Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử
2.1.1. Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể
Với địa thế núi cao cảnh đẹp nên từ xa xưa, khu vực các này đã được các vị vua thời Lý – Trần quan tâm lựa chọn là nơi dựng chùa, tu tâm, tham thiền học đạo. Dọc sườn Tây Yên Tử hiện còn lưu lại nhiều các di tích, công trình lịch sử văn hóa có giá trị. Tính đến năm 2024, Bắc Giang đã thống kê trên 130 di tích lớn nhỏ nằm trong khu vực Tây Yên Tử, đã lập hồ sơ đề nghị và công nhận 26 điểm di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia.
Nếu ông Yên Tử là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu tập, nơi lưu giữ xá lị của Ngài sau khi viên tịch, thì Tây Yên Tử là con đường hoằng dương phật pháp của Ngài. Con đường trước đây nhà vua đến với đỉnh Yên Tử chính là từ phía Tây sang phía ông. Không chỉ Phật hoàng Trần Nhân Tông mà từ thế kỷ X cho đến thế kỷ X, đã có nhiều nhà sư chọn con đường lên Yên Tử phía Tây để tu hành, dựng chùa, xây tháp, phát đạo. Đặc biệt phía sường Tây Yên tử còn hàng loạt các công trình di tích liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và hưng thịnh của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử như: hùa Vĩnh Nghiêm, m Vãi, ồ Bấc, Bình Long, Suối Mỡ, khu sinh thái ồng Thông…
Hệ thống di tích Tây Yên Tử cùng với ông Yên Tử và khu di tích lịch sử nhà Trần ở ông Triều tạo thành Quần thể di tích danh thắng Yên Tử đang được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2017.
Bảng 2.1: Các di tích được xếp hạng cấp quốc gia ở khu vực phía Tây Yên Tử
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể
Ngoài những tài nguyên du lịch văn hóa vật thể, ở khu vực Tây Yên Tử còn có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể rất phong phú như: tín ngưỡng; phong tục tập quán; lễ hội cổ truyền; lễ tiết; làng nghề ẩm thực…
Tôn giáo và tín ngưỡng dân gian
- Phật giáo
Sách Thiền uyển tập anh (1337) ghi nhận chuyện thiền sư Ẩn Không từng trụ trì ở huyện Na Ngạn thuộc châu Lạng, người đương thời thường gọi là Na Ngạn đại sư. Ông là đệ tử thiền sư Thần Nghi (? – 1216) – một trong những vị cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông đời Lý. Đất Na Ngạn sau đổi thành Lục Na, chủ yếu thuộc địa phận ba huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động ngày nay. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Phật giáo vùng Tây Yên Tử với tất cả những đặc điểm riêng, trong đó có sự phát triển nội tại ngay từ thời Lý – Trần, có xu thế tiếp nối và định hình bền vững trong nhiều thế kỷ sau đó, đồng thời đặt trong tầm nhìn của hiện đại về một con đường tâm linh kết nối bản sắc ngàn năm văn hóa Phật giáo dân tộc. Chính với cách nhìn ấy, chúng ta càng thấy rõ và trân trọng hơn những giá trị văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử mà cha ông đã vượt qua biết bao gian khó, nhiều đời tiếp nối tạo dựng, phát huy, phát triển cho đến hôm nay. Đi theo con đường tâm linh Tây Yên Tử là hành hương đến cõi Phật, về với đất Phật nhưng cũng có sự dung hợp, đan kết, chuyển hóa của các yếu tố lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa (Nho giáo, Đạo giáo, lễ hội, lễ cấp sắc, thờ mẫu, thờ thần hoàng, hát chầu văn, dân ca, giao duyên các dân tộc…).
- Tín ngưỡng dân gian
Do đặc điểm về vị trí, địa hình và do những biến cố lịch sử, khu vực Tây Yên Tử trở thành nơi tụ hội của nhiều luồng dân cư đến sinh sống và lập nghiệp. Mỗi một dân tộc tập trung thành từng bản có quan hệ họ hàng, huyết thống sống gần nhau, nương tựa vào nhau cùng sản xuất, sinh sống, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Trong cách giao tiếp và ứng xử hàng ngày mang nặng tư tưởng quan hệ thân tộc, dòng dõi lai lịch. Vì thế tín ngưỡng ở khu vực này mang nặng tính bản địa với các tín ngưỡng nhiên thần, nhân thần, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng vạn vật hữu linh…được biểu hiện thông qua các nghi thức cầu cúng, các hoạt động vui hội, trò chơi, văn nghệ, ẩm thực…
Những điểm tín ngưỡng ở khu vực Tây Yên Tử là những nét đặc trưng văn hóa vùng Đông Bắc và không thể tách rời trong đời sống sinh hoạt, xã hội của cộng đồng dân cư.
Các lễ hội
- Lễ hội lồng tồng của dân tộc Tày thôn Cầu Chét xã Phì Điền huyện Lục Ngạn
Lễ hội lồng tồng hay còn gọi là lễ hội xuống đồng của người dân tộc Tày. Đây là một lễ hội dân gian truyền thống mang ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa, nhà nhà no ấm, hạnh phúc, tổng kết một năm sản xuất đã qua và chuẩn bị cho công việc gieo trồng của một năm mới. Lễ hội được tổ chức vào 15/1 âm lịch hàng năm.
- Lễ hội Từ Hả (xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn)
Lễ hội được tổ chức từ ngày 7 – 9 tháng giêng âm lịch hàng năm. Ngoài nghi lễ tế Vũ Thành còn có diễn tích trận mạc tượng trưng cho chiến thắng do Vũ Thành chỉ huy. Sau tế lễ là các trò hội như: múa sư tử, hát Soong hao, Sli, Lượn,… của các dân tộc ít người. Những hoạt động này nhằm thoả mãn nhu cầu về tâm linh, nhu cầu văn hóa và qua đó giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào và tính đoàn kết dân tộc cho các thế hệ. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
- Hội chùa Khánh Vân – Đền Quan quận ( Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn)
Hội chùa Khánh Vân gồm hai phần: Phần tế lễ rước sách và phần vui chơi, giải trí, biểu diễn tích trò. Phần tế lễ do dân trong làng đảm nhiệm. Làng cử ra 4 ông cai đám mỗi ông cai đám ở một khoảnh, bốn ông cai đám có trách nhiệm về phần lễ hội trong ba ngày này.
Ngày 18 tháng 2 làng mở cửa đền, chùa làm lễ tắm phật, lau chùi quét dọn chuẩn bị cho lễ hội; Ngày 19 tháng 2 làm lễ nhập tịch vào đám. Làng cho đóng kiệu ở trong đình để rước tế lễ làm lễ cầu đảo diễn tích trò và bơi trải trên sông; ngày 20 tháng 2 dã đám, dân làng dọn dẹp và đóng cửa đền. Đội tế gồm 21 người lo việc tế lễ trong đền từ 10 giờ đến 11 giờ, trong lúc tế dân làng ra xem rất đông. Trong phần tế lễ ngoài phần khấn nôm nói đến công lao của Vi Vùng Thắng và những người được thờ ở đền, dân làng còn tụng hết một quyển khoa cúng của đền. Tế lễ xong dân làng tổ chức rước kiệu dương thần và âm thần do con cháu họ Vi ở xã Thanh ải rước vì cụ tổ họ Vi chính là Vi Vùng Thắng. ịa điểm rước thần từ đền, chùa lên Nghè Mưa, một địa danh có truyền tích về quân dân nhà Trần đánh giặc Nguyên tại đây. Năm nào trời hạn thì dừng kiệu làm lễ cầu mưa, sau đó tiếp tục hành rước qua cầu ôi lên Bình Nội rồi lại trở về đền Khánh Vân. Trong cuộc rước có nhiều đoạn đường ” kiệu bay”. Những trai kiệu ” cứ rầm rập, rầm rập” đi như bay như có phép mầu nhiệm.
Sáng ngày 19 tháng 2 tại khúc sông khu vực làng à Thị, dân làng tổ chức diễn lại tích trận thủy chiến trên sông Lục Nam. Từ bến Thảo đến đền Khánh Vân, người ta sắp xếp khoảng 50 đến 60 thuyền chia làm hai phe: ta và giặc. Phe giặc (quân Nguyên) mặc áo đen, phe ta mặc áo nâu đỏ đầu đội nón, trước ngực có gắn vòng chữ “Trần”. Diễn lại tích trò thủy chiến trên sông là tượng trưng cho trận đánh giữa quân đội nhà Trần với quân Nguyên ở thế kỷ X diễn ra tại vùng đất này. Diễn xong tích trò này làng đốt pháo, những thủy binh diễn trận được thưởng một mâm cỗ dọn cạnh đống lửa để họ vừa ăn vừa sưởi tránh rét.
Trong ngày hội, tục lệ ở đây có làm cỗ tế thành hoàng, cỗ cho khách thập phương và dân làng ăn. Cơm cỗ cho khách không quy định nhiều mâm hay ít mâm, ai đến gặp bữa thì đi ghi phiếu vào ăn. Tục lệ này xưa nay vẫn thế vì đó chính là khao quân của nhà thánh.
Ngoài các tiết lệ trên trong 3 ngày hội còn có các tro chơi khác như: chọi gà, tổ tôm điếm, cờ tướng và hát phường chèo, hát ca trù, thường đội hát là những trai thanh gái sắc của làng, họ bắt đầu hát từ lúc 5 giờ chiều cho đến nửa đêm mới thôi.
Trong hội đền Khánh Vân còn có lệ bơi chải trên sông để tưởng nhớ tới quân đội nhà Trần và tướng quân Vi Vùng Thắng trong trận chiến năm xưa đã hy sinh tại đây. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
- Hội hát dân ca ở Khuôn Thần
Đây là hội hát dân ca của người Sán Chí xã Kiên Lao (Lục Ngạn) được tổ chức vào ngày diễn ra phiên chợ 18 -2 âm lịch. Trước khi vào hội, bạn trẻ các nơi trong huyện và tỉnh Lạng Sơn đã về dự từ hôm trước. Người Sán hí đón bạn hát về nghỉ ngơi, xơi rượu và hát.
- Hội hát Soong hao
Mỗi độ xuân về, khi công việc đồng áng, mùa màng đã xong xuôi, từ khắp các thôn, bản thanh niên nam nữ người Nùng ở Lục Ngạn lại bắt đầu rủ nhau đi hát Soong hao trong những phiên chợ xuân, ngày lễ hội mừng xuân, đón năm mới.
Soong hao là lối hát giao duyên có truyền thống từ rất lâu đời của đồng bào dân tộc Nùng và trở thành một cây cầu bắt mối lương duyên cho các đôi trai gái đến với nhau. Nhiều đôi trai gái nhờ những cuộc hát đầu xuân ấy mà quen nhau, yêu nhau và kết thành vợ chồng.
- Lễ cấp sắc của đồng bào Dao Sơn Động
Đấp sắc là thủ tục không thể thiếu của người đàn ông dân tộc Dao. Lễ cấp sắc cũng tương tự như lễ thành đinh của một số dân tộc khác. Đối với người đàn ông dân tộc Dao, được cấp sắc mới được coi là trưởng thành. Chưa được cấp sắc khi chết dù cao tuổi dân bản vẫn coi như một đứa trẻ. Thông thường lễ cấp sắc được tổ chức vào khoảng tháng Mười năm trước đến tháng Ba Âm lịch năm sau (Vì đây là khoảng thời gian gặt hái đã xong, thóc lúa đầy nhà, lợn béo đầy chuồng, rau xanh đầy nương bãi- suối khe). ác nghi lễ chính trong lễ cấp sắc gồm: Lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế tổ tiên. ác thầy cúng phải tẩy uế xong mới đánh trống mời tổ tiên về dự. Sau đó thầy cúng làm lễ khai đàn nhằm báo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ. Lễ thụ đèn, người được cấp sắc phải ăn mặc chỉnh tề ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ một cây tre, nứa, ngang vai có đục và xuyên một thanh ngang để thầy đốt đèn, đặt nến làm lễ. ặc biệt trong lễ cấp sắc là cấp đạo sắc cho người thụ lễ với 10 điều cấm và 10 điều nguyện. Tại đạo sắc này tên âm của người thụ lễ được ghi luôn để khi chết về với tổ tiên.
Quan trọng nhất trong nghi lễ là cấp pháp danh cho người thụ lễ. Người thụ lễ lấy vạt áo để hứng gạo từ thầy cả và bố đẻ. Sau đó các thầy sẽ dạy cho người thụ lễ một số điệu múa. Kết thúc nghi lễ, các thầy múa để dâng rượu, lễ vật tạ ơn thần linh.
- Lễ hội làng Chẽ và hội thi bơi chải (An Châu – Sơn Động)
Hội Đình làng hẽ được khai mở hàng năm từ sau ngày 10 tháng giêng tại tất cả các địa điểm là nơi thờ tự gồm: Khu vực chính Đình Chẽ, khu vực thứ hai Miếu Đức Ông, khu vực thứ ba Đền Vua Bà, Khu vực thư tư là khu tổ chức thi bơi chải trên đoạn sông nhâu chảy qua làng Chẽ. Tại những địa điểm trên, dân làng chuẩn bị đầy đủ cờ quạt, đồ tế lễ, kiệu, đồ rước…. để phục vụ cho nghi lễ khai hội. Trong dòng người đi trẩy hội có nhiều gia đình, bà con người Tày, Nùng, Dao, … quần sáo sặc sỡ, mầu sắc khác nhau tạo cho không khí ngày hội thêm phong phú, đa dạng.
- Lễ hội Suối Mỡ ( xã Nghĩa Phương, huyện Lục Ngạn)
Hội đền Suối Mỡ đã có từ rất lâu đời, được tổ chức hàng năm vào ngày 30 tháng 3 và 01 tháng 4 âm lịch. là dịp để người dân địa phương cầu một năm mưa thuận gió hoà, yên bình, no đủ, hạnh phúc… Đến với hội đền Suối Mỡ du khách còn được nghe hát quan họ, hát chầu văn… tìm hiểu phong tục tập quán của địa phương.
- Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm ở Yên Dũng (14/2 hàng năm)
Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa cổ nổi tiếng có từ thời Lý, Trần (thế kỷ XII – XIII) thuộc dòng Thiền phái Trúc Lâm. Chùa Vĩnh Nghiêm vốn từ xưa là nơi đào luyện tăng đồ Phật giáo nên là nơi tàng trữ các bộ ván khắc kinh, theo sách nhà chùa để lại “Tàng kinh các” rộng tới 10 gian nhà. Nhiều kệ ván in kinh vẫn còn. Đó là kho ván khắc in, người xưa gọi là Mộc thư khố, là hiện vật minh chứng chùa Vĩnh Nghiêm từng thống lĩnh 72 chốn tùng lâm. Vừa qua mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO công nhận là Di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 2022.
- Lễ hội thui trâu, rước cỗ làng Chiền (Yên Dũng) Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Là một trong những làng cổ của huyện Yên Dũng hiện còn bảo lưu được rất nhiều những giá trị lịch sử và những phong tục đẹp từ xa xưa. Cứ 3 năm một lần, lễ hội làng hiền lại được tổ chức trong ba ngày 8, 9 và mùng 10 tháng 8 âm lịch quy mô lớn để tưởng nhớ tới các vị Thành oàng có công với quê hương, đất nước, cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. ặc biệt, lễ hội diễn ra với những tục riêng biệt mà ít nơi có, đó là tục thui trâu tế thần, tục rước cỗ về đình.
- Phong tục tập quán
Do nhiều đặc điểm về lịch sử phát triển nên khu vực có đông đảo các dân tộc cư trú và sinh sống như Tày, ao Lan, Sán Chí, Dao, Kinh, Sán Dìu, Hoa, Nùng… nhưng các phong tục tập quán, trình độ phát triển xã hội, trình độ dân trí và bản sắc văn hóa của các tộc người này lại rất khác nhau, những đặc điểm đó không chỉ tạo ra sự đa dạng văn hóa mà còn tạo ra sự đa dạng tín ngưỡng. Những phong tục, tập quán tín ngưỡng không chỉ làm nên những giá trị tinh thần, tình cảm, tâm thức và tâm linh của văn hóa mà còn góp phần tạo nên bản sắc và sức sống lâu bền của văn hóa các dân tộc nơi đây. Qua tiến trình lịch sử, những lễ thức đời thường dần được hình thành và lưu truyền từ đời này sang đời khác như các ngày lễ tết, giỗ, tín ngưỡng vòng đời người, mừng thọ, nhà mới…
- Nghề thủ công truyền thống
Khách du lịch trong nước cũng như quốc tế, ngoài nhu cầu đi thăm quan, nghỉ dưỡng, mua sắm, nhiều du khách muốn khám phá, nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống, văn hóa của người dân địa phương. Trong những năm gần đây Du lịch làng nghề đang là một loại hình du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới khai thác rất có hiệu quả, đây là một loại hình du lịch vốn đầu tư ban đầu không lớn nhưng hiệu quả mang lại rất cao. Làng nghề thường là nơi thu hút nhiều nhất sự quan tâm của du khách bởi nó phản ánh đầy đủ các mặt trong đời sống sinh hoạt văn hoá của người dân địa phương. Tây Yên Tử là khu vực đa dân tộc với những sắc thái văn hóa độc đáo, đa dạng. Vì thế, việc phát triển nghề, sản phẩm từ nghề thủ công truyền thống các dân tộc có vai trò quan trọng góp phần phát triển kinh tế du lịch.
Thực trạng hiện nay khu vực Tây Yên Tử có rất nhiều làng nghề truyền thống vẫn đang được duy trì, phát triển như: Nghề dệt thổ cẩm, nghề làm giấy gió, nghề làm mỳ chũ, nghề làm ngói, làm mộc…Tuy vậy, các làng nghề truyền thống vẫn chủ yếu là sự tự thân vận động, sự hỗ trợ của các cấp các ngành còn rất hạn hẹp, lượng khách đến tham quan chưa nhiều.
- Ẩm thực
Việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc khu vực Tây Yên Tử mang phong vị, bản sắc của vùng ông Bắc. Mỗi một dân tộc đều có riêng cách chế biến, nấu nướng riêng trong ăn uống; những sản phẩm trong ẩm thực đều làm chính từ những nguyên liệu sản vật do chính người dân lao động nơi đây làm ra. Thông qua những sản phẩm ẩm thực mà người ta có thể biết được đời sống văn hóa tinh thần cũng như điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên của vùng đất ấy. Mỗi một sản phẩm ẩm thực là những chắt lọc kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người…Ẩm thực chính là hồn quê trong tâm hồn mỗi con người, có những điều tưởng chừng như rất đơn giản nhưng nó rất dung dị mà chứa đựng bao nhiêu tình cảm sâu xa không có gì có thể so sánh được. Và có những món ăn trở thành “quốc hồn, quốc túy” của một đất nước là vì vậy. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Sản phẩm văn hóa ẩm thực ở khu vực Tây Yên Tử có thể chia thành một số nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất: là các món ăn được chế biến trong lễ hội đình chùa như: món chay, món mặn..các loại thức ăn này thường là không sử dụng trong dịch vụ du lịch (bán cho khách tham quan) mà nó lại mang tính thiêng liêng, trang trọng dùng để cúng Phật, tế Thánh và sau đó nhân dân địa phương thụ lộc và mời thưởng thức.
Nhóm thứ hai: là các sản vật từ thiên nhiên chưa qua chế biến, nấu nướng: măng đắng, hạt dẻ vùng Mai Sưu, vải thiều tươi, cua Da…
Nhóm thứ ba: là các món ăn đặc trưng của từng dân tộc sử dụng trong ăn uống hàng ngày, trong ngày lễ và đặc biệt là được giới thiệu trong cuộc thi ẩm thực ở các kỳ “ Ngày hội văn hóa các dân tộc” trên địa bàn tỉnh Bắc Giang như: lợn quay của các dân tộc, xôi trứng kiến của người Cao Lan – Sán Chí, bánh vắt vai của người Tày – Nùng…, món khau nhục của người oa…đã làm nên một Tây Yên Tử đa dạng và phong phú về hương vị ẩm thực.
Nhóm thứ tư: các món ẩm thực qua chế biến, được bán tương đối rộng rãi và đã gây được tiếng vang như: mỳ hũ, vải thiều khô Lục Ngạn…
Du lịch chính là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở, dịch vụ du lịch chính là công việc phục vụ trực tiếp cho nhu cầu du lịch của khách tham quan. Ẩm thực chính là ăn uống, văn hóa ẩm thực là văn hóa được thể hiện qua ăn uống. Như vậy, phát huy giá trị văn hóa ẩm thực trong dịch vụ du lịch là làm cho những giá trị tiêu biểu, quí báu của văn hóa ẩm thực được tốt hơn trong dịch vụ du lịch.
- Văn nghệ dân gian
Tây Yên Tử là một vùng đất tụ cư, nơi giao thoa giữa các vùng văn hóa Việt và các dân tộc ít người, như: Tày, Nùng, Dao, ao Lan, Sán hí… Vì vậy, Bắc Giang có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó đáng chú ý là mảng văn nghệ dân gian.
Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc ở Tây Yên Tử rất phong phú và đa dạng. Thể hiện đời sống tinh thần của các dân tộc vùng ông Bắc tổ quốc. Điển hình phải kể đến các làn điệu dân ca, dân vũ như: Sli, lượn, sình ca, múa xòe ô, múa chèo thuyền, ca trù, quan họ.. Trong đó có dân ca Cao Lan (sình ca) và Sán Chí (cnắng cọô) được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2022.
Tuy nhiên trước sự giao thoa mạnh mẽ của văn hóa và tác động của kinh tế thị trường, các làn điệu dân ca ở đây đối diện với nguy cơ mai một. Trước thực trạng trên, công tác bảo tồn, phát huy làn điệu dân ca được các cấp chính quyền quan tâm mạnh mẽ. Đồng thời duy trì, tổ chức thường xuyên hội hát soong hao, hội hát Then, đàn tính gắn với thi trình diễn trang phục dân tộc.
- Trò chơi dân gian
Từ xa xưa, cha ông ta đã sáng tạo ra nhiều trò chơi dân gian, góp phần tạo nên sự đa dạng và đặc sắc của văn hóa cổ truyền dân tộc. Các trò chơi thường được tổ chức quy củ trong lễ hội, tạo nên nét đặc trưng tiêu biểu, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của cư dân các vùng miền của đất nước. Trò chơi dân gian bên cạnh việc khuyến khích rèn luyện sức khỏe, thể hiện sự khéo léo của người chơi còn góp phần nâng cao tinh thần cộng đồng, gắn kết tình làng nghĩa xóm. Tiêu biểu là các trò như múa võ, vật, đua ngựa, bắn cung, bắn nỏ, bắn phết và nhiều trò chơi dân gian ném còn, chơi đu, chọi gà, thi thả diều, thi thổi cơm, chạy chữ, đập niêu, nhảy bao bố… Đây chính là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn đối với sức hấp dẫn đối với du khách tham gia vào loại hình du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử.
2.2. Các điểm du lịch văn hóa tiêu biểu Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Khu vực Tây Yên Tử tập trung nhiều di tích văn hóa vật thể và phi vật thể, nổi bật hơn cả là 3 điểm: chùa Vĩnh Nghiêm, khu di tích và danh thắng Suối Mỡ và khu bảo tồn sinh thái ồng Thông. Sở dĩ đây là các điểm được chọn nghiên cứ là do giá trị nổi bật của chúng xét trên bình diện di sản văn hóa và phát triển du lịch.
2.2.1. Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng vào thời Vua Lý Thái Tổ (1009 – 1028) với tên gọi là húc Thánh. Đến thời Vua Trần Nhân Tông (1278 – 1293), chùa được mở mang, trùng tu lại và đổi tên thành Vĩnh Nghiêm. Suối thế kỷ 19, chùa thuộc địa phận thôn Đức La nên nhân dân trong vùng còn gọi là chùa La hay chùa ức La.
Chùa từng là nơi thuyết pháp của Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Tuyền Quang) và là nơi đào tạo, định chức danh cho các tăng sĩ thời Trần. Nơi đây được coi là chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm, có vị trí đặc biệt trong lịch sử Phật giáo thời Trần nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.
Nằm trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi ô Tiên, mặt hướng ra nơi tụ hội của sông Thương và sông Lục Nam, chùa Vĩnh Nghiêm có tổng diện tích khoảng 10.000m² với lối kiến trúc đăng đối, cân xứng, hài hòa, bao gồm 5 tổ hợp chính là: Tam quan, Tam bảo, Nhà Tổ đệ nhất, gác chuông và Nhà Tổ đệ nhị.
Tam quan chùa được xây bằng gạch, khung cột gỗ, có kiến trúc 1 gian 2 chái với mái chồng diêm 2 tầng. Qua Tam quan, theo con đường lát gạch dài hơn 100m, du khách sẽ đến sân trước cửa tòa Tiền đường. Bên trái sân là một tấm bia đá xanh lục giác, đặt trên bệ sen, khắc chữ án ghi lại công đức tu sửa chùa vào năm Hoằng Định thứ 6 (1606). Bên phải sân là khu vườn tháp với 8 ngọn bảo tháp cổ kính, đặt xá lị của các vị sư tổ trụ trì chùa. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Tam bảo – khối kiến trúc chính thứ 2 của chùa – được thiết kế theo kiểu chữ công (工), bao gồm: Bái đường (chùa Lộ), tòa Thiêu hương và Thượng điện. Bái đường được thiết kế theo lối tàu bẩy, đao lá, mái 4 đao, 8 vì kèo kiểu chồng rường, thượng tam hạ tứ. Bên ngoài Bái đường đắp nổi hình cuốn thư được bao quanh bởi những đường viền hồi văn và hoa lá. Tòa Thiêu hương có kiến trúc theo kiểu 3 vì kèo, trang trí lộng lẫy bởi 3 lớp cửa võng cùng các bức hoành phi, câu đối thếp vàng. Các tượng Phật trong tòa Thiêu hương được bài trí trang nghiêm, cao dần từ ngoài vào trong. Đi hết Thiêu hương là đến Thượng điện gồm 3 gian 2 dĩ, có 4 mái đao cong với bờ nóc, bờ chảy gắn gạch hoa chanh hộp rỗng.
Khối kiến trúc chính thứ tư là gác chuông cao 2 tầng mái, tầng dưới dùng làm nơi tiếp khách, tầng trên treo một quả chuông đồng lớn đúc năm Minh Mạng thứ 11 (1830). Bộ khung tầng trên thiết kế theo kiểu vì giá chiêng với 4 mái đao cong. Càng bẩy tiền và hậu được chạm khắc đơn giản, chủ yếu là hình lá cuộn. ác chuông là chốn nghỉ ngơi thanh tịnh cho các tín đồ Phật tử cũng như du khách hành hương.Qua Tam bảo, du khách sẽ đến Nhà Tổ đệ nhất với lối kiến trúc cũng theo kiểu chữ công nhưng thấp và nhỏ hơn tòa Tam bảo, với 3 nếp nhà: Đại bái, ống muống và ậu cung. Bên trong Hậu cung đặt tượng thờ ba vị Tổ khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm (ở giữa là Trần Nhân Tông, bên phải là thiền sư Pháp Loa ồng Kiên ương (1284 – 1330) và bên trái là thiền sư Tuyền Quang Lý ạo Tái ( 1254 – 1334)). Tại đây còn có một tấm bia lớn nói về việc trùng tu, tôn tạo chùa Vĩnh Nghiêm do òa thượng Thích Thanh anh (1840 – 1936) soạn năm Bảo Đại thứ 7 (1932).
Khối kiến trúc cuối cùng là Nhà Tổ đệ nhị với kết cấu kiểu chữ đinh (丁), gồm 14 gian với 72 cột gỗ các loại. Nhà Tổ dài 27,8m, rộng 14m, có kết cấu khung gỗ kiểu vì kèo tam giác, thờ các vị sư Tổ trụ trì chùa và những người đã có công gìn giữ, tu bổ chùa.
Đặc biệt, chùa Vĩnh Nghiêm là nơi lưu giữ kho mộc bản với 3.050 bản ván khắc, trong đó hầu hết là kinh, sách, luật giới nhà Phật, trước tác của Tam thế tổ và một số vị cao tăng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử (thơ, phú, nhật ký…). Bộ mộc bản được khắc bằng chữ án và chữ Nôm không chỉ là tác phẩm thư pháp nghệ thuật tuyệt mỹ mà còn hàm chứa những giá trị tư tưởng, giáo lý sâu sắc của Phật phái Trúc Lâm, đồng thời đánh dấu quá trình phát triển của hệ thống văn tự Nôm qua các thời đại. Ngày 16/5/2022, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới thuộc chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Không chỉ nổi bật với công trình kiến trúc đồ sộ, chùa Vĩnh Nghiêm còn được biết đến bởi các giá trị điêu khắc tinh tế, điêu luyện thể hiện qua hệ thống tượng Phật sắp xếp bài bản ở 3 khối nhà chính: Tam bảo, Nhà Tổ đệ nhất và Nhà Tổ đệ nhị. Ngoài ra, chùa còn có nhiều bức hoành phi – câu đối; hệ thống văn bia với 8 tấm ghi lại toàn bộ tiến trình lịch sử và phát triển của Trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm…
Lễ hội Vĩnh Nghiêm được tổ chức hàng năm tại chùa Vĩnh Nghiêm. Đây là một lễ hội lớn trong vùng, một sự thể hiện về ảnh hưởng to lớn của Phật giáo trong đời sống xã hội, đồng thời nó cũng biểu hiện tình cảm, sự sung bái của nhân dân trong thôn xã đối với các vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm: Trần Nhân Tông – một vị vua anh hùng, một nhà sư, một người đứng đầu giáo hội, cùng với Pháp Loa và Tuyền Quang – những vị sư uyên bác.
Ngày xưa, hội được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 11 âm lịch hằng năm mà nhân dân trong vùng vẫn quen gọi đó là tiết lệ của chùa. Đó là ngày hóa của một trong ba vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm –Giác oàng iều Ngự Trần Nhân Tông. Hội chùa La được mở trong ba ngày, là sự kết hợp chặt chẽ của ba làng La: La Thượng, La Trung, La Đạ thuộc xã ức La cũ.
Những năm gần đây, lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức vào ngày 14 -2 âm lịch hàng năm cho hợp với thời tiết mùa xuân, hợp mùa lễ hội. Ngày nay, các sư gọi là ngày giỗ tổ chùa. Do là ngày giỗ tổ chùa nên tính chất lễ hội ít mà tính chất lễ giỗ nhiều hơn.
Có thể thấy được vị trí và vai trò của chùa Vĩnh Nghiêm trong tiến trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam. Cùng với những giá trị về lịch sử tiêu biểu, chùa Vĩnh Nghiêm còn là nơi lưu giữ hệ thống Mộc Bản – Di sản tư liệu thế giới – khu vực châu Á Thái Bình Dương. Chính vì vậy, muốn bảo tồn, phát huy những giá trị của ngôi chùa cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu nhằm quy hoạch và tu bổ, xây dựng các tour du lịch liên quan.
2.2.2. Khu di tích và danh thắng Suối Mỡ Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Khu di tích và danh thắng Suối Mỡ (xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam) là một quần thể các di tích nằm trong cảnh quan rừng núi thuộc lưu vực Suối Mỡ ở khu vực dãy Tuyền Đinh – Yên Tử.
Vào mùa hạ và mùa thu, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ, hoang sơ của chốn đại ngàn nơi sông Lục, núi Huyền. Dòng Suối Mỡ chảy quanh co, uốn lượn như dải lụa trong thung lũng núi uyền inh, Yên Tử – nơi có nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên. Suối bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và ố Chuối rồi xuôi dòng. Dòng suối lớn dần, chảy len lỏi theo khe núi. Do sự kiến tạo của địa chất tự nhiên, những phiến đá lớn xếp chồng lên nhau theo nhiều dạng, nhiều cấp độ đã làm cho lòng suối thay đổi độ dốc đột ngột tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ khác nhau.
Men theo con đường uốn lượn dẫn lên suối, du khách sẽ bắt gặp những thắng tích như đấu ong Quân, chùa Đòn Trứng, chùa Đồ Bấc, đỉnh Tròi Xoan, bãi Quần Ngựa, thác Thùm Thùm…
Dòng suối ấy là minh chứng cho lịch sử của vùng đất đầy những huyền thoại, kỳ bí ấy, nhưng mang đậm tâm linh người Việt Nam. Tương truyền rằng, vua ùng ịnh Vương thứ IX có nàng công chúa Quế Mỵ Nương, hiền thục, nết na, nhân hậu. Nàng được nhiều vương tôn, công tử đến cầu hôn nhưng đều từ chối bởi nàng đam mê du ngoạn, đặc biệt là đến thung lũng Huyền inh – Yên Tử.
Một lần, trong chuyến du ngoạn đến đất Nghĩa Phương, chứng kiến nơi này đất đai khô nẻ, dân tình đói rách công chúa đã rất đau lòng. Vào một ngày đầu xuân, khi đặt chân xuống thung lũng, nàng đã dùng năm đầu ngón tay ấn xuống từng phiến đá và lạ thay, một dòng nước mát ào ạt chảy ra thành suối, đưa nước tưới cho đồng ruộng. Từ đó, đất đai vùng này trở nên màu mỡ, trù phú, đời sống người dân cũng trở nên no đủ hơn xưa. hi nhớ công ơn của công chúa Quế Mỵ Nuơng, dân làng đặt tên con suối ấy là Suối Mỡ hay còn gọi là Suối Mẫu, lập ba ngôi đền thờ kế tiếp nhau dọc theo bờ suối là đền ạ, đền Trung, đền Thượng và suy tôn nàng là Thánh mẫu thượng ngàn.
Cũng chính từ Suối Mỡ, ưng ạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã cùng các tướng lĩnh thân tín lập đại bản doanh để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược Nguyên Mông từ Ải hi Lăng, kéo về đánh chiếm Vạn Kiếp nhằm tiến về kinh thành Thăng Long. Để ghi nhớ chiến công hiển hách này, người dân đã lập đền Trần. Tại đây còn khu di tích Ba Dinh Bẩy Nền, Bãi Quần Ngựa, Thao Trường Luyện Kiếm…. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Không gian văn hóa nơi đây được kéo dài từ đền Thượng, đền Trung, rồi đến đền Tạ. Đền Thượng nằm lưng chừng núi Đồ Bâc. Từ đền Thượng vào ngày nắng đẹp có thể bao quát tầm nhìn tới đến Trung, đền ạ và toàn bộ thung lũng xã Nghĩa Phương. Đền này được tạo dựng từ một mái đá của sườn núi. Trước mặt đền là dòng suối chảy từ thác Thùng Thình xuống, sau lưng có núi hang, cây cối tươi tốt quanh năm. Từ đền Thượng xuống suối rộng dần và có nhiều thác thiên tạo. Đền Trung ở sát chân núi ồ Bấc, thuộc hữu ngạn Suối Mỡ. Đền Trung có không gian rộng hơn đền Thượng. Đền Tạ có quy mô rộng nhất trong quần thể Suối Mỡ thờ Mẫu Thượng Ngàn.
Ngày hội đền Suối Mỡ là ngày rước sắc của người dân sở tại. Làng Dùm có ngôi đình to cách đền hơn 1 km về phía đông. Tinh mơ dân làng và quan viên đã tế lễ ở đình. Tế xong xin rước sắc và bài vị ra đền suối. ám rước trống dong, cờ mở qua đền cây Xanh đến xế trưa mới tới đền ạ. ũng thời điểm ấy, dân làng Quỷnh cũng rước từ đình Quỷnh ở phía Tây Suối Mỡ rước lên,đi qua nghè Tàn Lâm để vào đền Trung làm lễ. Khi đám rước tới đền ạ thì tế an vị. Những năm hội lớn, lễ này thường mổ lợn to. Cuộc tế này diễn ra ở ngay sân tiền đường của đền Dạ.
Nổi bật trong phần hội của Lễ hội đền Suối Mỡ là các hoạt động văn nghệ như: hát văn, hát quan họ. Bên cạnh đó còn có các trò chơi dân gian như: cờ tướng, cờ bỏi, chọi gà, vật, đu, chọi gà, bắn cung, võ dân tộc, đi cầu thùm, bịt mắt đập niêu và đu tiên…trong đó, bắn cung và võ dân tộc do người bản địa biểu diễn. Thi bắn cung được mở ở gần khu đền. Cung làm bằng gỗ dâu, néo dây căng. Tên là tre già và cứng, vát nhọn đầu, đuôi gấp mo tre làm cánh tên. Đích bắn làm bằng cót hay lấy mẹt vẽ hồng tâm. Người bắn đứng xa năm chục bước, tuỳ theo ban giám khảo quy định. Đi bắn trúng cả ba mũi tên vào giữa hồng tâm là thắng. Còn võ dân tộc thì có đi quyền, múa côn, múa kiếm, múa đao…. Tối đến nhà đều có tổ chức chầu văn. ác đội chầu văn được bố trí hát ở tiền đường. Thường thì dân làng sở tại ưu tiên cho các đội chầu văn hàng hội của Chí Linh, Kiếp Bạc (tỉnh ải Dương) biểu diễn cho dân và khách thập phương xem.
Lễ hội Suối Mỡ hàng năm đón trên 60.000 lượt khách du lịch. Tại khu du lịch được tổ chức các hoạt động vui chơi, các món ẩm thực, các sản phẩm du lịch như: khôi phục nghề dệt thổ cẩm, của người ao Lan, nghề mây, tre đan; quản bá phát triển chăn nuôi cây con truyền thống (tắc kè, ba kích, trám đen, mật ong…) Các di tích lịch sử văn hóa được đầu tư tu bổ để du khách đến Suối Mỡ có thể đi vãn cảnh như đình chùa Tộ, đình Giàng, đình Rùng, đình Quỳnh…
Không chỉ có hệ thống các công trình văn hóa đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh của người dân, Tây Yên Tử còn có một tiềm năng to lớn về du lịch sinh thái với các danh thắng nổi tiếng như Suối Mỡ (Lục Nam). Dòng suối chảy thung lũng dải núi thuyền inh với nhiều thác nước lớn nhỏ thu hút du khách. Suối Mỡ mang cả hai đặc điểm được xem là tiềm năng trong phát triển du lịch Bắc Giang: gắn kết du lịch sinh thái và tâm linh. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
2.2.3. Khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông
Khu bảo tồn sinh thái ồng Thông thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc iang, được xác định là điểm du lịch trọng điểm, nằm trong tuyến du lịch Tây Yên Tử, cách trung tâm thành phố Bắc Giang 87 km và cách thành phố Hà Nội 130 km theo hướng ông Bắc, cách Di sản thế giới vịnh Hạ Long, Quảng Ninh khoảng 65 km. Về địa hình, theo các nhà nghiên cứu, hiện tại khu vực ồng Thông có khoảng 760 loài thực vật, hơn 430 loài động vật, trong đó có 10 nhiều loài thú quý hiếm có tên trong Sách đỏ. Ngoài ra, đây còn là điểm dừng chân trước khi chinh phục đỉnh chùa ồng – Yên Tử từ phía Tây.
Từ chân núi Đồng Thông, du khách có thể di chuyển xuyên rừng lên đến chùa Đồng và các chùa khác trong quần thể chùa trên dãy núi Yên Tử. Dưới chân núi, bản người Dao từ lâu vẫn tồn tại truyền thuyết về những cô gái đẹp. Nguyên trước kia, tên cũ của bản là Tuấn Mẫu, nghĩa là người mẹ đẹp. Bên cạnh đó, lễ cấp sắc là một trong các hoạt động văn hóa tiêu biểu của các dân tộc nơi đây. Đây là một nghi lễ quan trọng của người Dao để công nhận sự trưởng thành của một người đàn ông.
Đồng Thông còn nổi tiếng với khu chợ Nòn, đây là nơi trao đổi, mua bán hàng hóa, sản vật của người dân địa phương, đến với chợ Nòn du khách sẽ được nếm thử hương vị của mật ong rừng sánh đặc thơm phức và thưởng thức thứ đặc sản rượu men lá đắm say lòng người, cùng với một số sản vật đặc sắc khác của vùng Yên Tử như: măng, mộc nhĩ, nấm hương, ba kích và các loại thuốc quý, hiếm chỉ có ở chốn linh thiêng Yên Tử. Đây sẽ là những món quà hết sức có ý nghĩa mà du khách có thể mua về làm quà sau chuyến hành trình đầy thú vị. Tất cả đã hun đúc tạo nên hương vị đặc sắc rất riêng của miền đất thiêng mà không phải nơi đâu cũng có. Bên cạnh hưởng thụ cái thú tiêu ngao, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên hùng vỹ, đến với chốn tâm linh nơi đây, du khách còn được thăm quan tìm hiểu phong tục tập quán, văn hóa, lễ nghi dân gian của bà con dân tộc như: Lễ cầu mưa, lễ cúng cơm mới, lễ cấp sắc của người Dao ở bản Mậu và ồng Thông. Nằm yên bình dưới chân Tây Yên Tử, bản người Dao từ lâu vẫn tồn tại truyền thuyết về những cô gái đẹp “tiến Vua”. Nguyên trước kia, tên cũ của bản là Tuấn Mẫu, nghĩa là người mẹ đẹp. Trải qua nhiều đời, tên cũ bị đọc trại đi thành Mậu – bản Mậu, xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động. Nhưng dù có đọc trại đi thế nào thì cái tiếng bản gái đẹp vẫn còn lưu giữ đến ngày hôm nay. Đã biết bao trang nam tử không quản ngại đường xa, vượt cả trăm, ngàn cây số tìm về bản, náo nức mong tận mắt chiêm ngưỡng nhan sắc những bông hoa của núi rừng được truyền tụng có dòng dõi phi tần. Đến nay, dẫu đường vào bản còn gập ghềnh khó đi nhưng cảnh sắc, tình người và những khám phá mới mẻ khác nơi chân mây miền Tây Yên Tử đã không phụ lòng khách xa…
Bên cạnh đó, lễ Cấp sắc là một trong các hoạt động văn hóa tiêu biểu của các dân tộc nơi đây. Đây là một nghi lễ quan trọng của người Dao Tổ để công nhận sự trưởng thành của một người đàn ông. Đây cũng là một nghi lễ để cầu cuộc sống may mắn bình an, dạy con em đồng bào Dao Đỏ phải biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ, người thân.
Khu du lịch sinh thái ồng Thông thuộc xã Tuấn Mậu huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, được xác định là điểm du lịch trọng điểm, nằm trong tuyến du lịch Tây Yên Tử. Ngày 29 tháng 01 năm 2023, đã được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Quyết định “Phê duyệt Quy hoạch Xây dựng và Bảo tồn tổng thể hệ thống Di tích và Danh thắng Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang”.
Trung tâm của khu bảo tồn sinh thái Đồng Thông là Bản Mậu. Bản Mậu nằm dưới chân núi phía Tây Yên Tử. Tường chính của bản bắt mạch vào nhánh thứ ba của tuyến đường 293, đây là cung đường du lịch tâm linh nằm trong quy hoạch xây dựng và bảo tồn hệ thống di tích danh thắng Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang. Hiện tại, dự án khu vực ồng Thông sẽ xây dựng 3 ngôi chùa với quy mô uy nghi, hoành tráng, cùng với các dịch vụ như bãi đỗ xe, cáp treo và hệ thống dịch vụ hiện đại nơi tập kết khách du lịch trước khi hành hương lên tới chùa ồng, Yên Tử. Dự án chủ yếu dành một số diện tích đất làm khu vực trưng bày, bảo tàng, bảo tồn các loại động thực vật quý, giới thiệu về danh lam thắng cảnh khu vực Tây Yên Tử và một số dịch vụ: Khu đón tiếp, khu hành chính BQL, khu khách sạn trung tâm, các phòng họp, hội thảo phục vụ nhu cầu sinh hoạt, hội nghị hoặc các lớp học ngắn hạn, khu lưu trú sinh thái, khu cắm trại, khu nuôi thú, khu nhà nghỉ biệt thự cuối tuần, khu công viên hồ, khu dịch vụ trung tâm, khu dịch vụ – bãi xe, khu thể thao, hệ thống sân vườn, cây xanh….. Từ trung tâm khu du lịch lên hùa ồng với chiều dài 2.844m về phía 2 bên với tổng diện tích 2.000 ha sẽ xây dựng các công trình văn hóa. Bên cạnh công tác xây mới còn bảo tồn: Đền, Chùa Trình, Chùa Cầu, chùa Kim Quy, Chùa Đồng; Bèo Bụt, núi Phật Sơn…Để đánh thức tiềm năng to lớn mà thiên nhiên ban tặng, UBND tỉnh Bắc Giang đã phê duyệt dự án đầu tư trên 2.700 tỷ đồng cho việc cải tạo, nâng cấp và làm mới hệ thống giao thông từ thành phố Bắc Giang đấu nối với tỉnh lộ 293 đi qua huyện Yên Dũng, huyện Lục Nam và Sơn Động. Sự kiện này đã tạo điều kiện thuận lợi mở ra tương lai nhiều triển vọng phát triển cho Du lịch Bắc Giang nói chung và du lịch văn hóa, tâm linh sinh thái tuyến Tây Yên Tử nói riêng.
Với những nét điển hình đặc sắc riêng của một miền đất thiêng, khu du lịch Đồng Thông-Tây Yên Tử đã hội tụ các yếu tố tiềm năng thuận lợi cho việc phát triển du lịch, nhất là tạo ưu thế cho phát triển các loại hình du: Du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch nghiên cứu, du lịch nghỉ dưỡng… Đặc biệt được sự quan tâm của các cấp ủy chính quyền địa phương và của tỉnh khu du lịch ông Thông đã và đang dần trở thành điểm nhấm du lịch trọng điểm của Du lịch Bắc Giang.
2.3. Khảo sát thực trạng du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
2.3.1. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa
2.3.1.1. Hệ thống cơ sở lưu trú
Hệ thống cơ sở lưu trú là một trong những yếu tố hêt sức quan trọng ảnh hưởng đến phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng. Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của khách du lịch, hệ thống các cơ sở lưu trú, dịch vụ ở Bắc Giang nói chung và khu vực Tây Yên Tử nói riêng phát triển với tốc độ nhanh, từng bước được nâng cao về cả chất lượng và số lượng, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ở mức độ nhất định.
Bảng 2.2 : Hiện trạng phân bố cơ sở lưu trú tại các huyện đến tháng 4/2025
Nhìn vào bảng trên ta thấy cơ sở lưu trú phân bố khá đều ở các huyện trong khu vực song tập trung nhiều ở 3 huyện Yên Dũng, Lục Ngạn, Lục Nam chiếm 25% và 31,7% trong tổng số cơ sở lưu trú. Điều này được lý giải bởi so với huyện Sơn Động thì 3 huyện còn lại có sức hút du lịch và sức hút đầu tư đáng kể.
Bảng 2.3: Hiện trạng chất lượng cơ sở lưu trú của khu vực Tây Yên Tử đến tháng 4/2025
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy số lượng khách sạn hạng sao quá ít, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các cơ sở kinh doanh lưu trú trên địa bàn chỉ chiếm 3,6% trong tổng số. Các khách sạn trên địa bàn chủ yếu là khách sạn quy mô nhỏ chỉ phục vụ khách du lịch có mức chi tiêu thấp điều này cũng nói lên ngày lưu trú của khách du lịch thấp trong thời gian qua do chất lượng cơ sở không đảm bảo tiêu chuẩn.
Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở các huyện, chủ yếu là của các hộ tư nhân, kiến thức về quản lý, chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, nhân viên phục vụ hầu như chưa qua các lớp đào tạo cơ bản, quy mô kinh doanh nhỏ, trang thiết bị ở một số cơ sở chỉ đạt ở mức tối thiểu. ác cơ sở này chỉ đáp ứng nhu cầu nghỉ tạm, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách. Đa số các cơ sở lưu trú du lịch chưa có dịch vụ ăn uống, cũng như các dịch vụ khác đi kèm. Khách nghỉ tại các cơ sở này phần lớn là khách kết hợp công tác có nghỉ lại trong ngày, khách nghỉ lại qua đêm không nhiều.
Trên địa bàn chỉ có duy nhất 1 cơ sở lưu trú đáp ứng đầy đủ các điều kiện phục vụ với các loại hình dịch vụ đủ tiêu chuẩn, đó là Trung tâm Thương mại Dịch vụ Lam Sơn. Số còn lại, hầu như chỉ kinh doanh một loại dịch vụ ăn, hoặc nghỉ, hay chỉ làm dịch vụ. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
2.3.1.2. Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống
Những năm gần đây các quán ăn, nhà hàng tư nhân ở khu vực Tây Yên Tử phát triển với tốc độ khá nhanh, phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch đang tăng lên về số lượng, nhưng chủ yếu cũng chỉ phục vụ khách nội địa, còn nhiều hạn chế về tiêu chuẩn vệ sinh và trình độ phục vụ. Do đặc điểm tính thời vụ du lịch của địa bàn nên các dịch vụ ăn uống phục vụ cho khách cũng mang tính thời vụ chủ yếu chỉ phát triển vào mùa hè, dịp lễ hội… Nhìn chung sản phẩm dịch vụ ăn uống khu vực phía Tây Yên Tử còn mang tính bình dân, chưa có nhiều các dịch vụ chất lượng cao, còn đơn điệu và ít được cải tiến về hình thức, chất lượng và mẫu mã, chưa thực sự gắn kết sản phẩm ăn uống với khu, tuyến điểm du lịch.
Công tác quảng cáo sản phẩm dịch vụ ăn uống chưa mạnh nên mức độ thu hút khách du lịch hạn chế; thiếu đội ngũ chuyên gia, nghệ nhân lành nghề về ẩm thực xứ Kênh bắc nên chưa tạo được nhiều sản phẩm mang thương hiệu riêng cho du lịch Bắc Giang nói chung và Tây Yên Tử nói riêng.
Phong cách thái độ phục vụ của cán bộ công nhân viên trong các nhà hàng chưa chuyên nghiệp, chưa thật sự niềm nở phục vụ khách…
Tuy nhiên, doanh thu từ dịch vụ ăn uống đã mang lại hiệu quả cao trong doanh thu du lịch và chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng doanh thu dịch vụ du lịch.
2.3.1.3. Hệ thống cơ sở kinh doanh lữ hành
Bảng 2.4: Hiện trạng đơn vị kinh doanh lữ hành tại khu vực phía Tây Yên Tử
Hiện tại hoạt động kinh doanh lữ hành đã bắt đầu có chiều hướng chuyển biến tốt hơn so với các năm trước. Số lượng doanh nghiệp lữ hành có xu hướng tăng. Năm 2020 có 1 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, đến năm 2024 đã có 4 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. ặc biệt xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp lữ hành tư nhân, liên doanh với đặc điểm nổi bật là năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của cầu thị trường nên đã góp phần tăng trưởng lượng khách. Trang thiết bị máy móc, thiết bị văn phòng tại các doanh nghiệp lữ hành nhìn chung tương đối đầy đủ và hiện đại. Tuy nhiên phương tiện vận chuyển phục vụ khách du lịch tại các doanh nghiệp lữ hành còn gặp nhiều khó khăn. Hiện tại, không có nhiều doanh nghiệp có xe 45 chỗ, một vài doanh nghiệp có xe 16 chỗ, 24 chỗ. Điều này cho thấy các doanh nghiệp lữ hành ở địa bàn còn gặp khó khăn trong việc chủ động vận chuyển khách trong các chương trình du lịch
2.3.1.4. Phương tiện vận chuyển khách du lịch Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Các doanh nghiệp kinh doanh vận tải khách du lịch có khoảng 25 xe từ 30 – 45 chỗ ngồi đủ tiêu chuẩn và tập trung tại TP.Bắc Giang; ngoài ra có 02 doanh nghiệp kinh doanh vận tải xe taxi với gần 200 đầu xe. Tuy nhiên, phương tiện vận chuyển khách du lịch chưa nhiều, chất lượng chưa cao và phương tiện vận chuyển khách du lịch tập trung tại TP.Bắc Giang, còn các huyện đều hạn chế cả về số lượng và chất lượng đặc biệt là khu vực miền núi như khu vực Tây Yên Tử đội ngũ lái xe chỉ mới đáp ứng yêu cầu trình độ phục vụ khách du lịch nội địa, số lái xe có trình độ ngoại ngữ và phong cách phục vụ khách du lịch quốc tế chưa nhiều.
2.3.1.5. Các trung tâm văn hóa, thể thao phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí Cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí cho khách du lịch chỉ mới tập trung vào loại hình tại các công viên công cộng, các dịch vụ văn nghệ, thể thao…, thị trấn nhưng số lượng chưa nhiều, chất lượng còn hạn chế, nhiều khu vực, điểm tham quan chưa có các dịch vụ này nên đã ảnh hưởng đến việc truyền truyền thu hút khách du lịch, cũng như kéo dài ngày tham quan của khách.
2.3.2. Nhân lực du lịch
2.3.2.1. Thực trạng chung nhân lực du lịch khu vực Tây Yên Tử
Trong nhiều năm qua đội ngũ lao động trong du lịch ở khu vực phía Tây Yên Tử vẫn còn yếu kém và các huyện trong khu vực vẫn chưa thực sự quan tâm đến đào tạo trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ lao động du lịch tại địa bàn, nên công tác chuyên môn còn nhiều hạn chế. Chỉ đến năm 2023 các cấp lãnh đạo du lịch tỉnh, huyện, lãnh đạo ngành mới quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch. Nguyên nhân có nhiều song nhân tố chính dẫn đến những tồn tại, yếu kém của du lịch là chất lượng của nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực vừa thiếu vừa yếu, số lượng lao động được đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động, trong tổng số lao động được đào tạo thì số lao động được đào tạo chuyên ngành du lịch còn rất thấp, lao động sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp được còn ít, thiếu kỹ năng chuyên nghiệp.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế so sánh, Kế hoạch ào tạo nguồn nhân lực du lịch Bắc Giang giai đoạn 2023 – 2016, với các hoạt động và giải pháp cụ thể sẽ từng bước góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ du lịch của tỉnh Bắc Giang nói chung và khu vực phía Tây Yên Tử nói riêng. Bên cạnh đó Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với các đơn vị đào tạo trong và ngoài tỉnh mở được 2 lớp bồi dưỡng kỹ năng, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn với tổng số học viên là 80 người cụ thể như sau:
Bảng 2.5: Các lớp nghiệp vụ du lịch đã được tổ chức Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Hai khóa học trên về cơ bản đã đóng góp nâng cao kiến thức cho lực lượng lao động của ngành. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực du lịch của tỉnh hiện nay vẫn còn rất thấp, các khóa học trên chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại về số lượng và chất lượng nhân lực du lịch của tỉnh nhất là trong thời buổi hội nhập như hiện nay. Đồng thời, do tính chất đặc thù nên ngành du lịch luôn có sự biến động về lao động rất lớn. Chính điều này đòi hỏi các nhà quản lý cần có sự quan tâm sâu sắc hơn nữa trong công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch nhằm phát huy thế mạnh về du lịch và thúc đẩy nền kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển.
Vấn đề đặt ra cho bài toán giải quyết nguồn nhân lực thường xuyên trong các đơn vị kinh doanh du lịch ở Khu vực Tây Yên Tử là phải đáp ứng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, thực tế khảo sát cho thấy cả 2 yếu tố này hiện vẫn còn nhiều bất cập khi mà đời sống kinh tế ngày một khó khăn trong những năm gần đây. Xét về mặt hiệu quả kinh doanh, thì các doanh nghiệp đã và đang giảm tối đa số lượng lao động. Đồng thời, các doanh nghiệp này đang có xu hướng sử dụng lao động đã qua đào tạo để không phải mất chi phí và thời gian đào tạo. Tình trạng trên dẫn đến việc lao động trong các doanh nghiệp du lịch luôn ở tình trạng thiếu hụt, người lao động phải làm kiêm nhiều việc và phải tự trang bị cho mình bằng cấp và trình độ tương ứng với nhu cầu tuyển dụng. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Bảng 2.6: Lao động trực tiếp trong du lịch của khu vực Tây Yên Tử giai đoạn 2020-2024
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số lượng lao động trực tiếp trong lĩnh vực du lịch tăng dần. Cụ thể, năm 2024, tỷ lệ lao động được đào tạo ở các bậc đại học và trên đại học chiếm 4,04%. Đội ngũ lao động đã qua các lớp đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chiếm 11,7% trên tổng số lao động. Đội ngũ lao động được đào tạo ở bậc cao đẳng và trung cấp chiếm 12,9%. Đội ngũ lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ cao tới 68,4% trên tổng số lao động. Điều đó khẳng định trình độ lao động trong hoạt động du lịch còn yếu cả mặt chất lượng và số lượng. Vì vậy mà tỉnh cần phải có biện pháp để nâng cao trình độ nguồn nhân lực du lịch của khu vực Tây Yên Tử cho tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của các tài nguyên du lịch.
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ trình độ lao động của khu vực Tây Yên Tử năm 2024
Như vậy, số lượng nguồn nhân lực trực tiếp phân theo trình độ, loại lao động, ngành nghề kinh doanh tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, số lượng lao động trong du lịch đạt trình độ đại học và cao đẳng còn rất khiêm tốn.
2.3.2.2. Nhân lực tại các điểm du lịch văn hóa Đến năm 2025 trên địa bàn mới có 3 điểm du lịch văn hóa có BQL di tích: BQL khu di tích chùa Vĩnh Nghiêm, BQL Đình – Chùa Sàn, BQL khu du lịch Suối Mỡ. Đây đều là những điểm du lịch văn hóa tiêu biểu của tỉnh, có bề dày lịch sử văn hóa. Số lượng bình quân là 10 người/BQL với trình độ đa dạng từ sơ cấp đến đại học. Tuy nhiên, mỗi điểm chỉ có từ 1 – 2 hướng dẫn viên, nhiều người còn chưa qua đào tạo nghiệp vụ về hướng dẫn du lịch. Hoạt động hướng dẫn lại không diễn ra thường xuyên, thiếu chuyên nghiệp, hướng dẫn viên không thường xuyên có mặt tại điểm du lịch, chẳng hạn như khu di tích, Đình – Chùa Sàn, nên du khách tới tham quan nếu muốn được nghe hướng dẫn thì phải có sự liên hệ trước đó. Điều đó gây khó khăn cho hoạt động du lịch của khách du lịch. Từ thực tế nghiên cứu và những số liệu thống kê trên có thể nhận thấy các nét cơ bản về nguồn nhân lực du lịch khu vực phía Tây Yên Tử như sau:
Những năm gần đây do hoạt động du lịch tại địa bàn đã có bước phát triển. Thu nhập và điều kiện làm việc của người lao động trong ngành được cải thiện đã góp phần thu hút một lực lượng lao động khá lớn hoạt động trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt là đội ngũ lao động trẻ năng động, được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ du lịch. Đội ngũ lao động trẻ này, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công việc và làm việc có hiệu quả, đồng thời có khả năng tiếp tục tự đào tạo để phát triển toàn diện, hòa nhập với tập thể và cộng đồng. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Tuy nhiên xét về tổng thể, đội ngũ lao động trong ngành du lịch trên địa bàn về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Trình độ quản lý, kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu và tay nghề còn yếu, đặc biệt là trình độ tin học và ngoại ngữ. Lực lượng lao động trẻ được bổ sung và từng bước trưởng thành nhưng chưa cân đối giữa các lĩnh vực kiến thức được đào tạo; kiến thức về quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học chưa đáp ứng đực yêu cầu phát triển. Trong khi đó số lao động cũ và lao động chuyển từ các ngành khác sang còn đông, yếu về nghiệp vụ, không có ngoại ngữ, nhưng chưa đến tuổi nghỉ chế độ đã trở thành một khó khăn lớn trong việc sắp xếp lại để tăng cường chất lượng đội ngũ lao động trong ngành.
Chất lượng lao động ở các doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp như: một số cán bộ quản lý chậm đổi mới, đội ngũ lao động trực tiếp đang hoạt động trong các doanh nghiệp hiện hầu hết các lao động này làm theo mùa vụ, chưa qua đào tạo về du lịch, thiếu trình độ ngoại ngữ, thiếu kĩ năng giao tiếp do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ cũng như hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn.
Độ tuổi trung bình của đội ngũ người lao động cũng khá cao là một trở ngại lớn trong việc sắp xếp lại để tăng cường chất lượng đội ngũ lao động trong ngành. Trong khi đó cơ cấu lại không hợp lý, các công việc liên quan trực tiếp tới việc thu hút khách như cán bộ làm công tác marketing, hướng dẫn viên, nhân viên lễ tân, quản lý lữ hành… vừa thiếu lại vừa yếu.
Riêng về đội ngũ hướng dẫn viên còn hạn chế về ngoại ngữ trong giao tiếp với khách nước ngoài; sự am hiểu về phong tục tập quán và những quy ước giao tiếp, ứng xử của hướng dẫn viên, thuyết minh viên còn yếu; khả năng nắm bắt tâm lý, sở thích của du khách vẫn chưa tốt, nên chưa thực sự làm hài lòng du khách.
Các đơn vị tư nhân kinh doanh dịch vụ du lịch (chủ yếu là kinh doanh cơ sở lưu trú, nhà hàng ăn uống) để giảm bớt chi phí nhân công đã tận dụng lao động là thành viên trong gia đình, hoặc thuê lao động chưa qua đào tạo, do đó trình độ quản lý, kỹ năng giao tiếp, khả năng nghiệp vụ chuyên sâu, ngoại ngữ, tin học đều rất hạn chế.
Mặc dù những năm gần đây thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch ở địa bàn đã được tăng lên đáng kể nhưng so với thu nhập của người lao động ở các lĩnh vực khác và so với các thành phố lớn thì vẫn còn là một khoảng cách khá xa. Điều này đã cản trở việc thu hút người lao động được đào tạo cơ bản về làm việc trong các doanh nghiệp du lịch tại khu vực Tây Yên Tử. Mặt khác, ở đây lại chưa có một chính sách thu hút nhân lực đủ sức hấp dẫn đối với những cán bộ có trình độ năng lực cao về làm việc, nhất là trong lĩnh vực du lịch.
Đông tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động chưa được các doanh nghiêp thực sự quan tâm. Một phần, do các doanh nghiệp chưa nhận thức được đầy đủ về chất lượng của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng các dịch vụ du lịch. Mặt khác, do khả năng tài chính hạn hẹp đã hạn chế các doanh nghiệp tổ chức đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động của mình. Những hạn chế về quản lý, nghiệp vụ, ngoại ngữ của đội ngũ lao động đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dịch vụ, hiệu quả kinh doanh và tiềm năng phát triển của ngành du lịch của vùng.
2.3.3. Thị trường khách du lịch văn hóa khu vực Tây Yên Tử Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
2.3.3.1. Thực trạng lượng khách du lịch
Theo báo cáo mới nhất của ban chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang thì toàn tỉnh: Năm 2021 đạt 160.000 lượt (trong đó khách quốc tế đạt 3.139 lượt), tăng 14% so với năm 2020; năm 2022 đạt 194.400 lượt (trong đó khách quốc tế đạt 3.452 lượt), tăng 21,5% so với năm 2021; năm 2023 chỉ tiêu lượng khách nội địa đạt: 256.000 lượt, tăng 31,6% so với năm 2022, 6 tháng đầu năm 2024, chỉ tiêu lượng khách nội địa đạt 137.000 lượt khách, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2023, tuy nhiên chỉ tiêu về khách quốc tế lại sụt giảm nghiêm trọng, đạt 580 lượt do bất ổn về chính trị và suy thoái kinh tế thế giới.
Theo đánh giá của các nhà hoạch định du lịch Bắc Giang, chỉ tiêu của chương trình phát triển du lịch toàn tỉnh, căn cứ vào lượng du khách thực tế của từng năm và dựa trên cơ sở tính toán mà đưa ra dự báo và mục tiêu cho từng năm. Ở Bắc Giang, chương trình mục tiêu phát triển du lịch 5 năm 2021 – 2025 nhằm đưa Bắc Giang thành tỉnh nằm trong vùng trọng điểm phát triển du lịch. Ở đây có thể thấy mục tiêu của Bắc Giang muốn biến lợi thế tự nhiên và di sản trở thành sản phẩm du lịch từ đó có những chương trình phát triển du lịch ngắn hạn và dài hơi cho từng khu vực. Đặc biệt phát triển du lịch văn hóa Tây Yên Tử.
Riêng lượng khách du lịch đến với 3 điểm du lịch mà tác giả nghiên cứu thì năm 2024 có gần 200 nghìn lượt du khách (bảng 1 phụ lục). Lượt du khách đến thăm quan nghỉ dưỡng và vui chơi tại Suối Mỡ là nhiều nhất khoảng 90 nghìn lượt, kế tiếp là chùa Vĩnh Nghiêm với sức hút của Mộc bản là Di sản tư liệu Châu Á với 80 nghìn lượt khách. Cuối cùng là khu du lịch sinh thái đầy tiềm năng khu Đồng Thông.
Bên cạnh những tín hiệu tích cực từ lượng du khách ngày càng đến với Tây Yên Tử thì số lượng khách lưu trú tại các điểm trên còn khiêm tốn. Năm 2024 tổng lượt lưu trú tại 3 điểm khảo sát có trên 12 nghìn lượt khách. Nguyên nhân của tình trạng này có mặt chủ quan và khách quan. Đầu tiên, chúng ta đều biết về vị trí tự nhiên và khoảng cách giữa các điểm du lịch không xa nhau. Khoảng cách giữa các điểm trung bình khoảng 30km. Điểm xa nhất từ thành phố Bắc Giang đến khu du lịch sinh thái ồng Thông khoảng 80km.
Với 60 nghìn lượt khách (bảng 2 phụ lục) đi theo du lịch các tuyến thì đây vẫn còn là con số khiêm tốn. Với các tuyến du lịch với điểm đầu và điểm cuối từ thành phố Bắc Giang và kết thúc hành trình. Hầu hết các tour đều ngắn ngày. Nhìn bảng thống kê cho thấy các tour thu hút lượng khách du lịch chênh lệch. Nếu như tour Bắc Giang – Đồng Thông – Chùa Đồng (Yên Tử) – Bắc Giang có khoảng 5 ngàn lượt khách thăm quan thì tour Bắc Giang – Chùa Vĩnh Nghiêm – Suối Mỡ có lượng khách gấp 7 lần.
Tương tự, đối với tour Bắc Giang – chùa Vĩnh Nghiêm – Suối Mỡ (phụ lục 4), cũng lịch trình 1 ngày giống như Bắc Giang – ồng Thông – Chùa ồng – Bắc Giang nhưng có lượng du khách đông hơn hắn là vì: cự ly ngắn, sức hút từ chùa Vĩnh Nghiêm với Mộc bản lớn, bên cạnh đó khu du lịch Suối Mỡ đã có hệ thống phục vụ du lịch chuyên nghiệp với đầy đủ hạ tầng du lịch.
2.3.3.2. Đặc điểm nguồn khách du lịch Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Qua khảo sát thực tế, luận văn có nhận xét sơ bộ về mục đích của khách du lịch đến khu vực phía Tây Yên Tử như sau: khách du lịch đến khu vực Tây Yên Tử thường có nhiều mục đích khác nhau như: tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa; mục đích thư giãn tinh thần bởi các yếu tố thiên nhiên hùng vĩ của vùng sơn cước, đa sắc tộc; hay tìm kiếm sự khác lạ về nét văn hóa cộng đồng, các lễ hội của dân tộc Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí hoặc lênh đênh trên chiếc thuyền dạo trên hồ Khuôn Thần, Cấm Sơn…
Biểu đồ 2.2: Mục đích đi du lịch của khách du lịch đến khu vực phía Tây Yên Tử năm 2024
Biểu đồ trên cho thấy, mục đích đi du lịch của khách trong và ngoài nước đến khu vực Tây Yên Tử rất khác nhau. Đối với khách du lịch nội địa, mục đích đi du lịch để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng chiếm tỷ lệ cao 34%. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi khu vực phía Tây Yên Tử là mảnh đất linh thiêng huyền bí, mang dấu ấn của phật giáo.
Khu vực phía Tây Yên Tử cũng là mảnh đất của các di tích, lịch sử văn hóa, truyền thống của người bản địa. Các di tích có thể kể đến như hùa Vĩnh Nghiêm, Chùa Khám Lạng, Chùa Nguyệt Nham, chùa Am Vãi…Xung quanh các di tích này là các làng xã có những phong tục, tập quán cổ xưa gắn với lịch sử vương triều Trần (Thế kỷ 13) và những di tích đình, đền, chùa gắn với di sản văn hóa phi vật thể mang đặc trưng văn hóa vùng miền đã làm nên sức hấp dẫn của khu vực này và là yếu tố thu hút 39% khách nội địa.
Bên cạnh việc tham quan các di tích lịch sử văn hóa, khách du lịch còn bị hấp dẫn bởi sự đa dạng của cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của khu vực với sinh cảnh tiêu biểu như Cao nguyên ồng Cao; Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ; Thác nước Ba Tia; Thác Giót; Suối Nước Vàng… Do vậy mà du khách tham quan danh thắng và nghỉ dưỡng chiếm 23%.
Còn lại 4% là khách nội địa đến khu vực Tây Yên Tử vì mục đích khác. Đối với khách nước ngoài, mục đích tìm hiểu văn hóa thông qua các di tích lịch sử văn hóa chiếm 42%. Mục đích du lịch đến khu vực Tây Yên Tử để tìm thăm quan các danh lam, thắng cảnh của khu vực là lựa chọn thứ hai 38%. Nhu cầu tìm hiểu tôn giáo, tín ngưỡng chiếm 12% và du lịch vì mục đích khác chiếm 8%. (Xem bảng 4 phụ lục 2)
Tuy nhu cầu tìm hiểu khác nhau của du khách trong và ngoài nước, nhưng điều quan tâm chung của khách vần là du lịch văn hóa. Điều này cho thấy nhu cầu du lịch văn hóa trong thị trường du lịch ở khu vực phía Tây Yên Tử là thực sự cần thiết.
Hiện nay, thị trường khách du lịch nội địa chủ yếu là khách từ trung tâm du lịch Hà Nội và các vùng phụ cận, khách từ trung tâm du lịch Hải Dương, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Thành phần, đối tượng chủ yếu là khách đi dự các lễ hội, thăm các di tích lịch sử văn hóa, thăm thân, đi với mục đích công tác, làm ăn; học sinh, sinh viên đi dã ngoại, học tập ngoài trời. Ngày lưu trú của khách nội địa đến tỉnh thấp, trung bình 1,4 – 1,52 ngày, do sản phẩm du lịch chưa được đầu tư, kém hấp dẫn, đơn điệu, cơ sở lưu trú thiếu tiện nghi. Khách quốc tế đến khu vực phía Tây Yên Tử trong những năm qua nhìn chung vẫn còn ít. Số ngày lưu trú của khách ở khách sạn cũng rất thấp, trung bình 1,2 ngày. Điều này phụ thuộc vào tài nguyên du lịch một phần, nhưng chủ yếu là do cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chưa đáp ứng nhu cầu của họ. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Về nguồn khách du lịch quốc tế đến Bắc Giang thì dàn trải trên nhiều thị trường, nhiều nhất là khách du lịch Trung Quốc, Đài Loan, Đức.. chưa có thị trường khách du lịch tiềm năng. Động cơ mục đích của khách du lịch quốc tế chủ yếu tìm hiểu cơ hội đầu tư kết hợp du lịch, tham quan di tích
2.3.3.3. Chi tiêu của du khách
Đối với các điểm du lịch, chi tiêu của du khách luôn là vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của từng điểm. Thực tế cho thấy, với sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và hạn chế về hình ảnh, du khách thường lựa chọn cách thức mang theo đồ ăn uống đã chuẩn bị sẵn từ nhà hơn là tiêu dùng các dịch vụ tại điểm du lịch. Lý giải vấn đề này có hai nguyên nhân. ầu tiên, đối với các điểm du lịch tâm linh, tâm lý chuẩn bị lễ ở nhà thường đượng du khách chuẩn bị chu đáo và e ngại về hệ thống dịch vụ quanh đền/chùa. Tiếp nữa, thói quen thụ lộc sau khi dâng lễ cũng là tâm lý phổ biến khi đi tham quan tại các điểm di tích.
Qua thống kê (bẳng 3 phụ lục) cho thấy, du khách đã chi tiêu cho các khoản mục chủ yếu là ăn uống và mua sắm. Ở khu du lịch sinh thái Suối Mỡ, du khách chi tiêu 32,3% tổng số tiền cho mua sắm và sản phẩm để làm quà thì chi 20% số tiền cho ăn uống. Còn các khoản chi tiêu cho di chuyển, vé vào cửa, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số 150 nghìn đồng/ người. Chúng ta thấy một vài vấn đề như: Với tổng số tiền chi tiêu một ngày du lịch ở Suối Mỡ là rất khiêm tốn; sản phẩm du lịch được sử dụng tại các điểm du lịch còn hạn chế.
2.3.4. Sản phẩm, tour tuyến du lịch
Sở VHTTDL Bắc Giang đã phối hợp với Sở VHTTDL Hà Nội, Lạng Sơn tổ chức Hội thảo liên kết phát triển du lịch Bắc Giang – Hà Nội – Lạng Sơn ; các Sở VHTTDL 3 tỉnh, thành phố đã ký biên bản cam kết hợp tác trong việc chỉ đạo các đơn vị kinh doanh du lịch liên kết hợp tác phát triển, hướng tới việc tổ chức ký cam kết với các tỉnh còn lại là Thái Nguyên, Quảng Ninh. Qua 2 năm liên kết hợp tác phát triên du lịch cùng Hà Nội và Lạng Sơn, du lịch Bắc Giang cũng đã có những kết quả cụ thể đáng khích lệ thể hiện trên nhiều phương diện; phối hợp chỉ đạo các Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch, các công ty lữ hành của các tỉnh, thành phố ký biên bản liên kết; đi khảo sát các tour, tuyến, điểm du lịch nhằm xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, liên kết phát triển dịch vụ, du lịch. Trước mắt tập trung theo tuyên liên tỉnh Hà Nội – Bắc Giang – Lạng Sơn; Thái Nguyên – Bắc Giang – Hải Dương – Quảng Ninh. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Trong những năm qua, Sở VHTTDL – Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo đã chủ động, tích cực trong việc liên kết, hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố nhằm trao đổi kinh nghiệm, mở rộng mối quan hệ giao lưu hợp tác, kết nối tour, tuyến với các tỉnh nhằm xây dựng sản phẩm du lịch vừa mang tính liên vùng, vừa mang nét đặc trưng riêng của du lịch Bắc Giang.
Đến nay Bắc Giang đã và đang triển khai nhiều công trình, dự án đầu tư cho phát triển sản phẩm du lịch sinh thái và du lịch văn hóa tâm linh như: Dự án xây dựng Thiền viện Trúc lâm Phượng Hoàng, Quy hoạch xây dựng bảo tồn di tích, danh thắng chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng); Dự án xây dựng Khu văn hóa tâm linh Tây Yên Tử; Quy hoạch chi tiết xây dựng Dự án du lịch sinh thái rừng Khe Rỗ (Sơn Động);…Sau khi dự án nâng cấp T293 nối QL 1A từ trung tâm thành phố Bắc Giang hoàn thành thì việc kết nối các điểm du lịch nói trên cùng với việc liên kết các điểm du lịch của các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên sẽ có sản phẩm du lịch sinh thái, văn hóa tâm linh mới hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.
Việc liên kết hợp tác phát triển du lịch cùng các tỉnh bạn đã tạo cho du lịch Bắc Giang có những kết quả cụ thể đáng khích lệ; Hiệp hội Du lịch và một số công ty lữ hành giữa các tỉnh, thành phố đã ký biên bản hợp tác kinh doanh; nhiều công ty đã đi khảo sát các tour tuyến, điểm du lịch nhằm xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, liên kết phát triển dịch vụ, du lịch tập trung theo tuyến Hà Nội – Bắc Giang – Lạng Sơn và Thái Nguyên – Bắc Giang – Hải Dương – Quảng Ninh. ã xây dựng và phát hành bản đồ du lịch Hà Nội – Bắc Giang – Lạng Sơn với chủ đề « Ba địa phương, một điểm đến » năm 2024. Trong tỉnh tập trung theo 4 tuyến chính là: thành phố Bắc Giang – Yên Dũng – Lục Nam – Lục Ngạn – Sơn ộng; thành phố Bắc Giang – Lục Ngạn – Sơn ộng; thành phố Bắc Giang – Việt Yên – Hiệp Hòa; thành phố Bắc Giang – Lạng Giang – Yên Thế.
2.3.5. Tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa
2.3.5.1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Bắc Giang là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân cấp tỉnh thực hiện quản lý Nhà nước về: văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm) ở địa phương, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật.
Dưới Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch còn có Ban quản lý du lịch ở địa phương. Tuy nhiên, không phải địa phương nào có điểm du lịch đều có Ban quản lý du lịch. Ban quản lý du lịch Bắc Giang được thành lập theo quyết định số 79/Q – UBND ngày 18/8/2018 của UBND tỉnh Bắc Giang, là đơn vị sự nghiệp có thu. Về chuyên môn chịu sự hướng dẫn của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc thi hành các chính sách, chủ trương của ngành. Về mặt tổ chức nhân sự chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Uỷ ban Nhân dân tỉnh.
Sơ đồ 2.2 : Tổ chức của Ban quản lý du lịch Bắc Giang Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch là đơn vị không có chức năng quản lý nhà nước về du lịch, nhưng có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện về xúc tiến thương mại, du lịch và đầu tư. Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân. Trung tâm có chức năng tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, chiến lược xúc tiến, quảng bá du lịch đã được iám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch phê duyệt; hướng dẫn hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trong công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch ở trong và ngoài nước; triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch của tỉnh; đồng thời tiếp nhận và quản lý các nguồn kinh phí từ các tổ chức trong nước và quốc tế hỗ trợ phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ 2.3: Tổ chức của Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch Bắc Giang
2.3.5.2. Chính quyền địa phương
UBND huyện, thành phố là cơ quan trực tiếp chỉ đạo và quản lý các khu, điểm du lịch thông qua Phòng Văn hóa – Thể thao và Du lịch của huyện, của thành phố. Phòng Văn hóa – Thể thao và Du lịch được sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố, huyện quản lý nhà nước về du lịch tại các khu, điểm du lịch, có trách nhiệm thông tin và kiểm tra việc thực hiện những quy định nhà nước về du lịch ở các khu, điểm du lịch trên địa bàn huyện, thành phố. Chính quyền địa phương tại phường, xã là đơn vị gần gũi với các hoạt động du lịch văn hóa ở địa phương và có trách nhiệm giữ vững an ninh, bảo vệ môi trường du lịch trong sạch, lành mạnh cho du khách. Thực tế trong nhiều năm qua, chính quyền địa phương vẫn chưa nỗ lực trong việc quản lý kinh doanh của các đơn vị phục vụ du lịch.
2.3.5.3. Các cơ sở và đơn vị kinh doanh du lịch
Tuyên truyền quảng bá là cơ sở quan trọng để các công ty kinh doanh du lịch bán sản phẩm và mang về lợi nhuận tối ưu cho công ty của mình. Vì thế những nhà kinh doanh du lịch được xem là những người nhạy bén trong việc tuyên truyền, quảng bá sản phẩm và điểm đến du lịch. Đến nay, toàn tỉnh có 223 cơ sở lưu trú với 2.240 buồng nghỉ, trong đó có 09 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao, 04 khách sạn 1 sao, một số trung tâm vui chơi giải trí bước đầu hình thành, dịch vụ ăn uống, đi lại cho khách tăng nhanh, đã có 17 công ty tham gia hoạt động kinh doanh du lịch, lữ hành, kinh doanh vận tải khách du lịch như công ty ổ phần du lịch Bắc Giang, Công ty cổ phần Hữu Nghị, ông ty TN Thương mại và dịch vụ Hoàng Long… đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch.
Các công ty du lịch tiến hành thiết kế website, giới thiệu và bán sản phẩm du lịch của mình cho khách du lịch trong nước cũng như quốc tế; tham gia các hội chợ triển lãm, các cuộc hội thảo; thiết kế sản phẩm lưu niệm. Tuy vậy thì cách quảng bá hình ảnh du lịch địa phương của các công ty lữ hành thường hạn chế và thường mang tính thời vụ. Các công ty này vẫn chưa mặn mà với việc quảng bá hình ảnh du lịch địa phương đến với du khách. Điều này ít nhiều làm giảm tính năng động của sản phẩm và không thể đến được với khách du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
2.3.6. Xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa
Nhận thức được tầm quan trọng của xúc tiến, quảng bá du lịch đối với sự phát triển của du lịch cũng như sự tăng trưởng của lượng khách du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành lập Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch trực thuộc Sở theo quyết định số 39/Q -UBND ngày 29/5/2019 – là đơn vị chuyên trách về xúc tiến, quảng bá, giới thiệu hình ảnh du lịch Bắc Giang.
Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch được quan tâm hơn từ khi thành lập Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch của tỉnh. Trung tâm đã phối hợp với các cơ quan báo, đài, tạp chí chuyên ngành ở trung ương và địa phương giới thiệu về các danh lam thắng cảnh, các điểm di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống của tỉnh. Phối hợp xây dựng phim tài liệu tuyên truyền về vùng đất, con người, cảnh đẹp ở Bắc Giang; phối hợp thực hiện các chương trình truyền hình, các phim tài liệu, phóng sự như: Miền đất Bắc Giang, Khám phá Tây Yên Tử, Ngược dòng sông Lục; các di tích, danh thắng như chùa Vĩnh Nghiêm, khu du lịch Suối Mỡ,….
Trang Web chuyên về du lịch Bắc Giang được hình thành và duy trì hoạt động hiệu quả đã thu hút được đông đảo du khách, nhà đầu tư quan tâm truy cập. Hiện trung bình mỗi ngày Website du lịch Bắc Giang có khoảng 15000 lượt người truy cập.
Tổ chức các hội thảo về định hướng phát triển du lịch của tỉnh; tham gia hội chợ, triển lãm, hội thảo trong nước để tuyên truyền quảng bá, giới thiệu các sản phẩm du lịch Bắc Giang như: Lễ hội Festival Trà Thái Nguyên 2021, Nhịp cầu xúc tiến Thương mại – Đầu tư và Du lịch tại tỉnh Nghệ An, Tuần văn hóa Thể thao Du lịch Hải Phòng lần thứ 2 năm 2021, Hội chợ Thương mại Du lịch quốc tế Quảng Ninh 2020, 2021…Tại các hội chợ đã phát hàng ngàn băng đĩa hình, tờ rơi, tờ gấp giới thiệu về du lịch Bắc Giang.
Kết quả công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch: Trong giai đoạn 2019 -2021 tỉnh đầu tư trên 70 tỷ đồng (ngân sách nhà nước) xây dựng hạ tầng khu Suối Mỡ, khu Di tích lịch sử khởi nghĩa Yên Thế, hạ tầng kỹ thuật khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, khu du lịch Khuôn Thần. Đầu tư khoảng 67 tỷ đồng từ ngân sách cho việc nâng cấp, trùng tu tôn tạo các công trình di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn và phát triển các môn nghệ thuật, các giá trị văn hóa phi vật thể như quan họ, ca trù, hát chèo…tạo nền tảng cho phát triển du lịch.
Triển khai xây dựng đường tỉnh 293 nối từ thành phố Bắc Giang đến thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động và các tuyến nhánh đến chùa Vĩnh Nghiêm, khu Đồng Thông thuộc Tây Yên Tử; 5/2024 UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị công bố quy hoạch và tổ chức lễ đặt đá xây dựng khu văn hóa tâm linh Tây Yên Tử. Bên cạnh đó, Bắc Giang đang tiến hành việc xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Tây Yên Tử là Di sản thiên nhiên thế giới. Nhìn chung các hoạt động tuyên truyền, quảng bá chưa được tổ chức chuyên nghiệp; chưa có sự kiện mang tầm cỡ thu hút nhiều du khách, nhà đầu tư đến với Bắc giang; chưa tổ chức được các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư trong lĩnh vực du lịch; công tác tuyên truyền quảng bá du lịch chưa đủ tầm vươn ra thị trường trong nước và quốc tế. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
Nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong tỉnh chưa quan tâm đến công tác tuyên truyền, tham gia các hội chợ, hội thảo tuyên truyền xúc tiến sản phẩm du lịch.
Tiểu kết chương 2
Có thể coi du lịch khu vực phía Tây Yên Tử chủ yếu là du lịch văn hóa. Đơn nữa, cần phải thấy vai trò chủ đạo của loại hình du lịch này đã, đang và sẽ đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội đáng kể cho địa phương. Trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển du lịch tại đây, dù là du lịch với nhiều mục đích khác nhau như tham quan, học tập, nghiên cứu, tìm về nguồn cội, lịch sử, tín ngưỡng tâm linh… đều là du lịch văn hóa, hoặc định hướng tận dụng và khai thác hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của nguồn tào nguyên nhân văn ở khu vực phía Tây Yên Tử đều không thể tách rời du lịch văn hóa được. Nguồn tài nguyên nhân văn phong phú của khu vực phía Tây Yên Tử là tiền đề tốt để du lịch phát triển, đem lại nhiều cơ hội việc làm, nâng cao đời sống kinh tế và hiểu biết xã hội cho người dân địa phương, nâng cao doanh thu đóng góp, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển chung về mọi mặt của tỉnh. Để phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử hiệu quả và chuyên nghiệp, cần đầu tư nâng cấp sản phẩm văn hóa của tỉnh để thoát khỏi sự nghèo nàn đơn điệu về nội dung và hình thức; tăng cường ưu thế về giá trị và tính độc đáo của sản phẩm, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường du lịch ngày càng đa dạng đòi hỏi nhiều vấn đề cần được điều chỉnh, bổ sung và đổi mới. Luận văn: Thực trạng du lịch văn hóa ở khu vực phía Tây Yên Tử.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch văn hóa khu vực phía Tây Yên Tử