % các rủi ro về sức khỏe (bệnh tật, tai nạn) do du lịch/tổng số khách
2. Bộ chỉ tiêu đánh giá tác động lên phân hệ kinh tế
- (%) VA du lịch /GRDP của địa phương mang lại hàng năm.
- Mức đóng góp của du lịch vào kinh tế của địa phương (Thu ngân sách của ngành DL) – (%) Vốn đầu tư từ du lịch cho các phúc lợi xã hội của địa phương so với tổng giá trị đầu tư từ các nguồn khác.
- (%) Giá trị hàng hóa địa phương/tổng giá trị hàng hóa tiêu dùng cho du lịch
3.Bộ chỉ tiêu đánh giá tác động của du lịch lên phân hệ xã hội – nhân văn
Mức độ hài lòng của người dân địa phương đối với hoạt động du lịch (mức tăng thu nhập của lao động làm việc trong ngành du lịch) Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
- (%) Số chỗ làm việc trong ngành du lịch dành cho người địa phương so với tổng số lao động địa phương.
- Sự xuất hiện các bệnh/dịch liên quan tới du lịch
- Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch
- Hiện trạng các di tích lịch sử văn hóa của địa phương (được tôn tạo hay xuống cấp.)
- Số người ăn xin/tổng số dân địa phương
- Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm du lịch.
- Độ thương mại hóa của các sinh hoạt văn hóa truyền thống (lễ hội, phong tục, tập quán…) xác định thông qua trao đổi với các chuyên gia
4.Bộ chỉ tiêu đánh giá tác động của du lịch lên hệ sinh thái tự nhiên môi trường
- (%) Chất thải chưa được thu gom và xử lý
- Lượng điện tiêu thụ/du khách/ngày (tính theo mùa)
- Lượng nước tiêu thụ/du khách/ngày (tính theo mùa)
- (%) Diện tích cảnh quan bị xuống cấp do xây dựng/tổng diện tích sử dụng do DL
- (%) Số công trình kiến trúc không phù hợp với kiến trúc địa phương
- Mức độ tiêu thụ sản phẩm động, thực vật quý hiếm (phổ biến, hiếm hoi, không có)
- (%) Khả năng vận tải sạch/khả năng vận tải cơ giới (tính theo trọng tải)
1.3. Ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững trong nền kinh tế xã hội
1.3.1. Đối với kinh tế Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Phát triển du lịch bền vững sẽ góp phần làm tăng GDP xanh, phân phối lại thu nhập giữa các vùng, các địa phương; góp phần củng cố chất lượng cuộc sống cho người lao động, làm tăng năng xuất lao động xã hội;góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế; khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài; tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương và quốc gia; thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác…tạo nên sự thịnh vượng cho tất cả mọi tầng lớp xã hội, đem lại hiệu quả giá trị cho tất cả hoạt động kinh tế; giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm du lịch có thể duy trì được “lâu dài”.
Du lịch là một ngành kinh doanh tại chỗ có hiệu quả kinh tế cao, là “ngành xuất khẩu vô hình”; khi du khách đến tham quan và nghỉ dưỡng, họ sẽ tiêu thụ một khối lượng lớn các dịch vụ, hàng hoá như: Nông sản thực phẩm dưới dạng các món ăn, đồ uống, đồ thủ công mỹ nghệ…như vậy địa phương sẽ bán được sản phẩm tại chỗ với hiệu quả cao. Việc phát triển du lịch quốc tế sẽ làm tăng nhanh nguồn thu nhập ngoại tệ thông qua việc tiêu dùng của du khách quốc tế, khi mà việc tích luỹ các đồng ngoại tệ mạnh có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế hiện nay. Trong một nền kinh tế các ngành luôn chịu sự tác động lẫn nhau; ngành du lịch là một ngành kinh tế độc đáo, nếu phát triển bền vững thì sẽ là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành khác; bên cạnh đó, du lịch còn đóng vai trò như một nhà quảng cáo, maketing các sản phẩm của các ngành kinh tế khác, thúc đẩy các ngành nghiên cứu mẫu mã sản phẩm để làm hài lòng thị hiếu của khách hàng; du lịch còn kích thích sự phát triển của các ngành xây dựng, vận tải, tài chính ngân hàng, viễn thông…cung cấp dịch vụ cho khách du lịch.
1.3.2 Đối với xã hội
Phát triển du lịch bền vững góp phần vào mở mang các ngành nghề, giải quyết việc làm cho nhiều lao động; tham gia mạnh mẽ vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân, làm cân đối cấu trúc thu nhập và chi tiêu giữa các vùng miền; góp phần bảo đảm việc tôn trọng quyền con người, đem đến sự bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội; góp phần phân chia lợi ích từ hoạt động du lịch một cách công bằng, với trọng tâm là đảm bảo an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương…còn là phương tiện để tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của địa phương về những thành tựu kinh tế, văn hoá, xã hội; về lịch sử, con người, phong tục tập quán; về các danh lam thắng cảnh, di tích, di sản vật thể và phi vật thể, các làng nghề truyền thống; nâng cao dân trí của người dân địa phương; tạo ra khả năng hỗ trợ việc bảo tồn các di tích, di sản văn hoá, lịch sử đang có nguy cơ bị tổn hại; đóng góp trực tiếp và gián tiếp cho việc phát triển các bảo tàng, nhà lưu niệm, khơi dậy và phục hồi nét văn hoá truyền thống địa phương…
1.3.3 Đối với sinh thái tự nhiên và môi trường Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Phát triển du lịch bền vững góp phần bảo vệ, quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không thể thay mới và quý hiếm đối với đời sống con người; hạn chế đến mức tối thiểu sự ô nhiễm môi trường; bảo tồn sự đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên; không ngừng nghiên cứu và áp dụng các sáng kiến để cải thiện chất lượng môi trường tự nhiên, kiểm soát chất lượng không khí, đất, nước, tiếng ồn, rác thải và những vấn đề môi trường khác.
1.4. Thực tiển du lịch ở một số nơi và bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới
1.4.1 Phát triển du lịch không bền vững ở đảo Canary – Tây Ban Nha
Đảo Canary gồm 7 đảo ở Đại Tây Dương, cách Tây Ban Nha lục địa khoảng 1.500 km, đảo Canary nổi tiếng là trung tâm đa dạng sinh học với sự tập trung của nhiều loài sinh vật biển, có nhiều cảnh quan đẹp, phong phú, khí hậu lý tưởng; điều đó đã giúp cho nơi đây trở thành điểm du lịch biển đảo lý tưởng của du khách Châu Âu. Từ năm 1975 quần đảo Canary đã đón được 2 triệu khách và con số đó tiếp tục tăng nhanh, vào năm 1990 là 7,4 triệu khách và 13 triệu khách vào năm 2000. Ngành du lịch dịch vụ ở đây chiếm gần 80% tổng thu nhập của nền kinh tế; nhưng du lịch, dịch vụ ở đây phát triển một cách tự phát, không có quy hoạch bài bản từ đầu, cùng với sự gia tăng về du khách cũng như quá trình đầu tư ồ át, dẫn đến sự trả giá quá đắt đó là môi trường bị ôi nhiểm, cơ sở hạ tầng chật hẹp, giao thông thường bị tắc nghẻn; nét cảnh quan tự nhiên bị phá vỡ bất hợp lý; ngoài ra do sự gia tăng của du khách, dẫn đến sự thiếu hụt lượng nước sinh hoạt, điện chiếu sáng. Sự gia tăng đầu tư xây dựng không có quy hoạch đã tạo ra áp lực về đất đai, giá cả vật liệu tăng; cùng với đó là sự sung đột tranh chấp giữa nhà đầu tư với người dân địa phương,các tệ nạn xã hội như mại dâm, trộm cắp, cướp giật ngày càng gia tăng, nét văn hóa tuyền thống của người dân địa phương dần bị mai một.
Sự phát triển quá nóng ở quần đảo Canary đã cho thấy tính chất không bền vững trong quá phát triển du lịch; việc thải ra hàng triệu tấn rác, ô nhiễm không khí, mức độ khai thác du lịch bất hợp pháp ngày càng gia tăng, cảnh quan xuống cấp nghiêm trọng;quả thật Canary đang trở thành một vấn đề khó khăn cần giải quyết, muốn phát triển du lịch một cách lâu dài và bền vững.
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch ở tỉnh Vân Nam – Trung Quốc Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
Vân Nam là một tỉnh của Trung Quốc với địa hình phần lớn là đồi núi (chiếm 80% diện tích), đất dùng cho nông nghiệp rất hạn chế vì vậy chính quyền cần có chính sách phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch dân cư, sử dụng đất đai một cách hợp lý. Phát triển du lịch ở đây được đặt dưới sự quản lý tốt của Nhà nước bằng các quy hoạch hợp lý với sự tham gia, phối hợp giữa các ngành và địa phương;Vân Nam có nhiều khu du lịch nổi tiếng với nhiều sắc thái, sinh cảnh riêng đã tạo cho du lịch của tỉnh phát triển một cách đa dạng;với sự quản lý khai thác tài nguyên du lịch thống nhất cao và gắn kết với sự tham gia của cộng đồng dân cư, tạo nền tảng cho du lịch ở đây phát triển một cách bền vững lâu dài. Quy hoạch các khu du lịch ở đây theo hướng bền vững,tuân theo quy luật của thị trường nhưng có một sự định hướng rõ ràng. Trong quá trình lập quy hoạch du lịch có sự tham gia của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm về các lĩnh vực:Xây dựng, kiến trúc, du lịch, lữ hành, văn hoá, môi trường…gìn giữ bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan du lịch;ở các điểm du lịch đều có quy định rõ cho các nhà quản lý, người kinh doanh và khách du lịch phải thực hiện một cách nghiêm túc. Cơ sở lưu trú, dịch vụ phục vụ du khách đều phải làm theo mẫu thống nhất phù hợp với khu du lịch, không có hiện tượng chèo kéo khách mua hàng, hiện tượng ăn xin, các tệ nạn xã hội…
Chính quyền tỉnh hỗ trợ cư dân địa phương phát triển các ngành nghề truyền thống bằng cách mở các lớp đào tạo nghề thu công, cho vay vốn tạo dựng cở sở sản xuất thủ công….chính những việc làm đó đã giúp cho cơ hội tăng thêm thu nhập, giải quyết việc làm giảm sức ép lên nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.4.3 Kinh nghiệm rút ra cho phát triển du lịch thành phố Đồng Hới
Từ những kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của tỉnh Vân Nam – Trung Quốc và sự phát triển du lịch không bền vững của Đảo Canary, có thể rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn cho phát triển du lịch bền vững tại thành phố Đồng Hới như sau: Cần có quy hoạch bài bản, chuyên nghiệp, xây dựng chiến lược và kế hoạch chi tiết, liên kết với các tổ chức ban ngành liên quan, các chuyên gia, các nhà du lịch chuyên nghiệp để cùng nhau tham gia vào hoạt động phát triển du lịch. Thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương, tích cực cải thiện môi trường cảnh quan đẹp xung quanh khu du lịch. Hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và cảnh quan khu du lịch; tích cực phát triển các ngành nghề địa phương phát triển nhiều mặt hàng lưu niệm phục vụ du lịch; xây dựng kênh thông tin phản hồi ý kiến của du khách, mạng lưới cộng đồng tham gia giám sát, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và môi trường. Luận văn: Phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Đồng Hới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Đồng Hới