Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, kinh tế gặp nhiều khó khăn kéo dài ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới nhưng ngành du lịch vẫn phát triển và ít bị ảnh hưởng so với các ngành tế tế khác. Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO năm 2015 lượng du khách quốc tế đạt hơn 1 tỷ lượt người, tăng hơn 4% so với năm trước đó. Lượng khách du lịch ra nước ngoài (có nghỉ qua đêm) tăng hơn 50 triệu lượt người. Năm 2015 cũng là năm thứ sáu liên tiếp lượng khách du lịch quốc tế đạt mức tăng trưởng hàng năm từ 4% trở lên và Du lịch quốc tế đã tiến triển đến một tầm cao mới, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho nhiều người ở khắp nơi trên thế giới. Cũng theo UNWTO dự báo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Châu Mỹ sẽ tăng mạnh nhất với mức tăng là 4-5% trong những năm tiếp theo, tiếp đến là Châu Âu với mức tăng 3,5-4,5%. Trong khi đó, số liệu tương ứng dự kiến của Châu Phi và Trung Đông đều là 2-5%. Do đó, các quốc gia cần tăng cường chính sách để thúc đẩy ngành du lịch tiếp tục tăng trưởng, bao gồm tăng cường tính bền vững trong hoạt động du lịch (Thu Hương, 2013).
Đối với thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển ngành du lịch đã khẳng định “Du lịch là ngành kinh tế có tính liên ngành liên vùng, là ngành kinh tế tổng hợp, có giá trị kinh tế cao góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của TP.HCM cụ thể: doanh thu ngành du lịch thành phố bình quân tăng 16,4%, chiếm khoảng 39% doanh thu du lịch cả nước, đóng góp 9% vào tăng trưởng GRDP” (Thành ủy TP.HCM, 2016).
Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quy hoạch tổng thể phát triển vùng Đông Nam bộ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã xác định phát triển du lịch bền vững (DLBV) gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và Cần Giờ được xác định là một trong ba trung tâm không gian du lịch của TP.HCM.
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu đến việc phát triển du lịch về Cần Giờ, tuy nhiên chủ yếu đưa ra các vấn đề về chiến lược, sản phẩm và vấn đề môi trường khi phát triển du lịch, chưa quan tâm đến việc khai thác các tiềm năng để phục vụ phát triển du lịch sinh thái bền vững để thu hút khách du lịch. Hiện nay, Cần Giờ là địa phương có nhiều tiềm năng nhất để phát triển hoạt động phát triển du lịch sinh thái bền vững của TP.HCM. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Du lịch sinh thái bền vững mang lại nguồn kinh tế to lớn, tạo cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân địa phương và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa cộng đồng.
Tuy nhiên việc khai thác tiềm năng vào phục vụ du lịch tại Cần Giờ chưa đạt hiệu quả cao do nhiều nguyên nhân như quy mô đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng; quy hoạch chưa đồng bộ; đội ngũ quản lý chưa nhận thức đầy đủ về Du lịch sinh thái, công tác tổ chức quản lý tại các điểm tài nguyên còn yếu kém, người dân địa phương chưa nhận thức tầm quan trọng của mình trong hoạt động Du lịch sinh thái tại địa phương (UBND huyện Cần Giờ, 2016).
Vấn đề đặt ra là thực trạng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái tại Cần Giờ chưa đi đúng hướng và cần có giải pháp đúng đắn trong việc khai thác tiềm năng để phục vụ phát triển Du lịch sinh thái bền vững tại đây. Đề tài “Giải pháp khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ” được tác giả nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn trên, nhằm góp phần vào công tác nâng cao và phát triển Du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ. Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn trong việc đánh giá và phân tích thực trạng khai thác du lịch sinh thái tại đây qua đó đưa ra giải pháp thiết thực.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu của đề tài:
2.1 Mục tiêu chung:
Đưa ra các giải pháp thiết thực để phát triển Du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững.
- Đánh giá thực trạng khai thác du lịch sinh thái tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp khai thác tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái bền vững tại khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tiềm năng để phát triển hoạt động Du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ. Từ đó đề xuất ra những giải pháp thiết thực để phát triển hoạt động Du lịch sinh thái bền vững tại địa bàn nghiên cứu.
Các chủ thể tham gia vào công tác quản lý, khai thác tài nguyên, phát triển hoạt động Du lịch sinh thái gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và khách du lịch đến với Cần Giờ.
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
- Về không gian:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trên địa bàn huyện Cần Giờ thuộc TP.HCM mà cụ thể hơn là Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
- Về thời gian:
Nhóm nghiên cứu thu thập các tài liệu thứ cấp và sơ cấp về tiềm năng và thực trạng phát triển Du lịch sinh thái trong giai đoạn 2012 – 2016 và một số tài liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017.
Các nội dung định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Cần Giờ được đề xuất cho giai đoạn đến năm 2025.
4. Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
4.1 Tài liệu nước ngoài:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái theo hướng bền vững trên thế giới. Một số nghiên cứu có thể kể đến như:
Trong nghiên cứu: “Du lịch sinh thái – cân bằng các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội trong khuôn khổ đạo đức” Pamela A. Wight (1997) đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng phát triển Du lịch sinh thái bền vững, trong đó 3 nhóm mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường được coi là có tầm quan trọng như nhau, phải được giải quyết một cách cân đối để đạt được sự phát triển bền vững, bao gồm: Kinh tế cộng đồng; Bảo tồn hợp lý; Kết hợp
Biểu đồ 1.1. Mô hình của Pamela A. Wight về các nguyên tắc và giá trị du lịch sinh thái bền vững
Trong nghiên cứu của Hill (2011) “Du lịch sinh thái ở khu vực Amazon Peru sự kết hợp giữa du lịch, bảo tồn và phát triển cộng đồng”: đã đề xuất một số nguyên tắc chủ yếu nhằm đạt được thành công trong quá trình phát triển du lịch sinh thái bền vững ở khu vực rừng nhiệt đới. Cụ thể, những nguyên tắc đó là tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái, trao đổi nhận thức giữa cộng đồng và người điều hành tour du lịch, đồng quản lý tài nguyên rừng, kết hợp đào tạo và du lịch, giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường và hệ sinh thái. Nghiên cứu này nhấn mạnh mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển cộng đồng địa phương.
Bhuiyan và đồng sự (2011) “Vai trò của chính phủ trong phát triển du lịch sinh thái”: nghiên cứu điểm ở khu vực kinh tế duyên hải đã khẳng định sự can thiệp của Chính phủ là rất cần thiết đối với các quốc gia đang phát triển trong việc lập kế hoạch và xúc tiến hoạt động du lịch sinh thái. Cụ thể, ở Malaysia, sự can thiệp chủ yếu của Chính phủ trong lĩnh vực phát triển du lịch sinh thái là phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, thúc đẩy khả năng tiếp cận du lịch, đào tạo, xúc tiến du lịch, phát triển du lịch bền vững. Nghiên cứu cũng đề xuất Chính phủ nên xây dựng một kế hoạch hành động du lịch sinh thái bền vững, xây dựng năng lực thể chế, đầu tư cho các dự án du lịch sinh thái ở các khu rừng đặc dụng, phát triển nguồn nhân lực…Đặc biệt, Chính phủ nên đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái của cộng đồng địa phương thông qua việc tham gia phát triển Du lịch sinh thái bền vững. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Chase và đồng sự (1998) cũng áp dụng phương pháp tương tự “Cầu về du lịch sinh thái và nguyên tắc phân biệt giá trong thu phí vào cổng vườn quốc gia ở Costa Rica”. Tuy nhiên, Chase và đồng sự không chỉ đề xuất khung mức bằng lòng chi trả mà còn xây dựng được hàm cầu về du lịch sinh thái đối với vườn quốc gia và đánh giá được độ co giãn của cầu theo thu nhập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tính toán mức phí nhằm tối đa hóa doanh thu và phân tích ứng dụng của nguyên tắc phân biệt giá đối với quản lý du lịch sinh thái trong vườn quốc gia. Tác giả cũng kết luận mức phí vào cổng hiện hành không phản ánh chính xác mức bằng lòng chi trả của du khách.
Ozcan và đồng sự (2009) “Tiềm năng du lịch sinh thái và quản lý du lịch sinh thái ở hạ lưu sông Kavak (Thổ Nhĩ Kỳ)”: nhận thấy rằng cần phải thực hiện một hệ thống các giải pháp để có thể phát huy tối đa tiềm năng du lịch sinh thái. Các giải pháp đó bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái đáp ứng nhu cầu của du khách, thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tác động tiêu cực của hoạt động du lịch sinh thái tới bảo tồn chim hoang dã, đồng thời đặt những biển quảng bá thông tin về tính đặc hữu của loài chim trong khu bảo tồn. Bên cạnh đó, dù có tiềm năng du lịch sinh thái rất lớn nhưng khu vực nghiên cứu cũng chịu sự ảnh hưởng của các hoạt động của người dân sống lân cận như canh tác nông nghiệp, chăn nuôi gia súc và săn bắn. Chính vì vậy, những hoạt động nông nghiệp có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới việc phát triển du lịch sinh thái cần phải được loại bỏ.
Samdin và đồng sự (2013) “Sự bền vững của tài nguyên du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Taman Negara: Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation)” đã đánh giá được giá trị kinh tế của tài nguyên du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Taman Negara. Nghiên cứu cũng đã đưa ra được khung mức bằng lòng chi trả cho dịch vụ du lịch sinh thái ở vườn quốc gia và kết luận rằng du khách bằng lòng chi trả mức phí vào cửa cao hơn so với mức phí hiện hành.
4.2. Tài liệu trong nước:
Ở Việt Nam Du lịch sinh thái cũng được sự quan tâm, chú ý từ những năm 90 của thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về Du lịch sinh thái cũng từ đó được thực hiện như:
Trong đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (2005) “Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch khu vực miền Trung – Tây Nguyên”: đã đánh giá tình hình và đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch miền Trung trong đó có Du lịch sinh thái.
Trong nghiên cứu Đề tài khoa học của Phạm Trung Lương (2002) “Cơ sở khoa học và giải pháp triển du lịch bền vững ở Việt Nam”: công trình nghiên cứu này là cơ sở khoa học để tác giả vận dụng phương pháp nghiên cứu, cơ sở lý luận, tìm hiểu các khái niệm để phục vụ cho luận văn. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Các tác giả với đề tài luận án tiến sĩ: Nguyễn Tưởng (1999) “Cơ sở khoa học của việc tổ chức không gian du lịch dải ven biển Thừa Thiên Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam”; Trần Tiến Dũng (2007) “Phát triển du lịch bền vững tại Phong Nha – Kẻ Bàng”: các tác giả đã trình bày vai trò của việc nghiên cứu tài nguyên trong việc thúc đẩy sự phát triển hoạt động du lịch ở một số địa phương trong vùng du lịch Bắc Trung Bộ.
Trong đề tài nghiên cứu của Nguyễn Quyết Thắng (2012) “Nghiên cứu tiềm năng và các giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại một số trọng điểm vùng du lịch Bắc Trung Bộ”: đã đưa ra định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Bắc Trung Bộ.
Tác giả Nguyễn Đình Hòa (2006) “Du lịch sinh thái – thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam”: tác giả đã phân tích điều kiện và giải pháp phát triển du lịch sinh thái của Việt Nam nhưng trong nghiên cứu này tác giả cũng chưa làm nổi bật được hoạt động này của Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Văn Hợp (2014) “Giải pháp quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia Việt Nam theo hướng phát triển bền vững”: tác giả đi sâu phân tích phát triển du lịch sinh thái bền vững cho các Vườn Quốc gia, cụ thể là Vườn Quốc gia Cúc Phương.
Tác giả Nguyễn Thị Tú (2006) “Những giải pháp phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập của”: Tác giả đã phân tích khá chi tiết điều kiện phát triển du lịch sinh thái và xu thế phát triển du lịch sinh thái Việt Nam trong xu thế hội nhập. Tuy nhiên tác giả chưa làm rõ được tiềm năng Du lịch sinh thái tại các VQG cũng như việc quản lý và khai thác tiềm năng du lịch này.
Đề tài luận văn thạc sỉ của học viên cao học Trường Đại học Lạc Hồng với đề tài “Phát triển du lịch sinh thái tỉnh Phú Yên – Thực trạng và Giải pháp” của Nguyễn Thị Lệ Chi (2013): tác giả đánh giá, nhận xét và đưa ra các giải pháp khá sơ lược về phát triển du lịch sinh thái Phú Yên.
Báo cáo khoa học của nhóm Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Nguyễn Thanh Hùng, Huỳnh Thị Minh Hằng, Lâm Minh Triết (2008) “Phát triển du lịch Cần Giờ theo hướng thân thiện với môi trường”: đã khái quát được ảnh hưởng của du lịch đối với môi trường sinh thái của rừng ngập mặn Cần Giờ.
Đề tài luận văn thạc sỉ của học viên cao học Trường ĐH Kỹ thuật Công Nghệ TP.HCM với đề tài “Chiến lược phát triển du lịch sinh thái Cần Giờ đến năm 2020” của Nguyễn Văn Chính (2013): đã đưa ra chiến lược và định hướng phát triển du lịch của Cần Giờ.
5. Điều mới của luận văn: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Về mặt lý luận: luận văn tập hợp các cơ sở lý luận về khai thác và phát triển Du lịch sinh thái bền vững trên nhiều khía cạnh như phương pháp đánh giá tiềm năng trong Du lịch sinh thái, khái niệm và nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến Du lịch sinh thái bền vững. Đồng thời, luận văn cũng trình bày nhiều dẫn chứng về kinh nghiệm khai thác tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái bền vững ở một số nước như Thái Lan, Indonesia, Úc…và một số vùng ở Việt Nam. Qua đó, rút kinh nghiệm để vận dụng cho phát triển du lịch sinh thái tại Cần Giờ.
Về thực tiễn: luận văn khai thác một số tài nguyên (rừng, biển, sông suối, thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thảm thực vật) các khu vực có khả năng khai thác và thu hút khách tại khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Phương pháp thu thập số liệu:
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu.
- Thu thập thông tin:
Thông tin và dữ liệu thứ cấp: nguồn số liệu thứ cấp của Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch,
Hiệp Hội Du lịch, Niêm giám thống kê, kỷ yếu hội nghị, hội thảo, tạp chí khoa học qua các bài báo cáo khoa học của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực du lịch. Bên cạnh đó, tham khảo, điều tra và lấy ý kiến của Ban quản lý hoặc Ban Giám đốc tại một số khu du lịch sinh thái tại Cần Giờ nhằm đưa ra những số yếu tố ảnh hưởng và tác động đến phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ hiện nay để từ đó đề xuất và kiến nghị các giải pháp để khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Thông tin sơ cấp: Thông tin và số liệu sơ cấp được thu thập để cung cấp dữ liệu hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại Cần Giờ, đặc điểm về khách, cơ cấu theo giới tính, độ tuổi và các chỉ tiêu khác, các thông tin phỏng vấn để nắm thực trạng khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững.
6.2. Phương pháp nghiên cứu:
6.2.1. Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp được đánh giá cao trong lĩnh vực du lịch hiện nay. Do nhu cầu về du lịch rất nhạy cảm với những biến động về tình hình an ninh – chính trị trên thế giới. Mặt khác, đây là phương pháp rất có ưu điểm trong việc sử dụng để đánh giá các vấn đề có tính “ước định” để làm sáng tỏ các vấn đề có tính chất kinh tế, kỹ thuật phức tạp, đồng thời trắc nghiệm lại các tính toán và những nhận định làm căn cứ cho việc đưa ra các kết luận có tính khoa học và thực tiễn. Vì vậy, luận văn đã thu thập ý kiến rộng rãi của các chuyên gia bao gồm các nhà quản lý nhà nước, doanh nghiệp về du lịch; ban quản lý các khu, điểm du lịch tại Cần Giờ. Trong luận văn này, việc sử dụng phương pháp chuyên gia bởi các lý do sau:
Nhiều điểm tài nguyên du lịch sinh thái đã có chủ trương phát triển, tuy nhiên vẫn chưa có các dự án và luận chứng cụ thể nên thiếu cơ sở để đánh giá các nhân tố và thiết lập các mô hình dự báo chính xác
Phương pháp chuyên gia được sử dụng nhiều phần trong luận văn như đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái: tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực tham gia hoạt động du lịch, nguồn khách nước ngoài đến Cần Giờ trong thời gian tới…làm cơ sở triển khai luận văn. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
6.2.2. Phương pháp Phân tích – Tổng hợp
Từ các dữ liệu thu thập được từ các báo cáo tổng kết hàng năm về hoạt động du lịch và các Hội thảo về phát triển du lịch tại huyện Cần Giờ trong khoảng thời gian từ 2010 – 2016; từ điều tra bảng hỏi xã hội học; nghiên cứu các tài liệu lý luận và các kết quả nghiên cứu thực tiễn (sách, luận văn, luận án, tạp chí, bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu) trong và ngoài nước luận văn đi sâu đánh giá và phân tích khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
6.2.3. Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau. Trong luận văn này, nhóm nghiên cứu quan tâm, tổng kết các số liệu liên tục từ năm 2012 đến 2017 về sơ sở phục vụ du lịch, lượng khách, doanh thu tại địa bàn nghiên cứu…từ đó, đưa ra nhận định, kết luận, đánh giá chung cho thực trạng phát triển Du lịch sinh thái bền vững tại địa phương.
6.2.4. Phương pháp nghiên cứu thực địa
Tác giả đã tiến hành đi khảo sát, nghiên cứu thực địa nhằm cập nhật hiện trạng phát triển du lịch tại khu vực. So sánh, kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình phân tích hay tính toán; thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại các khu vực nghiên cứu điển hình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu nghiên cứu, phụ lục thì luận văn được thiết kế thành ba chương, gồm có:
- Chương 1.Cơ sở lý luận về khai thác tiểm năng du lịch sinh thái.
- Chương 2. Thực trạng khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
- Chương 3. Một số giải pháp khai thác tiềm năng phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG
1.1. Một số vấn đề cơ bản về du lịch sinh thái
1.1.1. Khái niệm du lịch sinh thái:
Trên thực tế đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu về lĩnh vực du lịch đưa ra các khái niệm như:
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về Du lịch sinh thái (DLST), định nghĩa Du lịch sinh thái lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này.
Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hóa – quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế – xã hội nhân dân địa phương (IUCN,1998).
Trong hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tháng 9/1999, các chuyên gia đã thống nhất và đưa ra định nghĩa về Du lịch sinh thái cho Việt Nam như sau “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, có tính giáo dục môi trường và đóng góp vào các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Lê Văn Lanh, 2000). Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy chế quản lý các hoạt động Du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2007, thì Du lịch sinh thái được hiểu là “Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”.
Như vậy có rất nhiều khái niệm về du lịch sinh thái, tuy nhiên có thể định nghĩa du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm, dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa với sự tham gia của cộng đồng địa phương. Đồng thời, phải gắn với công tác bảo tồn và bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững”.
Trên đây là một số khái niệm về du lịch sinh thái, tuy nhiên, để có thể nhận định đúng về hoạt động du lịch ở điểm tài nguyên nào đó là du lịch sinh thái hay du lịch tự nhiên thì cần phải dựa trên các đặc trưng của du lịch sinh thái.
1.1.2. Các đặc trưng của du lịch sinh thái:
Từ các định nghĩa về Du lịch sinh thái nói trên, tuy được phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều thống nhất một số đặc trưng cơ bản của Du lịch sinh thái như sau:
Thứ nhất: Du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên; du khách đến các điểm tài nguyên thiên nhiên (TNTN) như các vườn quốc gia, khu bảo tồn, các vùng hoang dã để tìm hiểu, trãi nghiệm với thiên nhiên.
Thứ hai: Hoạt động Du lịch sinh thái đem lại lợi ích về kinh tế xã hội cho cộng đồng; góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương; đóng góp vào sự tiến bộ, chăm sóc sức khỏe và phúc lợi công cộng cho cư dân nơi có tổ chức các loại hình hay chương trình Du lịch sinh thái. Đối với một hoạt động du lịch nếu chỉ dựa vào hai đặc trưng trên thì được gọi là du lịch dựa vào tự nhiên, du lịch đại chúng (mass tourism) chưa phải là Du lịch sinh thái.
Thứ ba: Các tổ chức cung ứng, các đơn vị doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý nguồn tài nguyên, cư dân địa phương và khách du lịch tham gia vào Du lịch sinh thái phải có trách nhiệm tích cực thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường, giảm thiểu các tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và văn hóa.
Thứ tư: Các chương trình hoạt động cần có giảng giải về môi trường và văn hóa địa phương của vùng để làm tăng kiến thức của du khách. Có giáo dục môi trường cho các đối tượng: cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
Thứ năm: Cần có các phương tiện chuyên biệt và việc sắp xếp để hỗ trợ các chương trình hoạt động du lịch sinh thái như các trung tâm thông tin, diễn giải môi trường đường mòn tự nhiên, các tài liệu in ấn về du lịch sinh thái.
Thứ sáu: Du lịch sinh thái đòi hỏi các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của điểm tới thăm thường xuyên được nghiên cứu và giám sát. Các hướng dẫn viên đóng vai trò là người trung gian giữa thiên nhiên, cộng đồng của vùng và khách du lịch; ngoài việc hướng dẫn giới thiệu, họ còn có vai trò giám sát các hoạt động của du khách.
Căn cứ vào các đặc trưng trên, khi xem xét hoạt động du lịch ở một điểm tài nguyên thiên nhiên có thể nhận định đúng về hoạt động đó là du lịch sinh thái hay là du lịch tự nhiên hoặc du lịch dựa vào thiên nhiên. Nếu chỉ có đặc trưng 1 và 2 thì hoạt động du lịch ở điểm tài nguyên đó không đựơc xem là du lịch sinh thái mà thực chất là du lịch tự nhiên, du lịch đại chúng. Nếu đã đạt được thêm đặc trưng 3 và một vài đặc trưng khác thì ta có thể đánh giá ở khu vực đó đã có hoạt động du lịch sinh thái nhưng chưa hoàn chỉnh.
1.1.3. Các loại hình du lịch sinh thái: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Loại hình Du lịch sinh thái về thực chất là loại hình có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hòa nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá đó. Chính loại hình du lịch này cũng là loại hình du lịch bền vững mà hiện nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm vừa đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở vùng có du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng, đồng thời chú trọng tới việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
Loại hình Du lịch sinh thái có nhiệm vụ:
- Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên.
- Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng.
- Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch.
Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói trên, loại hình Du lịch sinh thái vừa đảm bảo sự hài lòng đối với du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch và cũng là cơ hội tăng thu nhập cho người dân thông qua hoạt động du lịch, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch.
Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoàn hảo về loại hình Du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm 1997-1998 Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm chuyển mạnh sang loại hình Du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện của sự phát triển du lịch.
Bảng 1.2. Các loại hình du lịch sinh thái
Tuy nhiên, trên phương diện lý luận, đã có một số nghiên cứu đề cập đến việc phân chia các loại hình của Du lịch sinh thái và để tìm hiểu bản chất bên trong của các loại hình người ta đã đi sâu xem xét các “thứ nguyên” trong mỗi hình thức du lịch như “chủ đề cần quan tâm, các động cơ, địa điểm hoặc bối cảnh, mức độ cố gắng về thể lực” (Pamela A. Wight, 1997). Để thuận tiện cho việc nghiên cứu tổng quát cũng như thực tế tổ chức hoạt động Du lịch sinh thái thì hình thức phân chia các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi vẫn được sử dụng phổ biến (Hiệp hội Du lịch Sinh thái, 1999a) như du lịch nghỉ núi, nghỉ biển; du lịch vãn cảnh; du lịch nghiên cứu, tìm hiểu thiên nhiên, động thực vật); du lịch mạo hiểm. Ngoài ra, người ta có thể cụ thể hơn các loại hình trên như du lịch vãn cảnh làng quê; du lịch nghiên cứu động thực vật (của khu bảo tồn, vùng, miền).
1.2. Vấn đề khai thác tiềm năng du lịch sinh thái: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
1.2.1. Các khái niệm về tiềm năng du lịch, tài nguyên thiên nhiên :
Khái niệm về tiềm năng du lịch: Theo nghĩa rộng, tiềm năng là tổng hợp tất cả các điều kiện bên trong và bên ngoài có giá trị khai thác, sử dụng và phát triển, còn là một trong những điều kiện trực tiếp để phát triển du lịch. Tiềm năng du lịch bao hàm: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên du lịch, con người, thị trường, các điều kiện về kinh tế – xã hội.
Khái niệm về tài nguyên thiên nhiên: là những giá trị hữu ích của môi trường tự nhiên có thể thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của con người bằng sự tham gia trực tiếp của chúng vào các quá trình kinh tế và đời sống nhân loại.
1.2.2. Phân loại tài nguyên du lịch, tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên du lịch: có 2 loại
Tài nguyên du lịch tự nhiên: thiên nhiên là môi trường sống của con người và của mọi sinh vật trên trái đất, thiên nhiên bao gồm các yếu tố và các thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các quá trình biến đổi của chúng tạo nên các điều kiện tự nhiên tác động đến sự sống, hoạt động của con người, các thành phần tự nhiên tạo nên tài nguyên du lịch bao gồm:
- Địa hình: là các vùng núi có phong cảnh đẹp, hệ thống hang động, bãi biển, di tích tự nhiên.
- Khí hậu: gồm tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng, du lịch, thể thao, giải trí.
- thủy văn: gồm mặt nước và các bãi nông ven bờ, các điểm nước khoáng.
- Sinh vật: gồm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở hệ sinh thái đặc thù.
Tài nguyên du lịch nhân văn: là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Đó là toàn bộ sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra, điều được coi là những sản phẩm văn hóa, tài nguyên du lịch nhân văn được chia thành những nhóm cụ thể như sau:
- Các di tích lịch sử văn hóa bao gồm các di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương.
- Các lễ hội: làng nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, trạm khắc đá, nghề mộc, nghề kim hoàn.
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học.
- Các đối tượng văn hóa – thể thao và hoạt động nhận thức.
Tài nguyên thiên nhiên: Có 2 loại tài nguyên lớn: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Dựa vào những đặc tính và tính chất của tài nguyên, con người đã vận dụng giá trị vốn có của nó để phát huy tối đa các giá trị đó vào trong mục đích khai thác và bảo tồn. Trong du lịch sinh thái, con người muốn được trở về với thiên nhiên để tìm cảm giác thư thái và thoải mái do thiên nhiên mang lại như con người biết sử dụng nguồn năng lượng mặt trời để làm hệ thống nước nóng lạnh tại các cơ sở lưu trú du lịch vừa tiết kiệm điện vừa bảo vệ môi trường hoặc sử dụng các vật dụng làm từ thiên nhiên. Ngoài ra, con người còn biết tận dụng tài nguyên xã hội vào phát triển các loại hình du lịch sinh thái nhằm góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của tài nguyên này, ví dụ như du khách tìm hiểu về con người, đất nước và phong tục, tập quán tại các vùng trên lãnh thổ Việt Nam, đây là động lực để giúp cho nền văn hóa Việt Nam có thể hòa mình vào nền văn hóa chung của thế giới nhưng có sự chọn lọc phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay.
Bảng 1.4. Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Hiểu được tính chất và đặc tính của tài nguyên thì con người sẽ biết cách nên tận dụng loại tài nguyên nào để khai thác và phục vụ cho việc phát triển du lịch sinh thái bền vững vừa bảo tồn, tái tạo và phát triển hợp lý theo đặc tính vốn có của nó nhằm mục đích khai thác lâu dài nhưng vẫn đảm bảo môi trường không bị ảnh hưởng và các loại tài nguyên vẫn tồn tại trong môi trường tự nhiên.
1.2.3. Vai trò của tài nguyên đối với sự phát triển du lịch sinh thái:
Trong phát triển du lịch, vai trò của tài nguyên rất quan trọng đối với việc định hướng phát triển các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch tại địa phương đó, có thể kể đến 3 vai trò chính của tài nguyên đối với sự phát triển du lịch.
Bảng 1.5. 3 Vai trò của tài nguyên đối với sự phát triển du lịch sinh thái
Dựa trên 3 vai trò chính của tài nguyên trong hoạt động phát triển du lịch thì hiện nay Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ đã vạch ra phương hướng phát triển du lịch tại địa phương của mình trong những năm qua và trong giai đoạn 2020-2030 đó là phát triển du lịch sinh thái bền vững, tận dụng các tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng nhằm thu hút khách du lịch đến đây để tham quan và tìm hiểu các loại tài nguyên đặc trưng. Đồng thời, xác định rõ các sản phẩm du lịch cần phát triển như du lịch sinh thái nhà vườn, du lịch đường thủy, du lịch biển, du lịch khám phá với các loại hình lưu trú homestay đang được Ủy ban nhân dân huyện đẩy mạnh trong thời gian vừa qua
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân huyện đang thúc đẩy các công trình dự án về đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch như xây cầu để rút ngắn thời gian khi đến đây và xây các cầu tàu, bến đỗ cho du lịch đường sông, các dự án về xây dựng các khu trung tâm thương mại đang từng bước hoàn thành thủ tục pháp lý để sớm đưa vào xây dựng nhằm phục đích phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí và mua sắm của khách du lịch
1.2.4. Tiềm năng du lịch sinh thái: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Tiềm năng Du lịch sinh thái được hiểu là các yếu tố sẵn có của tự nhiên và xã hội có thể khai thác, sử dụng để phát triển Du lịch sinh thái, đó là tiềm năng về tài nguyên Du lịch sinh thái. Tiềm năng tài nguyên Du lịch sinh thái được phản ánh thông qua chất lượng tài nguyên Du lịch sinh thái, số điểm chứa đựng tài nguyên Du lịch sinh thái và cơ cấu tài nguyên Du lịch sinh thái tại vùng hay địa phương nào đó.
Trong hoạt động du lịch, khái niệm về tiềm năng du lịch đựơc nhiều giáo trình định nghĩa.Trên khía cạnh có tính học thuật khái quát thì tiềm năng du lịch là “Những tài nguyên du lịch chưa khai thác hoặc chưa được khai thác hết, cần phải có thời gian và tiền bạc để đầu tư tôn tạo và đưa vào sử dụng” (Hiệp hội Du lịch Sinh thái, 1999).
Đối với Du lịch sinh thái, tiềm năng của nó chủ yếu dựa vào nguồn tiềm năng ở dạng tài nguyên tự nhiên bao gồm “Bờ biển, hải đảo, núi, cao nguyên, rừng, suối nước nóng và su ối khoáng, khu vực có cảnh quan đẹp, độc đáo, kỳ lạ như các hang động, vực sâu, thác lớn, chim thú quý hiếm, đảo đẹp” (Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải, 1995) và một phần tài nguyên nhân văn mang tính bản địa của cộng đồng xung quanh khu vực tài nguyên. Như vậy, không phải tài nguyên du lịch nào cũng là tiềm năng Du lịch sinh thái. Chỉ có tài nguyên du lịch tự nhiên như biển, hải đảo, núi, cao nguyên, rừng, suối, nước khoáng, khu vực có cảnh quan đẹp, độc đáo và có thể đã được khai thác một phần và chưa khai thác mới là tài nguyên Du lịch sinh thái.
Đứng trên gốc độ cơ sở lý luận trên thì có thể coi tiềm năng Du lịch sinh thái: “Các tài nguyên tự nhiên tại Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ rất đa dạng và phong phú, đã được khai thác nhưng chưa đạt hiệu quả cao, ngay cả một số tài nguyên được đầu tư lớn trong những năm gần đây để phục vụ du lịch sinh thái phát triển nơi đây như: Bãi biển 30/4, Khu du lịch Dần Xây Cần Giờ, Khu Du lịch Vàm Sát Cần Giờ, Khu Di tích lịch sử Vàm Sát Cần Giờ, Lễ Hội Nghinh Ông Cần Giờ, các tour du lịch đường sông, du lịch nhà vườn cũng chỉ được khai thác một phần chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của Cần Giờ. Vì vậy, việc nghiên cứu tiềm năng Du lịch sinh thái trong luận văn chỉ nghiên cứu các giá trị tài nguyên phục vụ cho hoạt động phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
1.2.5. Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái:
Đánh giá tiềm năng Du lịch sinh thái thường được đánh giá theo địa phương hay một vùng du lịch và được tiến hành theo 2 nội dung: đánh giá chất lượng của một số tài nguyên Du lịch sinh thái cơ bản tại địa phương đó và đánh giá tiềm năng Du lịch sinh thái của một địa phương hay một vùng du lịch. Thực chất, đánh giá tiềm năng Du lịch sinh thái là đánh giá mức độ, khả năng thu hút đầu tư và thu hút khách du lịch (KDL) của từng tài nguyên Du lịch sinh thái, của từng địa phương hay một vùng địa phương hay một vùng du lịch.
1.3. Phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
1.3.1. Khái niệm và các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững:
- Khái niệm:
Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) năm 1980, phát triển Du lịch bền vững: là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai”. Theo đó, trong quá trình phát triển phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, bền vững về tài nguyên môi trường và bền vững về văn hóa xã hội.
Theo Tổng cục Du lịch: Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào.
Phát triển du lịch bền vững là mục tiêu lâu dài của ngành du lịch. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch bền vững: “Là loại hình du lịch đáp ứng được nhu cầu hiện tại của du khách và của những vùng đón tiếp mà vẫn bảo đảm và cải thiện nguồn lực cho tương lai. Du lịch bền vững dẫn tới một phương thức quản lý tất cả các nguồn lực sao cho thỏa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ mà vẫn giữ gìn được sự trọn vẹn của văn hóa và môi trường sống” (UNWTO, 2001).
- Các nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái bền vững:
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, muốn phát triển bền vững đòi hỏi sự nổ lực chung của toàn xã hội. Mục tiêu của phát triển bền vững mang tới sự hài hòa giữa kinh tế – xã hội và môi trường nhưng không làm ảnh hưởng tới tương lai.
Tại Hội nghị bàn về các nguyên tắc phát triển bền vững của ngành du lịch Việt Nam năm 2017, Tổng cục Du lịch đã xác định 10 nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững, đây là kim chỉ nam giúp ngành Du lịch phát triển bền vững trong tương lai:
Bảng 1.6. 10 Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Việc khai thác tiềm năng Du lịch sinh thái phải đảm bảo nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, tức là đáp ứng nhu cầu của du khách và các đối tượng tại điểm đến du lịch đồng thời giữ gìn và tôn tạo các cơ hội cho tương lai. Sự bền vững được phản ánh ở 3 mặt: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.
Các điều kiện tiên quyết cho hệ thống Du lịch sinh thái bền vững bao gồm các điều kiện sau:
- 1.Điểm tới thăm có thực hiện việc bảo tồn thiên nhiên.
- 2.Thông tin từ nghiên cứu và quan sát.
- 3.Các hướng dẫn viên am hiểu địa phương.
- 4.Các giới hạn về sử dụng đất đai.
- 5.Các chương trình được thiết lập dựa trên tài nguyên thiên nhiên và văn hoá của khu vực.
- 6.Các phương tiện và việc sắp xếp để hỗ trợ các chương trình hoạt động Du lịch sinh thái.
Đây cũng là những điều kiện mà chúng ta có thể xem xét đối với việc tổ chức các hoạt động Du lịch sinh thái trong điều kiện thực tế tại nước ta.
1.3.2. Du lịch sinh thái và phát triển bền vững: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
1.3.2.1. Du lịch sinh thái và phát triển bền vững:
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch đặc thù vừa có thể trãi nghiệm tự nhiên, vừa quan tâm tới việc bảo vệ môi trường sinh thái (bao gồm hệ thống sinh thái nguyên sinh, bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái văn hóa), khác biệt với các hình thức du lịch tự nhiên khác.
Ngành du lịch phát triển bền vững nghĩa là vừa đáp ứng được nhu cầu phát triển của du lịch hiện tại, vừa không ảnh hưởng tới việc khai thác du lịch và năng lực đáp ứng nhu cầu du lịch của hoạt động du lịch hậu thế (Ủy ban môi trường và phát triển thế giới, 1987).
1.3.2.2.Ý nghĩa của việc nghiên cứu du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền vững:
- Thứ nhất: Có lợi cho việc bảo vệ tài nguyên du lịch và ưu việt hóa môi trường du lịch.
- Thứ hai: Đáp ứng nhu cầu của con người với chất lượng cuộc sống:
- Thứ ba: Có lợi cho việc phát triển ổn định và lành mạnh ngành du lịch:
- Thứ bốn: Có lợi cho việc nâng cao nguồn lợi từ du lịch và thực hiện tiến bộ xã hội.
1.3.3. Vai trò của phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững:
Với tiềm năng to lớn về tự nhiên, cùng với nhu cầu thực tế của cuộc sống, phát triển Du lịch sinh thái là tất yếu và chắc chắn ngày càng được mở rộng tại Việt Nam. Làm sao để phát triển Du lịch sinh thái một cách bền vững là một bài toán khó, nhưng không phải thiếu cách giải, nếu ngay bây giờ, ý thức và trách nhiệm du khách, người kinh doanh, cộng đồng địa phương và cả cơ quan quản lý ở các cấp đều được nêu cao. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Vai trò của Du lịch sinh thái theo hướng bền vững có thể cụ thể trên ba phương diện sau:
Về môi trường: phát triển Du lịch sinh thái theo hướng bền vững giúp bảo vệ môi trường sống. Vì bảo vệ môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống trong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được hưởng lợi từ đó: không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất. Đảm bảo sự hài hòa về môi trường sinh sống cho các loài động thực vật trong vùng cũng là giúp cho môi trường sống của con người được đảm bảo.
Về kinh tế: Phát Du lịch sinh thái theo hướng bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩm đặc trưng của vùng miền. Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, và người dân địa phương có công ăn việc làm.
Mặt khác, việc phát triển Du lịch sinh thái đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của hoạt động du lịch, nó góp phần tạo ra giá trị cộng hưởng, bổ sung với các loại hìnhdu lịch khác, tạo nên sức thu hút, sự hấp dẫn của điểm du lịch. Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC, 2010) hiện tại Du lịch sinh thái chiếm khoảng 20% thị trường du lịch thế giới và dự báo trong vài năm tới sẽ là phân ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong hoạt động du lịch, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của nhiều vùng, nhiều quốc gia.
Về xã hội: phát triển Du lịch sinh thái theo hướng bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân vùng xa vì là một ngành dịch vụ, do đó Du lịch sinh thái có hệ số sử dụng lao động tương đối cao. Theo ước tính của một số chuyên gia, tỷ lệ bình quân về số lao động bình quân trên một khách Du lịch sinh thái từ 0,863 đến khoảng 1,108. Tỷ lệ này theo đánh giá còn cao hơn đối với nhiều quốc gia nơi nền công nghiệp du lịch chủ yếu dựa vào Du lịch sinh thái. Với hệ số sử dụng lao động cao, Du lịch sinh thái đã trở thành một biện pháp hữu hiệu nhằm tạo công ăn việc làm, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa (Hiệp hội Du lịch Sinh thái, 1999a và 1999b).
Ngoài ra, theo thống kê của Hiệp hội Sinh thái Thế giới thì Du lịch sinh thái còn nhiều vai trò và tác dụng khác. Trong phạm vi luận văn này chỉ nêu ra một vài vai trò quan trọng, có thể dễ dàng nhận thấy trong việc phát triển Du lịch sinh thái.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững:
1.4.1. Yếu tố tài nguyên: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Tài nguyên Du lịch sinh thái là yếu tố quan trọng trong việc thu hút khách du lịch.
Nhóm các yếu tố này thường được tính đến gồm có:
Tính hấp dẫn: Tính hấp dẫn của điểm tài nguyên Du lịch sinh thái thường được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, sự thích hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của tài nguyên du lịch tự nhiên. Độ hấp dẫn được thể hiện ở số lượng và chất lượng của các tài nguyên, ở khả năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch. Nơi nào có tài nguyên hấp dẫn, đặc sắc nơi đó có điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động Du lịch sinh thái, ví dụ như Vịnh Hạ Long, Phong Nha – Kẽ Bàng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia “tính hấp dẫn” của tài nguyên mới chỉ là “điều kiện cần” để phát triển hoạt động Du lịch sinh thái. Vì sự phát triển Du lịch sinh thái còn liên quan đến công tác quản lý, tổ chức hoạt động Du lịch sinh thái.
Tính bền vững: Tính bền vững nói lên khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của hoạt động du lịch và các hiện tượng tự nhiên như thiên tai, hỏa hoạn. Tính bền vững là một trong những nhân tố thức đẩy sự phát triển của Du lịch sinh thái.
Tính thời vụ: Tính thời vụ của tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến hướng khai thác đầu tư, phát triển hoạt động Du lịch sinh thái. Tài nguyên nào có tính thời vụ dài sẽ tạo điều kiện cho việc khai thác phát triển Du lịch sinh thái và ngược lại. Tính thời vụ bị ảnh hưởng rất nhiều yếu tố kể cả yếu tố tự nhiên và xã hội như thời tiết; thời gian nghỉ lễ, nghỉ hè, nghỉ Tết,…Ví dụ: Một số bãi biển ở Bà Rịa – Vũng Tàu (đông vào cuối tuần và ngày Lễ, Nha Trang (từ tháng 7 đến tháng 9), Phú Quốc (từ tháng 9 đến tháng 3 âm lịch) thời gian khai thác cho hoạt động tắm biển khoảng trong năm.
Tính liên kết: Một trong những yếu tố hấp dẫn khách du lịch không chỉ là tính hấp dẫn của chính điểm tài nguyên đó mà còn là tính liên kết với các tài nguyên du lịch khác. Rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng du khách thích được tham quan nhiều điểm tài nguyên tại một điểm đến (khu vực hoặc vùng) (Hiệp hội Du lịch Sinh thái, 1999a). Đặc biệt, sự hấp dẫn sẽ càng tăng nếu các tài nguyên nằm gần nhau khác về thể loại. Điều này sẽ tạo điều kiện tổ chức nhiều loại hinh du lịch đa dạng và đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách.
Khả năng tiếp cận điểm tài nguyên: Vị trí và khả năng tiếp cận điểm tài nguyên du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với việc thu hút khách du lịch. Nếu tài nguyên Du lịch sinh thái ở gần vị trí thuận lợi (gần đô thị, đường giao thông bộ, đường thủy) sẽ tạo điều kiện trong việc giảm chi phí đầu tư, chi phí đi lại của du khách và đương nhiên sẽ thu hút khách du lịch tốt hơn. Nhân tố này được xem là giá trị vô hình để thu hút khách. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
1.4.2. Nhóm yếu tố liên quan đến công tác quản lý, tổ chức du lịch sinh thái:
Yếu tố liên quan đến chính sách phát triển du lịch sinh thái: đây là yếu tố rất quan trọng nếu không muốn nói là quyết định đến sự phát triển Du lịch sinh thái. Thực tế đã cho thấy: Nếu quốc gia nào quan tâm và có những chính sách thiết thực, hiệu quả thì Du lịch sinh thái ở đó phát triển. Bởi hoạt động Du lịch sinh thái không thể thiếu vai trò của nhà nước như công tác quy hoạch, đầu tư Cơ sở hạ tầng, đào tạo cán bộ.
Chính sách khuyến khích sự phát triển Du lịch sinh thái cũng sẽ góp phần nâng cao ý thức và sự quan tâm của mọi người cũng như du khách vào Du lịch sinh thái.
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: nhân tố này rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản lý, khai thác tài nguyên phục vụ nhu cầu Du lịch sinh thái của du khách. Cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) trong kinh doanh du lịch nói chung và Du lịch sinh thái nói riêng gồm:
Cơ sở hạ tầng & cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu xã hội và cho hoạt động du lịch (CSHT & cơ sở vật chất kỹ thuật loại 1) như hệ thống đường, điện, thông tin liên lạc, hệ thống nước… dẫn đến điểm tài nguyên. Hệ thống Cơ sở hạ tầng & cơ sở vật chất kỹ thuật (CSHT & cơ sở vật chất kỹ thuật loại 2) chỉ phục vụ chủ yếu cho ngành du lịch như hệ thống đường, điện, thông tin liên lạc trong điểm tài nguyên, hệ thống nhà hàng, khách sạn, vui chơi giải trí của điểm tài nguyên. Tuy nhiên, yếu tố này liên quan đến vốn đầu tư cho hoạt động Du lịch sinh thái.
Công tác quản lý, tổ chức hoạt động du lịch sinh thái: Yếu tố này liên quan đến nhiều mặt hoạt động, từ việc đề ra nguyên tắc, thiết lập hệ thống quản lý đến việc xây dựng hệ thống tổ chức hoạt động Du lịch sinh thái như mô hình tổ chức, quản lý, công tác giám sát, đào tạo nguồn nhân lực. Công tác này được coi là hoạt động quan trọng nhằm thúc đẩy hoạt động Du lịch sinh thái phát triển bền vững.
Chất lượng phục vụ: Yếu tố về chất lượng phục vụ rất quan trọng đối với sự phát triển Du lịch sinh thái, đặc biệt là các tài nguyên đã đưa vào khai thác. Nơi nào chất lượng phục vụ tốt sẽ thu hút được du khách và ngược lại. Để làm tốt chất lượng phục vụ lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ Du lịch sinh thái.
Công tác quảng bá: Công tác quảng bá ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động Du lịch sinh thái, công tác này liên quan đến công tác tổ chức hoạt động Du lịch sinh thái. Nếu làm tốt công tác quảng bá Du lịch sinh thái sẽ góp phần thu hút du khách, thúc đẩy sự phát triển của Du lịch sinh thái. Đặc biệt công tác này ngày càng được quan tâm do sự cạnh tranh “điểm đến” về Du lịch sinh thái giữa các điểm tài nguyên, các vùng trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau ngày càng gay gắt.
1.4.3. Yếu tố liên quan đến du khách: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng còn có rất nhiều vấn đề liên quan đến du khách ảnh hưởng đến sự phát triển Du lịch sinh thái bên cạnh các yếu tố trên. Một số yếu tố có thể như đặc điểm (giới tính, tuổi tác, quốc tịch), xu hướng, nhu cầu của du khách, mục đích. Do đó, trong nhiều hoạch định phát triển Du lịch sinh thái trên thế giới, người ta sử dụng phương pháp “tiếp cận nhu cầu của du khách đến”. Roby Ardiwidjaja (2008) đã chỉ ra sự cần thiết của việc nghiên cứu nhu cầu du khách trong việc xem xét các “nguồn lực của điểm đến” du lịch. Tuy nhiên, không phải lúc nào điều này cũng được quan tâm đúng mức. Khi nghiên cứu trường hợp điển hình tại Kenya, Paul F. J. Eagles và Brayn R. Higgins (1998) đã chỉ ra có rất ít nghiên cứu được tiến hành về động cơ và nhu cầu của khách Du lịch sinh thái.
1.4.4. Sức chứa của tài nguyên:
Sức chứa khách du lịch phản ánh khả năng về quy mô triển khai hoạt động Du lịch sinh thái tại mỗi điểm du lịch. Sức chứa khách du lịch có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm hoạt động của khách (số lượng, thời gian), đến khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên, xã hội. Sức chứa không chỉ liên quan đến độ lớn của tài nguyên mà còn liên quan đến độ “nhạy cảm” của tài nguyên.
Sự phát triển của hoạt động Du lịch sinh thái liên quan rất nhiều đến nhân tố sức chứa của tài nguyên.
Nhằm hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có do hoạt động Du lịch sinh thái gây ra cho môi trường tự nhiên, Du lịch sinh thái phải tính đến điều kiện “sức chứa” hoặc “sức tải”. Khái niệm sức chứa được hiểu ở 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học. Sức chứa về khía cạnh vật lý được hiểu là lượng khách tối đa mà điểm đến Du lịch sinh thái có thể tiếp nhận, điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ. Công thức chung để xác định sức chứa của một điểm du lịch như sau:
Trong đó: CPI: sức chứa thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)
- AR: Diện tích của khu vực du lịch (Size of Area)
- a: Tiêu chuẩn không gian tối thiểu cho một du khách.
Trong đó: có thể tham khảo tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách được xác định bằng thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch:
Ví dụ hoạt động giải trí ở các khu du lịch:
- Nghỉ dưỡng biển: 30-40m2/người
- Pichnic: 60-80 m2/người
- Thể thao: 200-400 m2/người
- Hoạt động dã ngoại: 100-200 m2/người
1.4.5. Tác động của biến đổi khí hậu:
- Tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên du lịch:
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Hiện tượng nóng lên toàn cầu gây ra những biến đổi hoàn lưu khí quyển và đại dương, đặc biệt là hoàn lưu gió mùa và hoàn lưu nhiệt – muối dẫn đến những biến động về nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình ở nước ta tăng khoảng 0,1°C/thập niên. Hiện tượng Elnino ngày càng có tác động mạnh đến chế độ thời tiết và khí hậu ở nhiều khu vực. Nhiệt độ gia tăng và nắng gắt, khô hạn đã gây ảnh hưởng tới mực nước của các con sông, lòng hồ, khe suối,…vốn được dùng để khai thác du lịch đường sông, hoặc những con suối đẹp không có nước chảy làm mất đi cảnh quan du lịch.
Tác động đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên: Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học.
Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh là 2 trong số 10 thành phố bị ngập lụt nhất thế giới dưới tác động của nước biển dâng. Các điều kiện tự nhiên thay đổi cũng khiến thói quen sống và sinh sản của thủy, hải sản có những biến động. Nhiều loài sinh vật biển cũng bị suy giảm nghiêm trọng và giảm dần về chất lượng cũng như trữ lượng.
- Tác động đến các di sản thiên nhiên:
Trong thời gian qua, kèm với lũ lụt và không khí nóng ẩm đã tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc, mối mọt, cây cối mọc ký sinh trên các công trình, dẫn đến sự phá hủy di tích. Khu dự trữ sinh quyển ở Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh), U Minh thượng (Kiên Giang), hệ sinh thái san hô, rừng ngập mặn, rừng nhiệt đới tại các Vườn quốc gia… thay đổi. Hàng năm, các di sản này vẫn đe dọa bị nhấm chìm khi mực nước biển dâng cao.
Nhìn chung tác động biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất nhiều đối với hoạt động du lịch: bão lụt và hạn hán tăng đe dọa lớn tới chất lượng môi trường sống của con người, bởi bão lụt tạo môi trường sống lý tưởng cho các loài muỗi và ký sinh trùng, chuột và nhiều sinh vật mang bệnh khác phát triển mạnh. Những khu du lịch cộng đồng ít có sự đầu tư về công tác vệ sinh môi trường và công nghệ xử lý ô nhiễm sẽ bị ảnh hưởng của tác động trên, làm giảm sức hấp dẫn đối với du khách.
1.4.6. Nhóm các yếu tố khác:
Một số yếu tố khác có liên quan đến sự phát triển Du lịch sinh thái như môi trường kinh tế – xã hội của vùng và quốc gia nơi có điểm tài nguyên; sự phát triển của các loại hình du lịch khác và các dịch vụ bổ trợ và một vài yếu tố khác.
Tóm lại: trên đây là một số yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển Du lịch sinh thái. Trong đó yếu tố về tài nguyên là yếu tố “điều kiện” để phát triển Du lịch sinh thái; yếu tố về tổ chức quản lý là yếu tố rất quan trọng, tuy nhiên đây là yếu tố “chủ quan” khi triển khai hoạt động Du lịch sinh thái. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
1.5. Kinh nghiệm về khai thác tiềm năng và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Việt Nam và trên thế giới
1.5.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới:
- Tại Bali – Indonesia:
Bali là một đảo nghèo khó vì đất đai khô cằn và núi lửa luôn đe doạ hoạt động, thuận lợi của Bali là có những bãi biển rất đẹp. Để giải quyết vấn đề kinh tế-xã hội của Bali nói riêng và Inđonexia nói chung, năm 1970 Chính phủ Indonexia đã nhờ Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) quy hoạch phát triển du lịch tại hòn đảo này trở thành một trung tâm du lịch lớn của khu vực.
Các nhà quy hoạch đã thảo luận với cộng đồng dân cư tại đây về quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch để tìm ra một sự đồng thuận.
Bảng 1.7. Một số chính sách phát triển du lịch tại Inđonesia
Các nhà quy hoạch thống nhất với cộng đồng dân cư địa phương về:
Tạo việc làm cho người dân tham gia trực tiếp vào quá trình phục vụ du lịch như: làm việc trong các khách sạn, nhà hàng. Làm hướng dẫn du lịch.Tổ chức các hoạt động văn hoá mang bản sắc Bali. Làm các đồ thủ công mỹ nghệ để bán cho khách du lịch. Lái tàu ra biển và làm hướng dẫn viên lặn biển.
Giữ gìn môi trường xã hội và môi trường sinh thái nhằm phát triển du lịch bền vững.
Đào tạo và bồi dưỡng cộng đồng dân cư địa phương về nghiệp vụ du lịch và các nghề cơ bản.
Ngày nay, Bali không chỉ là khu du lịch nổi tiếng trong khu vực mà cả trên thế giới về loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch hội nghị mà cả du lịch sinh thái. Mỗi một năm Bali đã đón tiếp trên 2 triệu lượt khách quốc tế đem lại một thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước và cải thiện điều kiện sống và thu nhập của cộng đồng dân cư địa phương từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch vụ và sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ phục vụ khách du lịch.
- Tại Australia: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Ở Australia, việc quản lý hoạt động khai thác các tiềm năng Du lịch sinh thái được giao cho Hiệp hội Du lịch sinh thái Australia đảm nhiệm. Hiệp hội này được thành lập từ năm 1991, với tư cách là một tổ chức phi lợi nhuận quản lý hoạt động Du lịch sinh thái – một loại hình DL mũi nhọn trong công nghiệp DL Australia. Thành viên của Hiệp hội bao gồm: các nhà kinh doanh lưu trú, lữ hành, các nhà quy hoạch phát triển, các nhà quản lý khu vực bảo vệ, khách du lịch và cộng đồng địa phương.
Tầm hoạt động của Hiệp hội Du lịch sinh thái Australia là lãnh đạo, hỗ trợ cho các đơn vị hoạt động Du lịch sinh thái và hoạt động du lịch khác trở thành du lịch có trách nhiệm; cam kết đảm bảo tính bền vững về môi trường, khả thi về kinh tế, văn hóa xã hội trong khai thác các tiềm năng Du lịch sinh thái.
Sứ mệnh của Hiệp hội Du lịch sinh thái Australia là phát triển, củng cố và thúc đẩy Du lịch sinh thái và các hoạt động du lịch khác đảm bảo tính bền vững thông qua các biện pháp tiếp cận: Xây dựng ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn phát triển bền vững; tăng cường tính chuyên nghiệp của những người làm việc trong ngành du lịch; tinh giản các thủ tục đăng ký hoạt động Du lịch sinh thái tại các khu vực được bảo vệ; tăng cường cung cấp thông tin cần thiết về bảo tồn tài nguyên; nâng cao vị trí và khả năng tài chính cho các nhà khai thác trong việc đảm bảo sự bền vững.
Hiệp hội đưa ra chương trình công nhận Du lịch sinh thái và cấp chứng chỉ hướng dẫn viên Du lịch sinh thái. Đây là chương trình công nhận có kỳ hạn hoạt động Du lịch sinh thái cho các đối tượng. Những đơn vị và cá nhân muốn hoạt động Du lịch sinh thái phải được cung cấp kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động Du lịch sinh thái, phải có chứng chỉ hành nghề và cam kết đảm bảo các tiêu chuẩn của Du lịch sinh thái, phải có đội ngũ hướng dẫn viên Du lịch sinh thái do Hiệp hội cấp chứng chỉ. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, hầu hết các đơn vị đều đăng ký hoạt động Du lịch sinh thái, du lịch có trách nhiệm và thực hiện nghiêm ngặt các tiêu chuẩn của Du lịch sinh thái. Vì vậy tính bền vững trong phát triển du lịch được thể hiện khá rõ trong hoạt động du lịch của Australia.
- Tại Thái Lan:
Ngành công nghiệp du lịch ở Thái Lan đã liên tục phát triển thịnh vượng kể từ khi nó được hỗ trợ bởi chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Sự thành công của ngành du lịch là đã tạo ra doanh thu và thu nhập đáng kể, là một trong các ngành công nghiệp lớn của Thái Lan mà doanh thu chỉ đứng sau công nghiệp điện tử tin học. Trong những năm 1998-1999, sự phát triển về kinh tế và du lịch đã tạo ra một Thái Lan “đáng kinh ngạc” (Amazing Thái Lan) và sự phát triển đó tương đối đều đặn.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành du lịch đã dẫn đến sự suy thoái của môi trường, dẫn đến những tác động tiêu cực đến công chúng đối với ngành du lịch, khách du lịch từ chối việc quay trở lại với DL của Thái lan. Để khắc phục những sai lầm trong quá khứ và đưa ra kế hoạch phát triển bền vững. Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) đã cho nghiên cứu các vấn đề về du lịch có trách nhiệm và phát triển DL bền vững. Khái niệm Du lịch sinh thái đã được nhấn mạnh là một trong những chiến lược được sử dụng để đáp ứng các nguyên tắc phát triển bền vững.
Với tiềm năng Du lịch sinh thái to lớn bởi tài nguyên thiên nhiên phong phú và tài nguyên văn hóa độc đáo, Thái Lan đã hình thành hơn 600 điểm thu hút thích hợp được phát triển như là điểm Du lịch sinh thái chủ yếu tập trung ở các VQG và thu hút một lượng khách du lịch đáng kể. Lúc đầu, các tiêu chuẩn của các dịch vụ Du lịch sinh thái này còn thấp, chưa chú trọng đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch, do hoạt động Du lịch sinh thái liên quan đến nhiều đối tượng, sự phối hợp giữa các bên liên quan chưa chặt chẽ đồng bộ và không có “chỉ huy” chung. Vì vậy, TAT đặt ra là phải có một chính sách cụ thể của Chính phủ để thúc đẩy và quản lý hoạt động Du lịch sinh thái. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Mục tiêu tổng thể của chính sách phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Lan là phát triển một ngành công nghiệp du lịch bền vững, duy trì một môi trường tự nhiên – xã hội lành mạnh và tự chủ. Chính sách này liên quan đến tất cả các lĩnh vực như: môi trường, lâm nghiệp và quản lý tài nguyên; du lịch bền vững; phát triển kinh tế-xã hội, sự tham gia của cộng đồng và phát triển con người. TAT đã phát triển chiến lược Du lịch sinh thái như là một phần của một chính sách du lịch bền vững.
Trên cơ sở các chính sách đã được ban hành, TAT đã thực hiện thí điểm phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Umphang (một huyện giàu tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa). Việc quản lý hoạt động Du lịch sinh thái thí điểm là sự phối hợp giữa TAT, chính quyền quận Umphang, tỉnh Tak, các thánh địa Hoàng gia và Sở Tài nguyên môi trường. Chính việc thu hút được nhiều đối tượng tham gia nên mô hình thí điểm của Umphang đã thành công, khách du lịch đến ngày càng nhiều, động vật hoang dã được bảo vệ nghiêm ngặt, môi trường DL ngày càng được cải thiện. Để nhân rộng mô hình Du lịch sinh thái Umphang, TAT các chiến lược chính sách chiến lược để phát triển du lịch sinh thái.
Bảng 1.7. 6 chính sách chiến lược TAT phát triển du lịch sinh thái tại Thái Lan
Để đạt được các mục tiêu Du lịch sinh thái của TAT đã đề ra, một mạng lưới quản lý Du lịch sinh thái được thành lập, bao gồm: Ban Du lịch sinh thái quốc gia, Hiệp hội Du lịch sinh thái
Thái Lan, CQĐP, Ủy ban bảo hộ môi trường và du lịch. Vì vậy Du lịch sinh thái đã trở thành thành phần chính, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành DL Thái Lan.
1.5.2. Nghiên cứu một vài mô hình Du lịch sinh thái trong nước:
- Tại Hồ Ba Bể – Bắc Cạn
Bắc Cạn không phải là địa phương có du lịch phát triển, nhưng thiên nhiên ban tặng cho Bắc Cạn một “Viên ngọc xanh giữa lòng Đông Bắc”, đó là Hồ Ba Bể, một hồ nước trong, xanh ngắt được bao quanh bởi VQG Ba Bể với diện tích 23.340 ha, hệ thống rừng nguyên sinh có đến 417 loài thực vật và 299 loài động vật có xương sống trong đó có nhiều loại động vật quí hiếm,….xung quanh hồ Ba Bể là sự quần cư của các dân tộc Tày, Nùng…với bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, nguyên sơ. Tiêu biểu là bản Pác Ngòi thuộc xã Nam Mẫu, ngay cạnh hồ Ba Bể, còn giữ nguyên bản sắc văn hóa của người Tày bản địa. Với những nếp nhà sàn truyền thống bình dị, những món ăn độc đáo ở bản như thịt dê nướng ăn với xôi nếp nướng, cá nướng, tép chua… những tiết mục hát then, đàn tính mượt mà, những hiện vật thể hiện rõ nét đời sống sinh hoạt của đồng bào như: chài, lưới, mây tre đan, nhạc cụ dân tộc, rất hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.
Để khai thác những giá trị tài nguyên thiên nhiên và VHĐP phục vụ du lịch, ngoài việc thụ hưởng “Dự án phát triển du lịch bền vững tiểu vùng sông Mêkông mở rộng”, Sở VHTTDL tỉnh Bắc Cạn đã triển khai một số dự án: Dự án đường bộ Bắc Cạn – Ba Bể – Pác Nậm; dự án Khu Du lịch sinh thái Ba Bể, đặc biệt là “Dự án Bảo tồn và Phát triển làng văn hóa truyền thống bản Pác Ngòi”. Tại bản Pác Ngòi, đã xây dựng, đầu tư các trang thiết bị cho nhà sinh thái, hỗ trợ tôn tạo các nhà sàn cổ, tập huấn cho cộng đồng dân cư về Du lịch sinh thái,… nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ DL, bảo tồn và làm phong phú thêm vốn văn hóa đặc sắc của người dân bản địa, qua đó gắn phát triển du lịch với bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc.
Mô hình homestay tại bản Pác Ngòi khá phát triển, hầu hết các gia đình trong bản đều có thể đón và phục vụ khách, với giá cả từ 70.000đ – 100.000đ/một ngày khách. Khách có thể ăn, ở với đại gia đình bản Pác Ngòi trong một không gian đẹp, yên tĩnh, cảm nhận lòng hiếu khách cũng như trải nghiệm cuộc sống nguyên sơ của người Tày bản địa. Bản đã thành lập một đội văn nghệ truyền thống để phục vụ khách một cách thường xuyên. Vào dịp đầu xuân, khách du lịch sẽ được hưởng trọn vẹn Lễ hội Lồng Tồng của người Tày trong Hội Xuân Ba Bể được tổ chức tại xã Nam Mẫu vào ngày 10 tháng Giêng hàng năm.
Với những nỗ lực của chính quyền các cấp và CĐDCĐP, khách du lịch đến với Hồ Ba Bể tăng qua từng năm: Năm 2004 là 52.000 lượt khách, năm 2010 là 150.000 lượt khách, thì năm 2011 đã là 193.000 lượt khách với doanh thu 135 tỷ đồng.
- Tại Cần Giờ – Thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Ngoài tài nguyên rừng và hệ động thực vật rừng ngập mặn rất phong phú,đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2000, còn có tài nguyên lịch sử-văn hóa và các làng nghề truyền thống lâu đời và đa dạng, thời gian gần đây, điểm Du lịch sinh thái huyện Cần Giờ đã trở thành địa chỉ quen thuộc của du khách đến thành phố Hồ Chí Minh.
Cần Giờ có diện tích 714km2, trong đó có tới 1/2 diện tích là rừng ngập mặn với 12.000 ha rừng tự nhiên và 20.000 ha rừng trồng, trở thành “lá phổi xanh” của thành phố. Hệ động vật rừng ngập mặn của Cần Giờ được các nhà khoa học đánh giá có giá trị cao về mặt bảo tồn đa dạng sinh học, với trên 200 loài động vật, trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách đỏ Việt Nam.
Nhận thức được giá trị của tài nguyên tự nhiên và nhân văn tại Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra chủ trương quy hoạch huyện Cần Giờ thành Khu đô thị sinh thái rừng-biển. Chủ trương này đã được cụ thể hóa bằng việc xây dựng và triển khai nhanh chóng Dự án “Hệ thống công trình lấn biển kết hợp khu đô thị-du lịch biển Cần Giờ”. Dự án trọng điểm là khu lấn biển diện tích 600 ha, bao gồm các sản phẩm du lịch như khu thủy cung, tuyến du lịch ở khu rừng Sác, khu nuôi Yến, khai thác thủy hải sản và xây dựng một đường ngầm dưới biển để khách tham quan, tìm hiểu đời sống sinh vật biển nhiệt đới.
Đến nay, huyện Cần Giờ đã có trên 50 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch, triển khai Đề án “Xây dựng khu Du lịch sinh thái biển Cần Thạch” với diện tích 69ha. Các sản phẩm du lịch khá phong phú đa dang: Ngắm khỉ, câu cá sấu, tham gia trải nghiệm cuộc sống của nông ngư dân trong huyện, Lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ đã được giới thiệu rộng rãi trong và ngoài nước, tuyến du lịch biển Cần Giờ-Vũng Tàu-Mũi Né đã được triển khai,…Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch của Cần Giờ bình quân tăng 24%/năm, Du lịch sinh thái Cần Giờ được quảng bá ngày càng rộng rãi. 3 năm gần đây, Cần Giờ đã thu hút được 1.200.000 lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổ chức hội nghị, đã đem lại những lợi ích to lớn và thiết thực cho người dân huyện đảo Cần Giờ nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
1.5.3. Những bài học kinh nghiệm trong khai thác tiềm năng du lịch sinh thái bền vững Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia và một vài địa phương có hoạt động Du lịch sinh thái phát triển, căn cứ vào những điều kiện cụ thể của quốc gia, của từng vùng mà có thể áp dụng một cách linh hoạt nhằm khai thác tiềm năng để phát triển Du lịch sinh thái nói riêng và phát triển du lịch nói chung ở Việt Nam hiện nay.
Đó là: Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải được đặt ra như là một yêu cầu tất yếu trong hoạt động du lịch để đảm bảo phát triển du lịch bền vững. Yêu cầu này cần được quán triệt ở các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, đến các đơn vị kinh doanh du lịch và cộng đồng dân cư.
Thứ hai: phải có có cơ quan chuyên quản lý hoạt động Du lịch sinh thái, cơ quan này có trách nhiệm xây dựng các chính sách, quy định về hoạt động Du lịch sinh thái vừa hướng dẫn thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách phát triển Du lịch sinh thái.
Thứ ba: để khai thác tiềm năng Du lịch sinh thái một cách hợp lý, đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững, cần phải có sự phối hợp đồng bộ của các cấp các ngành và phải được thực hiện theo một trình tự nhất định, trình tự sau:
- Đánh giá tiềm năng Du lịch sinh thái và các điều kiện để khai thác tiềm năng DLST của địa phương hay khu vực
- Quy hoạch tuyến điểm Du lịch sinh thái trên cơ sở tiềm năng DLDT và các điều kiện để khai thác tiềm năng Du lịch sinh thái.
- Triển khai công tác chuẩn bị các điều kiện và tổ chức hoạt động đối với các tuyến điểm Du lịch sinh thái đã hình thành theo đúng nguyên tắc, quy định của Du lịch sinh thái.
- Quản lý hoạt động các tuyến điểm Du lịch sinh thái đảm bảo phát triển bền vững.
Thứ tư: xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách giải pháp để thúc đẩy khai thác tài nguyên một cách hợp lý để phát triển du lịch sinh thái bền vững.
Thứ năm: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch: Do đối tượng phục vụ của du lịch là con người, bao gồm cả người trong nước và khách du lịch nên đòi hỏi trình độ của cán bộ, nhân viên du lịch phải cao. Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cho đội ngũ nhân viên có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch sinh thái bền vững.
Thứ sáu: phát triển du lịch đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên môi trường: Việc phát triển du lịch hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề không thể xem nhẹ: gây tổn hại môi trường, tài nguyên sinh thái ở nhiều vùng, các công trình văn hóa lịch sử, các tệ nạn xã hội. Môi trường du lịch có thể hiểu cả môi trường sinh thái và môi trường xã hội như: Chương trình xanh, sạch, đẹp, văn minh, giữ gìn an ninh trật tự trong hoạt động du lịch (cướp giật, ăn xin, ép khách mua hàng, tệ nạn xã hội) để điểm đến được an toàn, hấp dẫn, thân thiện đối với khách du lịch.
Tóm tắt Chương 1: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Có nhiều khái niệm về du lịch sinh thái tuy nhiên có thể khái quát du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm, dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa với sự tham gia của cộng đồng địa phương. Đồng thời, phải gắn với công tác bảo tồn và bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững”. Hoạt động du lịch sinh thái (DLST) ngày nay đang phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, với lượng khách du lịch Du lịch sinh thái tăng khoảng 20%/năm (UNWTO, 2006). Nhưng để Du lịch sinh thái bền vững phát triển đúng hướng, đạt được mục tiêu đề ra của nó cần phải dựa vào những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển Du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu những bài học kinh nghiệm trên thế giới. Để từ đó đưa ra mô hình phát triển phù hợp với thực tế của từng quốc gia, vùng, địa phương.
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ được đánh giá là nơi có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, hội đủ điều kiện để phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững. Một số tài nguyên đã và đang được khai thác trong những năm gần đây. Tuy nhiên, việc khai thác nguồn tài nguyên vẫn chưa đạt được hiệu quả với tiềm năng thực sự của nó vốn có để thu hút khách du lịch đặc biệt là du khách quốc tế đến nơi đây. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Cần Giờ.
Việc phát triển Du lịch sinh thái trước hết cần dựa trên nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển Du lịch sinh thái, đồng thời phải gắn liền với việc khai thác nguồn tiềm năng nhằm đưa ra các giải pháp pháp triển đồng bộ và đạt hiệu quả cao.
Kết quả nghiên cứu của Chương I, sẽ là cơ sở lý luận để thực hiện các nội dung tiếp theo của Luận văn, đồng thời có thể là cơ sở lý luận có thể áp dụng vào việc khai thác tiềm năng Du lịch sinh thái ở Việt Nam nói chung và tại Cần Giờ TP.HCM nói riêng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Cần Giờ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững Cần Giờ