Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tiềm năng, thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TIỀN GIANG
Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120, phía Bắc và Đông Bắc giáp Long An và TP. Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Bến Tre và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông. Diện tích 2484,2 km2, dân số 1.673,9 nghìn người (2019).
Là tỉnh có vị trí khá thuận lợi trong phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển du lịch nói riêng. Ngoài lợi thế về vị trí, tỉnh còn có nhiều tiềm năng phát triển các loại hình du lịch khác nhau, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái, tham quan.
Với đặc điểm tự nhiên là đồng bằng, sông nước chằng chịt, có những cù lao cây trái quanh năm xanh tốt. Là một trong những tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long có lượng trái cây lớn, đây được coi là một thế mạnh lớn nhất của Tiền Giang trong phát triển các hoạt động du lịch sinh thái vườn, tham quan và thưởng thức trái cây.
Tiền Giang còn có khá nhiều các di tích văn hóa lịch sử có thể khai thác phát triển du lịch như: chiến thắng Ấp Bắc, lăng Trương Định, lăng Tứ Kiệt, lăng Hoàng Gia, chùa Vĩnh Tràng,…
Các lễ hội gắn với phong tục tập quán, đời sông của nhân dân cũng rất đặc sắc như: lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa, lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định, lễ giỗ anh hùng dân tộc thủ khoa Thủ Khoa Huân, Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc,…
Các làng nghề nổi tiếng với những sản phẩm độc đáo tạo sự thích thú với du khách như: làng nghề làm bánh tráng Gò Công, làng nghề làm bánh hủ tiếu Tân Mỹ Chánh,…Đây được xem là một điểm hẹn rất tốt cho khách du lịch khắp nơi trên đất nước Việt Nam cũng như khách du lịch quốc tế.
Tiền Giang nằm trên trục giao thông quan trọng của cả nước, là cửa ngõ miền Tây Nam Bộ, một địa bàn giao lưu khối lượng lớn, hàng hóa của miền Tây với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Quốc lộ 1A, đường cao tốc Trung Lương – TP. Hồ Chí Minh đi qua tỉnh và mạng lưới giao thông đường thủy nối các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Tiền Giang nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía nam, giữa tỉnh Cần Thơ và TP. Hồ Chí Minh. Chỉ cách TP. Hồ Chí Minh 70 km, đây là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, TP. Hồ Chí Minh sẽ có những tác động mạnh đến phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tiền Giang, đồng thời là điểm tựa tốt cho sự phát triển kinh tế du lịch Tiền Giang.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.1.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Tiền Giang có tọa độ địa lý ở vào tọa độ 100 11’43’’ và 100 35’19’’ vĩ tuyến Bắc, 1050 49’12’’ và 1060 48’32’’ kinh tuyến Đông.
Với lợi thế về vị trí địa lý và hệ thống kết cấu hạ tầng liên vùng đi qua, Tiền Giang là vùng giao thoa giữa hai vùng kinh tế lớn, giữa hai trung tâm công nghiệp và nông nghiệp lớn của cả nước, có xu hướng dịch chuyển tác động lan tỏa từ thành phố Hồ Chí Minh sang các tỉnh lân cận. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Đẩy mạnh phát triển dịch vụ, đặc biệt là du lịch, có thể gọi Tiền Giang là cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đồng bằng sông Cửu Long, là sự bổ sung hoàn hảo nguồn tài nguyên du lịch của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với cự ly được rút ngắn đáng kể khi đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh -Trung Lương được xây dựng, Tiền Giang sẽ có nhiều lợi thế để phát triển các loại hình du lịch: du lịch biển, du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch đồng tháp mười vào mùa nước nổi…, đặc biệt tập trung phát triển loại hình du lịch sinh thái miệt vườn; là nơi nghĩ dưỡng của các chuyên gia, nhà doanh nghiệp sau thời gian lao động căng thẳng, mệt nhọc để tái tạo thể lực và trí lực.
Tiền Giang cũng xác định được rằng ngành du lịch cả nước nói chung và du lịch đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đã và sẽ phát triển mạnh; do đó vấn đề tạo ra một ngành du lịch với các sản phẩm, dịch vụ đặc trưng sẽ là nhân tố quyết định sự thành công của ngành du lịch. Vì vậy, Tỉnh đã xây dựng dự án và kêu gọi đầu tư các khu, điểm du lịch để phát huy những lợi thế về vị trí địa lý.
2.2.1.2. Địa hình
Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trình biến thiên từ 0m đến 1,6m so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8m đến 1,1m. Nhìn chung, toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực có tiểu địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung như sau:
Khu vực đất cao ven sông Tiền (đê sông tự nhiên) phân bố dọc theo sông Tiền và kéo dài từ xã Tân Hưng (Cái Bè) đến xã Xuân Đông (Chợ Gạo). Cao trình phổ biến từ 0,9 – 1,3m, đặc biệt trên dãy đất cao ven sông Nam quốc lộ 1 từ Hoà Hưng đến thị trấn Cái Bè do hầu hết đã lên vườn nên có cao trình lên đến 1.6 – 1.8 m.
Khu vực này chủ yếu tiếp giáp với sông và có kênh, gạch khá chằng chịch nên loại hình du lịch sông nước và vui ngoạn vào vườn cây ăn trái là chủ yếu. Thường các vùng có địa hình này phát triển các vườn trái cây ven sông, phía dưới giáp sông, phía trên giáp với các trục lộ nên dễ dàng cho du khách lựa chọn phương tiện để tiếp cận. Xen lẫn các vườn cây ăn trái thì loại hình “tát nước bắt cá” ở các ao trong vườn cũng đem đến cho khách rất thích thú.
Khu vực thuộc địa bàn huyện Cai Lậy, Cái Bè, giới hạn giữa kinh Nguyễn Văn Tiếp và dãy đất cao ven sông Tiền có cao trình phổ biến từ 0,7 – 1,0m và có khuynh hướng thấp dần về kinh Nguyễn Văn Tiếp.
Đây là khu vực địa hình chủ yếu nằm trên tuyến quốc lộ 1A và các tuyến đường tỉnh lộ 866,867,868,… Nên đây được coi là vùng bản lề của vùng tiếp giáp ven sông Tiền và sông Hậu, có vai trò giao thông, xây dựng các cở sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch.
Khu vực trũng phía Bắc Đồng Tháp Mười (bao gồm hầu hết huyện Tân Phước) có cao trình phổ biến từ 0,60 – 0,75m, cá biệt tại xã Tân Lập 1 và Tân Lập 2 có cao trình thấp đến 0,4 – 0,5m. Do lũ hàng năm của sông Cửu Long tràn về Đồng Tháp Mười cộng với cao trình mặt đất thấp nên đây là khu bị ngập nặng nhất của tỉnh. Khu vực này khả năng khai thác du lịch vào mùa lũ là rất lớn chẳng hạn bơi xuồng trên các cánh đồng ngập nước rất mênh mong và thơ mộng hoặc thả lưới, giăng câu bắt cá đồng, cá linh,… Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Khu vực giữa Quốc lộ 1 và kinh Chợ Gạo có cao trình từ 0,7 – 1,0m bao gồm vùng đồng bằng bằng phẳng 0,7 – 0,8m nằm kẹp giữa giồng Phú Mỹ, Tân Hương, Tân Hiệp (Châu Thành) phía Tây và giồng Bình Phục Nhất, Bình Phan (Chợ Gạo) phía Đông. Đây là khu vực có lưu lượng giao thông rất cao hằng ngày có rất xe khách, xe du lịch mọi nơi đều ngang qua. Bởi vì khu vực này có địa hình bằng phẳng dễ dàng xây dựng các giao lộ. Cho nên qua đây thường bắt gặp nhiều quán ăn phục vụ rất chất lượng hầu như 24/24.
Khu vực Gò Công giới hạn từ phía Đông kinh Chợ Gạo đến biển Đông, có cao trình phổ biến từ 0,8 và thấp dần theo hướng Đông Nam, ra đến biển Đông chỉ còn 0,4 – 0,6m.Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 – 1,1m nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh
Bờ biển dài 32 km với hàng ngàn ha bãi bồi ven biển, nhiều lợi thế trong nuôi trồng các loài thủy hải sản (nghêu, tôm, cua…) và phát triển kinh tế biển. Mà du lịch biển không thể thiếu ở đây. Khu du lịch bãi biển Tân Thành (Gò Công Đông) là một trong những khu du lịch trọng điểm để phát triển du lịch ở Tiền Giang.
2.2.1.3. Khí hậu
Tiền Giang nằm gọn trong khu vực nhiệt đới Bắc bán cầu. Tiêu biểu cho chế độ nhiệt và có độ cao mặt trời lớn, ít thay đổi trong năm. Do vậy Tiền Giang có khả năng tiếp nhận một lượng bức xạ rất dồi dào. Lượng bức xạ đó đã quyết định khí hậu Tiền Giang mang tính chất nhiệt đới, gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khí hậu như: nắng, bức xạ, nhiệt độ, bốc hơi, mưa, độ ẩm không khí, gió… được phân bổ theo mùa trong năm khá rõ nét. Quy luật phân bổ này khá ổn định qua các năm và ít thay đổi trong không gian.
Tiền Giang nằm ở vĩ độ thấp của vùng nhiệt đới, mặt trời chiếu sáng quanh năm, nên có cảm giác ban ngày dài hơn ban đêm. Hằng năm ở Tiền Giang có thời kỳ dài 6 – 7 tháng mùa khô ít mây nên rất dồi dào về ánh sáng. Vì mùa khô nắng nhiều nên còn gọi là mùa nắng. Tiền Giang là nơi có tổng số giờ nắng trong năm (trước năm 2005) cao nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long (2.709 giờ), tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 3 (298 giờ). Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 9 (165 giờ). Mùa nắng trung bình mỗi ngày có gần 10 giờ nắng, mùa mưa giờ nắng trong ngày giảm xuống còn khoảng 5,5 giờ. Đây cũng là điều kiện rất tốt để khách du lịch có thời gian tham quan các phong cảnh lâu hơn, bởi vì nếu mưa nhiều sẽ gây không ít đến quá trình đi du lịch tham quan của khách.
Độ ẩm ở Tiền Giang có quan mật thiết với chế độ mưa, do chế độ gió mùa quyết định. Vì vậy chế độ độ ẩm biến đổi theo mùa. Tuy nhiên, sự chênh lệch độ ẩm qua các tháng không lớn. Độ ẩm trung bình tháng thay đổi từ 76,7% (tháng 3) đến 87,3% (tháng 9) sai biệt tối đa của độ ẩm trung bình giữa các tháng là 10,6%. Độ ẩm trung bình năm 82,7%; độ ẩm tối cao trung bình năm 93,2%; độ ẩm tối thấp trung bình năm 65,2%.
Do có một nền nhiệt độ tương đối ổn định nên du lịch Tiền Giang khá thuận lợi để phát triển du lịch. Không có tháng nào nóng quá và không có tháng nào lạnh quá, điều này tạo một không khí dễ chịu, hoài hòa giữa cảnh trời thiên nhiên và con người vùng đất này càng thêm quyến rũ. Bên cạnh đó, với nền nhiệt như thế tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp phát triển trồng các loại cây ăn trái khác nhau tạo lợi thế cho các cây trồng chủ lực như: chôm chôm, sầu riêng, xoài cát Hòa Lộc,… để du khách thưởng thức các loại trái cây đặc sản của tỉnh nhà.
Gió ở Tiền Giang thuộc về chế độ gió mùa. Một năm có hai mùa gió: mùa gió mùa Đông Bắc và mùa gió mùa Tây Nam. Gió mùa đông bắc, hằng năm vào giữa tháng 10 hoặc muộn hơn một chút, vào hạ tuần tháng 10, các khối không khí lạnh được hình thành từ Bắc Băng Dương, Xibêri di chuyển về phía nam gây ra những đợt gió mùa Đông Bắc, ảnh hưởng tới tận những miền vĩ độ thấp trong đó có tỉnh Tiền Giang. Gió thường thổi theo hướng: đông bắc, đông và đông nam. Trong đó chủ yếu là hướng đông và đông nam và được nhân dân địa phương gọi là gió “chướng”. Thời gian hoạt động của gió chướng trong năm bắt đầu từ cuối tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 4 tới trung tuần tháng 5 năm sau. Khả năng xuất hiện gió chướng tăng dần từ đầu mùa (tháng 12) và đạt cực đại vào tháng 2 hoặc 3, sau đó giảm dần.
Gió mùa Tây Nam thổi từ Ấn Độ Dương mang theo hơi ấm và ẩm. Hướng gió thịnh hành: nam, tây nam và tây. Trong đó chủ yếu là hướng tây nam. Thời gian hoạt động bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9 và mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 8.
Nền nhiệt tương đối ổn định kết hợp miền sông nước và có đặc điểm gió là gió mùa tương đối thuận lợi cho du khách thưởng thức không khí trời trong lành nên thơ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Cộng vào đó là khi du khách đi dạo trên các sông, gạch ít bị ảnh hưởng của các loại gió mạnh gây ảnh hưởng xấu đến chuyến đi. Mà ở đây sông, gạch kết hợp với các loại gió tùy theo mùa nó làm phong phú thêm sự hứng thú của du khách khi đi theo mùa về đất Tiền Giang. Mỗi mùa có đặc trưng riêng về tự nhiên cũng như ẩm thực mà gió có phần góp thêm sự phong phú về cảnh thiên nhiên của Tiền Giang.
Tiền Giang quanh năm nhiệt độ và ánh sáng dư thừa, vì vậy mưa kết hợp với chế độ thủy văn của hệ thống sông, rạch, kinh trở thành nhân tố chính chi phối thời vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm.
Bảng 2.1. Nhiệt độ, số giờ nắng, độ ẩm trung bình các tháng trong năm Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Lượng mưa năm trung bình nhiều năm vào khoảng 1.100mm đến 1.400mm và khá ổn định qua các năm. So với các khu vực ở miền Đông và miền cực Tây của đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang thuộc khu vực ít mưa (nhỏ hơn 1.500mm)
Trong năm, lượng mưa phân bổ không đồng đều, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa gắn với gió mùa tây nam, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Lượng mưa mùa mưa chiếm 86 đến 90% lượng mưa năm và khá ổn định qua các năm.
Bảng 2.2. Lượng mưa trung bình quân các tháng trong năm (Đơn vị: mm)
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Lượng mưa | 136,7 | 128,2 | 142,2 | 127,6 | 117,6 | 144,5 |
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2020, Cục thống kê Tiền Giang.
Lượng mưa ít thường vào tháng 1,2,3,4,11,12 mưa nhiều tập trung vào các tháng còn lại. Điều này cho thấy tạo nên mùa du lịch trong năm theo từng sản phẩm du lịch. Trong các tháng ít mưa thì sản phẩm du lịch sinh thái tham quan miệt vườn, sông nước là phù hợp nhất. Du khách vừa tránh được cái nóng bức vừa thưởng thức các trái cây từ các nhà vườn, cùng chèo xuồng vào các sông gạch mà điểm nổi bật là khu du lịch Thới Sơn, hay chợ nổi Cái Bè. Các tháng mưa nhiều thì du khách có thể tham quan khu ngập lũ Tân Phước, thưởng thức các món ăn dân giả rất ngon như: đọt trại, khóm tươi, cá rô đồng, cá lóc nướng chui,…Có thể nói lượng mưa ở Tiền Giang có một phần chi phối đến các sản phẩm du lịch, cũng như đặc thù của từng khu vực du lịch trong tỉnh.
2.2.1.4. Tài nguyên nước Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Tài nguyên nước ở Tiền Giang chủ yếu là nước trên mặt nguồn cung cấp nước chủ yếu của các con sông, rạch, kênh là nguồn nước mưa và chế độ thủy triều. Ở Tiền Giang có nhiều sông, rạch, kênh có giá trị về nhiều mặt, trong đó có giá trị làm tài nguyên du lịch là rất lớn. Có thể điểm qua các con sông, rạch, kênh, ao như sau:
Sông Tiền là một nhánh thuộc vùng hạ lưu của lưu vực sông Mêkông. Sông Tiền cũng chảy theo hướng đó, tới Vĩnh Long nó được tách làm 3 nhánh lớn: nhánh Hàm Luông, Cổ Chiên chảy qua địa phận của tỉnh Bến Tre và đổ ra biển bằng hai cửa cùng tên. Nhánh Mỹ Tho chảy qua địa phận Tiền Giang và đổ ra biển bởi ba cửa: cửa Tiểu, cửa Đại và cửa Ba Lai.
Đoạn sông Tiền từ chỗ tiếp giáp với sông nhánh Hàm Luông đến đầu cù lao Tàu cũng được gọi là sông Mỹ Tho. Xét theo đặc điểm tự nhiên, 92% diện tích của tỉnh Tiền Giang thuộc lưu vực Sông Tiền và sông nầy là nguồn cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt chủ yếu cho cả tỉnh. Sông Tiền cùng với các nhánh của nó cũng là môi trường rất thuận lợi cho nuôi trồng và phát triển thủy sản, đặc biệt là phát triển du lịch sông nước kết hợp với các vườn cây ăn trái ven sông.
Chiều dài sông Tiền tính từ chỗ giáp ranh với tỉnh Đồng Tháp đến đầu cù lao Tàu, nơi phân lưu thành 2 sông Cửa Tiểu, Cửa Đại là 77.400 m, đây cũng là ranh giới tự nhiên của Tiền Giang với 2 tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long ở phía Nam. Trên 120km, sông Tiền chảy trên đất Tiền Giang, ngoài dòng chính ra còn có một hệ thống phụ lưu phong phú như: Rạch Cái Thia và phụ lưu của nó; rạch Trà Lọt; rạch Cái Bè và phụ lưu của nó; rạch Ba Rài; rạch Trà Tân; rạch Gầm; rạch Bảo Định; rạch Cả Hôn – Cầu Ngang; rạch Vàm Giồng; Sáu Thoàn; rạch Giá, rạch Long Nông; rạch Gốc. Phần lớn các phụ lưu này đều ngắn nhưng khá sâu và rộng. Nó có nhiệm vụ dẫn nước tưới và tiêu cho nhiều vùng đất cổ bọc phía Bắc sông Mỹ Tho.
Một con sông chính nữa chảy qua Tiền Giang là sông Vàm Cỏ, chỉ là sông nhỏ và có rất nhiều đoạn uốn khúc. Nước từ thượng nguồn đổ về theo 2 nhánh Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đến gần Cần Đước 2 nhánh nhập một rồi đổ ra Biển Đông qua cửa Soài Rạp.
Vàm Cỏ là con sông lớn thứ hai chảy qua địa phận Tiền Giang ở phía Bắc, chỉ chỉ có 39 km chiều dài chảy trên đất Tiền Giang trước khi đổ vào cửa Soài Rạp để ra biển. Tuy vậy, nó cùng với nhánh Vàm Cỏ Tây ảnh hưởng khá lớn đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh nhà.
Phần lớn chiều dài sông Vàm Cỏ thuộc tỉnh Long An, riêng đoạn dài 39 km từ vàm sông Tra (một nhánh của sông Vàm Cỏ, vàm nầy tại xã Bình Xuân, Huyện Gò Công Đông, Tỉnh Tiền Giang) đến cửa Soài Rạp là một phần ranh giới tự nhiên giáp biển giữa 2 tỉnh Tiền Giang và Long An.
Cũng như sông Tiền ở hai phía (tả, hữu) của sông Vàm Cỏ có rất nhiều chi lưu. Riêng địa phận Tiền Giang có: rạch Cái Tôm, rạch Láng Cò, rạch Chanh, rạch Cần Đối, rạch Bảo Định, rạch Gò Công, rạch Vàm Tháp.
Ngoài hai sông chính đó ra Tiền Giang còn có các kênh, rạch rất nhiều chảy đan xen các vườn cây ăn trái, khắp các địa phương hầu hết huyện nào trong tỉnh cũng có các hệ thống sông, rạch chảy qua. Các rạch: Ba Rài, Cái Cối, rạch Cầu Ngang, Gò Cát, Hóc Lựu, Rạch Tràm, Gò Công, Trà Tân, Bang Lợi, Rạch Gầm, Vàm Giồng, Rạch Lớn; Kênh: Bảo Định, 14, 28, Bắc Đông, Chợ Gạo, N8, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Tất Thành (kênh Xáng), Tham Thu, Salisetti, Champeaux, Trần Văn Dõng, Xóm Gồng, Xuân Hòa; Ao: Trường Đua, Sinh Thái, Vàm Láng, Giếng nước Mỹ Tho, Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Ta thấy, qua hệ thống sông, kênh, ao khá nhiều ở Tiền Giang thì khả năng phát triển du lịch sông nước là ưu thế nhất của tỉnh. Đối với hai con sông lớn là sông Tiền và sông Vàm Cỏ, ngoài việc phát triển các vườn trái cây đặc sản cho du khách thưởng thức, còn phát triển loại hình du thuyên trên sông ngắm cảnh trời thiên nhiên hai bên bờ sông. Hai con sông trên đã làm cho sắc thái về tự nhiên của Tiền Giang một phần khác so với các tỉnh lân cận. Chính các con sông cho đất phù sa ngọt để phát triển các loại cây trồng nói chung và cây ăn trái nói riêng. Khả năng nuôi các loại cá nước ngọt tạo ra những món ăn đặc thù cho khách du lịch và góp phần làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch của tỉnh.
Đối với các hệ thống kênh, cũng đóng góp rất lớn về lượng nước cũng như điều hòa các chế độ dòng chảy cho sông. Phần nào đã tạo nên một chế độ dòng chảy ổn định, tạo điều kiện cho kinh doanh du lịch thuận lợi nhất là du lịch sông nước. Du khách có thể đi vào các kênh này để khám phá những gì mình chưa biết, ngoài ngắm cảnh có thể nghiên cứu, học tập,…
Các ao chứa nước, nhất là Giếng nước Mỹ Tho nằm ngay trung tâm thành phố vừa đêm lại vẽ mỹ quan đô thị, vừa tạo nên một không khí mát mẽ nằm giảm nhiệt độ đô thị lúc nào cũng cao hơn nông thôn. Về đêm Giếng nước có một nét đẹp rất dễ thu hút khách khi có đèn đủ sắc màu thấp lên. Tạo nên một phong cảnh về đêm thật tuyệt góp phần làm cho đô thị Mỹ Tho đẹp, văn minh, môi trường sinh thái dễ chịu.
2.2.1.5. Sinh vật
Khí hậu vùng Tiền Giang mang tính chất gió mùa cận xích đạo. Các yếu tố khi hậu gồm: độ ẩm không khí, nắng, bức xạ, nhiệt độ, mưa…được phân bố theo mùa trong năm khá rõ nét. Qui luật phân bố này khá ổn định qua nhiều năm và ít thay đổi trong không gian. Cùng với đặc điểm địa chất, địa hình, đây là một trong những điều kiện để thảm thực vật phát triển phong phú, đan xen, cho nên sự phân bố thảm, vùng không có tính khu biệt.
Thực vật rừng: Diện tích chiếm 13.120,41 héc ta. Trong đó: rừng tự nhiên 305,86 héc ta (rừng phòng hộ), rừng trồng12.814,55 héc ta. Ngoài ra Tiền Giang còn có vườn cây ăn trái chiếm diện tích 170.377,44 héc ta. Trong đó cây lâu năm là
75.166,87 héc ta; vườn tạp là 2.520,90 héc ta, cây hàng năm 92.689,67 héc ta. Thực vật trồng trọt: Chủ yếu là cây lúa, rau, màu chiếm tổng diện tích 85.568,98 héc ta. Ngoài ra có các loại cây trái rất đa dạng được trồng trến các lếp, vườn của các hộ nông dân, đặc biệt là các hộ ven các sông, rạch, kênh.
Quần thể thực vật ven biển, ven sông rạch: Trước hết là quần thể thực vật phía đông của tỉnh, ven biển vùng Gò Công. Chủng loài thực vật ở đây tương đối đơn điệu, nếu càng đi về phía biển, và phong phú hơn khi đi sâu vào đất liền. Đáng kể nhất là các cây dừa nước (Nipa fructicans), Cây lức (Pluchea indica) thuộc họ cúc (Asteraceae), họ bìm bìm (Convolvulaceae) có cây muống biển (Impomaea pescaprae). Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Ven biển Gò Công còn có các loại cây họ đước vẹt (Rhizophorzceae), họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có cây mắm, cây chà là (Phoenix paludosa), bần ổi (Sonneratia alba), bần đắng (Sonneratia griffithii).
Ở ven sông rạch vùng nước ngọt sông Tiền, các nhóm thảo mộc thường thấy thuộc họ ráy (Araceae) ,cây nghể (Polygonum hydropiper – còn gọi thủy liễu) thuộc họ rau răm (Polygonaceae), cây dứa gai (Pandanus tectorius), họ rau dừa nước (Oenotheraceae), bèo cái (Pistia stratoites), cây rau chóc (Laisia spinosa ), (Acanthaceae) mọc hoang nơi bãi lầy cũng được khai thác làm thuốc. Cây ngãi (huệ nước), họ layơn (Iridaceae), họ nê thảo (Butomaceae), cây kèo nèo (Limmocharis flava), mọc ven bờ nước, làm rau ăn…Cùng chủng loại có cây rau tai tượng được trồng quanh bờ ao làm rau ăn. Họ Cói (Cyperraceae) có cây Thủy trúc hay gọi là lác dù, ô du. Họ Lục bình (Pontederriaceae), Rau nhút, họ trinh nữ (Mimosaceae) (hay còn gọi rau thuần) được trồng nhiều ở ao đìa vùng đất ven sông rạch, nhiều phù sa.
Quần thể thực vật vùng phù sa cổ, đất giồng: Đặc điểm địa chất của vùng đất này là đất cát và đất pha cát, độ màu mỡ ít, ở cao và thường khô hanh vào mùa nắng, thích hợp các loại cây: Họ sao, dầu (Dipterocarpaceae), họ bàng (Combretaceae) có cây trâm bầu (Commbretum quadrangulare Kurz), mọc ở dãy đất cao, hiện ở Gò Công còn địa danh Gò Bầu. Cây bàng (Terminalia catappa), họ hàng nhà tre có nhiều chủng loại gồm tre đắng, tre hóp (Bambusa muiplex) , tre gai và các loại trúc. Họ trinh nữ (Mimosaceae) có cây me keo (Pithecolobium dulce), keo bông vàng (Acacia aneuramuell), họ đậu (Fabaceae) có các loại thân gỗ như cây me (Tamarindus indicus), cây so đũa (Sesbaria grandiflora), cây vông nem (Erythrina variegata), được trồng để lấy lá gói nem, hoặc dùng làm trụ (nọc) để trồng trầu, hồ tiêu. Họ thầu dầu (Eupborbiaceae) đại diện là cây bả đậu (Huara crepitans), họ trúc đào (Apocyraceae)
Ngoài ra còn rất là nhiều họ thảm thực vật, đã tạo cho Tiền Giang có một phong cảnh thực vật rất xanh. Đặc biệt là các loại thân thấp, các loại cỏ, các loại cây có giá trị kinh tế. Trong các loài họ trên có rất nhiều loài làm thuốc chữa bệnh rất tốt, nên đây được coi là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để xây dựng các sản phẩm du lịch.
Chim rừng có nhiều loại, một số có tập quán di trú, chỉ xuất hiện theo mùa, một số làm tổ định cư thành những vườn cò, vườn chim, gồm có: cu đất, cu cườm, cu xanh, cưỡng, sáo, sáo nghệ, sáo sậu, sáo trâu, nhồng, chìa vôi, se sẻ, chim khách, bìm bịp, ó diều, chim ụt, lắc nước, le le, gà đãy, bồng bồng, giỏ giẻ, óc cau, cò ma, cò trâu, cò quắm, cò trắng, cúm núm, chàng bè, diệc lửa, diệc mốc, dồng dộc, chim sắc, trao trảo, sa sả, chài chài, điên điển, cồng cộc, chim sâu, chim vịt…
Chuột và dơi cũng rất đông đúc. Họ hàng nhà chuột, gồm các loại chuột lắc, chuột cơm, chuột cống, chuột cống nhum…là tai họa của nhà nông. Dơi thường thấy có dơi quạ, dơi sen, dơi hương, dơi muỗi… cư trú ở vùng cây ăn trái.
Cá là thực phẩm chính của cư dân địa phương từ bao đời nay, mặc dù môi trường ô nhiễm và nạn đánh bắt bừa bãi, nhiều loài cũng đã tuyệt chủng, nhưng nguồn cá vẫn còn khá phong phú, bao gồm: các loại cá nước ngọt: Cá bống tượng, bống mú, bống các, bống xệ, bống trứng (chỉ xuất hiện vào mùa nước son từ thượng nguồn đồ về), bống dừa, cá trèn, cá chốt. Cá lòng tong có hai loại: đá và bay. Cá mè vinh, cá mè rổ, mè hôi, cá bãi trầu, cá lành canh. Cá linh trong mùa nước nổi rất nhiều, ngày xưa người ta chỉ nấu lấy dầu, làm mắm hoặc làm nước mắm. Nhiều loài sống ở sông, kinh rạch như: cá lăng, cá úc, cá dồ. Cá bông lau sống ở vùng nước lợ, cá hú, cá ba sa. Cá chạch và cá chạch lấu có hoa ở thân. Cá ở đồng ruộng ao, đìa gồm có: cá rô, cá dầy tho, các sặt bướm, cá sặt rằn (vảy nhỏ, dẹp, nhỏ con hơn dày tho), cá lóc cùng loại có cá tràu nhỏ con hơn. Cá bông to con, sống ở sông lớn, ít vô ao đìa. Loài giác ngư (có hai ngạnh) còn có cá trê trắng, cá trê vàng, cá trê dừa, sau có cá trê phi nhập. Cá bẹ dẹp, cá vược, cá chẻm, cá vược. Ngoài các loại cá chưa thống kê hết được, ở vùng nước ngọt, còn có các loài lươn, chình… cũng là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Các loại cá biển rất nhiều, những loài phổ biến gồm: cá chim, cá sơn, cá rựa giống như lưỡi rựa, cá thu, cá biển, cá thu ầu, cá thu lá, cá gún, cùng loại. Cá mập, cá dứa, cá mòi, cá ngừ, cá chét, cá mực, cá cúi (heo biển), cá bẹ. Cá búa, cá giủa, cá nhám – cùng loại cá mập nhưng nhỏ con, màu xám. Cá đường, cá kìm, cá lạc, cá bạc má, cá lù đù, cá chỉ vàng, cá thòi lòi biển, cá bống kèo sống ở cửa sông nước lợ hiện nay giá rất đắt do thị trường ưa chuộng; cá lưỡi trâu, cá đối thường dùng để làm khô.
Ở sâu trong Đồng Tháp Mười có nhiều cá thia thia, cá bãi trầu; cá rô năn, cá trê năn cũng là loại cá rô, cá trê nhưng sống vùng nước phèn không lớn được. Khu Bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười là nơi lưu giữ những sinh cảnh tự nhiên còn lại của hệ sinh thái độc đáo vùng Đồng Tháp Mười. Khu bảo tồn có diện tích 106,8 ha, trong đó có 36 ha tràm là khu trung tâm, nơi dẫn dụ chim mồi. Vùng đệm xung quanh khu bảo tồn được xác định có diện tích 1.800 ha. Đây được coi là nơi tham quan nghiên cứu đặc trưng của vùng ngập nước.
Các loại nhuyễn thể và giáp xác ở vùng nước mặn gồm: đồm độp hay còn gọi là hải sâm, nghêu, sò huyết, ốc len, cua biển, sam ghẹ, ba khía, họ hàng nhà tôm, còng biển… Ở vùng nước ngọt, trong đất liền có các loại ốc: ốc ma loại ốc rừng, ốc hương, ốc gạo, ốc bưu, ốc lác, ốc đắng, ốc đá và hến, vẹm, móng tay… Con lưỡi búa cùng loại có nhiều ở cồn Tân Phong, có thịt dai, ít người ăn. Con còng gió, cua đồng và tôm càng xanh, tép đồng, tép lóng, tép đất… Loài đỉa hầu như đã tuyệt chủng.
Loài lưỡng cư có các loại cóc, nhái, nhái bầu, ếch, ễnh ương, bù tọt, hót cổ. Ếch bầu cũng có nhiều ở các giồng cát, dân địa phương gọi là con uềnh oang.
Loài bò sát, còn tồn tại các loại rắn nước, rắn hổ mang, rắn hổ ngựa, rắn lục, rắn ri cá, rắn ri voi, rắn ri dông, rắn ri cóc, rắn bông súng, rắn hổ hành, rắn trung, rắn chàm quạp…và một số loài rắn biển khác. Rùa có nhiều nhưng hiện nay còn sót lại rất ít, gồm các loại rùa vàng, rùa nắp, con cua đinh… Loài bò sát khác còn có kỳ nhông, tắc kè, rắn mối, thằn lằn…Các loài rắn này được trại rắn Đồng Tâm bảo tồn rất nhiều.
Ngoài ra còn có các loại gia súc, gia cầm được nhiều hộ gia đình chăn nuôi ở tất cả các địa phương trong các huyện.
Qua các hệ động vật rất là phong phú về loài đa dạng về chủng loại, ngành du lịch tận dụng các loài này để làm các món ăn do chính dân địa phương chế biến để quảng bá về ẩm thực của vùng mình. Tạo ra nhiều món ăn lạ, ngon để thu hút khách du lịch từ mọi miền đất nước, kể cả khách quốc tế. Chính đặc điểm về hệ thực vật và động vật phong phú trên, mà tỉnh Tiền Giang chưa khai thác hết phục vụ các món ăn mới lạ cho du khách. Trong tương lai ngành du lịch sẽ khai thác các đặc điểm này để phát huy thế mạnh tiềm năng, cụ thể là các vùng sinh thái của tỉnh hầu hết đã quy hoạch chi tiết để từng bước khai thác tốt các loại tài nguyên này.
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
2.2.2.1. Các di tích lịch sử – văn hóa
Tiền Giang là tỉnh có nhiều di tích lịch sử – văn hóa, có nhiều kiến trúc tồn tại hàng trăm năm, gắn liền với các chiến công chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhiều khu di tích được công nhận mang tầm cỡ quốc gia, điều đó cho thấy tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh khá lớn.
Chiến thắng Rạch Rầm – Xoài Mút: Rạch Gầm – Xoài Mút là nơi đầu tiên trên địa bàn phía Nam của Tổ quốc đã diễn ra một trận thủy chiến chiến lược đánh tan 300 chiến thuyền, 5 vạn quân Xiêm xâm lược và tập đoàn phong kiến bán nước Nguyễn Ánh vào đêm 19 rạng sáng 20 tháng 1 năm 1785. Có thể nói, chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút là một chiến công chống ngoại xâm lừng lẫy của nhân dân Đàng Trong, lớn nhất trong 5 thế kỷ kể từ chiến thắng Bạch Đằng ở thế kỷ thứ 13. Với chiến thắng này, nhân dân miền Nam đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc và xứng đáng là bức thành kiên cố phía Nam của Tổ quốc. Khu di tích Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút tọa lạc tại ấp Đông (Kim Sơn, Châu Thành, Tiền Giang), nằm cạnh bờ sông Tiền, ngay mặt tiền tỉnh lộ 864, cách Mỹ Tho khoảng 12 km về phía Tây. Di tích đã được đưa vào sử dụng vào ngày 20 tháng 1 năm 2015 nhân kỷ niệm 220 năm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, với diện tích 1,5 ha gồm 3 nhà trưng bày.
Di tích Lũy Pháo Đài: Bên Cửa Tiểu thuộc xã Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, năm Minh Mạng thứ 15 (1834) vua cho xây dựng đồn Từ Linh nhằm bảo vệ cửa biển và thu thuế. năm 1861 Trương Định cho quân đóng tại đồn này để chặn đánh tàu Pháp, đồn được gọi là chiến lũy Pháo Đài. Đây là thành lũy có hình lục giác, thành bằng đất, mỗi cạnh dài 22m, cao 1,8m, có 2 cửa, giếng nước ngọt, trại lính, kho lương thực và kho đạn. Bên ngoài thành có hào lũy và một khẩu thần công loại lớn.
Mộ anh hùng dân tộc Trương Định: Là người con của đất Quảng Ngãi, Trương Định sinh năm 1820 là người đi đầu trong khai hoang lập ấp tại vùng Gò Công, được triều đình bổ nhiệm chức Quản Cơ. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông là người đầu tiên của Việt Nam dấy binh khởi nghĩa làm quân giặc bao phen khiếp sợ. Mộ ông được xây dựng tại Phường 1- Thị xã Gò Công, mộ được xây bằng đá xanh, diện tích khoảng 67m2. Mặt bia có khắc chữ “Đại Nam – Phấn Dũng Đại Tướng Quân, Truy tặng Ngũ Quân, Quận Công, Trương Công Định Chi mộ”. Đến đây du khách còn có thể tìm hiểu kiến trúc mộ táng tiêu biểu vùng Nam Bộ.
Đền Thủ Khoa Huân: Nguyễn Hữu Huân (1830 – 1875) sinh tại thôn Tịnh Giang, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), đỗ thủ khoa kỳ thi Hương tại Gia Định nên được gọi là Thủ Khoa Huân, được triều đình bổ nhiệm làm chức Giáo phụ thủ kiến An. Thủ Khoa Huân ba lần lần đứng lên dấy binh khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. cả ba lần đều bị địch bắt, một lần bị kết án khổ sai và đày đi vùng Trung Mỹ, cuối cùng chúng đưa ông về quê nhà xử trảm. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Chiến thắng Cổ Cò: Trận Cổ Cò diễn ra ngày 22 tháng 01 năm 1947 (nhằm ngày mùng 1 Tết Đinh Hợi) là trận phục kích của Chi đội 17 Quốc vệ đội Mỹ Tho và chi đội 18 đại đội trường quân chính khu 8, cùng du kích huyện Cái Bè đánh tiểu đoàn Leon co giới Pháp ở khu vực Cổ Cò, diệt và làm bị thương hơn 170 tên, là trận đánh lớn đầu tiên trên chiến trường khu 8, góp phần chặn đứng âm mưu bình định nông thôn Nam Bộ của địch. Di tích chiến thắng Cổ Cò thuộc xã An Thới Đông, huyện Cái Bè.
Chiến thắng Giồng Dứa: ngày 25 tháng 4 năm 1947, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Trà, Khu Bộ trưởng khu 8, Chi đội 17 bộ đội chủ lực của quân khu và Đại đội khóa sinh trường Quân chính khu 8, phối hợp cùng quân dân Mỹ Tho tiêu diệt đoàn xe Công voa và đoàn xe chính phủ bù nhìn Nam Kỳ tự trị. Ở trận này ta tiêu diệt 80 tên, có tên các tên chỉ huy tình báo Pháp, 1 tên đốc phủ và 1 tên bộ trưởng ngụy quyền, làm chấn động nước Pháp thời bấy giờ. Di tích chiến thắng Giồng Dứa thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành.
Bia căm thù bến đò Phú Mỹ: bia căm thù Bến đò Phú Mỹ thuộc ấp Phú Hữu, xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước. Trong những năm 1947 – 1949, thực dân Pháp đã bắt hàng chục cán bộ chiến sĩ và nhân dân yêu nước địa phương chặt đầu, xả thịt, buộc những người dân vô tội qua lại trên sông phải mua thịt đồng đội và nấu ăn, nếu ai không mua chúng bắt và đem đi chặt đầu. Tại đây, một bia căm thù được dựng lên để tố cáo tội ác tày trời của kẻ thù xâm lược.
Chiến thắng Ấp Bắc: chiến thắng Ấp Bắc ngày 02 tháng 1 năm 1963 tại xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, là móc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Tiền Giang và của dân tộc Việt Nam. Với 200 tay súng, quân dân
Ấp Bắc đã đánh bại hơn 2010 quân địch có máy bay, xe tăng, tàu chiến và cố vấn Mỹ chỉ huy. Ta đã bẻ gãy hai chiến thuật mà Mỹ áp dụng trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là “trực thăng vận” và “thiết xa vận”, báo hiệu sự sụp đổ của chế độ độc tài Nghô Đình Diệm.
Tượng đài kỷ niệm chiến thắng Ba Rài: chiến thắng Ba Rài trên đoạn sông Ba Rài thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy vào ngày 15 tháng 9 năm 1967. Với trận này quân và dân ta đã bẻ gãy chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” – một chiến thuật cơ động, luồn sâu vào hậu cứ của ta trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ 16 tàu giặc bị đánh chìm, hơn 200 tên mỹ bị tiêu diệt trên một đoạn sông ngắn Ba Rài. Ngày nay, trên khúc sông từng diễn ra trận đánh, một tượng đài tưởng niệm chiến thắng cao 15m, chất liệu bê tông cốt thép được dựng lên trong một khuôn viên có nhiều cây cảnh để ghi lại trận thắng Mỹ đầu tiên của quân và dân đồng bằng sông Cửu Long từ khi Mỹ đến đồng bằng vào năm 1967.
Di chỉ khảo cổ Gò Thành: thuộc xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, cách thành phố Mỹ Tho khoảng 10km về hướng Đông Bắc. Khu di tích có niên đại từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VIII sau Công Nguyên thuộc nền văn hóa Óc Eo. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện 3 loại di chỉ: kiến trúc, mộ táng và cư trú. Tại di tích đã tìm thấy các pho tượng quý như: Visnu, Nagasa, Nam Thần và nhiều hiện vật khác bằng vàng, đồng, gốm,…Năm 2004 Bộ văn hóa – Thông tin đã công nhận di tích khảo cổ Gò Thành là di tích cấp Quốc gia. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Lăng Hoàng Gia: được xây dựng tại Gò Sơn Quy, thị xã Gò Công từ đầu thế kỷ XIX. Khu Lăng Hoàng Gia gồm mộ Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng – ông ngoại vua Tự Đức, người nổi tiếng lỗi lạc, hiền đức; tấm bia đá của vua Tự Đức viếng ông ngoại được chạm khắc dựng ngay cạnh mộ cùng 13 ngôi mộ cổ của dòng họ Phạm Đăng. Đây là khu lăng mộ có tính thánh địa, phản ánh văn hóa mộ táng và nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của thời Nguyễn.
Lăng Tứ Kiệt: Nằm ở trung tâm thị trấn Cai Lậy, với cổng nhìn ra đường 304, du khách đến tham quan chắc hẳn sẽ hài lòng với khung cảnh và càng thích thú hơn khi được nghe về lai lịch của lăng. Tứ Kiệt hay Bốn ông là cách gọi tôn kính của nhân dân đối với 04 vị anh hùng lãnh đạo nhân dân chống Pháp từ năm 1868 – 1870. Đó là các ông: Trần Công Thận, Nguyễn Thanh Long, Ngô Tấn Đước và Trương Văn Rộng. Sau khi giặc Pháp hạ thành Mỹ Tho và chiếm toàn tỉnh Định Tường (1861), Bốn ông tham gia cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Dương khởi xướng và lãnh đạo, góp phần cùng nghĩa quân tạo nên những chiến thắng oai hùng. Căn cứ Đồng Tháp Mười bị vỡ, Bốn ông liền về Cai Lậy chiêu mộ nghĩa quân tiếp tục phất cao cờ khởi nghĩa. Trong hàng loạt những chiến công của nghĩa quân Tứ Kiệt, có 02 chiến công được xem là chói lọi nhất. Đó là cuộc tấn công vào thành Mỹ Tho và thiêu hủy đồn Cai Lậy. Sau hai năm hoạt động gây cho giặc nhiều thiệt hại, cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt đành chịu sự thất bại trước sự bao vây và đàn áp tổng lực của quân đội viễn chinh Pháp. Bốn ông cùng 150 nghĩa quân bị bắt. Bọn chúng đem vinh hoa phú quí ra dụ dỗ các ông trong nhiều ngày không thành. Ngày 14/02/1871 (nhằm ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ), giặc đưa Bốn ông ra pháp trường trảm huyết, bêu đầu ở chợ Cai Lậy nhằm uy hiếp tinh thần của dân chúng, sau đó dùi dập ở bến sông cạnh chợ. Thân nhân gia đình chỉ mang thân mình các ông về quê nhà, gắn chiếc đầu giả làm bằng đất sét vào chôn cất.
Quần thể mộ đá Hòa Bình: được xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Nằm ở cánh đồng lúa ấp Hòa Bình, xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, quần thể mộ đá Hòa Bình được xem là công trình chạm khắc trên đá sắc sảo ở nước ta. Quần thể gồm 10 ngôi mộ với nhiều kiểu dáng khác nhau, trong đó có một ngôi mộ được chạm khắc bằng 80 bức phù điêu, nhiều tượng về các loại hoa quả và động vật phản ánh một cách sống động những sinh hoạt, tập tục thờ cúng dân gian địa phương.
Tượng đài Chợ Giữa – Vĩnh Kim: thuộc huyện Châu Thành ngày 5 tháng 12 năm 1940 thực dân Pháp dùng máy bay ném bom lúc chợ đông người, làm chết và bị thương hơn 200 người dân vô tội. Nơi chúng gây tội ác một tượng đài bằng đồng và bức tranh gốm dài 24m mêu tả cuộc thảm sát dã man của thực dân Pháp.
Chùa cổ Sắc Tứ Linh Thứu: Xây dựng từ thế kỷ thứ XVIII và được coi là ngôi chùa cổ ở Tiền Giang, ngôi chùa được tọa lạc tại chợ Xoài Hột, huyện Châu Thành. Trong chùa còn lưu giữ 78 cây cột bằng gỗ căm xe và chiếc Đại Hồng Chung nặng trên 100kg. Khoảng năm 1783, chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy bắt đã chạy vào chùa tá túc, sau khi lên ngôi vua với hiệu đế là Gia Long, nhà vua ban cho chùa danh hiệu Long Nguyên Tự (tức chùa Đất Rồng), được nhân dân coi là chùa vua. Chùa Sắc Tứ Linh Thứu còn là ngôi chùa duy nhất thờ 49 ngọn đèn hóa thân của Phật Dược Sư.
Chùa Vĩnh Tràng: tọa lạc tại xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, chùa Vĩnh Tràng được xem là ngôi chàu Việt lớn và đẹp nhất Nam Bộ. Được dựng từ thế kỷ XIX, chùa có phong cách kết hợp Á – Âu. Nét độc đáo của chùa là nghệ thuật ghép các mảnh sành sứ tạo nên những bức tranh nghệ thuật hài hòa, minh họa sự tích nhà Phật tại hai cổng Tam Quan. Trong chùa có bộ phù điêu Bát Tiên cưỡi thú, bộ tượng Tam Tôn cổ bằng đồng to bằng người thật. Đặc biệt hơn cả là bộ Thập Bát La Hán được chạm khắc bằng gỗ. Chùa Vĩnh Tràng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1984.
Chùa Bửu Lâm: được xây dựng từ năm 1803 theo kiểu “nội tam ngoại quốc”. bước vào Chánh diện, du khách sẽ thấy vẻ tráng lệ hiện ra vơi 3 long trụ chạm trổ công phu, 5 bộ bao lam tuyệt phẩm, những tấm hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng rực rỡ, 5 tượng Phật bằng đồng đúc từ thế kỉ XVIII, đặc biệt là bức chạm hình Cửu long tranh châu và bức chạm hình Mẫu đơn – chim trĩ mang dấu ấn của những nghệ nhân đầu thế kỷ XIX. Chùa tọa lạc tại phường 3 – thành phố Mỹ Tho.
Đình Long Trung: thuộc xã Long Trung, huyện Cai Lậy, đình được xây từ năm 1897. Ngôi đình là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Hoa và kiến trúc Nam Bộ, theo kiểu nhà ghép gồm nhà khách, đình chánh và võ ca. Ngôi đình có 6 sắc thần, bộ cột tại chánh điện bằng gỗ quý có gắn những bao lam, câu đối được chạm rồng mây cổ kính và sinh động, đặc biệt đình vẫn cond lưu giữ tấm hoành quý “Mỹ Long Trung Đình”. Năm 2009 Đình Long Trung được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích Nghệ thuật cấp Quốc gia. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Đình Long Hưng: nói đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940 tại Mỹ Tho người nghĩ ngay đến đinh Long Hưng tại xã Long Hưng, huyện Châu Thành. Đây là trụ sở chỉ huy, trung tâm của cuộc khởi nghĩa, nơi lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên của nước ta tung bay trong đêm khởi nghĩa. Đình được thành lập từ thế kỷ XIX và bị cháy nhiều lần trong chiến tranh, vốn được thờ thần Hoàng và Tả quân Lê Văn Duyệt – một công thần của thời Nguyễn. Ngày nay, đình được dựng lại tại khu vực đình cũ, trong khuôn viên rộng rãi, bên cạnh nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nhà trưng bày về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tại Mỹ Tho.
Đình Trung: được xây dựng năm 1913 mang dáng dấp của nghệ thuật kiến trúc pha lẫn cổ kim, là ngôi đình lớn và đẹp của Tiền Giang. Đây là công trình kiến trúc dân gian phản ánh quá trình hình thành, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh hiện vẫn còn lưu giữ hai sắc thần của vua phong. Đình tọa lạc tại trung tâm thị xã Gò Công, cùng cụm di tích ngôi nhà Đốc Phủ Hải, tượng đài và lăng mộ anh hùng dân tộc Trương Định và phố cổ thành khu di tích lớn ở Gò Công. Hằng năm người dân tổ chức lễ hội Kỳ Yên vào các ngày từ 14 đến 16 tháng 2 âm lịch với phần lễ hội chính như: Lễ thỉnh sắc, Tết Túc Yết, lễ xây chầu Đại bội, lễ tế Tiền hiền, Hậu hiền, Tiên sư,…
Đình Điều Hòa: nằm giữa lòng thành phố Mỹ Tho, trên đường Trịnh Hoài Đức, phường 2, đình được xây dựng năm 1913. Với kiến trúc pha lẫn cổ kính và hiện đại, đình có bố cục hình chữ thập, khác với một ngôi đình truyền thống ở Nam Bộ. Trong đình có nhiều cổ vật, các bức tranh, các bức chạm khắc, bao lam, đặc biệt có câu đối của Thượng thư Cao Xuân Dục và bức hoành chạm trổ tứ linh.
Đình Đồng Thạnh: tọa lạc tại xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, đình được xây dựng vào thế kỷ XIX. Trong đình có nhiều bức tranh đắp nổi mô tả cảnh sinh hoạt của địa phương vào thế kỷ XIX, nhiều tượng gốm. Bên bờ thân của nóc thượng lương đắp nổi các tượng La Hán mang yếu tố Phạt giáo. ở võ ca trang trí tứ linh, tứ quý, bát tiên, cá hóa long, hoa quả trong vùng là nét độc đáo, hiếm thấy so với các đình trong vùng.
Nhà cổ Cái Bè: ngôi nhà tồn tại khoảng 150 năm và đã qua nhiều lần sửa chữa. Nhà có kết cấu kèo cột kiểu chồng rường, bằng loại gỗ căm xe. Các hoa văn chạm khắc, trang trí trên các bộ kèo, xuyên, trính và trên các vách cửa, các bao lam bên trong rất đặc sắc theo phong cách Nam Bộ. Trải qua nhiều thế kỷ và chiến tranh, nhưng điều là lạ hầu hết vật liệu trang trí như các bộ bao lam, hoành phi, liễn đối đến nay vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn. Độc đáo nhất là bộ bao lam được chạm lọng tùng, cúc, trúc, mai được cách điệu hài hòa, các hoa tiết mềm mại, uyển chuyển thể hiện trình độ mỹ thuật rất cao của người xưa. Ngoài ra, còn có các bộ liễn đối khảm xà cừ, các bộ ghế được chạm trổ rất công phu và nhiều vật dụng có giá trị mỹ thuật khác. Chưa kể các vật dụng bằng sứ được sử dụng trong nhà như bình, dĩa, tách, gạt tàn đều thuộc loại quý hiếm.
Nhà Đốc Phủ Hải: tọa lạc tại trung tâm thị xã Gò Công, ngôi nhà do bà Trần Thị Sanh con của Bá hộ Trần Văn Đồ dựng năm 1890 theo kiểu chữ Đinh. Ngôi nhà gồm ba gian hai chái với sự bài trí cầu kỳ nhưng khoáng đạt. Du khách đến tham quan tận mắt chứng kiến những cổ vật, những tác phẩm nghệ thuật chạm khắc. Tới đây, du khách có thể cảm nhận sự vương giả của một gia đình Đốc phủ. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Bảo tàng Tiền Giang: được thành lập từ năm 1980, tọa lạc tại trung tâm thành phố Mỹ Tho, là nơi nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày giới thiệu giá trị của di sản văn hóa địa phương và dân tộc. Với khuôn viên thoáng mát, bên cạnh bờ sông Bảo Định, Bảo tàng có nhiều khu trưng bày về các nền văn hóa cổ, các cuộc kháng chiến, văn minh miệt vườn và văn hóa phi vật thể. Đến với Bảo tàng Tiền Giang du khách sẽ có cái nhìn khái quát về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Tiền Giang, về tính cách và sinh hoạt của người Tiền Giang. Đây là điểm du lịch lý tưởng cho mục đích tham quan, nghiên cứu và học tập.
2.2.2.2. Lễ hội
Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc: để ghi dấu chiến thắng lẫy lừng của quân dân Ấp Bắc bẻ gãy các chiến thuật tân kỳ “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của Đế quốc Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Hằng năm vào ngày 02 tháng 1 Dương lịch, chính quyền và nhân dân Tiền Giang tổ chức lễ hội rất long trọng. Các năm chẵn, lễ hội diễn ra nhiều ngày với các hoạt động diễu binh, diễu hành, trưng bày, cắm trại, về nguồn, các cuộc thi thể thao, ẩm thực, văn nghệ,… rất nào nhiệt. Đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh tựu về để tham gia lễ hội.
Lễ hội Quan Thánh Đế Quân: là lễ hội của người Hoa được tổ chức trang trọng trong các ngày từ mùng 10 đến 13 tháng Giêng hàng năm tại thị xã Gò Công. Đây là dịp người Hoa từ thành phố Hồ Chí Minh và một số người Hoa trong tỉnh tập trung về đây thắp hương cúng viếng, tỏ lòng thành kính đối với Quan Công. Lễ hội Quan Thánh Đế Quân là một nét đẹp văn hóa của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại thị xã Gò Công.
Lễ hội Nghinh Ông: là lễ hội của ngư dân vùng biển Tiền Giang, được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 3 Âm lịch tại xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông.
Người dân Vàm Láng tổ chức lễ hội rất long trọng tại Lăng Ông, với lễ rước Sắc thần, cúng thủy lục, cúng vong linh thiên vị, hát bội…Ngày 10 tháng 3 Âm lịch hàng chục tàu với hương án, cờ đèn, mâm cỗ, trang hoàng lộng lẫy, có đội nhạc lễ ra biển làm lễ Nghinh Ông. Sau đó, dân làng thả sức vui chơi, văn nghệ, thể thao, các trò chơi dân gian suốt hai ngày.
Lễ giỗ anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân: lễ giỗ được tổ chức tại đền thờ ông vào ngày 15 tháng 4 Âm lịch. Hằng năm, nhân dân các tỉnh thành trong khu vực và bà con dòng tộc về dự lễ.
Lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định: được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 Âm lịch, tổ chức tại đền thờ của ông và gia đình Gia Thuận huyện Gò Công Đông vào ngày Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định tuẫn tiết ngày 20 tháng 8 năm 1864. Vào ngày lễ giỗ, đông đảo người dân trong tỉnh và du khách thập phương về dự lễ.
Lễ hội Nam Kỳ Khởi Nghĩa: diễn ra vào ngày 23 tháng 11 Dương lịch hàng năm tại đình Long Hưng, huyện Châu Thành. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đình Long Hưng là trụ sở của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên của Việt Nam được treo tại đình này. Vào các năm chẵn, lễ hội được tổ chức với quy mô lớn với các hoạt động cắm trại, mít tinh, biểu diễn văn nghệ, thi làm bánh,…thu hút nhiều khách du lịch khắp nơi cả nước về dự.
Lễ giỗ Tứ Kiệt (25 tháng chạp âm lịch hàng năm): Tứ Kiệt là 4 vị anh hùng: Nguyễn Thanh Long, Trần Công Thận, Trương Văn Rộng, Ngô Tấn Ðước, bị giặc Pháp xử chém ngày 14-2-1871, nhằm ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ. Lễ giỗ được tổ chức tại Lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).Các năm chẵn, lễ giỗ được tổ chức qui mô, có các ban ngành trong tỉnh tham gia.
2.2.2.3. Các làng nghề thủ công truyền thống Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Nghề làm mắm tôm chà: được mệnh danh là bánh Tiến Cung, một trong 52 món cung đình được các vua Nguyễn chuyên dùng. Món này được làm từ tôm bạc, nghệ xay nhuyễn, ướp gia vị rồi phơi nắng, mang hương vị đặc trưng của quê biển Gò Công.
Nghề làm bánh tráng, cốm: là nghề truyền thống của người dân Cái Bè, bánh tráng dai, thơm, ngon được làm từ gạo tẻ qua nhiều công đoạn từ việc xay thành bột, lọc, tráng, rồi phơi khô, đòi hỏi bàn tay khéo léo của người thợ. Riêng cốm, sau khi nổ cốm người thợ cho thêm gia vị đường, mạch nha, nước cốt dừa rồi ép vào khuôn.
Làng nghề đóng tủ thờ: tọa lạc tại ấp Ông Non, xã Tân Trung, huyện Gò Công Đông, ông Nguyễn Ngọc Hải sinh năm 1890 là người có công đưa nghề đóng tủ thờ ở đây phát triển và đến nay đã trở thành một làng nghề nổi tiếng. Sản phẩm không những tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. Tủ thờ Gò Công có đặc điểm là bài trí rực rỡ và trang nghiêm tạ đền thờ các vua hùng ở tỉnh Phú Thọ và đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An.
Làng nghề dệt chiếu ở Long Định: ở xã Long Định – huyện Châu Thành, trước đây và hiện nay luôn giữ được nghề dệt chiếu cha truyền con nối và phát huy được thương hiệu chiếu Long Định trên thị trường cả nước. Nghề dệt chiếu ở đây tồn tại trên dưới 50 năm. Theo thời gian cùng sự phát triển của cuộc sống xã hội và thương trường, chiếc chiếu Long Định vẫn luôn khẳng định chất lượng và tên tuổi.
2.2.2.4. Địa danh du lịch
Phố cổ Mỹ Tho: thành phố Mỹ Tho còn được biết đến với tên gọi “Mỹ Tho Đại Phố” do người Việt và người Hoa xây dựng năm 1679 (nay thuộc phường 2 và phường 8 thành phố Mỹ Tho). Mỹ Tho Đại Phố có mối giao thương với các nước trong khu vực, khu thương mại cổ nằm trên đường Nguyễn Huỳnh Đức. Cùng với cù lao phố Biên Hòa và Hà Tiên, Mỹ Tho Đại phố là một trong ba trung tâm thương mại lớn nhất vùng Nam Bộ lúc bấy giờ.
Cù Lao Thới Sơn: có diện tích 1.100ha nằm giữa sông Tiền chở nặng phù sa. từ thành phố Mỹ Tho đến với cù lao Thới Sơn chỉ mất 45 phút đi thuyền máy. Tham quan khu du lịc Thới Sơn, du khách xuống đò chèo xuôi theo những con rạch ngoằn ngoèo, hai bên là những hàng dừa nước, những loại thủy liễu mọc ven sông mang một màu xanh ngát, hay tản bộ trên những con đường mòn nhỏ bên dưới những vườn cây ăn trái xanh mát. Du khách có thể tự hái trái cây để thưởng thức. Nghỉ đêm lại khu du lịch Thới Sơn trong những đêm có ánh trăng du khách sẽ cảm nhận được không khí yên bình, huyền diệu, êm ả của cù lao giữa dòng sông lấp lánh. Trại rắn Đồng Tâm: là trung tâm nuôi rắn lấy nọc phục vụ việc nghiên cứu điều trị rắn cắn cho nhân dân cả nước và lấy nọc rắn để xuất khẩu, ở đây còn kết hợp trồng nhiều cây dược liệu quý của Nam Bộ. Trại rắn Đồng Tâm còn là tổ ấm của các loài chim và động vật quý hiếm cư ngụ. Trại rắn Đồng Tâm cách thành phố Mỹ Tho 12km thuộc huyện Châu Thành. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Cù lao Tân Phong: nằm về phía hữu ngạn chợ nổi Cái Bè là cù lao Tân Phong, xưa gọi là Cồn Cù, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, được hợp thành bởi 6 hòn đảo xinh xắn có tổng diện tích 2.430ha. Cù lao Tân Phong như hòn ngọc xanh giữa dòng sông Tiền, nổi tiếng các vườn chôm chôm và to và ngọt, với loại ốc gạo đặc biệt chỉ có ở cù lao Tân Phong. Đây còn là hình ảnh thu nhỏ của vùng châu thổ, hấp dẫn du khách bởi những đặc trưng của văn minh miệt vườn.
Biển Tân Thành: thuộc huyện Gò Công Đông, với bờ biển dài 7km với bãi biển sạch, đẹp. Ngoài khơi là khu du lịch Cồn Ngang có hình vòng cung với hai bãi tắm lớn ở hai đầu cồn đang được đầu tư xây dựng. Tham quan biển Tân Thành du khách còn được thưởng thức những món ngon mang đậm nét dân dã của vùng quê biển nơi đây, cảm nhận sự thanh bình của thiên nhiên và tình cảm chân chất của con người xứ biển Gò Công.
Vùng ngập nước Đồng Tháp Mười: khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười, với diện tích 100ha khu trung tâm và khu đệm 1.800ha của tỉnh Tiền Giang, đã tái tạo thực vật đặc hữu vùng ngập phèn, với hơn 70 loài thực vật và 83 loài động vật, là kho tàng bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm phục vụ cho công tác nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như nơi tham quan học tập của nhiều đối tượng. Phong cảnh Đồng Tháp Mười mênh mông, thanh bình, có không khí trong lành và những người dân chân chất, mộc mạc. Với cuộc sống thiên nhiên dân dã, các món ăn đồng quê như cá lóc nướng trui, mắm kho bông súng,…sẽ là nơi tham quan lý tưởng cho du khách. Đến đây du khách còn tham quan vùng trồng khóm Tân Lập phát triển vùng đất phèn có vị ngọt đậm đà khác hẳn với các loại khóm vùng khác. Với những cánh từng tràm bạc ngàn heo hút trong gió, xa xa có nhiều loài chim, cò bay lượng tạo nên một vẽ đẹp như trong tranh.
Cầu Rạch Miễu: cầu được đưa vào sử dụng và ngày 19 tháng 1 năm 2019, nối hai bờ tỉnh Tiền Giang và Bến Tre. Đây là cây cầu chính thức được kỹ sư Việt Nam thiết kế và làm chủ công nghệ. Cầu Rạch Miễu có tổng chiều dài toàn tuyến là 8.331m, trong đó cầu số 1 (cầu dây văng dài 504m, khẩu độ nhịp chính 270m), cầu số hai phía Bến Tre dài 381,8m, bề rộng mặt cầu 15m, tĩnh không thông thuyền 37,5m. Tổng mức đầu tư dự án khoảng 1.400 tỉ đồng.
Cầu Mỹ Thuận: Cầu bắc qua sông Tiền, nối hai tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang. Đây là cây cầu dây văng lớn nhất Đông Nam Á. Cầu được khởi dựng ngày 06tháng 7 năm 2007, khánh thành ngày 21 tháng 5 năm 2010. Cầu Mỹ Thuận là cây cầu quan trọng trong trục quốc lộ 1A về các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Trước khi cầu được khánh thành, từ những năm 1935, người dân hai miền Vĩnh Long và Tiền Giang phải qua lại bằng phà.
Chợ nổi Cái Bè: trên khúc sông của Vàm Cái Bè, du khách chứng kiến cảnh ghe xuồng như mắc cửi cùng tiếng nói cười rộn rã huyên náo của người mua, người bán. Hàng ngày trên khúc sông này có khoảng trên 400 ghe thuyền đầy ắp các loại trái cây neo đậu dọc hai bên bờ sông chowg thương lái đến mua. Chợ nổi Cái Bè có sức quyến rũ đặc biệt không thể lẫn với một chợ nổi nào ở vùng Nam Bộ.
2.2.2.5. Ẩm thực Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Hủ tiếu Mỹ Tho: Hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế… ở chỗ không ăn với xà lách, giấm, rau ghém, mà dùng giá sống, chanh, ớt, nước tương. Ðiều làm nên hương vị riêng khiến cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng. Nhiều người cho biết, hủ tiếu ngon nhất phải là loại làm bằng gạo Gò Cát (đặc sản như tàu hương, nàng thơm chợ Ðào). Ðây là vùng trồng lúa thơm địa phương của xã Mỹ Phong, ngoại thành Mỹ Tho. Gạo Gò Cát làm bún, bánh tráng, bánh nghệ nức tiếng ở Mỹ Tho hơn 40 năm nay. Hủ tiếu Mỹ Tho có chất ngọt của nước lèo từ xương ống hầm kỹ, thịt và khô mực nướng, cùng một số nguyên liệu, gia vị đặc trưng, được các đầu bếp gia giảm theo khẩu vị khách hàng của mình. Hủ tiếu Mỹ Tho là món ăn đặc sản đạm đà tính dân tộc, đây là món ăn làm theo cách thức của người dân Nam Bộ, du khách muốn thưởng thức hủ tiếu thường ghé ngã ba Trung Lương hay giao nhau giữa đường cao tốc với quốc lộ 1A.
Đọt rau choại (dân địa phương gọi là đọt trại): rau choại có lá kép hình lông chim dài gần cả mét. Lá non màu nâu pha lẫn xanh dợt, trên đầu lá non uốn cong, thoạt nhìn ta liên tưởng đến hình con cuốn chiếu cuộn mình. Rau choại mọc men theo những cánh rừng tràm. Rau choại ngon là loại vừa mới nhú, chột bung lá ít thôi, ngó (đọt) rau là phần non nhất của dây, thường ăn nhớt nhớt. Mùa mưa là mùa rau choại non mơn mởn, chột hay ngó đều ngon, không có vị chát như khi trời nắng nóng. Khi bàn về các món ăn chế biến từ rau choại, người ta nghĩ ngay đến món luộc. Rau mới hái về thì đọt tươi, giòn. Chỉ cần rửa sạch, luộc sơ chấm mắm nêm hay nước tương pha thêm tỏi ớt băm. Mâm cơm có thêm vài con cá rô chiên hoặc cá lóc nướng trui thì rất ngon. Đây là một loại rau sạch, có vị thơm, ngọt nhẹ đặc trưng. Rau choại dân dã, bình dị, mang đậm nét quê, được các bà nội trợ miệt vườn chọn để chế biến thành những món ăn ngon khác như: đọt choại nấu canh chua cá rô đồng, canh chua lươn bông điên điển, nhúng lẩu, xào tép ăn cũng thật ngon.
Gỏi da cá đuối khô: Những con cá đuối lớn, phần da lưng nhám và dày cần phải lóc ra, đem phơi khô có thể làm được món gỏi ăn khá lạ miệng. Du khách muốn ăn loại món ăn này phải đến vùng Gò Công, da cá đuối được chộn chung với gỏi bắp chuối cộng thêm các gia vị trở thành món ăn ngon lạ miệng cho du khách.
Cá mao ếch: Theo các ngư phủ ở Vàm Láng, cá mao ếch đem đi “chưng tương” là món “đúng gu” nhất với loại cá này. Ngoài ra, cá mao ếch đem đi nướng ăn với muối tiêu chanh hoặc nấu lẩu chua với trái bần chín hoặc lá me non cũng là món khoái khẩu của nhiều người sành ăn. Cá mao ếch thuộc loại hiếm nên giá bán khá đắc.
Đi ăn đặc sản rừng ngập mặn Gò Công: đến với vùng biển Gò Công du khách còn thưởng thức các món ăn tươi sống hải sản rất nhiều loài khác nhau như: mực, tôm, cua, ghẹ, nghêu, sò, ốc,…cùng với người dân sứ biển thật thà, hiền hòa sẽ đem lại cho du khách sự thân thiện trong từng món ăn và hiểu được thành quả lao động mà người dân có được.
Đi ăn trái cây ở các nhà vườn: trái cây cũng là loại đặc sản của người dân Tiền Giang, có rất nhiều loại trái cây được các nhà vườn trồng như: chôm chôm, sầu riêng, vú sữa, nhãn, cam, quýt, nho, măn cụt, lê, mận, ổi, xoài,…Trong đó, nổi tiếng nhất là vú sữa Vĩnh Kim (Châu Thành), xoài cát Hòa Lộc, quýt (Cái Bè), sầu riêng Ngũ Hiệp (Cai Lậy). Đây là những loại trái cây được nhiều người dân trong và ngoài tỉnh ưa chuộng khi đi ngang qua địa phận tỉnh Tiền Giang. Ngoài ra, các nhà vườn còn kinh doanh theo hình thức trọn gói là bán vé vào các nhà vườn có đầy đủ các loại trái cây, du khách vào ăn thỏ thích mà không phải trả tiền.
2.3. THỰC TRẠNG DU LỊCH TỈNH TIỀN GIANG Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
2.3.1. Khách du lịch
Trong những năm gần đây, nền kinh tế đất nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng đi vào ổn định và phát triển, có nhịp độ tăng trưởng khả quan và thích ứng dần với cơ chế thị trường. Trong sự phát triển của các ngành kinh tế thì ngành dịch vụ cũng từng bước được chuyển dịch theo hướng tích cực. Một trong những ngành nổi bật là ngành du lịch đóng góp vào GDP của tỉnh khá lớn. Cụ thể là số khách du lịch ngày một tăng theo từng năm, điều đó ta thấy có sự cố gắn rất lớn từ ngành du lịch của tỉnh nhà. Năm 2015 ngành du lịch tỉnh đóng góp ngân sách nhà nước là 7.184 triệu đồng, đến năm 2020 đóng góp vào ngân sách tăng vượt bậc đạt 15.089 triệu đồng, trong 5 năm thì ngành du lịch đóng góp vào ngân sách tăng hơn gấp đôi. Điều này cho thấy ngành du lịch của tỉnh Tiền Giang ngày một phát triển.
Biểu đồ 2.1. Thể hiện khách du lịch trong nước và quốc tế đến Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020.
Trong giai đoạn 2010 – 2020 khách du lịch không ngừng tăng, trong giai đoạn 2011 – 2015 số khách từ 372.030 người tăng lên 532.575 người trong 5 năm số khách tăng thêm 160.545 người, tốc độ tăng bình quân 20% năm. Giai đoạn 2016 – 2020 số khách từ 654.275 người tăng lên 993.359 người trong 5 năm tăng lên thêm 339.084 người. Quan số liệu cho thấy, khách du lịch của tỉnh tăng rất nhanh, trong đó khách nội địa tăng nhanh nhất. Giai đoạn đầu, khách quốc tế và khách nội địa có số lượng tương đối bằng nhau, nhưng về giai đoạn sau thì khách nội địa tăng gấp gần 2 lần so với khách quốc tế. Điều này dễ thấy là ngành du lịch đang phát huy tốt thị trường trong nước, đặc biệt là du khách các tỉnh bạn như các tỉnh miền Đông Nam Bộ hay Tây Nguyên. Bởi lẽ, nhiều sản phẩm du lịch, các tour có đặc điểm khác so với các vùng này, từ cảnh quan, cách phục vụ, nhiều đặc sản mà có thể nói ở Tiền Giang mới có. Ngoài ra, tỉnh còn dựa vào các lợi thế tiềm năng sẵn có, cũng như các lợi thế khác nhằm phát huy tốt các lợi thế để từng bước kinh doanh du lịch có hiệu quả.
Dù lượng khách du lịch đến Tiền Giang có tăng nhưng du khách chủ yếu là khách lữ hành qua các tour du lịch tỉnh bạn, việc tổ chức tour trọn gói ở tỉnh rất ít. Tổng số khách quốc tế đến Tiền Giang thông qua tiếp nhận từ các doanh nghiệp khác chiếm đến 97%, số khách lưu trú lại chỉ chiếm 2,1%. Để phát triển du lịch cả về số lượng và chất lượng, đòi hỏi sự đầu tư nâng cấp các khu du lịch, nhà nghỉ khách sản, song song đó là các hoạt động vui chơi giải trí đáp ứng được yêu cầu của du khách.
Bảng 2.3. Số khách do các cơ sở lưu trú phục vụ ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: người Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 41.028 | 51.850 | 127.654 | 300.907 | 513.700 | 529.296 |
| Khách trong nước | 36.546 | 47.239 | 118.456 | 290.153 | 498.777 | 517.953 |
| Khách quốc tế | 4.482 | 4.611 | 9.198 | 10.754 | 14.923 | 11.343 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang.
Trong lượng khách đến Tiền Giang, thì khách mà do các cở sở lưu trú tiếp nhận phần nào chiếm số lượng lớn, nổi bật nhất là khách nội địa. Cụ thể giai đoạn 2011 – 2015 từ 51.850 người tăng lên 127.654 người tăng thêm 75.804 người; đến giai đoạn 2016 – 2020 từ 300.907 người tăng lên 529.296 người tăng thêm 228.389 người. Trong khi đó, khách quốc tế chiếm số lượng nhỏ năm 2011 tiếp nhận là 4.611 người đến năm 2020 tăng lên 11.343 người trong 10 năm tăng thêm 6.732 người. Ngoài việc tiếp nhận khách du lịch các cơ sở lưu trú không ngừng cải thiện các khâu như lễ tân, phục vụ, các dịch vụ bổ trợ khách, hướng dẫn du khách một cách chu đáo, tạo một không khí dễ chịu làm hài lòng khách từ mọi nơi trên đất nước kể cả khách quốc tế. Từ đó, để lại những ấn tượng sâu sắc cho khách, hẹn gặp lại khách sẽ đến lần sau rất cao, tạo thế phát triển bền vững trong tương lai.
Bảng 2.4. Số khách do các cở sở lữ hành phục vụ du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: người
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 275.537 | 320.180 | 288.741 | 353.368 | 387.823 | 464.063 |
| Khách trong nướ c | 140.189 | 148.619 | 50.355 | 67.274 | 92.243 | 94.416 |
| Khách quốc tế | 135.348 | 171.561 | 238.386 | 286.094 | 295.580 | 369.647 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Các cơ sở lữ hành phục vụ du lịch cũng đóng vai trò quan trọng. Giai đoạn 2010 – 2020 khách du lịch do cơ sở lữ hành tiếp nhận không ngừng tăng, trong đó chiếm phần lớn là khách quốc tế. Năm 2010 đến năm 2015 số lượng khách tăng thêm 13.204 người, năm 2016 đến năm 2020 số khách tăng thêm là 110.695 người. Khách quốc tế có xu hướng tăng rất mạnh, và chiếm tỷ trọng cao năm 2010 khách quốc tế chiếm tỷ trọng 49,1%, nhưng đến năm 2015 chiếm 82,6% và chiếm 79,6% năm 2020. Qua đó ta thấy, các cơ sở lữ hành ngày càng phục vụ, kinh doanh có hiệu quả và có số lượng khách đăng ký tham quan rất lớn. Mặt khác, các cơ sở này từng bước nâng cao chất lượng phục vụ, đồng thời từng bước đổi mới các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu khách hàng khó tính. Khả năng thu hút khách du lịch của các cơ sở lữ hành còn rất nhiều, dựa vào cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực thì trong tương lai hứa hẹn sẽ đạt những kết quả tích cực.
Chín tháng đầu năm 2021, lượng khách đến tỉnh tăng mạnh, tăng 26,4% so cùng kỳ, số khách tham quan du lịch 718,9 ngàn lượt, trong đó khách quốc tế là 382,4 ngàn lượt, đạt 75,5% kế hoạch và tăng 47,4% do tỉnh có nhiều hoạt động đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, giao thông đến tỉnh thuận lợi hơn nhất là khi có đường cao tốc, cơ sở hạ tầng du lịch cũng được đầu tư. Hiện trong tỉnh có 3 khu du lịch đang hoạt động khai thác và đưa vào chương trình tham quan là khu du lịch Thới Sơn, khu du lịch biển Tân Thành và khu du lịch Cái Bè. Ngoài ra, còn có khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười mới đưa vào hoạt động – một địa điểm mới hứa hẹn sẽ thu hút khách trong thời gian tới.
Lượng khách du lịch đến Tiền Giang tăng trong thời gian qua là do tỉnh có nhiều chương trình hoạt động đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch; đồng thời giao thông đến Tiền Giang cũng đã thuận tiện hơn, nhất là khi có đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương. Cơ sở hạ tầng du lịch cũng đã được đầu tư như: Chợ đêm ẩm thực Mỹ Tho; Bến tàu du lịch thành phố Mỹ Tho gồm có các hạng mục trung tâm điều hành du lịch, sảnh đón khách, nhà trưng bày, nhà thông tin, khu bán hàng lưu niệm, cầu tàu, bãi đậu xe, đường nội bộ, cây xanh… đã được xây dựng hoàn thành và đưa vào phục vụ du lịch.
Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch cũng được khai thác một cách đa dạng hơn. Hiện có 3 khu du lịch đang được các đơn vị du lịch khai thác và đưa vào chương trình tham quan như: Khu du lịch cù lao Thới Sơn; khu du lịch biển Tân Thành; khu du lịch Cái Bè. Ngoài ra, còn có khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười đã được tỉnh đầu tư giai đoạn 1 bao gồm bãi đậu xe, cầu tàu, trạm dừng chân để đón khách du lịch. Hiện tại, khu du lịch này cũng đang mở cửa đón khách. Việc khai thác du lịch sinh thái đã có bước gắn với các di tích lịch sử như: Chùa Vĩnh Tràng, đình Long Hưng, di tích chiến thắng Ấp Bắc, Rạch Gầm – Xoài Mút, lăng Thủ Khoa Huân, Lăng Hoàng Gia, lăng Trương Định, nhà Đốc Phủ Hải, di chỉ khảo cổ ốc eo Gò Thành, Bảo tàng Tiền Giang… trong thời gian qua đã được phục dựng, trùng tu, tôn tạo và phát triển mang sắc thái văn hóa lịch sử đặc trưng riêng của từng nhân vật, sự kiện, rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa – nghệ thuật, khoa học và đã thu hút khá nhiều khách du lịch.
Trên cơ sở tiềm năng và tài nguyên du lịch, ngành Du lịch Tiền Giang đang khai thác kết hợp các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch lịch sử – văn hóa, du lịch vui chơi, giải trí, thể thao. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh khách du lịch, các đơn vị kinh doanh du lịch đã thiết kế các tuyến điểm tham quan du lịch mới, nâng chất lượng sản phẩm phục vụ du lịch như: Liên kết, nối tuyến các điểm tham quan du lịch sinh thái ở Tân Thạch, An Khánh, cù lao Phụng và cù lao Qui thuộc tỉnh Bến Tre; khu du lịch Cái Bè đã nối tuyến Chợ nổi, làng nghề truyền thống, nhà cổ tại Cái Bè với các điểm tham quan du lịch ở cù lao Bình Hòa Phước và du lịch Trường An thuộc tỉnh Vĩnh Long. Mở chương trình tour du lịch đến các khu du lịch sinh thái sông nước thì ngoài các tuyến đã khai thác ở cù lao Thới Sơn, Cái Bè, biển Tân Thành,… đã thiết kế chương trình đưa du khách đến tham quan vườn cây ăn trái ở Vĩnh Kim, Ngũ Hiệp, Tân Phong, chương trình tham gia tát đìa bắt cá ở cù lao Thới Sơn… Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Đặc biệt, ở Cái Bè, loại hình du lịch nghỉ dưỡng đang được đầu tư và phát triển mạnh. Mặc dù đây là loại hình du lịch mới đi vào khai thác của tỉnh nhưng hiện thu hút khá nhiều du khách, nhất khách du lịch quốc tế. Đi đầu trong việc khai thác loại hình du lịch nghỉ dưỡng phải kể đến là Mekong Lodge Resort ở ấp An Hòa, xã Đông Hòa Hiệp (Cái Bè). “Resort nghỉ dưỡng Mekong Lodge đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2020, với diện tích rộng khoảng 7.200m2 gồm có 29 phòng, nhà hàng… chủ yếu phục vụ khách du lịch quốc tế lưu trú qua đêm, ăn trưa cùng với các hoạt động du lịch như câu cá, đạp xe đạp thăm làng nghề, nhà cổ, vườn trái cây… Lượng khách lưu trú qua đêm ở đây khá đông, trung bình mỗi đêm có khoảng 40 khách nước ngoài ở lại đêm…” Mặc dù đi sau nhưng khu nghỉ dưỡng Mekong Village Resort (ở cồn Hòa Khánh thuộc xã Hòa Khánh, Cái Bè) do Công ty cổ phần Thương mại – Dịch vụ Cái Bè đầu tư có qui mô khá lớn. Mekong Village Resort sẽ được đầu tư xây dựng trở thành khu nghỉ dưỡng cao cấp đạt tiêu chuẩn 3 sao, với diện tích rộng khoảng 7,5ha; tổng kinh phí xây dựng khoảng 60 tỷ đồng, dự kiến đưa vào hoạt động vào tháng 10 tháng 2021 với các mô hình du lịch như: Khách sạn lưu trú, nhà hàng, bar; đạp xe đạp, bơi thuyền, câu cá; biểu diễn ca nhạc dân tộc, đờn ca tài tử, chiếu phim… Dịch vụ du lịch đưa đón khách cả đường bộ lẫn đường thủy. Khu nghỉ dưỡng Mekong Village Resort hứa hẹn sẽ là điểm đến lý tưởng của du lịch Cái Bè.
Ngoài việc thiết kế các tour, tuyến tham quan du lịch mới, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ du lịch.
2.3.2. Doanh thu từ du lịch
Qua thực trạng khách du lịch đến Tiền Giang ngày càng tăng thì doanh thu cũng tăng lên rất nhanh. Điểm qua giai đoạn gần đây nhất là 2015 – 2020 (hình 2) cho thấy năm 2015 đạt 771.071 triệu đồng đến năm 2020 doanh thu tăng lên 1.493.113 triệu đồng, doanh thu tăng thêm trong 6 năm là 722.042 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân là 16,7% năm.
Biểu đồ 2.2. Thể hiện doanh thu du lịch theo giá hiện hành ở Tiền Giang, giai đoạn 2015 – 2020.
Ngành du lịch, có được doanh thu là nhờ vào các thành phần kinh tế tham gia hoạt động, từng bước xã hội hóa công tác du lịch. Nhờ công tác quản lý tốt cũng như đầu tư có chiều sâu, tạo được thương hiệu riêng, cho nên các thành phần kinh tế đạt những thành công nhất định. Trong giai đoạn 2010 – 2020, giai đoạn doanh thu từ các thành phần kinh tế tăng mạnh nhất là 2016 – 2019 trong 4 năm tăng thêm 17.619 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 25% năm. Trong giai đoạn này nhờ sự đầu tư và nắm bắt được thị trường khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch. Đồng thới xúc tiến quảng bá tùy theo mùa du lịch mà có một chiến lược phát triển riêng.
Thông qua đó, khẳng định được vị thế của các thành phần kinh tế kinh doanh du lịch để tạo được doanh thu cho mình, tạo thế vững chắc trong tương lai. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Bảng 2.5. Doanh thu của các cơ sở lưu trú ở Tiền Giang theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: triệu đồng
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 3.966 | 5.113 | 11.574 | 13.671 | 31.290 | 34.041 |
| Nhà nước | 2.801 | 3.961 | 5.203 | 4.409 | 8.010 | 8.987 |
| Ngoài nhà nước | 1.165 | 1.152 | 6.371 | 9.262 | 23.280 | 25.054 |
| FDI | – | – | – | – | – | – |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang.
Ngành du lịch Tiền Giang những năm gần đây, kêu gọi đầu tư vào các hạng mục, bằng các hình thức BO, BOT,…cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nhưng cho thấy thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hầu như chưa có. Chủ yếu đầu tư phát triển du lịch tỉnh là thành phần kinh tế nhà nước và ngoài nhà nước. Trong giai đoạn đầu 2010 – 2015 doanh thu từ thành phần kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, cụ thể là năm 2010 chiếm tỷ trọng 71%, năm 2011 là 77,5%, năm 2015 là 45%. Tuy nhiên doanh thu từ thành phần kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng cao trong giai đoạn đầu nhưng đang có xu hướng chuyển dịch giảm tỷ trọng thấy rõ. Cụ thể giai đoạn 2016 – 2020 có sự chuyển dịch giảm tỷ trọng doanh thu thành phần kinh tế nhà nước năm 2016 là 32,3% giảm 26% năm 2020, tăng tỷ trọng thành phần kinh tế ngoài nhà nước năm 2016 là 67,7% tăng lên 74% năm 2020. Doanh thu cao từ thành phần kinh tế ngoài nhà nước là nhờ sự thu hút đầu tư đúng hướng, phù hợp với xu hướng phát triển chung của đất nước. Tiền Giang còn huy động mọi nguồn lực xã hội, không phỉ nhà nước đứng ra làm du lịch hết mà kêu gọi các thành phần kinh tế cùng tham gia trong các hoạt động. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động đều có sự đồng ý của chính quyền cũng như của ngành để các hoạt động này không ngừng phát huy hiệu quả.
Bảng 2.6. Doanh thu của các cơ sở lữ hành ở Tiền Giang theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: triệu đồng
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 10.852 | 15.342 | 20.646 | 19.276 | 26.571 | 34.871 |
| Nhà nước | 10.852 | 15.342 | 18.168 | 3.424 | 8.678 | 10.012 |
| Ngoài nhà nước | – | – | 2.478 | 15.852 | 17.893 | 24.859 |
| FDI | – | – | – | – | – | – |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Nếu tính chi tiết doanh thu của các thành phần kinh tế, thì ta thấy sự chêch lệch giữa doanh thu từ các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch và các hộ cá thể mà ở đây cụ thể là nhà trọ và quán ăn uống.
Bảng 2.7. Doanh thu của các hộ cá thể kinh doanh du lịch (nhà trọ, quán ăn uống), các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch theo giá hiện hành ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: triệu đồng
|
Năm |
2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Các hộ cá thể | 446.133 | 651.594 | 692.395 | 805.925 | 1.172.419 | 1.289.661 |
| Các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch | 49.792 | 47.746 | 78.676 | 84.662 | 184.956 | 203.452 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021.
Các hoạt động kinh doanh của các hộ cá thể hầu như chiếm phần lớn doanh thu. Mặt khác, tốc độ tăng doanh thu của các hộ này rất nhanh và có tính bền vững cao. Năm 2010 là 446.133 triệu đồng đến 2015 tăng lên 692.395 triệu đồng, tăng thêm 246.262 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 16,7% năm. Năm 2016 là 805.925 đến năm 2020 tăng lên 1.289.661 triệu đồng, tăng thêm 483.736 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 20% năm. Trong khi đó, doanh thu từ các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch rất thấp, mặc dù có tăng đáng kể qua các năm. Nếu so sánh hai đối tượng trên thi ta thấy năm 2010 doanh thu các hộ cá thể gấp gần 9 lần, năm 2015 doanh thu 13,6 lần, năm 2020 doanh thu 6,3 lần doanh thu của các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du lịch. Điều này, cho thấy kinh doanh theo các phòng trọ, quán ăn sẽ là lựa chọn theo thị hiếu của khách du lịch. Từ đó, tạo điều kiện tốt cho các loại hình này phát triển trên các tuyến, điểm du lịch của tỉnh. Đồng thời kêu gọi cộng đồng các địa bàn dân cư cùng tham gia làm du lịch, góp phần tăng thu nhập cho nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương. Bảng 2.8. Mức chi tiêu trong ngày của khách du lịch qua các năm
| Năm | Đơn vị | 2010 | 2013 | 2015 | 2020 |
| Khách quốc tế | USD | 8 | 10.3 | 8 | 14 |
| Khách nội địa | Nghìn | 70 | 90 | 100 | 150 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021.
Mức chi tiêu của khách du lịch trong ngày của khách quốc tế tăng, giảm không đồng đều. Giai đoạn 2010 – 2013 chi tiêu tăng (3.3 USD/ngày), giai đoạn 2013 – 2015 giảm xuống (3.3 USD/ngày), nhưng đến giai đoạn 2015 – 2020 lại tăng lên (6 USD/ngày). Điều này cho thấy khách du lịch quốc tế chi tiêu có mức độ không ổn định. Một phần do du khách quốc tế ngại mua hàng hay ăn uống, các hộ kinh doanh thường thấy khách quốc tế hay chặt chém nên ảnh hưởng đến mức sinh hoạt của du khách. Ngược lại, khách nội địa có mức chi tiêu tăng liên tục, giai đoạn tăng mạnh nhất là giai đoạn 2015 – 2020 tăng (50 nghìn đồng/ngày). Cho thấy khách nội địa có mức chi tiêu ổn định, không ngại chi tiêu mỗi khi đi du lịch ở Tiền Giang. Các cơ sở phục vụ không bán giá lên đối với khách nội địa, đa phần tâm lý chung muốn bán giá cao đối với khách quốc tế. Đây là một tâm lý vô cùng có hại đến ngành du lịch tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Nếu để tình trạng này xảy ra thường xuyên không cơ chế quản lý chặt chẽ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu cũng như hoạt động du lịch Tiền Giang.
2.3.3. Cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật là một trong những nhân tố quan trọng để phục vụ, cũng như phát triển du lịch. Trong những năm gần đây các sở này tỉnh Tiền Giang đầu tư phát triển, có chiến lược đầu tư cho từng giai đoạn để từng bước phù hợp với tình hình mới, đúng tầm với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Không riêng gì, ngành du lịch cũng có chiến lược phát triển để theo xu hướng chung của tỉnh. Gần đây hầu như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đều đặt trọng tâm phát triển vào 3 khu vực, trong đó khu vực dịch vụ được chú trọng nhiều nhất.
Bảng 2.9. Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có phục vụ du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
|
Năm |
2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Khách sạn (cái) | 11 | 14 | 22 | 24 | 31 | 34 |
| Nhà hàng (cái) | 26 | 27 | 31 | 32 | 37 | 39 |
| Cử a hàng (cái) | 12 | 16 | 21 | 22 | 27 | 29 |
| Quán ăn, nhà trọ (cái) | 4.939 | 4.826 | 6.874 | 7.011 | 7.347 | 7.481 |
| Xe (chiếc) | 143 | 157 | 206 | 256 | 274 | 282 |
| Ghe (chiếc) | 81 | 118 | 206 | 212 | 232 | 240 |
| Du thuyền (chiếc) | – | – | 4 | 5 | – | 7 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021.
Các cơ sở vật chất kỹ thuật tuy có sự tăng về số lượng qua các năm nhưng nhìn chung chưa nhiều so với đáp ứng nhu cầu phát triển. Trong các loại hình kinh doanh từ cơ sở vật chất kỹ thuật, trong đó quán ăn, nhà trọ chiếm số lượng nhiều nhất và tăng rất nhanh. Năm 2010 có 4.939 cái đến năm 2020 tăng lên 7.481 cái, tăng thêm 2.542 cái. Ngoài ra, các nhà hàng, khách sạn cũng tăng liên tục trong giai đoạn 2010 – 2020, hiện nay có 1 khách sạn 2 sao, 13 khách sạn 1 sao, các khách sạn còn lại đều đạt chuẩn. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Các khách sạn của tỉnh đều tập trung tại thành phố Mỹ Tho. Còn lại một số ít tập trung thị xã Gò Công và huyện Cái Bè. Các doanh nghiệp nhà nước tập trung đầu tư xây mới và nâng cấp các khách sạn lớn như khách sạn Chương Dương, Sông Tiền ,Công Đoàn,…khu vực tư nhân cũng tham gia đầu tư xây dựng mới các khách sạn tương đối khá như khách sạn Rạng Đông, Yến Ngân, Yến Nga, Thanh Tân,…..
Các nhà hàng có khả năng phục vụ khách du lịch quốc tế tốt bao gồm: Trung Lương, Sông Tiền, Thới Sơn (thuộc Công ty Du lịch), Bách Tùng Viên, Ngọc Gia Trang, Thành Minh (tư nhân), Nhà hàng Chương Dương (thuộc Công ty Dịch vụ Chương Dương). Đặc biệt nhà hàng Trung Lương thu hút lượng khách quốc tế lớn nhất gần 80% số lượng thực khách quốc tế. Đối với nhà hàng khu du lịch Thới Sơn lượng khách tăng nhờ cảnh quan đẹp, sinh thái miệt vườn và các dịch vụ khác.
Hiện nay, chưa có nhà hàng đặc sản đúng nghĩa với những món ăn Việt Nam, đặc biệt truyền thống dân gian nam bộ và Mỹ Tho. Các tay nghề đầu bếp chưa khai thác, phát huy các món ăn dân tộc, dân dã vùng nông thôn Nam bộ. Bên cạnh các nhà hàng lớn còn có các quán ăn trải đều trên toàn tỉnh đã đáp ứng kịp thời yêu cầu phục vụ khách du lịch khi đến tham quan Tiền Giang.
Hiện, một số dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng đã và đang được triển khai tích cực. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khu du lịch biển Tân Thành được sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch, Công ty Du lịch đang triển khai thực hiện việc mở rộng quy mô, xây dựng nhà hàng trên biển, đa dạng các loại hình vui chơi, giải trí trên biển. Địa phương cũng đang có hướng xây dựng khu du lịch biển Tân Thành thành điểm du lịch đón khách từ TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.
Một dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khác trên địa bàn cũng được chú ý đó là khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười. Nơi đây có hiện có hệ sinh thái vùng ngập phèn khá độc đáo với các loại đặc trưng như: tràm gió, sen, súng, lác, trăn, rùa, rắn, cò, le le…Hiện khu vực này đã được đầu tư khoảng 4 tỷ đồng để duy trì và phát triển các loại động thực vật quý mang tính đặc thù của vùng sinh thái ngập phèn. Khu vực này sẽ được xây dựng thành điểm tham quan nghỉ dưỡng trong tương lai và để thu hút các nhà đầu tư, các công ty lữ hành, địa phương sẽ cho triển khai xây dựng đường vào khu du lịch với kinh phí 22,047 tỷ đồng.
Là vùng có những lợi thế về du lịch miệt vườn, du lịch trên sông nước, cuối năm 2017 dự án Bến tàu du lịch TP.Mỹ Tho đã được triển khai và đã đưa vào sử dụng. Dự án hoạt động đã tập trung của các phương tiện đưa đón khách tham quan du lịch sông nước trên tuyến sông Tiền. Dự án có kinh phí là 25,132 tỷ đồng với những hạng mục như: trung tâm điều hành du lịch, sảnh đón, nhà trưng bày, khu bán hàng lưu niệm, cầu tàu, bãi đỗ xe, sân đường nội bộ, hệ thống cây xanh.
Cùng với các dự án tập trung vào sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất (hệ thống cầu, đường…) thì địa phương còn chú trọng tới việc xây dựng các dự án cải thiện môi trường, xử lý rác thải; xây dựng các chương trình hội thảo, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về du lịch, làm du lịch và khai thác giá trị du lịch Do đặc thù phát triển chủ yếu du lịch sông nước miệt vườn nên các doanh nghiệp chủ yếu phát triển các phương tiện vận chuyển đường thủy còn phương tiện đường bộ chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ và trực tiếp hợp đồng với người dân đi du lịch các tỉnh với số lượng xe các loại 282 chiếc, ghe thuyền 247 chiếc phần nào đáp ứng được nhu cầu thuê để đi tham quan.
Riêng các phương tiện vận chuyển du lịch đường bộ hiện do các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ và trực tiếp hợp đồng với du khách để đi tham quan du lịch. Các phương tiện cũng đã liên kết vận chuyển khách du lịch sang các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long và Cần Thơ.
2.3.4. Vốn du lịch Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Nhằm nâng chất lượng dịch vụ du lịch, phát huy thời cơ có thêm cầu Rạch Miễu nối hai bờ Tiền Giang và Bến Tre, tỉnh Tiền Giang đang đầu tư trên 64 tỉ đồng tương đương trên 3,8 triệu USD từ nguồn vốn ADB trong khuôn khổ Dự án phát triển du lịch tiểu vùng sông Mekong (gọi tắt là dự án Mekong) để kiện toàn cơ sở vật chất hạ tầng đáp ứng nhu cầu về du lịch sinh thái miệt vườn trong giai đoạn mới.
Từ nguồn vốn trên, tỉnh tập trung cho hai công trình trọng điểm là Bến tàu thủy du lịch Thành phố Mỹ Tho và Dự án cải thiện môi trường Thành phố Mỹ Tho. Trong đó, Bến tàu thủy du lịch tọa lạc trên diện tích 1,18 ha tại Phường 1 (TP. Mỹ Tho) ven sông Tiền với kinh phí trên 25,1 tỉ đồng bao gồm nhiều hạng mục công trình như: bờ kè, cầu tàu, bến phao, sân nội bộ, bãi đỗ xe và nhiều thiết bị nội thất hiện đại khác. Dự án cải thiện môi trường Thành phố Mỹ Tho có tổng vốn gần 39 tỉ đồng được triển khai tại xã Tân Lập 1, huyện Tân Phước, nơi có bãi đổ rác của Thành phố Mỹ Tho và các huyện lân cận. Dự án được triển khai trên diện tích gần 84 ha gồm những hạng mục chính như làm nhà vệ sinh di động, 300 thùng chứa rác, nhà điều hành, các hố chôn lấp rác thải hợp vệ sinh và bảo đảm môi sinh môi trường…
Bảng 2.10. Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản phục vụ du lịch Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: triệu đồng
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 3.385 | 8.230 | 63.034 | 121.870 | 218.372 | 320.364 |
| Xây dựng mới | 2.324 | 6.346 | 61.014 | 121.640 | 217.902 | 317.574 |
| Sửa chữ a – nâng cấp | 1.061 | 1.884 | 2.020 | 230 | 470 | 2.790 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021.
Với nguồn vốn hiện có, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư xây dựng mới vào các cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật sẽ hứa hẹn có những thành công mới. Bởi lẽ, khi xây dựng mới sẽ tạo ra một môi trường và chất lượng phục vụ mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng mới của khách du lịch. Ngoài ra, còn tạo thêm sự khác biệt về sản phẩm du lịch, tránh sự trùng lắp so với các địa phương trong vùng ngày làm cho du khách nhàm chán. Tuy nhiên, các cơ sở hiện có đang có chiều hướng xuống cấp thì phải có kế hoạch sửa chữa kịp thời tạo ra sức cạnh tranh và hoàn thiện cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, từ đó tạo đà cho các công trình mới được mộc lên một cách vững chắc. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
2.3.5. Các tuyến, điểm du lịch
Hiện nay, trong tỉnh chưa có khu vui chơi giải trí tổng hợp, đa dạng các loại hình sinh hoạt có tầm cở để khách tham quan giải trí cũng như phục vụ nhu cầu nhân dân trong tỉnh.
Các điểm tham quan du lịch hiện nay tập trung chủ yếu ở 3 khu du lịch đang được các đơn vị khai thác và đưa vào chương trình tham quan, gồm:
Khu du lịch cù lao Thới Sơn: Cù lao Thới Sơn nằm ở hạ lưu sông Tiền, thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiề n Giang. Cù lao này có diện tích khoảng 1.200ha, với 6.000 cư dân chủ yếu sống bằng nghề làm vườn từ xưa đến nay, đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng hấp dẫn du khách với những nét dân dã, bình dị của cuộc sống thường nhật của người dân miền sông nước “gạo trắng nước trong”.
Cù lao Thới Sơn được phù sa bồi đắp nên hình thành vùng chuyên canh cây ăn trái rất phong phú và quyến rũ với những hàng thủy liễu, dừa nước ven bờ nghiêng mình soi bóng xuống dòng kênh xanh mát. Có thể thấy rõ chất Nam bộ trong không gian nhà cổ đủ bộ phong thủy và thả hồn theo điệu Nam Ai với các nghệ nhân đờn ca tài tử…
Những ngôi nhà của người dân Thới Sơn vẫn giữ được nét cổ kính, xưa cũ. Điểm du lịch của nhà ông Tám Cho là một tiêu biểu về kiểu nhà xưa. Ngôi nhà của ông được xây dựng với hàng cột gỗ, mỗi mái nhà có chín cây đòn tay bố trí theo thuật phong thủy: Kiên – Trừ – Mãn – Bình – Định – Chấp – Phá – Nguy – Thành.
Trong nhà, cách bài trí cũng theo phong cách cổ với chiếc tủ thờ cẩn xà cừ lóng lánh, tràng kỷ chạm trổ tinh xảo, cùng với đôi liễn chạm câu đối sơn son thếp vàng… Xung quanh nhà là vườn cây cảnh với nhiều cây bonsai được trồng tỉa công phu. Đến Thới Sơn, du khách có dịp tham quan quy trình làm kẹo dừa, bánh tráng bằng phương pháp thủ công, chọn mua những đồ mỹ nghệ, đồ dùng sinh hoạt gia đình làm từ cây dừa. Bên cạnh chương trình du lịch sinh thái, du khách có dịp thưởng thức nhiều món đặc sản của vùng sông nước: cá nướng, lẩu cá kèo, cá lóc hấp bầu, cá tai tượng chiên xù.
Đây là khu du lịch trung tâm thu hút khách du lịch của tỉnh Tiền Giang.
Trong những năm gần đây, mỗi năm lượng khách du lịch đến Thới Sơn càng tăng, bình quân hàng năm đón khoảng 226.500 lượt khách, trong đó có 188.600 khách quốc tế. Doanh thu đạt bình quân 16 tỷ đồng/năm. Việc phát triển khu du lịch cù lao Thới Sơn trong thời gian qua đã góp phần nâng cao đời sống cộng đồng địa phương, thu hút khoảng 1.800 lao động chủ yếu người dân ở địa phương. Tuy nhiên, hiện nay khu du lịch Thới Sơn chưa có các dịch vụ vui chơi giải trí để có thể lưu giữ khách qua đêm, vào mùa cao điểm du lịch thường dẫn đến quá tải, tình trạng buôn bán kinh doanh quanh khu du lịch và tại các điểm tham quan vệ tinh khác, chưa đi vào nề nếp nên đã ảnh hưởng không tốt đến vệ sinh môi trường và văn minh du lịch tại đây.
Khu du lịch biển Tân Thành: Thuộc xã Tân Thành – Huyện Gò Công Dông. Từ thành phố Hồ Chí Minh đi biển Tân Thành mất khoảng hai giờ theo quốc lộ 50. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Ở đây có rất nhiều nghêu, sam và các đặc sản rất hấp dẫn du khách nên lượng du khách, đặc biệt là khách nước ngoài đến biển Tân Thành ngày càng đông. Do đặc điểm đây là bãi biển gần cửa sông nên nước biển không trong xanh, vì vậy lượng khách đến tham quan biển Tân Thành chưa cao và chỉ thu hút khách du lịch nội địa, thường tập trung vào những ngày nghỉ, ngày lễ trong năm. Tuy nhiên trong những năm gần đây lượng khách có xu hướng giảm rất nhanh năm 2015 đón được 80.001 khách đến năm 2021 giảm xuống còn 33.500 lượt khách, doanh thu bình quân hàng năm đạt 1,3 tỷ đồng. Hoạt động du lịch nơi đây còn dạng tiềm năng chưa phát triển mạnh, chỉ góp phần giải quyết một lượng nhỏ lao động địa phương. Trong tương lai khi các dự án phát triển du lịch cơ bản được hoàn thành sẽ thu hút lượng lớn khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng, sẽ mở ra triển vọng phát triển kinh tế vùng biển phía đông tỉnh Tiền Giang.
Khu du lịch Cái Bè: Huyện Cái Bè có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho cả 2 tuyến giao thông thủy – bộ. Cái Bè vừa nằm cạnh bên bờ sông Tiền vừa có quốc lộ 1A chạy qua chia Cái Bè ra làm hai nửa, một nửa diện tích là trồng lúa, một nửa diện tích trồng cây ăn trái chuyên canh với nhiều loại cây đặc sản có thương hiệu như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi long Cổ Cò. Bên cạnh đó, Cái Bè có nhiều di tích lịch sử, di tích kiến trúc văn hóa, nền văn hóa ẩm thực mang đậm hương vị làng quê và cả tấm lòng đôn hậu, mến khách của người dân ở đây.
Du khách đến Cái Bè ngoài việc được sống giữa thiên nhiên không khí trong lành, thì du khách còn được đến thăm các di tích lịch sử như khu Thiên Hộ Dương, chiến thắng Đập Ông Tải, chiến thắng Cổ Cò, Chùa Bà Cạn, thăm làng nghề truyền thống, Cồn Cổ Lịch đặc biệt là 2 ngôi nhà khổ nơi còn lưu lại nhiều nét kiến trúc và nhiều cổ vật có giá trị văn hóa, lịch sử gắn liền với vùng đất Cái Bè thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX. Chính hai ngôi nhà cổ nầy là điểm du lịch thu hút khách du lịch đến tham quan khá đông.
Trong những năm từ 2011-2015 bình quân hàng năm đón 27.388 lượt khách, trong đó có 22.500 khách quốc tế. Doanh thu bình quân đạt 2,2 tỷ đồng/năm, đã góp phần giải quyết việc làm cho hơn 500 lao động địa phương.
Tuy nhiên, do đầu tư còn hạn chế nên chỉ thu hút khách du lịch đến tham quan chợ nổi, khu làng nghề. Giờ cao điểm thường dẫn đến quá tải, tình trạng mua bán tự phát, vệ sinh không được đảm bảo, đã ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh du lịch.
Từ 3 trung tâm du lịch chính, ngành du lịch cũng đã kết hợp phát triển du lịch sinh thái miệt vườn với tham quan văn hoá-lịch sử như : chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm, Bảo tàng Tiền Giang, di tích Ấp Bắc, Rạch Gầm-Xoài Mút, lăng Hoàng Gia, lăng Trương Định, ….
Bảng 2.11. Khách du lịch đến các khu, điểm du lịch Tiền Giang qua các năm
Đơn vị: lượt khách Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
| Năm | 2015 | 2017 | 2019 | 2020 | 2021 |
| 1. Khu du lịch Thới Sơn | 303.079 | 375.950 | 502.030 | 575.910 | 504.326 |
| Quốc tế | 251.162 | 323.529 | 339.156 | 379.105 | 352.995 |
| Nội đị a | 51.917 | 52.421 | 162.874 | 196.805 | 151.331 |
| 2.Khu du lịch biển Tân Thành | 80.001 | 77.160 | 73.530 | 38.000 | 33.500 |
| Quốc tế | – | – | – | – | – |
| Nội địa | 80.001 | 77.160 | 73.530 | 38.000 | 33.500 |
| 3. Khu du lịch Cái Bè | 66.895 | 39.056 | 89.500 | 107.545 | 116.054 |
| Quốc tế | 61.154 | 32.260 | 71.600 | 93.734 | 104.804 |
| Nội địa | 5.741 | 6.796 | 17.900 | 13.811 | 11.250 |
| 4. Các điểm du lịch khác | 68.640 | 212.019 | 201.341 | 239.536 | 404.770 |
| Quốc tế | 6.645 | 98.277 | – | – | 67.201 |
| Nội địa | 61.995 | 113.742 | 201.341 | 239.536 | 337.569 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021
Nhìn chung, các khu du lịch – tham quan – giải trí Tiền Giang cũng chưa có qui mô lớn cũng như đa dạng hóa loại hình vui chơi giải trí đủ để gây ấn tượng cho khách, các tài nguyên du lịch cũng chưa được quan tâm khai thác triệt để. Nguyên nhân cũng do năng lực tài chánh và thị trường khách du lịch. Ngoại trừ khách đi lẻ, khách ba lô, còn khách đoàn từ các công ty lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh đưa xuống, thường là đi vội vã trong ngày không đủ thời gian theo chương trình, nên khách không được thoải mái thưởng thức qua chuyến du lịch. Ngành du lịch Tiền Giang chỉ khi nào có được những đơn vị trực tiếp kinh doanh lữ hành (inbound và outbound) đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh, thì mới có thể tổ chức được tour tham quan du lịch theo chương trình trọn gói, tăng doanh thu các lĩnh vực hoạt động du lịch. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
2.3.6. Hoạt động lưu trú
Trên địa bàn tỉnh có nhiều khách sạn, nhà hàng nhưng phần lớn tham gia vào hoạt động du lịch còn hạn chế, một phần do cách xa điểm du lịch, không thuận đường giao thông. Phần lớn các khách sạn, nhà hàng này là do các hộ kinh doanh cá thể hoặc hoạt động do hình thức doanh nghiệp, cho nên phần lớn là để phục vụ khách lẻ, ít hợp đồng với các công ty du lịch, khách theo đoàn. Do đó, mà công suất phục vụ của các phòng chưa đạt như mong muốn.
Bảng 2.12. Số cơ sở lưu trú ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: cơ sở
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 13 | 17 | 31 | 42 | 118 | 120 |
| Khách sạn | 11 | 15 | 19 | 38 | 111 | 113 |
| Nhà nghỉ | 2 | 2 | 12 | 4 | 7 | 7 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang.
Giai đoạn 2010 – 2020 số cở sở lưu trú tăng lên nhanh chóng, nhờ sự kêu gọi nhiều thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ, từng bước góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Năm 2010 có 13 cơ sở đến năm 2020 tăng lên 120 cơ sở, tăng thêm 107 cơ sở, tốc độ tăng bình quân 9,1% năm. Điều đáng chú ý các cơ sở này không ngừng tăng quy mô về số phòng cũng như số giường để phục vụ khách đoàn, tăng số lượng khách lưu trú ở đêm cùng kéo theo các hoạt động dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí,…
Bảng 2.13. Số phòng nghỉ và số giường phục vụ cho du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020.
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Số phòng nghỉ (phòng) | 254 | 321 | 545 | 773 | 1.957 | 1.965 |
| Số giường (giường) | 467 | 633 | 789 | 1.021 | 2.311 | 2.392 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Số phòng nghỉ tăng đáng kể vào những năm gần đây. Năm 2010 có 254 phòng đến năm 2016 tăng lên 773 phòng, tăng thêm 519 phòng; năm 2020 tăng lên 1.965 phòng so với năm 2016 tăng thêm 1.192 phòng. Trong 4 năm 2016 – 2020 số phòng tăng lên nhanh chóng chứng tỏ nhu cầu phục vụ khách lưu trú ở lại Tiền Giang ngày một tăng.
Đặc biệt, với loại hình ngủ đêm ở nhà dân (Homestay) đã được triển khai hiện đang có sức hút mạnh đối với khách du lịch quốc tế có nhu cầu tham quan, hoà nhập tìm hiểu cuộc sống người dân Nam bộ, nhất là ở các ngôi nhà cổ tại huyện Cái Bè. Hiện nay, có 12 hộ dân có phòng cho khách du lịch nghỉ đêm tại nhà (Homestay) ở Đông Hòa Hiệp – Cái Bè, Vĩnh Kim – Châu Thành, Bình Ninh – Chợ Gạo và Thới Sơn – thành phố Mỹ Tho, nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách về loại hình này.
Bảng 2.14. Thời gian khách lưu trú đi du lịch ở Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: ngày
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 55.320 | 62.775 | 165.015 | 184.965 | 361.826 | 421.722 |
| Khách trong nước | 48.102 | 55.660 | 150.176 | 172.170 | 345.216 | 404.606 |
| Khách quốc tế | 7.218 | 7.115 | 14.839 | 12.795 | 16.610 | 17.116 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang.
Thời gian lưu trú của khách năm 2010 là 55.320 ngày đến năm 2016 tăng lên 184.965 ngày, tốc độ tăng bình quân là 14,3% năm; năm 2020 tăng lên 421.722 ngày tăng thêm 236.757 ngày so với năm 2016. Trong đó, số ngày nghỉ của khách nội địa nhiều hơn so với khách quốc tế, năm 2020 khách nội địa là 404.606 ngày, còn khách quốc tế 17.116 ngày, thời gian lưu trú của khách nội địa gấp 23,6 lần so với khách quốc tế.
Với tiện nghi, tiện ích thì phần lớn khách sạn, nhà nghỉ chỉ phục vụ khách quốc tế bình dân. Trong khi đó khách sạn tương đối đạt chuẩn phục vụ khách du lịch hạng sang thì chỉ có thể kể tên: Chương Dương, Sông Tiền, Rạng Đông, Minh Quân và nhà khách Tiền Giang. Ít địa chỉ cho lựa chọn và hiệu suất khai thác của các khách sạn còn thấp. Công suất phòng cho thuê bình quân năm 2010 đạt 55% (cao nhất 70% và thấp nhất 6%). Trong những năm gần đây, công suất phòng đạt khoảng hơn 52% (cao nhất là 98%, thấp nhất là 25%). Do công suất sử dụng phòng thấp, chi phí đầu tư lại cao, nên hiệu quả kinh doanh khách sạn rất hạn chế. Đa số khách sạn không tổ chức phục vụ ăn uống tại chỗ cho khách lưu trú. Đây cũng là điều bất tiện cho khách và kém hiệu quả kinh tế. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Dự tính trong giai đoạn 2020 – 2030, khách lưu trú vẫn chiếm bình quân 15% năm trên tổng số khách đến Tiền Giang. Trong đó, lượng khách bình quân 1,9 ngày/người đối với khách quốc tế và khách nội địa bình quân 1,5 ngày/người. Chính vì vậy, từ nay đến năm 2030 cần thiết phải xây dựng từ 4 – 6 khách sạn quốc tế 3 – 4 sao và từ 8 – 10 khách sạn từ 2 – 3 sao tại khu vực thành phố Mỹ Tho, huyện Cái Bè, thị xã Gò Công và vùng biển Gò Công.
Trong thời gian tới, ngoài những khách sạn hiện đại phục vụ khách sang trọng, nên xây dựng cơ sở lưu trú theo kiểu nhà nông thôn Nam bộ (resort) trong các khu du lịch, gắn liền với cảnh quan thiên nhiên. Bên cạnh việc đầu tư xây dựng mới các khách sạn thì cần tiếp tục nâng cấp, cải tạo các cơ sở lưu trú và cần phát triển mô hình dịch vụ nghỉ đêm tại nhà dân (homestay) ở cù lao Thới Sơn, cù lao Ngũ Hiệp và khu du lịch Cái Bè nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách du lịch.
Tuy nhiên, chất lượng các cơ sở phục vụ khách du lịch còn hạn chế, đa số các khách sạn chưa đạt chuẩn từ 2 sao trở lên. Điều đó cho thấy khách lưu lại Tiền Giang không lâu nên ảnh hưởng đến doanh thu bình quân mỗi khách du lịch cũng như công suất thuê phòng thấp.
Bảng 2.15. Tỷ lệ sử dụng phòng nghỉ của khách của các cơ sở lữ hành, giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: %
| Chia ra | Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tỷ lệ | 31,2 | 32,0 | 35,4 | 33,3 | 37,2 | 34,0 | |
| Khách sạn | 37,3 | 37,6 | 51,7 | 35,0 | 23,8 | 36,0 | |
| Nhà nghỉ | 20,5 | 21,8 | 22,2 | 17,0 | 27,2 | 18,0 |
Nguồn: Niên giám thống kê 2020, Cục thống kê Tiền Giang.
2.3.7. Nguồn nhân lực Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Hiện nay cả tỉnh chỉ có hệ thống đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở hệ trung cấp, đào tạo nghề do đó cần nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là đội ngũ hướng dẫn viên và lao động phục vụ khách trực tiếp. Giải quyết được những bài toán nêu trên, du lịch Tiền Giang chắc chắn sẽ phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của mình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch không ngừng tăng. Năm 2010 là 1.226 người đến năm 2020 tăng lên 2.252 người, tăng thêm 1.026 người, trong 11 năm tăng 1,8 lần.
Phát triển nguồn nhân lực vừa có tính cấp bách, vừa mang ý nghĩa chiến lược và cũng là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải đặt lên vị trí hàng đầu trong quá trình phát triển của du lịch Tiền Giang. Thời gian qua, công tác này đang được chú trọng trong chiến lược phát triển ngành Du lịch, tuy nhiên trong bối cảnh hiện tại cần được điều chỉnh đổi mới…
Bảng 2.16. Hiện trạng nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Tiền Giang qua các năm
Đơn vị: người
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Tổng số | 1.226 | 1.327 | 1.832 | 1.887 | 2.147 | 2.252 |
| Khách sạn | 57 | 71 | 106 | 114 | 202 | 232 |
| Lữ hành | 67 | 83 | 142 | 156 | 188 | 199 |
| Nhà hàng | 527 | 542 | 629 | 644 | 728 | 758 |
| Vận chuyển khách | 479 | 502 | 764 | 768 | 786 | 794 |
| Hoàng hóa | 35 | 48 | 87 | 91 | 113 | 124 |
| Dịch vụ khác | 61 | 81 | 104 | 114 | 130 | 145 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021. Về hướng dẫn viên du lịch, có 158 hướng dẫn viên du lịch, trong đó có 71 hướng dẫn viên du lịch quốc tế và 87 hướng dẫn viên du lịch nội địa, thường xuyên được bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Cơ bản đội ngũ hướng dẫn viên đáp ứng nhu cầu khách du lịch ngày càng tăng. Riêng tại các khu, điểm du lịch còn huy động cả cộng đồng địa phương tham gia hướng dẫn du khách như các vườn cây ăn trái, hoạt động vùng sinh thái ngập nước Đồng Tháp Mười, chợ nổi Cái Bè,… Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Bảng 2.17. Kinh phí và số lượng lao động đào tạo phục vụ du lịch Tiền Giang, giai đoạn 2010 – 2020
| Năm | 2010 | 2011 | 2015 | 2016 | 2019 | 2020 |
| Kinh phí (triệu đồng) | 12 | 48 | 80 | 50 | 68 | 92 |
| Số lượng đào tạo (người) | 24 | 55 | 100 | 52 | 80 | 120 |
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Tiền Giang năm 2021.
Trong thời gian qua, mặc dù tỉnh có đầu tư kinh phí để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới nhưng các con số này còn rất khiêm tốn.
Năm 2020 số lượng người được đào tạo là 120 người so với năm 2010 có 24 người tăng hơn 4 lần. Thực trạng nguồn nhân lực cho du lịch của Tiền Giang cũng giống như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là còn thiếu, chưa có cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Kinh phí đầu tư đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, điều này cho thấy, khả năng tạo nguồn mới rất ít. Tỉnh cũng đang tiến hành thu hút các sinh viên các khoa du lịch trong cả nước về phục vụ, với các chế độ ưu đãi cao.
Để tạo điều kiện cho ngành du lịch tăng trưởng bền vững, tỉnh Tiền Giang đề ra nhiều nhóm giải pháp quan trọng, trong đó coi trọng xã hội hóa hoạt động du lịch, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh du lịch, đầu tư triển khai các dự án phát triển du lịch tạo sản phẩm đa dạng, đặc trưng, hấp dẫn du khách.
Tỉnh gắn phát triển du lịch với đào tạo nguồn nhân lực có tính chuyên nghiệp cao, xây dựng môi trường du lịch văn minh, hiện đại, vừa đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung, vừa đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự xã hội. Bên cạnh đó, địa phương phát huy lợi thế tài nguyên thiên nhiên, các di tích, danh lam thắng cảnh trên cả ba vùng sinh thái: ngọt, ngập mặn, nhiễm phèn… hấp dẫn du khách, gắn du lịch với cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm và giảm nghèo nông thôn.
Đặc biệt, Tiền Giang đã xây dựng chương trình hợp tác, liên kết phát triển du lịch với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nhằm giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng tính hấp dẫn với những nét độc đáo, đặc trưng của du lịch miệt vườn sông nước. Đây là yếu tố giúp tăng trưởng du lịch bền vững, lượng du khách và doanh thu du lịch lữ hành tăng mạnh qua từng năm. Sự gắn kết chặt chẽ trong phát triển du lịch giữa Tiền Giang với các tỉnh khu vực sông Tiền: Trà Vinh, Bến Tre, Vĩnh Long trong nhiều năm qua giúp tăng nhanh lượng du khách, là một minh chứng và bài học kinh nghiệm quí trong việc liên kết vùng, tiểu vùng, năm 2022 cũng như trong tương lai.
2.3.8. Các dịch vụ bổ trợ Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
Bán quà lưu niệm: điểm bán quà mạnh nhất là các khu du lịch như cù lao Thới Sơn, chợ nổi Cái Bè các sản phẩm là đồ mỹ nghệ từ dừa, các loại trái cây đặc sản của vùng. Chạy dọc theo các tuyến quốc lộ 1A bán các sản phẩm rất đa dạng, nổi bật nhất là bánh phòng, cốm Cái Bè, ghé vào Đồng Tháp Mười mua đọt choại… Đàn ca tài tử Nam Bộ: đây là loại hình nghệ thuật đặc thù của Nam Bộ, đang được đề cử là Di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn. Loại hình này hoạt động ở các điểm du lịch công viên sông Tiền, khu du lịch Thới Sơn, chợ nổi Cái Bè, hay các quán ăn phục vụ ca hát.
Khu vui chơi giải trí: ở Tiền Giang các khu vui chơi giải trí còn rất ít, chủ yếu tập trung ở thành phố Mỹ Tho, còn lại các huyện, thị xã hầu như có nhưng quy mô và tính công phu còn thấp. Các loại hình hoạt động này là khiêu vũ, chương trình ca nhạc, hát với nhau,…
Phục vụ ăn uống: ở Tiền Giang khâu phục vụ ăn uống rất tốt. Hầu hết các điểm, khu du lịch đều có các quán ăn tùy vào đối tượng mà phục vụ theo yêu cầu.
Có các món ăn dân dã đến các món ăn cao thượng hơn, hay các món ăn đặc thù của địa phương. Đặc biệt là khu vực gần đến đường dẫn đường cao tốc có rất nhiều quán ăn phục vụ 24/24.
2.3.9. Các yếu tố khác
Tiền Giang đã xây dựng chương trình hợp tác, liên kết phát triển du lịch với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nhằm giúp đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng tính hấp dẫn với những nét độc đáo, đặc trưng của du lịch miệt vườn sông nước. Đây là yếu tố giúp tăng trưởng du lịch bền vững, lượng du khách và doanh thu du lịch lữ hành tăng mạnh qua từng năm. Sự gắn kết chặt chẽ trong phát triển du lịch giữa Tiền Giang với các tỉnh khu vực sông Tiền: Trà Vinh, Bến Tre, Vĩnh Long trong nhiều năm qua giúp tăng nhanh lượng du khách, là một minh chứng và bài học kinh nghiệm quí trong việc liên kết vùng, tiểu vùng, năm 2022 cũng như trong tương lai.
Ngành du lịch còn kết hợp với các ban ngành trong tỉnh, nhằm phát huy tối đa lợi thế tiềm năng sẵn có. Trong đó, an toàn trong du lịch rất quan trọng, nên việc kết hợp với lực lượng vũ trang của từng địa phương mà ngành đang làm tạo nên tính ổn định an ninh chính trị, xã hội, an toàn khi khách đi tham quan du lịch rất tốt.
Hiện nay các điểm khu du lịch như Thới Sơn, Cái Bè, Tân Thành ngành quyết liệt xóa các điểm lôi kéo, ép khách mua hàng cũng như các dịch vụ xe ôm chặt chém khách.
Để chấn chỉnh kịp thời những hạn chế nêu trên, ngành du lịch Tiền Giang đã và đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động cán bộ, quần chúng nhân dân tham gia thực hiện, phòng ngừa và đấu tranh với các hoạt động làm ảnh hưởng đến an toàn trật tự các khu, điểm du lịch. Các cơ quan tập trung kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi cò mồi, chèo kéo, ép giá, đeo bám khách du lịch, hoạt động du lịch “chui”… Ngoài ra, còn đẩy nhanh tiến độ thi công dự án khu đón tiếp đường bộ, có quy mô 2,5ha, nằm dưới chân cầu Rạch Miễu trên cù lao Thới Sơn, nhằm đưa hoạt động du lịch trên cù lao này đi vào nền nếp. Đồng thời kết hợp với các chính quyền địa phương tuyên truyền, giáo dục để hình ảnh còn người và đất Tiền Giang luôn luôn đẹp. Từ đó, mà khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế có thể quay lại với Tiền Giang trong thời gian không xa. Luận văn: Tiềm năng thực trạng du lịch tỉnh Tiền Giang.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Định hướng phát triển du lịch tỉnh Tiền Giang

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
