Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc của tổ quốc, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ từ 1060 56’ đến 1070 37kinh độ Đông và 200 43đến 210 09vĩ độ Bắc. Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam và Tây giáp đảo Cát Bà (TP. Hải Phòng). Trên bản đồ thế giới, phía Bắc Vịnh Hạ Long tiếp giáp với Trung Quốc, phía Đông Vịnh Hạ Long tiếp giáp với biển Đông.

Năm 1962, Vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km2 với 1969 hòn đảo lớn nhỏ. Các đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai khu vực chính phía Đông Nam (thuộc Vịnh Bái Tử Long ) và phía Tây Nam (thuộc Vịnh Hạ Long). Khu trung tâm Vịnh có diện tích 434 km2 và 775 hòn đảo có giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất địa mạo được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) hai lần cộng nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994 và 2010).

Khu Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (Khu vực bảo vệ I – vùng lõi) được giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ phía Tây; hồ Ba Hầm phía Nam và đảo Cống Tây phía Đông. Khu vực bảo vệ II – vùng đệm được xác định bởi Vịnh dọc theo quốc lộ 18A, từ kho xăng dầu B12 (Cái Dăm) đến cây số 11 (Phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả). Khu vực bảo vệ III – vùng phụ cận là vùng biển và đất liền bao quanh khu đệm, kể cả vùng biên tiếp giáp với Vườn Quốc gia Cát Bà (Hải Phòng).

2.1.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

  • Địa hình, khí hậu

Quảng Ninh là tỉnh miền núi duyên hải với hơn 80% đất đai là đồi núi. Địa hình tương đối phức tạp với vùng núi, vùng trung du và đồng bằng ven biển, vùng ven biển và hải đảo.

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh, đặc biệt là vùng Vịnh Hạ Long là một vùng địa hình độc đáo với 1969 hòn đảo đá vôi lớn nhỏ. Đặc trưng địa hình vùng Vịnh Hạ Long là địa hình Karst bị nước bào mòn. Là một quá trình tiến hoá Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địa hình Karst như kiểu Phong Tùng, Phong Linh.

Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam, một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

Vịnh Hạ Long nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính hải dương, nóng và ẩm vào mùa hè (từ tháng năm đến tháng mười một), gió đông nam. Mùa đông lạnh và khô hanh, ít mưa và có gió mùa đông bắc. Nằm trong vùng nhiệt đới nên nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27 – 290C, mát và khô vào mùa đông với nhiệt độ xuống thấp khoảng 16 – 180C.

  • Hệ sinh thái

Vịnh Hạ Long được xem như một khu hệ sinh thái đa dạng với những hệ sinh thái điển hình như: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng và hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới. Bên cạnh những thảm thực vật xanh phủ khắp các đỉnh núi cheo leo, các vách đá và các vách hang trên các đảo là nhiều loài động thực vật quý hiếm.Trên thực tế, các hòn đảo ở đây là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thực vật, bao gồm cả những loại quý hiếm, đặc hữu và tuyệt đẹp. Bên cạnh đó là hệ động vật phong phú gồm khoảng 1.000 loài cá biển, trong đó có 730 loài đã định tên; 140 loài động vật phù du; gần 500 loài động vật đáy; 326 loài động vật tự du; 130 loài động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ; hơn 230 loài san hô và một số loài linh trưởng quý hiếm cùng nhiều thực vật đặc hữu.

Hiện nay, hệ sinh thái ở Vịnh Hạ Long còn khá nguyên vẹn, thảm thực vật hầu như không có dấu hiệu của sự đốt cháy hay chặt phá. Tuy nhiên, để duy trì được sự phong phú, đa dạng của tài nguyên du lịch ở điểm đến du lịch này cần phải tăng cường hơn nữa công tác quy hoạch, bảo vệ, giữ gìn… nguồn tài nguyên nơi đây nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững.

2.1.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn

  • Dân cư và dân tộc

Hiện nay tại khu vực Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, có một bộ phận dân cư sinh sống, chủ yếu tập trung tại các làng chài: Cửa Vạn, Vông Viêng, Cống Tàu, Ba Hang…Họ sống trên các nhà thuyền, bè và sinh sống dựa vào nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Vịnh Hạ Long là nơi cư trú của 21 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có những đặc trưng văn hóa, phong tục tập quán riêng. Đây cũng là yếu tố chủ đạo hình thành nên những đặc trưng văn hoá của vùng Hạ Long và là một nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, đa dạng phục vụ cho hoạt động du lịch của địa phương. Trong hệ thống tài nguyên nhân văn đặc sắc đó phải kể đến những thành tố sau:

  • Di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc mỹ thuật

Nền văn hoá Hạ Long tồn tại qua hàng nghìn năm, từ lâu được biết đến là nền văn hoá mang đặc trưng của người tiền sử sinh sống ở ven biển và hải đảo.

Cùng với sự tồn tại và phát triển của những giá trị văn hoá truyền thống, Vịnh Hạ Long đã hình thành theo thời gian những công trình kiến trúc và di tích lịch sử có giá trị như: Thương cảng Vân Đồn tồn tại dưới thời vua Lý Anh Tông (Thế kỷ XII), là nơi thông thương, giao lưu trao đổi buôn bán hang hoá, giao lưu văn hoá…kéo dài từ thời thời Lý tới thời Trần, Lê. Ngoài ra còn rất nhiều di tích lịch sử khác như: đình Quan Lạn trên đảo Quan Lạn thuộc quần đảo Vàm Thư (thị xã Cẩm Phả), đền Cửa Ông…

  • Di chỉ khảo cổ

Qua khảo sát và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện và khai quật được rất nhiều di chỉ khảo cổ có giá trị như ở Đồng Mang, Xích Thố, Soi Nhụ…trong một diện tích hàng trăm km2 với vô số các hiện vật bằng đá sinh động và các mảnh gốm xốp có hoa văn vạch. Các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi nền văn hoá này là “văn hoá Hạ Long” có niên đại cách đây 4.000 năm. Bên cạnh đó Hạ Long còn được xem như một trung tâm giao lưu văn hoá, giao thương giữa Việt Nam với các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm La, các nước Đông Nam Á dưới các thời kỳ phong kiến Lý – Trần – Lê.

  • Lễ hội văn hoá lịch sử

Vịnh Hạ Long là vùng đất được nhiều người biết đến còn bởi những lễ hội văn hóa lịch sử hết sức đặc sắc. Các lễ hội Phật giáo, lễ hội tín ngưỡng dân gian, lễ hội địa phương và các lễ hội du lịch được tổ chức hàng năm là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô giá. Đặc trưng của các lễ hội tại Vịnh Hạ Long là tái hiện lại cảnh sinh hoạt của ngư dân trên vịnh, tế Ngư Ông, hội chèo thuyền….

  • Nghề thủ công truyền thống

Các nghề thủ công như: gồm sứ, tạc than đá…ở Hạ Long từ lâu được coi như những sản phẩm lưu niệm du lịch độc đáo phục vụ du khách.

Như vậy, có thể thấy rằng sự đa dạng của tài nguyên du lịch là nhân tố vô cùng quan trọng để tạo nên sự phong phú trong loại hình sản phẩm du lịch. Qua đó, cũng có thể khẳng định chất lượng của tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản quyết định tới quy mô, số lượng, chất lượng của sản phẩm du lịch cũng như hiệu quả hoạt động du lịch. Vịnh Hạ Long là một điểm đến không chỉ phong phú về tài nguyên du lịch mà tiềm năng du lịch nơi đây còn hết sức đặc sắc và độc đáo. Chính điều này đã làm điểm đến du lịch Hạ Long ngày càng thu hút được sự quan tâm sâu sắc của cả du khách trong và ngoài nước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Các nguồn lực kinh tế, xã hội và kỹ thuật bổ trợ

2.1.2.1. Đường lối chính sách phát triển du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Di sản Vịnh Hạ Long là một khu vực biển đảo rộng lớn, trong đó thường xuyên diễn ra những hoạt động kinh tế – xã hội đa dạng, phức tạp, các hoạt động đó liên quan đến nhiều ngành, địa phương và Trung ương. Do vậy, để có thể quản lý, bảo tồn phát huy tốt giá trị Vịnh Hạ Long trên cơ sở Công ước quốc tế, pháp luật và quy định của Nhà nước Việt Nam có liên quan đến quản lý Di sản, BQLVHL đã chủ động tích cực tham mưu để xuất với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành những cơ chế chính sách phục vụ công tác quản lý bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long. Qua quá trình thực hiện, những chính sách này đã phát huy được hiệu quả trong việc định hướng và thể hiện được quan điểm của tỉnh Quảng Ninh đó là vừa bảo tồn vừa phát huy tốt các giá trị Di sản, đảm bảo được tính toàn vẹn của Di sản cũng như phát huy bền vững những giá trị đó phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Chỉ thời gian ngắn, sau khi Vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thế giới, BQL Vịnh Hạ Long đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan tham mưu cho tỉnh đề xuất với Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành Trung ương ban hành một số cơ chế, chính sách mang tính đặc thù quan trọng, kịp thời giúp cho địa phương tổ chức có hiệu quả công tác quản lý Di sản như: Nghị quyết số 09 ngày 30/11/2012 của Tỉnh ủy Quảng Ninh về công tác quản lý, bảo tồn và khai thác Vịnh Hạ Long; Quy chế quản lý Vịnh Hạ Long; Nghị quyết số 68 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long giai đoạn 2023-2025, tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết số 07 của Tỉnh ủy về phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2030, định hướng đến năm 2030 và một số các văn bản liên quan khác.

Quy hoạch quản lý bảo tồn Vịnh Hạ Long đến năm 2030, Thông tư hướng dẫn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long, đặc biệt là quyết định của Chính phủ cho phép tỉnh Quảng Ninh giữ lại 100% nguồn thu phí tham quan từ năm 2012 đến năm 2022 để đầu tư trở lại cho công tác quản lý Di sản. Điều đó đã tạo ra nguồn lực tài chính to lớn để phục vụ công tác quản lý đầu tư, tôn tạo cơ sở vật chất phục vụ bảo vệ khai thác Di sản.

Trong bản quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030 đã nêu rõ quan điểm phát triển du lịch bền vững của tỉnh phải theo hướng chuyển nghiệp, hiện đại, hiệu quả; có trọng tâm, trọng điểm; để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của tỉnh; góp phần quan trọng thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Với quan điểm đó, bản quy hoạch cũng đã xác định rõ phấn đấu đến năm 2030 xây dựng thành phố Hạ Long trở thành thành phố du lịch biển hiện đại và văn minh. Đặc biệt, trong phân khúc thị trường khách du lịch của  tỉnh, từ cụm điểm du lịch 1 đến cụm điểm du lịch 3 đều lựa chọn Vịnh Hạ Long là một trong những điểm quan trọng để đón khách du lịch. Cụ thể:

  • Cụm điểm du lịch 1: Du lịch “Mới lạ và sang trọng” (Vân Đồn, Vịnh Bái Tử Long, Vịnh Hạ Long) hướng tới các khách du lịch hạng sang từ Châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) và Châu Âu, Bắc Mỹ.
  • Cụm điểm du lịch 2: Du lịch khám phá vẻ đẹp Việt Nam (thành phố Hạ Long, Đông Triều, Uông Bí, Vịnh Hạ Long, Vân Đồn) hướng tới khách du lịch Châu Âu, Bắc Mỹ với chi phí trung bình và thấp muốn trải nghiệm vẻ đẹp tự nhiên, văn hóa của Việt Nam. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.
  • Cụm điểm du lịch 3: Du lịch khách phương Bắc (Móng Cái, Vân Đồn, thành phố Hạ Long, Vịnh Hạ Long) tập trung vào phân khúc khách du lịch Trung Quốc với chi phí thấp và trung bình đến Quảng Ninh qua cửa khẩu Móng Cái.

Để thực hiện những mục tiêu trên, bản quy hoạch tổng thể cũng đã đưa ra nhiều giải pháp trong đó có những giải pháp tập trung vào điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Ví dụ: “Tạo điều kiện thuận lợi để thành lập các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm du lịch mới tại khu vực Vịnh Hạ Long và khu vực lân cận nhằm kéo dài hành trình tham quan Vịnh Hạ Long”; “Phát triển hệ thống quản lý hành trình cho tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long; quy định mức tối đa số tàu thuyền hoạt động trên Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long”. Trong danh mục các dự án ưu tiên đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 – 2030, Vịnh Hạ Long là điểm du lịch được nhiều lần nhắc đến. Có thể kể đến như dự án: “Xây dựng chương trình thu gom và xử lý rác thải cho Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long (2025)”; hay dự án “Áp mức trần cho các tàu thuyền hoạt động trên Vịnh Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long (2025)”. Nhận thấy được tầm quan trọng của điểm du lịch Vịnh Hạ Long trong đề án phát triển sản phẩm du lịch Quảng Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2030 đã chỉ rõ không gian du lịch Hạ Long sẽ có sản phầm chính là du lịch biển đảo Vịnh Hạ Long và phát triển sản phẩm mới cũng tại điểm du lịch này cùng một số khu vực phụ cận…. Đặc biệt, trong danh mục các dự án ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2025 – 2030 trung tâm du lịch Hạ Long và vùng phụ cận có 37 dự án trong đó 8 dự án sẽ được triển khai tại Vịnh Hạ Long với tổng số vốn dự kiến là 61.5 triệu USD.

Như vậy, qua bản quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh cũng như qua những đề án phát triển sản phẩm du lịch Quảng Ninh đến năm 2030, định hướng 2030 có thể thấy Vịnh Hạ Long là một trong những điểm đến được xác định rất rõ ràng về mục tiêu, phương hướng phát triển. Tựu chung lại, phát triển du lịch Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng phải theo hướng bền vững. Sự bền vững ở đây phải được thực hiện một cách chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả, có trọng điểm, trọng tâm; đẩy mạnh việc phát triển du lịch và đưa ngành kinh tế này trở thành ngành chủ đảo và chiếm tỷ trong cao hơn nữa trong cơ cấu GDP, hay nói cách khác: đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở khu vực Hạ Long cũng như trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

2.1.2.2. Hợp tác đầu tư phát triển du lịch

Về sự hợp tác đầu tư phát triển du lịch của Vịnh Hạ Long phải thấy được sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, địa phương, đơn vị và sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý điểm đến này với các tổ chức, quốc gia khác nhằm mục tiêu phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Để thực hiện tốt sự hợp tác trên, trong quyết định phê duyệt đề án phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2030 đã chỉ rõ: trong quá trình tổ chức thực hiện phát triển sản phẩm du lịch của tỉnh nói chung và của Vịnh Hạ Long nói riêng Ủy ban nhân dân tỉnh cần giao nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành, địa phương, đơn vị như: Sở VHTTT & DL, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, BQLVHL, Ban Xúc tiến hỗ trợ Đầu tư, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các sở, ngành, đơn vị có liên quan, Hiệp hội Du lịch tỉnh Quảng Ninh, Hiệp Hội doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh, Liên minh các hợp tác xã và doanh nghiệp ngoài quốc doanh tỉnh và các doanh nghiệp…. các sở, ban, ngành, địa phương, đơn vị kể trên ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ của mình cần có sự hỗ trợ, hợp tác tích cực với nhau nhằm mục tiêu phát triển du lịch một cách bền vững.

Theo lãnh đạo BQLVHL, trong suốt những năm qua, các hoạt động hợp tác quốc tế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị Di sản ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu. Cụ thể, BQL Vịnh đã thiết lập và thường xuyên duy trì tốt mối quan hệ, giao lưu, tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như: Uỷ ban Di sản thế giới, Trung tâm Di sản thế giới, mạng lưới các Di sản thiên nhiên thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tổ chức IUCN,JICA,câu lạc bộ các Vịnh đẹp nhất thế giới, tổ chức NewOpenWorld,…. Trong đó, BQLVHL đã chủ động phối hợp, liên kết với các tổ chức quốc tế để triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học, thu hút, kêu gọi được một số dự án phục vụ quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Vịnh Hạ Long, điển hình là dự án Trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn thuộc dự án Bảo tàng Sinh thái Hạ Long do chính phủ Na Uy tài trợ.

Đây là mô hình bảo tàng mới lần đầu tiên được nghiên cứu và thực hiện ở Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ, gìn giữ các giá trị Vịnh Hạ Long; dự án nâng cao năng lực BQLVHL do UNESCO và IUCNtài trợ; dự án nâng cao nhận thức môi trường Vịnh Hạ Long do quỹ sáng kiến Dawin và tập đoàn dầu khí Santos (Úc) tài trợ v.v.. Đặc biệt là dự án hỗ trợ xây dựng tuần hoàn tài nguyên có sự tham gia của người dân địa phương Hạ Long do JICA tài trợ. Đây là một trong những dự án đã mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long. Theo đó, từ năm 2019 đến nay,JICA đã giúp đỡ, cử các chuyên gia Nhật Bản giúp Ban thực hiện dự án xây dựng hệ thống tuần hoàn tài nguyên có sự tham gia của người dân địa phương trên Vịnh Hạ Long nhằm tăng cường nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long. Trong thời gian tới 2 dự án quan trọng là “Thiết lập hệ thống thu gom, vận chuyển rác thải trên Vịnh Hạ Long đưa về bờ xử lý sử dụng nhiên liệu sinh học” và “Xây dựng mô hình giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức cho cộng đồng bảo vệ Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long” vẫn tiếp tục được triển khai trên Vịnh. Cùng với đó, cũng trong thời gian tới, sáng kiến liên minh Vịnh Hạ Long do Hoa Kỳ tài trợ (thông qua Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cho IUCN và Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng MCD để giúp bảo vệ và khôi phục môi trường tại Vịnh Hạ Long sẽ được triển khai. Đây là những tín hiệu đáng mừng đối với công cuộc hội nhập quốc tế trong bảo tồn, phát huy giá trị Di sản của Hạ Long.

Để thực hiện du lịch có trách nhiệm tại Vịnh Hạ Long, hướng tới sự phát triển du lịch bền vững, tháng 10-2022, Dự án “Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội” (ESRT) do Liên minh châu Âu tài trợ (Dự án EU) và Sở VHTT&DL đã ký kết biên bản thoả thuận hợp tác phát triển du lịch có trách nhiệm tại Vịnh Hạ Long. Theo đó, Dự án EU sẽ cử các chuyên gia trong nước và quốc tế hỗ trợ quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2030; hỗ trợ chương trình tổng thể “Kế hoạch quản lý điểm đến” và chương trình đào tạo du lịch.

Có thể nói từ việc thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế giữa tỉnh Quảng Ninh, BQLVHL với các tổ chức quốc tế trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị Di sản. Từ các mối quan hệ hợp tác, nhiều hoạt động giao lưu với các nước trong và ngoài khu vực về kinh tế, văn hoá, đặc biệt là lĩnh vực du lịch, đào tạo nguồn nhân lực đã được triển khai, nhiều chương trình dự án được tài trợ thực hiện, từng bước đưa công tác quản lý Di sản hội nhập với quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, uy tín và giới thiệu, quảng bá hình ảnh Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, Việt Nam ra thế giới.

2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Cơ sở hạ tầng là một trong những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch có hiệu quả. Hiện nay, cơ sở hạ tầng tại thành phố Hạ Long cũng như khu vực Vịnh về cơ bản là rất tốt.

  • Về giao thông vận tải

Có các hình thức vận chuyển đa dạng gồm: đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không cùng các tuyến đường được nâng cấp, xây mới  có chất lượng tốt đảm bảo phục vụ yêu cầu đi lại tham quan của du khách. Trong đó các phương tiện vận chuyển bằng ôtô, tàu thuỷ đã được khai thác phục vụ du lịch từ lâu và mang lại hiệu quả rõ rệt. Những năm gần đây hình thức vận chuyển khách du lịch bằng trực thăng và tàu hoả được rất nhiều du khách đón nhận sử dụng dịch vụ.

Tuyến tàu hỏa du lịch khởi hành từ ga Gia Lâm (Hà Nội) đến Hạ Long (Quảng Ninh) đã được đưa vào hoạt động, bước đầu được du khách hết sức quan tâm. Đây là chuyến tàu khách chất lượng cao do công ty TNHH một thành viên vận tải đường sắt Dongrim (Hàn Quốc) đẩu tư khai thác với tổng số vốn đầu tư trên 1 triệu USD. Điều này đã mở ra cơ hội mới cho du lịch Quảng Ninh trong việc đưa đón, thu hút khách tham quan du lịch từ Hà Nội về Hạ Long và ngược lại

  • Về hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc

Hiện nay, hệ thống điện, nước tại Hạ Long là rất tốt và ngày càng được chú trọng đầu tư sửa chữa, nâng cấp. Hệ thống điện ổn định, đường dây tải đảm bao an toàn. Hệ thống cấp thoát nước trong thành phố cũng như khu vực Vịnh Hạ Long khá tốt với việc đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch, đảm bảo an toàn vệ sinh, cũng như đảm bảo xử lý và thoát nước đúng theo quy định. Mạng lưới thông tin liên lạc đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu thông tin của khách du lịch.

Về thông tin liên lạc, điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long cũng như toàn thành phố vẫn tiếp tục thực hiện theo quy hoạch: mở rộng hệ thống bưu điện và các dịch vụ bưu điện, điện thoại tới các phường, xã, hải đảo, khuyến khích tạo mọi điều kiện cho nhân dân khai thác và sử dụng, đầu tư phát triển mạng điện thoại, bưu điện phục vụ sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.

Ngoài hệ thống thông tin liên lạc đường dây còn có hệ thống thông tin liên lạc không dây của các mạng di động như Viettel, Vinaphone, Mobifone phủ sóng khắp thành phố và cả khu vực Vịnh Hạ Long, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho phục vụ khách du lịch cũng cư dân địa phương. Thành phố có một bưu cục trung tâm, một tổng đài có hơn 80.000 số hoà mạng lưới quốc gia tuyến đường cáp quang nối với Hà Nội đã được xây dựng, dịch vụ internet cũng phát triển rất nhanh. Toàn thành phố có hơn 17.500 hộ thuê bao dịch vụ truyền hình cáp. Đặc biệt, giống như nhiều điểm đến du lịch khác trên cả nước, hiện tại toàn bộ thành phố, kể cả vùng Vịnh Hạ Long đã được phủ sóng Wifi miễn phí.

Bên cạnh đó là các cơ sở hạ tầng khác như các trạm thu phí, trạm cấp cứu y tế ven biển, ngân hàng cũng khá phát triển… nhằm phục vụ du khách một cách tốt nhất. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

2.1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật

  • Các cơ sở lưu trú

Cơ sở lưu trú là điều kiện thiết yếu không thể thiếu để đảm bảo cho hoạt động phát triển du lịch. Hiện nay, sự gia tăng đáng kể về số lượng du khách đến Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng đã thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở lưu trú. Chỉ tính riêng trong vòng 10 năm trở lại đây, hàng loạt khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách, nhà trọ… của các thành phần kinh tế, các cơ quan, tổ chức và tư nhân lần lượt ra đời chiếm số lượng chủ yếu là các khách sạn mini. Các cơ sở lưu trú này đáp ứng cao nhu cầu chỗ nghỉ của du khách đặc biệt là vào mùa cao điểm, tuy nhiên sự gia tăng ồ ạt các khách sạn có quy mô vừa và nhỏ này tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng thừa trong mùa thấp điểm. Do vậy công suất sử dụng phòng trong năm là không cao. Một số khách sạn được xếp sao cho công suât sử dụng phòng khá cao như khách sạn Hạ Long I, II, III và Hạ Long bay đạt trên 80 %, ngoài ra còn một số khách sạn lớn khác như: khách sạn Gài Gòn – Hạ Long, khách sạn Hạ Long – Plaza, khách sạn Bạch Đằng, khách sạn Công Đoàn, khách sạn Mường Thanh,…. cũng là những khách sạn có công suất sử dụng phòng cao. Qua khảo sát về mức độ hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ lưu trú ở điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long tác giả xây dựng được biểu đồ sau:

Hình 2.1. Biều đồ đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú tại điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh

Biểu đồ trên đã thể hiện mức độ hài lòng của du khách đối với chất lượng dịch vụ lưu trú ở điểm du lịch Vịnh Hạ Long. Mặc dù số lượng các khách sạn vừa và nhỏ khá nhiều nhưng chất lượng dịch vụ của phần lớn các khách sạn tại điểm đến này tạo được ấn tượng tốt trong lòng du khách. Kết quả điều tra cho thấy 55% đánh giá chất lượng dịch vụ lưu trú ở đây rất tốt, 34% cho ở mức độ tốt, 9% đánh giá là trung bình và 2% cho là không tốt. Như vậy, số lượng khách du lịch đánh giá rất tốt chiếm tỷ lệ phần trăm cao nhất và có sự chênh lệch khá nhiều so với những mức đánh giá còn lại. Có được kết quả này là do Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới được đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước biết đến. Hàng năm số lượng khách nội địa, quốc tế đến với điểm du lịch này rất ngày một tăng. Chính vì vây, nhu cầu lưu trú của du khách cao cũng như những đòi hỏi về mặt chất lượng cũng khá nghiêm ngặt. Trong những năm gần đây, tổng số khách sạn và số phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế ở Hạ Long tăng. Tuy nhiên, dù trên địa bàn thành phố có Vịnh Hạ Long nổi tiếng cả ở trong và ngoài nước nhưng vẫn chưa có một khách sạn 5 sao nào để đáp ứng nhu cầu của du khách đặc biệt là khách phương Tây. Các khách sạn chủ yếu tập trung ở khu vực Bãi Cháy và một số nằm ở Hòn Gai – chủ yếu nằm trên đường Lê Thánh Tông. Đây là một trong những thuận lợi cho phát triển du lịch của thành phố nói chung và khu vực Vịnh Hạ Long nói riêng trong việc đáp ứng nhu cầu lưu trú của du khách.

  • Các cơ sở ăn uống Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Các cơ sở ăn uống tại thành phố Hạ Long rất đa dạng. Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách đều phục vụ ăn uống. Ngoài ra còn có các nhà hàng, quán ăn, quán bar của các thành phần kinh tế, trong đó phần lớn là của tư nhân phục vụ khách du lịch và nhân dân địa phương suốt ngày đêm. Qua điều tra khảo sát của tác giả đã thu lại kết quả sau:

Hình 2.2. Biểu đồ đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ ăn uống ở điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là điểm đến có sự thuận lợi rất lớn về việc đáp ứng nhu cầu ăn uống của du khách. Sở dĩ có thuận lợi này là do vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của khu vực tạo điều kiện cho điểm đến du lịch có nguồn thức ăn phong phú, dồi dào và rất đa dạng. Ngoài nguồn nguyên liệu khai thác từ thiên nhiên, người dân nơi đây còn chăn nuôi rất nhiều gia súc, gia cầm, thủy hải sản… để phục vụ cho cuộc sống thường ngày cũng như buôn bán, phục vụ khách du lịch. Đây là một trong những lý do để khách du lịch khi đến tham quan Vịnh Hạ Long có nhiều sự lựa chọn trong dịch vụ ăn uống và đánh giá cao về chất lượng của dịch vụ này tại điểm đến. Từ biểu đồ trên có thể dễ dàng nhận thấy 54% du khách đánh giá rất tốt về dịch vụ ăn uống ở khu vực điểm đến Vịnh Hạ Long, 34% cho là tốt, 10% đánh giá ở mức độ bình thường và 2%  cho là không tốt. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc vẫn còn những đánh giá không tốt về chất lượng dịch vụ ăn uống ở Vịnh Hạ Long về cơ bản là do vào mùa du lịch chính, lượng khách du lịch đến đông, nhu cầu của du khách tăng lên nhanh chóng. Để đáp ứng được nhu cầu này, nhiều nhà hàng đã không đảm bảo về mặt chất lượng cũng như số lượng món ăn cho du khách. Việc làm này đã để lại ấn tượng không tốt trong lòng du khách khi đến thăm Vinh Hạ Long.

Về việc phân bố các cơ sở dịch vụ nhà hàng ăn uống từ bình dân, đặc sản biển đến các quán ăn Âu, Á sang trọng, các quán ăn cao cấp tập trung phần lớn quanh khu vực Bãi Cháy và trong các khách sạn lớn. Các quán ăn phục vụ chủ yếu các món đồ đặc sản biển, món ăn Việt Nam.

  • Các cơ sở vui chơi – giải trí và thể thao

Hiện nay, tại thành phố Hạ Long cũng như khu vực Vịnh có rất nhiều cơ sở vui chơi – giải trí – thể thao được xây dựng để phục vụ nhu cầu của du khách cũng như nhân dân địa phương. Tập trung phần lớn tại khu vực Bãi Cháy với nhiều cơ sở được đầu tư kỹ lưỡng gồm các quán Bar, sàn nhảy, sòng bạc casino, khu công viên (công viên Quốc tế Hoàng Gia) nằm bên bờ biển, khu du lịch quốc tế Tuần Châu, khu chợ đêm bán hàng lưu niệm, khu vực thể thao như môtô nước, dù lượn…

  • Các phương tiện vận chuyển khách du lịch trong điểm đến

Phương tiện vận chuyển du khách chủ yếu hiện nay là ôtô và tàu du lịch. Các phương tiện vận chuyển ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Hiện nay, thành phố có khoảng trên 525 tàu du lịch gồm các loại từ 10 – 50 chỗ ngồi trong đó có 185 tàu được phép phục vụ khách lưu trú qua đêm trên Vịnh Hạ Long (số liệu thống kê năm 2023). Các phương tiện có thể đáp ứng ở nhiều mức độ tuỳ theo nhu cầu của du khách về tiện nghi, trang thiết bị. . . Tàu du lịch ở Vịnh Hạ Long được phân loại và hạng như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

  • Loại tàu đạt tiêu chuẩn 3 sao
  • Loại tàu đạt tiêu chuẩn 2 sao
  • Loại tàu đạt tiêu chuẩn 1 sao
  • Loại tàu đạt tiêu chuẩn tối thiểu

Tuỳ thuộc vào tuyến hành trình lựa chọn, thời gian tham quan trên Vịnh có thể kéo dài 4h, 6h, 8h. Ngoài ra, du khách còn có thể lựa chọn dịch vụ lưu trú đêm trên Vịnh Hạ Long ở các tàu du lịch có đủ điều kiện dinh doanh.

Song song với các phương tiện di chuyển nội vùng là các phương tiện di chuyển tới điểm đến. Cả hai loại phương tiện này đều được chú trọng đầu tư và nâng cao về chất lượng. Qua điều tra khảo sát, tác giả đã thu được kết quả sau:

Bảng 2.2. Đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ vận chuyển

phương tiện tiếp cận điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long và phương tiện di chuyển nội vùng. Trong 100 số phiếu phát ra và thu về có 42 phiếu đánh giá tốt về chất lượng của các phương tiện tiếp cận điểm đến, chiếm 42% tổng số phiếu. Bên cạnh đó phương tiện di chuyển nội vùng cũng có kết quả đánh giá tốt về chất lượng dịch vụ với 33 phiếu chiếm 33%. Tuy nhiên, tại một điểm đến du lịch nổi tiếng như Vịnh Hạ Long với nhiều lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới thế giới thì con số trên mới chỉ là tín hiệu đáng mừng chứ chưa phải là chỉ tiêu hướng tới. Vẫn còn những ý kiến cho rằng chất lượng dịch vụ vận chuyển tới điểm đến và trong nội vùng còn bình thường, thậm chí là không tốt.

  • Các công ty lữ hành và đại lý du lịch

Vịnh Hạ Long từ lâu được biết đến là một trong những điểm du lịch hấp dẫn của đất nước với những hoạt động du lịch diễn ra sôi động. Đóng góp một phần rất lớn vào việc quảng bá hình ảnh du lịch Vịnh Hạ Long trong nước và quốc tế là các công ty lữ hành và các đại lý du lịch hiện đang hoạt động rất hiệu quả. Hiện nay, có khoảng 30 công ty lữ hành đặt trụ sở và chi nhánh hoạt động tại Hạ Long, trong đó có nhiều công ty lữ hành và đại lý du lịch lớn, uy tín.

2.1.2.5. Dân cư, lao động và kinh tế

  • Dân cư Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Trong số 1.969 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, tập trung chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam Vịnh Hạ Long. Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn).

Dân số trên vịnh Hạ Long hiện nay khoảng 1.540 người, tập trung chủ yếu ở các làng đánh cá Cửa Vạn, Ba Hang, Cặp Dè (thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long). Cư dân vùng Vịnh phần lớn sống trên thuyền, trên nhà bè để thuận tiện cho việc đánh bắt, nuôi trồng và lai tạo các giống thủy hải sản. Ngày nay, đời sống của cư dân Vịnh Hạ Long đã phát triển do kinh doanh dịch vụ du lịch.

Từ tháng 6/2024, toàn bộ dân sống trong vùng lõi Di sản vịnh Hạ Long được di dời lên bờ và tái định cư ở phường Hà Phong (TP Hạ Long, Quảng Ninh). Trong tháng 6/2024, hơn 300 hộ dân ở 7 làng chài trên Vịnh sẽ được chuyển hết lên bờ sinh sống. Những người này sẽ được cấp căn hộ có diện tích từ 78128m2/căn, vệ sinh khép kín cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật điện, đường, cấp thoát nước, cây xanh công cộng… tại khu tái định cư làng chài phường Hà Phong.

Dự án di dời dân chài nhằm giải quyết khuyến nghị của UNESCO về việc dân số vùng lõi Vịnh Hạ Long phát triển quá nhanh làm ảnh hưởng đến Di sản; giúp những cư dân đang sống lênh đênh nơi sông nước có chỗ ở ổn định, được tiếp cận với y tế, trường học và và những lĩnh vực công nghệ cao trên bờ… Chủ trương di dời dân làng chài có từ 5 năm trước nhưng chưa thực hiện được vì thiếu kinh phí và quỹ đất. Từ năm 2023, Quảng Ninh đã dành gần 8 ha đất tại phường Hà Phong để xây dựng 364 căn hộ cho ngư dân. Tổng vốn đầu tư cho dự án này khoảng 167 tỷ đồng, lấy từ ngân sách của tỉnh. Trong thực tế, làng chài có những giá trị văn hóa cần bảo tồn và BQLVHL đang xây dựng phương án bảo vệ, phát huy và khai thác phục vụ du lịch.

Hiện tỉnh Quảng Ninh đã bắt đầu đưa ngư dân ra ra khỏi vùng lõi Di sản vịnh Hạ Long. Đã có 38/321 hộ dân được nhận căn hộ tại khu tái định cư Cái Xà Coong, phường Hà Phong. Trường tiểu học, trung học gần khu tái định cư đã được sửa sang và sẵn sàng đón học sinh làng chài trong năm học mới. Cùng với đó, trạm y tế, bến đậu thuyền và khu kinh doanh thủy hải sản đều được bố trí thuận tiện cho ngư dân mới chuyển lên bờ sinh sống. UBND thành phố sẽ có chính sách trợ cấp thất nghiệp do di dời và chi phí đào tạo nghề mới cho người trong độ tuổi lao động có nhu cầu. Tuy nhiên, vấn đề cần phải giải quyết của hậu di dân là khách du lịch đến thăm quan các làng chài trên Vịnh Hạ Long đều cảm nhận được sự lặng lẽ, vắng vẻ ở đây. Nhiều du khách cảm thấy hụt hẫng khi lựa chọn tham quan làng chài trên Vịnh.

  • Lao động Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Nguồn nhân lực luôn giữ vị trí chủ chốt trong quá trình phát triển, quy định chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch. Đối với tỉnh Quảng Ninh, hiện nay có 25 nghìn lao động ngành Du lịch phục vụ trong các khách sạn, tàu du lịch, các công ty lữ hành, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Nhìn chung, nguồn nhân lực hiện có của tỉnh đã đảm bảo về số lượng do nước ta có một tỷ lệ lớn lao động trẻ. Không chỉ có nguồn nhân lực trong tỉnh mà còn có một số lượng tương đối đông nhân lực từ các tỉnh khác đến. Tuy nhiên, lao động trong ngành Du lịch Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng đang bị thiếu đào tạo một cách trầm trọng dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn nhân lực có chuyên môn trình độ đáp ứng nhu cầu ngày một cao của du khách.

Vì vậy, hiện nay, cùng với một số lượng khá lớn nhân lực phục vụ trong ngành Du lịch, tỉnh Quảng Ninh cũng đưa ra những chủ chương chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thụân lợi cho việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao nhằm phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu của khách du lịch.

  • Kinh tế

Kinh tế Hạ Long nằm trong tổng thể kinh tế Quảng Ninh và kinh tế vùng tam giác Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh có tiềm năng lớn nhất miền Bắc. Những kết quả thu hút đầu tư và phát  triển kinh tế gần đây cho thấy tiềm năng rất to lớn của vùng tam giác. Đây là điểm đến du lịch được chính phú đầu tư hạ tầng, sân bay quốc tế, thu hút những nhà đầu tư lớn và uy tín của thế giới trong những phân khúc kinh tế giá trị cao, phi truyền thống, kinh tế du lịch, kinh tế biển…có nhiều tiềm năng và cơ sở để khẳng định thương hiệu Vịnh Hạ Long câp độ thế giới nhất là trong kinh tế du lịch. Gần đây nhất, việc tập đoàn Las Vegas Sands chú ý đầu tư vào Quảng Ninh – Hạ Long là một bước khẳng định vị thế kinh tế và thương hiệu Hạ Long

Trong giai đoạn đầu tiên, Hạ Long – Quảng Ninh đã đạt được rất nhiều thành tựu về kinh tế. Những điều này cần được phát huy trên cơ sở chú trọng tính chuyên nghiệp, khả năng nắm bắt xu hướng, tính cộng đồng, chất lượng sản phẩm và nhất là năng lực sáng tạo.

2.1.3. Tình hình phát triển du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

2.1.3.1. Danh thu và số lượng khách du lịch đến Vịnh Hạ Long

  • Doanh thu và số lượng khách:

Bảng 2.3. Số lượng khách tham quan Vịnh Hạ Long

luôn là tâm điểm, là động lực phát triển các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Trung bình mỗi năm, Vịnh Hạ Long thu hút được hơn 3,1 triệu lượt khách du lịch, đưa Hạ Long – Quảng Ninh trở thành một trung tâm du lịch biển hàng đầu Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị và tăng cường năng lực hội nhập quốc tế của tỉnh Quảng Ninh.

Năm 2022, Vịnh Hạ Long đã thu hút được 3 triệu lượt khách tham quan, chiếm gần một nửa tổng số khách du lịch tỉnh Quảng Ninh.Tuy nhiên, trong năm 2023 du lịch Vịnh Hạ Long có giảm so với hai năm trước đó nhưng đến năm 2024 lượng khách du lịch đến tham quan Vịnh lại tăng trở lại. Dự báo, khách du lịch đến Vịnh Hạ Long sẽ tăng 10%/năm, đạt mức 4 triệu khách tham quan vào năm 2025. Tổng thu từ du lịch, từ khách tham quan Vịnh Hạ Long dự kiến sẽ đạt 4.463 tỷ VND năm 2025, gần gấp đôi doanh thu hiện tại ở mức 2.735 tỷ VND vào năm 2022.

  • Thị trường khách

Thị trường khách du lịch trong nước

Số lượng khách nội địa đến tham quan Vịnh Hạ Long trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể. Khách nội địa đến Hạ Long bằng nhiều con đường khác nhau, chủ yếu là khách địa phương và các vùng phụ cận, từ Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc. Ngoài ra còn có một số lượng không nhỏ khách du lịch từ các tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh đi theo tuyến du lịch đến Thủ đô Hà Nội rồi đi Hạ Long.

Lượng khách nội địa đến thăm Vịnh Hạ Long trong thời gian gần đây trung bình mỗi năm khoảng 2 triệu lượt. Như vậy có thể thấy Quảng Ninh với nhiều danh lam thắng cảnh đã thu hút không ít du khách trong nước đến tham quan. Tuy nhiên kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long vẫn là điểm đến trọng điểm.

Thị trường khách du lịch quốc tế

Số lượng khách quốc tế đến Vịnh Hạ Long gần đây là 1 triệu lượt khách, trong đó có nhiều quốc tịch khác nhau như: Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Australia…

2.1.3.2. Các loại hình du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ rõ mục tiêu đến năm 2030, Hạ Long đón 7,5 triệu lượt khách. Vì vậy việc phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long phải căn cứ vào nhu cầu, sở thích cũng như khả năng chi trả của các đối tượng du khách khác nhau để làm phong phú thêm các loại hình du lịch của mình. Đó là phát triển các nhóm sản phẩm: du lịch tham quan ngắm cảnh, du lịch nghỉ biển, du lịch sinh thái biển đảo, du lịch thể thao, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hoá lễ hội, làng nghề, di chỉ khảo cổ, du lịch tàu biển…

Trên thực tế những năm qua, hoạt động du lịch ở Vịnh Hạ Long mới chỉ phổ biến là hình thức du lịch đại trà hay du lịch thông thường, nghĩa là du khách đến Hạ Long cơ bản mới chỉ dừng lại ở ngắm cảnh, tắm biển, thăm quan các làng chài…Tuy nhiên, bước đầu những hình thức du lịch này cũng đã tạo nên những lợi ích kinh tế cho địa phương, bảo tồn văn hoá địa phương và ít nhiều góp phần giáo dục môi trường cho du khách cũng như tập thể, cá nhân tham gia hoạt động du lịch.

Hiện nay một số loại hình du lịch đang được nhiều du khách trong và ngoài nước ưa thích tham quan khám phá tại Vịnh Hạ Long đó là:

  • Du lịch tham quan
  • Du lịch chèo thuyền phao (Kayaking)
  • Du lịch văn hoá
  • Du lịch nghỉ dưỡng
  • Du lịch sinh thái Vịnh Hạ Long
  • Du lịch cộng đồng

2.1.3.3. Chương trình du lịch

Với nguồn tài nguyên biển đảo có giá trị độc đáo, Vịnh Hạ Long ngày càng phát huy vị trí, vai trò trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, vùng biển đảo phía Bắc và của cả nước. Sự phát triển này có thể thấy rõ qua số lượng chương trình du lịch đã và đang được phục vụ tại Vịnh Hạ Long, tuyến điểm du lịch khai thác và chất lượng các chương trình du lịch đó.

  • Tuyến điểm tham quan du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Hiện nay, BQLVHL đã và đang đưa vào khai thác phục vụ du khách một số tuyến điểm tham quan du lịch trên Vịnh.

Các tuyến tham quan trên Vịnh Hạ Long nhìn chung khá phong phú, đa dạng phù hợp với nhu cầu của du khách và đảm bảo hợp lý về điểm đến và thời gian tham quan. Thời gian đón khách trên Vịnh được niêm yết và mô tụ thể.

  • Dịch vụ phục vụ khách tham quan

Ngày 30/8, UBND tỉnh Quảng Ninh có Quyết định số 2269/2023/QĐUBND về việc quy định mức thu phí tham quan danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long: thu 01 lần phí tham quan chung trên vịnh/chuyến; thu phí tham quan lưu trú qua đêm trên Vịnh đối với khách tham quan tại các điểm du lịch trên Vịnh. Quy định việc giảm 50% phí cho các đối tượng: đối với trẻ em (từ 07 tuổi đến 15 tuổi), người cao tuổi (là công dân đủ 70 tuổi trở lên), người nghèo, người khuyết tật; miễn thu phí tham quan đối với người có công với cách mạng và trẻ em dưới 07 tuổi. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2024.

  • Nhận xét tình hình phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long

Thực hiện định hướng phát triển du lịch Vịnh Hạ Long năm 2020, phấn đấu đến năm 2025 Vịnh Hạ Long trở thành điểm du lịch lớn nhất cả nước, các cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách đầu tư, khuyến khích phát triển du lịch với nhiều ưu tiên. Công tác khai thác tài nguyên du lịch Vịnh Hạ Long đã được đưa vào triển khai thực hiện, bước đầu đạt được những hiệu quả nhất định. Nhìn chung tình hình khai thác tốt nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được khắc phục trong thời gian sớm nhất.

  • Ưu điểm

Khai thác tài nguyên du lịch Vịnh Hạ Long trong thời gian qua nhìn chung đã đạt được những hiệu quả nhất định và có một số ưu điểm sau:

BQLVHL đã xác định thế mạnh phát triển du lịch Vịnh Hạ Long là vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên sẵn có và những giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu của nó. Có sự tận dụng, phát huy những lợi thế về tiềm năng du lịch sẵn có, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên. Từ đó tận dụng triệt để vốn tiềm năng này hình thành các sản phẩm du lịch phục vụ khách du lịch.

Đi đôi với việc khai thác tài nguyên du lịch là sự quan tâm giữ gìn, bảo tồn, tôn tạo và phát triển nguồn tài nguyên du lịch tại điểm đến. Đối với việc khai thác các tuyến điểm du lịch truyền thống vừa đặt mục tiêu khai thác tối đa vừa tăng cường công tác tu bổ, tôn tạo để không làm mất đi giá trị ban đầu. Ngoài ra còn nghiên cứu phát triển các loại hình dịch vụ du lịch mới cũng như khai thác tuyến điểm du lịch mới bước đầu đã mang tính đặc trưng của địa phương, tạo được dấu ấn riêng trong lòng du khách. Điều này được minh chứng cụ thể bởi số lượng khách du lịch đến Vịnh Hạ Long trong những năm gần đây đã được tác giả phân tích ở phần trên. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

BQLVHL – cơ quan chủ quản đã có những mục tiêu chiến lược hữu hiệu trong công tác quản lý khai thác tài nguyên, đảm bảo khai thác theo đúng chiến lược quy hoạch và phát triển du lịch của tỉnh, thành phố và đơn vị.

BQLVHL đã có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có thầm quyền, cũng như với thành phố Hạ Long, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong khu vực thực hiện chiến lược xúc tiến quảng bá du lịch Vịnh Hạ Long, tạo thương hiệu đặc trưng “Du lịch Hạ Long”.

  • Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những ưu điểm, tình hình khai thác tài nguyên du lịch Vịnh Hạ Long còn có những hạn chế nhất định. Những hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cũng như sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực hoạt động phát triển du lịch.

Chất lượng khai thác tài nguyên du lịch chưa cao do khai thác tràn lan, thiếu hoặc không thực hiện theo quy hoạch tổng thể. Đây cũng là nguyên nhân khiến việc khai thác tài nguyên du lịch ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường, tác động tiêu cực lên cảnh quan khu vực, làm mất dần các giá trị vốn có của Vịnh Hạ Long. Đầu tư khai thác và phát triển du lịch mất cân đối, do nặng về khai thác các sản phẩm du lịch phục vụ lưu trú trong khi thiếu các dịch vui chơi giải trí hay loại hình du lịch đặc trưng. Bên cạnh đó, việc tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư khu vực Di sản tham gia đầu tư phát triển du lịch cũng như khai thác các giá trị văn hoá, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống phục vụ du lịch còn nhiều hạn chế.

Các doanh nghiệp du lịch khai thác tài nguyên du lịch Vịnh Hạ Long nhìn chung năng lực cạnh tranh còn yếu, tính liên kết kém. Các doanh nghiệp mới chỉ tập trung phục vụ các thị trường khách quen thuộc như: Trung Quốc, Đài Loan hay Hồng Kông chứ chưa đủ sức vươn tới các thị trường tiềm năng như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu…

Sản phẩm du lịch, chương trình tour tuyến, điểm tham quan còn đơn điệu, chưa tương xứng với giá trị đích thực của một Di sản thiên nhiên thế giới.

Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn yếu, chưa theo kịp sự phát triển của ngành cũng như hình ảnh của Vịnh Hạ Long. Hạn chế trong công tác vận động bình chọn Vịnh Hạ Long. Điều này thể hiện rõ nhất qua việc kết hợp thiếu chặt chẽ, chưa đạt hiệu quả trong quảng bá và vận động bình chọn Vịnh Hạ Long là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới.

2.2. Công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

2.2.1. Thực trạng bộ máy quản lý hoạt động du lịch tại Vịnh Hạ Long

Với sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ, sự giúp đỡ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, ban, ngành của Trung ương, sự phối hợp, hỗ trợ của UNESCO và các tổ chức quốc tế khác, tỉnh Quảng Ninh đã có những nỗ lực với nhiều giải pháp tích cực để quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của Di sản Vịnh Hạ Long, trong đó quyết định thành lập BQLVHL với chức năng là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước về bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh được xem là chiến lược hiệu quả đưa công tác quản lý Di sản đi vào nề nếp, ổn định.

Sau khi Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (ngày 17/12/1994), Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 2796/QĐ – UB ngày 09/12/1995 thành lập BQLVHL và Quyết định số 419/QĐ- UB ngày 02/03/1999 quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của BQL Vịnh Hạ Long.

Chức năng:

BQLVHL là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh, có chức năng giúp UBND tỉnh Quảng Ninh quản lý Nhà nước đối với Vịnh Hạ Long nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long, mà trọng tâm là khu vực Di sản thiên nhiên thế giới đã được UNESCO công nhận, đồng thời, chịu sự quản lý, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hoá –  Thông tin, Uỷ ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan.

Nhiệm vụ: 

  • Tham mưu, đề xuất, giúp UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành qui chế, qui định quản lý Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành Qui chế Quản lý Vịnh Hạ Long của UBND tỉnh.
  • Thẩm định các dự án kinh tế – xã hội liên quan đến Vịnh Hạ Long và giám sát các hoạt động kinh tế – xã hội trong phạm vi Vịnh Hạ Long.
  • Chủ trì và phối hợp với các ngành, địa phương liên quan kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức nghiên cứu khoa học về Vịnh Hạ Long.
  • Xây dựng và thực hiện các kế hoạch tu bổ, tôn tạo, đầu tư, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức thông tin, tuyên truyền, quảng bá, giáo dục cộng đồng về giá trị Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức quản lý, giữ gìn bãi đảo, hang động, vệ sinh môi trường Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức bán vé, thu phí tham quan Vịnh Hạ Long, đón tiếp, hướng dẫn và giới thiệu khách tham quan Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức phòng chống giảm thiểu hậu quả thiên tai, tai nạn và tìm kiếm, cứu nạn trong phạm vi Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan Vịnh Hạ Long.

Tuy nhiên, thực tế bộ máy của BQL Vịnh còn khá cồng kềnh, chồng chéo. Hiện BQLVHL có 14 đơn vị trực thuộc với 378 cán bộ, viên chức, lao động/tổng số 392 biên chế được giao. Nói về thực trạng đơn vị, trưởng BQLVHL (bà Phạm Thùy Dương) đã thẳng thắn nhận định: “Bộ máy tổ chức còn cồng kềnh, chưa thực sự tập trung, tinh gọn, hiệu quả…”. Ban có tới 4 trung tâm bảo tồn Di sản có chức năng, nhiệm vụ như nhau và quản lý theo địa giới hành chính. Một số chức năng, nhiệm vụ do nhiều đơn vị cùng thực hiện, một số đơn vị còn có số lượng cán bộ làm công việc gián tiếp nhiều. Như ở các trung tâm bảo tồn Di sản đều có bộ phận văn phòng, từ 5-6 cán bộ. Trong khi đó, tại các vị trí khác lại thiếu người, như quản lý điểm lưu trú nghỉ đêm, cứu hộ, cứu nạn. Một số đơn vị cũng chưa thể hiện được tính chuyên môn sâu và chưa nâng cao được chất lượng, hiệu quả tại các lĩnh vực công tác, như hướng dẫn viên, quản lý dự án, bảo vệ Di sản…

Bên cạnh đó, nhiều đơn vị có chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, trùng lặp, dẫn đến giảm hiệu quả công việc. Cụ thể: việc xây dựng chương trình, kế hoạch, giải pháp để quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản đang giao cho 6 đơn vị; việc tuyên truyền cộng đồng bảo vệ Di sản hiện đang giao cho 10 đơn vị; khâu hướng dẫn, thuyết minh cũng giao cho 4 đơn vị; khâu xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý và bảo vệ môi trường giao cho 6 đơn vị cùng thực hiện, v.v.. Hoạt động của một số đơn vị cũng chưa thực sự hiệu quả: như đội quản lý kỹ thuật – phương tiện, hiện mới chủ yếu thực hiện việc quản lý phương tiện, chưa phát huy được vai trò tham mưu các vấn đề về kỹ thuật để đảm bảo hiệu quả quản lý, sử dụng phương tiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị của Ban. Hay như  đội quản lý chiếu sáng nghệ thuật thực chất không phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, bảo tồn giá trị Di sản. Công trình chiếu sáng nghệ thuật (tại khu quảng trường 30 – 10) nằm ở ngoài trời, thường xuyên phải bảo dưỡng, bảo trì, sửa chữa, việc vận hành cũng đòi hỏi nhân lực có trình độ. Với thực trạng nhân viên của đội hiện nay là không thể đáp ứng đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo hiệu quả công việc này, từ vận hành, bảo dưỡng đến khai thác hệ thống chiếu sáng…

Một vấn đề nữa cần bàn tới đó là số lượng cán bộ được đào tạo chuyên ngành về bảo tồn Di sản thiên nhiên của Ban còn ít, kinh nghiệm trong quản lý một Di sản đặc thù như Vịnh Hạ Long còn hạn chế. Số lượng cán bộ có chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm ở một số lĩnh vực còn chưa nhiều như cán bộ nghiên cứu môi trường, kiểm tra xử lý vi phạm, đối ngoại, đầu tư triển khai dự án. Cũng do đặc thù công việc của Ban nên chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, việc bố trí lao động có chỗ chưa hợp lý, hiệu quả công việc ở một số đơn vị còn thấp….

2.2.2. Sự cam kết giữa lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Các cơ quan quản lý về du lịch đã có sự hợp tác, liên kết với các cơ quan công quyền, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn và cả cộng đồng dân cư địa phương giúp cho hoạt động du lịch phát triển theo định hướng mà quy hoạch du lịch đã vạch ra cũng như tuân thủ đúng pháp luật nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất. Có thể thấy rõ sự cam kết này qua một số hoạt động cụ thể sau:

BQLVHL đã kết hợp với Sở VHTT&DL Quảng Ninh tổ chức hướng dẫn thực hiện luật du lịch do Nhà nước ban hành cho các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn cũng như cư dân địa phương và khách du lịch khi đến Vịnh Hạ Long. Đồng thời để quản lý, giám sát chặt chẽ các hoạt động kinh tế – xã hội trong khu vực Di sản,định hướng cho doanh nghiệp trong việc khai thác giá trị của Di sảnVịnh Hạ Long. BQLVHL thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, địa phương liên quan kiểm tra, giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm hại đến Di sản. Việc phối hợp giữa Ban với chính quyền các khu dân cư, các tổ cộng tác viên dân chài, tình nguyện viên trong việc bảo vệ Di sản luôn được quan tâm. Mạng lưới cộng tác viên tại các làng chài trên Vịnh được duy trì hoạt động đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác giám sát các hoạt động kinh tế xã hội cũng như phát hiện các vi phạm trên Vịnh Hạ Long.

Tỉnh Quảng Ninh cũng nhìn nhận những hoạt động dịch vụ du lịch trên Vịnh Hạ Long nếu như không được tổ chức tốt hơn thì sẽ có những tác động tiêu cực đến môi trường và giá trị Di sản, Kỳ quan thiên nhiên thế giới của Vịnh Hạ Long. Vì vậy tỉnh có chủ trương tách chức năng, nhiệm vụ dịch vụ, khai thác, thu phí Vịnh Hạ Long ra khỏi BQLVHL để BQLVHL chuyên sâu, tập trung nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với Di sản để bảo tồn, phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long – tài sản thiên nhiên vô giá của nhân loại một cách hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn.

Đối với chức năng quản trị dịch vụ trên Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh mời các tổ chức, doanh nghiệp có năng lực để quản trị các hoạt động dịch vụ này. Đơn vị quản trị phải có phương án quản trị đáp ứng được yêu cầu đổi mới, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch có giá trị, nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ trên Vịnh Hạ Long đảm bảo tính chuyên nghiệp, đồng bộ, bền vững, hiệu quả và tôn vinh giá trị Di sản.Tuy nhiên, tỉnh Quảng Ninh nhất quán quan điểm, đây không phải là dự án, do vậy không có giao quản lý đất, mặt nước. Đề án Nâng cao chất lượng khai thác dịch vụ Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long với nhượng quyền thu phí trong vòng 50 năm mà Tập đoàn Bitexco (Cty TNHH và Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Minh) vừa đề xuất với UBND tỉnh Quảng Ninh chưa biết sẽ đi đến kết quả ra sao nhưng ít nhất Tập đoàn này đã khởi động cho một xu hướng cả về hợp tác công tư lẫn nhượng quyền thương hiệu… Ngay sau Bitexco, một doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Tập đoàn Tuần Châu, cũng có công văn đề nghị muốn tham gia đấu thầu quyền quản lý khai thác Vịnh Hạ Long.

2.2.3. Công tác quản lý nguồn nhân lực Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Kết quả khảo sát của tác giả về công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch nói riêng ở điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long cho thấy 25 phiếu đánh giá là rất thường xuyên, hiệu quả (chiếm 50% tổng số phiếu thu về); 18 phiếu cho rằng không thường xuyên, hiệu quả và 7 phiếu không có ý kiến. Như vậy, số liệu trên đã phần nào cho thấy hoạt động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch và cho ngành đã được quan tâm chú trọng. Cụ thể, trong năm 2023, ngành Du lịch Quảng Ninh đã mở rất nhiều khoá đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành. Theo số liệu thống kê của Sở VHTT&DL Quảng Ninh, trong 3 năm trở lại đây, ngành Du lịch đã phối hợp với các cơ sở đào tạo có uy tín đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cho 61 khoá học với tổng số gần 5 ngàn nhân lực của ngành theo nhiều hình thức khác nhau, như đào tạo chuyên sâu, bồi dưỡng, nâng cao… Trong các chương trình đào tạo, ngành Du lịch đã chú trọng đào tạo kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hoá trong du lịch. Cũng tính riêng từ năm 2020 đến nay, ngành Du lịch phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đào tạo thạc sĩ du lịch cho 24 cán bộ quản lý Nhà nước về du lịch, giảng viên Trường Cao đẳng Văn hoá, Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long, BQLVHL và lãnh đạo một số doanh nghiệp du lịch; phối hợp với Hiệp hội Du lịch, Công an tỉnh, Trường Cao đẳng Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông – Vận tải… tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho hàng trăm chủ tàu, cán bộ quản lý, điều hành trên Vịnh Hạ Long và hàng nghìn nhân viên phục vụ tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long; nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo và nhân viên của các khách sạn, nhà hàng, điểm mua sắm, chợ đêm du lịch Bãi Cháy; đào tạo, bồi dưỡng, sát hạch cấp chứng chỉ cho hướng dẫn viên du lịch quốc tế; tập huấn nghiệp vụ du lịch cho lái xe ô tô du lịch v.v..

Điều đáng nói, năm 2022 ngành Du lịch đã ký biên bản hợp tác phát triển du lịch với dự án EU của Liên minh châu Âu để  hỗ trợ xây dựng Điều khoản tham chiếu cho chuyên gia quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030; hỗ trợ chương trình tổng thể quản lý điểm đến; chương trình đào tạo nhân lực du lịch. Chỉ tính riêng trong năm 2023, ngành Du lịch phối hợp với chuyên gia dự án EU mở 14 lớp đào tạo cho 1.014 cán bộ quản lý, thuyết minh viên du lịch và cộng đồng tham gia hoạt động du lịch tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, Dự án EU còn phối hợp với ngành Du lịch xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề “Phục vụ tàu du lịch” dành cho nhân lực phục vụ tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long. Sau khi bộ tiêu chuẩn nghề này hoàn thành sẽ được Tổng cục Du lịch chính thức phê duyệt và áp dụng đào tạo thí điểm tại khu vực Hạ Long.

Việc phát triển nguồn nhân lực của ngành Du lịch đang được triển khai đồng bộ. Từ việc xây dựng quy hoạch dài hạn, tổng thể đến xây dựng kế hoạch, chương trình, thực hiện các biện pháp có tính chất cấp bách, thường xuyên và đã có được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Quảng Ninh. Nhìn chung, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh nói chung và khu vực Vịnh Hạ Long nói riêng hiện nay đã có sự chuyển biến rõ rệt, đổi mới, nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, từng bước đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh du lịch theo cơ chế thị trường. Hiện tại, ngày càng có nhiều doanh nghiệp áp dụng mô hình quản trị nguồn nhân lực tiên tiến, làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực. Đặc biệt, những doanh nghiệp du lịch lớn có đội ngũ lao động chất lượng khá, được đào tạo bài bản, chính quy, có ý thức, thái độ nghề nghiệp nghiêm túc, kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ khá chuyên nghiệp, đáp ứng tốt yêu cầu của công việc. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng lao động của ngành Du lịch tại khu vực Vịnh Hạ Long vẫn còn những hạn chế, bất cập. Đó là chất lượng đội ngũ lao động du lịch có sự chênh lệch khá rõ về mặt chuyên môn nghiệp vụ giữa những doanh nghiệp du lịch có quy mô lớn với những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chất lượng lao động ở một số cơ sở vẫn còn thấp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc. Trong quá trình phục vụ vẫn thường thấy nhân viên phục vụ mắc sai sót, phong cách phục vụ của một bộ phận nhân viên trong ngành còn thiếu chuyên nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động chung của ngành. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch chủ yếu của tỉnh là Trường cao đẳng Nghệ thuật và du lịch với các ngành đào tạo Việt Nam học (chuyên ngành quản trị lữ hành – hướng dẫn), quản trị khách sạn – nhà hàng, quản lý văn hoá, quản trị lữ hành – hướng dẫn. Góp phần quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực du lịch có chuyên môn của tỉnh, là nơi cung cấp một đội ngũ nhân viên dịch vụ và hướng dẫn viên tại khu vực du lịch Vịnh Hạ Long.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, nguồn nhân lực du lịch không chỉ là các cán bộ đang trực tiếp làm việc trong ngành khách sạn, nhà hàng hay các doanh nghiệp du lịch mà còn bao gồm cả cư dân địa phương. Thái độ của cư dân địa phương sẽ tạo ra những ấn tượng tốt hoặc ngược lại về điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Căn cứ vào phiếu điều tra, tác giả nhận thấy 57% số lượng khách du lịch được hỏi cho rằng người dân khu vực Vịnh Hạ Long có thái độ thân thiện. Mặc dù đã quá 50% nhưng tại một điểm đến là Di sản thiên nhiên thế giới thì con số này còn bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Các nhà quản lý cần có các biện pháp tuyên truyền giáo dục để giúp người dân nâng cao ý thức và nhận thấy rõ vai trò của du khách cũng như hoạt động của du lịch đối với đời sống của họ.

2.2.4. Công tác quản lý môi trường

2.2.4.1. Công tác quản lý môi trường tự nhiên

  • Các văn bản pháp lý có liên quan Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Việc quản lý, bảo tồn giá trị của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long trước hết đều phải dựa trên các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Có thể kể đến như: Công ước về quản lý bảo tồn Di sản văn hóa và tự nhiên thế giới; Công ước về quản lý vùng đất ngập nước – RAMSA; Công ước về đa dạng sinh học; Công ước về buôn bán quốc tế những loại động thực vật có nguy cơ bị đe dọa; Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm dầu; Công ước về kiểm soát vận chuyển các chất độc hại xuyên biêng giới…) và rất nhiều các văn bản pháp luật, cơ chế chính sách do Chính phủ, địa phương ban hành như Luật Môi trường; Luật Thủy sản; Luật Giao thông đường thủy nội địa… Trong nhiều năm qua, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã ban hành một số văn bản thể hiện rõ chủ trương, chính sách và quy định về công tác quản lý, khai thác khu Di sản Vịnh Hạ Long như: Quy hoạch môi trường Vịnh Hạ Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030”. Bản quy hoạch cũng nêu rõ việc chú trọng công tác bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long gắn với nâng cao, chuyển biến nhận thức của cộng đồng dân cư có tác động đến khu vực Vịnh Hạ Long; đồng thời áp dụng các quy chuẩn về môi trường của Việt Nam và các nước phát triển trên thế giới nhằm bảo tồn, phát huy, nâng cao giá trị của Vịnh Hạ Long đảm bảo phát triển bền vững; Nghị quyết số 09 ngày 30/11/2012 của Tỉnh ủy Quảng Ninh về công tác quản lý, bảo tồn và khai thác Vịnh Hạ Long; Quy chế quản lý Vịnh Hạ Long; Nghị quyết số 68 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long giai đoạn 2023-2025, tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết số 07 của Tỉnh ủy về phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2030, định hướng đến năm 2030.

Cùng với việc xây dựng cơ chế chính sách, công tác nghiên cứu, quy hoạch, định hướng cho quản lý, phát huy Di sản về lâu dài cũng đã được quan tâm thực hiện. Điển hình là việc xúc tiến triển khai Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đến năm 2030, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012; xây dựng Kế hoạch quản lý Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long giai đoạn 2021-2025; triển khai nghiên cứu Dự án tiền khả thi xây dựng Bảo tàng sinh thái Hạ Long được Chính phủ phê duyệt năm 2012, trong đó có Dự án Trung tâm văn hóa nổi Cửa Vạn.

  • Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, nước thải

Chất thải trên khu vực Vịnh Hạ Long trong nhiều năm trở lại đây chủ yếu là do khách du lịch và từ các hoạt động cung cấp dịch vụ. Thêm vào đó là các chất thải từ các làng chài trong khu vực Vịnh Hạ Long, chất thải rắn từ các hoạt động khai thác đánh bắt trên Vịnh, nguồn rác từ dòng hải lưu và rác từ trên các đảo. Để khắc phục tình trạng này, BQLVHL giao thu gom rác trên Vịnh và tại các làng chài cho tổ thu gom rác của cơ quan. Phương tiện chuyên chở bằng thuyền, có 04 thuyền chuyên dụng và 06 thuyền chuyên thu gom rác nổi trên mặt nước, hang động, khu vực làng chài và các bến thuyền xe, hướng dẫn các hộ ngư dân, tàu du lịch đặt thùng chứa rác, thực hiện phân loại rác; hướng dẫn các chủ tàu sơ chế thức ăn từ trên bờ trước khi vận chuyển xuống tàu để giảm thiểu rác thải. Cùng với đó, phối hợp với các ngành, đơn vị liên quan tổ chức hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải ven bờ. Từ đầu năm đến nay, tại các điểm tham quan, khu dân cư làng chài trên Vịnh đã thu gom, xử lý được trên 800m3 rác. Đặc biệt, BQLVHL đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ Biofast vào xử lý nước thải sinh hoạt tại các điểm tham quan trên Vịnh; lắp đặt thử nghiệm thiết bị tách nhanh dầu nước để xử lý nước la canh cho các tàu, thuyền du lịch hoạt động trên Vịnh. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

  • Hoạt động thanh tra và giám sát

Để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và giám sát việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, nước thải trên thực tế đã có sự phối hợp với các đơn vị liên quan như hải quan, công an kiểm soát môi trường phát sinh từ trạm nhập tái xuất tại các cửa khẩu trên địa bàn. Công tác thanh tra kiểm tra định kỳ các hoạt động khai thác than, khoáng sản nhằm hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường khu vực và gây áp lực đối với môi trường vùng Vịnh. Song song với hoạt động trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với BQLVHL trong việc bảo vệ môi trường như việc kiểm tra, thu gom chất thải, rác thải do hoạt động phát triển du lịch, tiến hành xử lý các điểm ô nhiễm môi trường bức xúc, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

  • Công tác tuyên truyền, giáo dục

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long, tỉnh đã chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ Di sản (phát triển chương trình giáo dục Di sản trong trường học và cộng đồng trên địa bàn tại 5 địa bàn: Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Cô Tô, Quảng Yên). Ngoài ra, BQLVHL tổ chức ký cam kết bảo vệ môi trường với các hộ dân sinh sống, nuôi trồng, kinh doanh hải sản tại các làng chài và các tàu thuyền vận chuyển khách du lịch trên Vịnh Hạ Long…. Bên cạnh đó, các ngành, địa phương còn tổ chức nhiều hoạt động bảo vệ, giữ gìn cảnh quan môi trường Vịnh, như: trồng rừng ngập mặn, tuyên truyền thay phao xốp nhà bè, kiểm soát ô nhiễm môi trường Vịnh Hạ Long, đồng thời thiết lập phương án phòng chống thiên tai, cháy nổ và tìm kiếm cứu nạn trên Vịnh. Các hoạt động này đã đem lại một số kết quả: đối với các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh du lịch việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường đã tốt hơn. Các doanh nghiệp than đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để ngăn ngừa và khắc phục hậu quả nhằm giảm thiểu ô nhiễm do khai thác than gây ra. Theo kết quả khảo sát của tác giả, 35% số phiếu khách du lịch đánh giá về môi trường tự nhiên ở Vịnh Hạ Long là đang đe dọa bị ô nhiễm, 22% cho rằng đã tới giai đoạn bắt đầu ô nhiễm. Như vậy, công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên môi trường Vịnh Hạ Long đã có nhiều tín hiệu đáng mừng và theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, số liệu khảo sát trên cũng cho thấy công tác bảo vệ môi trường tự nhiên Vịnh Hạ Long vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết.

Một số tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường tự nhiên Vịnh Hạ Long Mặc dù đã có nhiều nguồn lực được huy động, các hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường cho Vịnh Hạ Long được Chính phủ và địa phương quan tâm, chỉ đạo thực hiện, tuy nhiên, các nỗ lực này vẫn mang tính đơn ngành, phục vụ cho lợi ích phát triển của từng ngành chứ chưa toàn cục. Các quy chế môi trường hiện hành và công tác thực thi còn gặp nhiều vướng mắc, dẫn đến việc bảo tồn kém và suy thoái môi trường đang đe dọa Di sản thế giới vịnh Hạ Long. Quy định hiện hành của Vịnh Hạ Long phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia, nhưng lại không đủ để bảo vệ môi trường Vịnh. Hiện tại không có cơ chế phạt khi xả rác bừa bãi và mức phạt do gây ô nhiễm lại không tương xứng với chi phí khắc phục. Vấn đề là các quy định, tiêu chuẩn là do cấp bộ quyết định và có những điểm trong các quy định đó chưa bao gồm những ý đóng góp từ phía Sở Tài nguyên và Môi trường. Những quy định hiện đang được nhiều cơ quan, ban, ngành ban hành với sự quan tâm rất ít tới lợi ích của công tác bảo vệ môi trường. Sự phối hợp thực hiện quy chế chưa tốt ở từng đơn vị, dẫn đến sự chồng chéo, quan liêu không cần thiết. Điều đó dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm mà cơ sở gây ô nhiễm không gặp hậu quả tiêu cực nào, các công ty chọn cách gây ô nhiễm thay vì tuân thủ theo quy định vì mục đích lợi nhuận cao hơn. Công tác thực thi các quy định về môi trường chưa được nghiêm ngặt và không được thực hiện bởi những sở ngành độc lập, không có mối liên kết với các ngành. Hoạt động quan trắc nói chung không thực hiện thường xuyên (hàng quý) và chỉ đo một số thông số ô nhiễm chính và không tiến hành đánh giá. Có nhiều cơ quan chịu trách nhiệm về thực hiện quy chế nhưng lại thiếu sự phối hợp, dẫn đến tính hiệu quả không cao. Các ngành tự lập báo cáo về chất lượng khí thải và chất lượng nước thải xả ra môi trường, thông qua việc thuê bất cứ đơn vị nào họ muốn. Vì vậy,  có khả năng kết quả được lập có lợi cho ngành đó. Ví dụ, có những báo cáo của các đơn vị khai thác than tại địa phương nhưng thực chất đất đá thải không được xử lý đúng cách và các công ty chỉ “tỏ vẻ” có quản lý công tác xử lý chất thải. Tần suất lập báo cáo hiện nay không đáp ứng được yêu cầu cần xử lý ngay những nguồn phát thải bởi hiện chỉ có các báo cáo về phát thải lập trên cơ sở hàng quý hoặc nửa năm đối với môi trường xung quanh trong khi rác thải ra ngoài môi trường lại tăng theo từng phút, từng giờ. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Các sở ban ngành chủ chốt thường thiếu nguồn lực, không được đào tạo đầy đủ và cũng không đủ thẩm quyền để giám sát và xử lý vấn đề một cách hiệu quả. Ví dụ như phòng nghiệp vụ du lịch thuộc Sở VHTT&DL không thể theo dõi điều hành tàu du lịch trong khi BQLVHL có rất ít thẩm quyền thực thi các quy định. Nếu không có các chính sách phù hợp, chất lượng môi trường của Vịnh sẽ nhanh chóng bị hủy hoại chính từ các ngành công nghiệp, hộ gia đình và các hoạt động du lịch. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, hoạt động khai thác than là tác nhân chính gây hủy hoại môi trường với lượng nước thải chưa được xử lý, chiếm tới 45% của tổng lượng nước thải xả ra do khai thác than trong năm 2021, được xả trực tiếp vào môi trường Vịnh, biển và các nhánh sông xung quanh.

Kết quả của quá trình trầm tích đang thay đổi dòng chảy bề mặt. Nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình cũng đóng góp một lượng lớn lên tới 62% lượng xả thải không được xử lý trước khi xả ra môi trường và 10% chất thải đô thị được xả ra đường phố, nguồn nước hoặc tiêu hủy bằng phương pháp đốt (Số liệu từ Sở Tài nguyên và Môi trường, năm 2023). Bãi rác, bệnh viện, các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng đang gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Các đầm nuôi trồng thủy sản và làng chài cũng xả chất thải rắn và nước thải vào các vùng nước khu vực ven bờ Vịnh. Nhân viên vận hành tàu thăm vịnh thường tranh thủ thời gian ban đêm đổ dầu thải bất hợp pháp xuống biển. UNESCO đang ngày càng lo ngại về sự suy thoái môi trường Vịnh Hạ Long và khuyến cáo sẽ đưa Vịnh Hạ Long vào danh mục địa danh có nguy cơ mất danh hiệu Di sản thế giới nếu tỉnh không cải thiện công tác quản lý, thực hiện đánh giá tác động môi trường và xử lý tất cả các vấn đề liên quan

2.2.4.2. Quản lý môi trường xã hội

Nhằm xây dựng một hình ảnh đẹp về du lịch Hạ Long trong con mắt du khách trong và ngoài nước, thời gian qua, Quảng Ninh đã tăng cường công tác quản lý các vấn đề xã hội trên địa bàn tỉnh. Trong đó, Vịnh Hạ Long, một trong những địa bàn rộng, trọng tâm, nơi diễn ra khá nhiều các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch phức tạp, đã và đang được các ngành, địa phương liên quan tích cực triển khai với một quyết tâm bài trừ các tệ nạn ăn xin, đeo bám, kinh doanh dịch vụ không lành mạnh…

Gần đây, khi đến khu vực cảng nổi Hòn Gai, một trong những cảng tàu biển quốc tế cập cảng đưa khách đến tham quan Hạ Long (điểm nóng về tệ nạn đò mủng ăn xin, đeo bám du khách trước đây) đã có những chuyển biến đáng ghi nhận. Tại khu vực cầu tàu Saigontourist này không còn thấy bóng những chiếc đò mủng chở những người ăn xin đỗ 2 bên mạn cầu. Có được kết quả trên là do sự vào cuộc quyết liệt của các lực lượng chức năng, hiện tượng ăn xin, đeo bám khách du lịch tại khu vực này đã giảm hẳn. Đội ngũ ăn xin, cò mồi không còn hoạt động ngang nhiên như trước nữa. Đại diện Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng Hòn Gai cho biết thêm, riêng khu vực cảng nổi Hòn Gai, các đối tượng đò mủng ăn xin đeo bám du khách cũng không còn xuất hiện ở khu vực này. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Theo BQLVHL, sau 9 tháng thực hiện Chỉ thị số 11/CT-UBND tỉnh “Về tăng cường công tác quản lý môi trường kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh”, bên cạnh công tác tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân, học sinh các làng chài, các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch trên Vịnh về bảo vệ môi trường, giao tiếp, ứng xử trong hoạt động du lịch thực hiện văn minh thương mại… BQLVHL đã phối hợp với các lực lượng liên quan đẩy mạnh công tác tuần tra, giám sát và phát hiện xử lý vi phạm. Tính đến nay, BQL Vịnh phối hợp với các ngành, địa phương liên quan tổ chức được 384 lượt tuần tra giám sát các hoạt động kinh tế trên Vịnh, mở 8 đợt truy quét tệ nạn bán hàng rong, ăn xin, xử lý 9 vụ vi phạm quản lý nhà bè, 27 trường hợp đò mủng đeo bám, 29 vụ vi phạm của tàu du lịch và 10 vụ vi phạm quy định về bảo vệ cảnh quan môi trường. Chỉ tính riêng 2 tháng đầu năm nay, Đội kiểm tra xử lý vi phạm và các Trung tâm bảo tồn phối hợp với các đơn vị liên quan như Cảng vụ thuỷ nội địa, Sở Giao thông – Vận tải, UBND phường Hùng Thắng… đã tổ chức 119 lượt tuần tra, giám sát các hoạt động kinh tế, xã hội trên Vịnh Hạ Long, trọng tâm là bài trừ tệ nạn đeo bám tàu du lịch, bán hàng rong, ăn xin trên Vịnh. Nhờ sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị hữu quan trong việc tăng cường công tác quản lý môi trường kinh doanh du lịch trên Vịnh, bước đầu nhận thức của các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, của cộng đồng cư dân làng chài về công tác bảo vệ Di sản, bảo vệ môi trường du lịch tiếp tục được nâng cao. Nhiều doanh nghiệp, chủ tàu, cư dân trên Vịnh Hạ Long đã tích cực tham gia thực hiện chỉ thị 11. Một điểm đáng ghi nhận nữa, công tác quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ tại các hang động, điểm tham quan trên Vịnh, hoạt động tàu du lịch đã có những chuyển biến tích cực. Thực hiện chỉ thị 11 của UBND tỉnh, chất lượng đội tàu vận chuyển khách du lịch tham quan Vịnh Hạ Long được nâng lên rõ rệt, ý thức, trình độ nghiệp vụ trong hoạt động du lịch của thuyền viên cũng không ngừng được cải thiện, 100% du khách trên tàu du lịch đã được các thuyền viên hướng dẫn mặc áo phao… Vì vậy, khi điều tra bằng phiếu khảo sát, tác giả thu về được 65 số phiếu được khách du lịch đánh giá là an toàn khi đi du lịch ở Vịnh Hạ Long.

Những kết quả đạt được trong thời gian qua là không thể phủ nhận. Tuy nhiên bên cạnh đó, công tác quản lý hoạt động kinh doanh trên Vịnh Hạ Long vẫn còn không ít thách thức mà các ngành chức năng cần tăng cường sự phối hợp hơn nữa để xử lý triệt để các vi phạm. Ngoài một số khu vực gần bờ, do có sự vào cuộc mạnh mẽ của các lực lượng chức năng, đối tượng ăn xin, bán hàng rong vi phạm đang có xu hướng giảm. Thế nhưng so với thời gian cuối năm 2022 thì sau Tết, các vụ vi phạm đò bán hàng rong, đeo bám tàu du lịch tại một số tuyến du lịch trên Vịnh có xu hướng tăng. Một trong những nguyên nhân là do thời gian ra Tết, các lực lượng chức năng chưa thực sự vào cuộc mạnh mẽ. Các đối tượng lợi dụng điều này để tăng cường các hoạt động vi phạm. Cũng trong thời gian qua, do đã chủ động phối hợp các đơn vị liên quan vào cuộc mạnh mẽ trong việc vận động, tuyên truyền, kiểm tra phát hiện, xử lý các vi phạm môi trường hoạt động kinh doanh du lịch trên Vịnh Hạ Long nên tình hình đã có những chuyển biến; tuy nhiên nó vẫn thiếu tính bền vững. Nhiều đối tượng vi phạm bị lực lượng chức năng xử lý ngừng hoạt động trong một thời gian, sau đó lại tiếp tục hoạt động trở lại. Mặc dù, để tạo công ăn việc làm cho một số đối tượng ăn xin trên Vịnh Hạ Long, BQL Vịnh Hạ Long cũng đã tạo điều kiện bố trí công việc cho một số đối tượng để có thu nhập. Nhưng được một thời gian, các đối tượng lại “ngựa quen đường cũ” với lý do “không kiếm được nhiều tiền bằng nghề ăn xin, bán hàng rong…”

Do các vi phạm không được giải quyết một cách triệt để nên tệ nạn ăn xin, bán hàng rong trên một số tuyến như: Thiên Cung – Đầu Gỗ – Ba Hang – Gà Chọi – Hoa Cương vẫn tồn tại, có xu hướng phức tạp trên địa bàn rộng. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch và lưu trú vẫn chưa thực sự nề nếp, hơn nữa còn có những vi phạm mang tính chất nghiêm trọng: không có giấy phép rời cảng, bến, hành trình sai tuyến, tàu lưu trú neo đậu không đúng khu vực được cấp phép, hoạt động chuyển tải khách trái phép trên Vịnh, trốn lậu vé tham quan trên Vịnh, nhà bè neo đậu trái phép… vẫn còn tồn tại nên môi trường hoạt động kinh doanh du lịch trên Vịnh Hạ Long vẫn chưa thực sự lành mạnh.

Nhìn nhận về môi trường xã hội ở Vịnh Hạ Long, ngoài những vấn đề trên cũng phải thấy rằng, các hoạt động du lịch cộng đồng đã phần nào tạo ra lợi ích cho người dân địa phương, giúp người dân có công ăn việc làm nhằm đảm bảo đời sống kinh tế. Các hoạt động du lịch cộng đồng góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống. Nhờ đó, lối sống của cộng đồng cư dân địa phương vẫn được giữ gìn, các sinh hoạt văn hóa truyền thống như lễ hội, phong tục, tập quán vẫn được bảo tồn không bị thương mại hóa. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

2.2.5. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch tại điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

Thời gian qua, hoạt động du lịch của Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng đã có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, hiện Quảng Ninh còn nhiều thách thức cần giải quyết trong bài toán phát triển du lịch. Đó là công tác huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch còn nhiều bất cập, hoạt động xúc tiến và quảng bá sản phẩm du lịch của địa phương ra thị trường thế giới chưa đáp ứng được yêu cầu. Sản phẩm, dịch vụ du lịch tại Di sản Hạ Long chủ yếu dựa trên các giá trị tài nguyên sẵn có và tập trung tại khu vực trung tâm…

Không chỉ thế, hiện Vịnh Hạ Long đứng trước thách thức rất lớn về gia tăng số lượng trong khi chất lượng còn nhiều vấn đề. Giá khách sạn của Hạ Long có mức thấp nhất ở Việt Nam, với cách kinh doanh như thế thì không bao giờ có được chất lượng dịch vụ cao.

Để giải quyết những thách thức lớn đặt ra với Vịnh Hạ Long, các chuyên gia cho rằng, không ai khác ngoài doanh nghiệp phải giải quyết những vấn đề này. Bởi hiện nay, sự yếu kém của hoạt động du lịch một phần là do môi trường hoạt động của các doanh nghiệp còn thiếu chuyên nghiệp; chưa có tính cạnh tranh trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế; chất lượng dịch vụ, sản phẩm, nguồn nhân lực, giá cả… Chính vì vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích của các cơ sở kinh doanh cũng như khách du lịch và cả cộng đồng địa phương các câu lạc bộ như câu lạc bộ 849, chi hội tàu du lịch, chi hội lữ hành, chi hội khách sạn 3 – 5 sao đã họp bàn và thành lập Hiệp hội du lịch Quảng Ninh.

Hiệp hội Du lịch Quảng Ninh là một tổ chức tự nguyện phi chính phủ của các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực du lịch. Hiệp hội hoạt động theo điều lệ đã được UBND tỉnh Quảng Ninh thông qua và chịu sự quản lý Nhà nước của Sở VHTT&DL Quảng Ninh.

Mục đích của hiệp hội là hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, góp phần nâng cao trình độ quản lý, năng lực quảng bá sản phẩm dịch vụ du lịch cho các thành viên; đảm bảo quyền lợi cho du khách, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên. Ngoài ra, hiệp hội còn là diễn đàn trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức hiệp hội khác theo đúng pháp luật, góp phần quan trọng thực hiện chiến lược phát triển du lịch. Hiệp hội sẽ mang lại lợi ích to lớn, là đầu mối giữa các doanh nghiệp thành viên, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi nếu phát huy tốt các chức năng, nhiệm vụ sau:

  • Tham gia tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá hình ảnh điểm đến, danh lam thắng cảnh, con người, truyền thống văn hóa… tới bạn bè quốc tế, xúc tiến du lịch.
  • Động viên sự nhiệt tình và khả năng sáng tạo của hội viên; hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ nhau về kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động, kinh doanh du lịch trên cơ sở trao đổi kinh nghiệm, phổ biến và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; đoàn kết giúp đỡ nhau trong khó khăn.
  • Hỗ trợ tư vấn cho các tổ chức và hội viên của Hiệp hội trong quá trình sắp xếp lại tổ chức; cung cấp thông tin về kinh tế, thị trường liên quan đến du lịch để hội viên tổ chức kinh doanh đạt hiệu quả và phát triển bền vững.
  • Hướng dẫn nghiệp vụ, công tác quản lý điều hành doanh nghiệp theo định hướng phát triển du lịch bền vững, tư vấn, cung cấp thông tin du lịch cho các thành viên. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.
  • Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, thiết lập, phát triển các mối quan hệ giữa câu lạc bộ với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh, thành phố.
  • Tổ chức các hoạt động giao lưu, học hỏi kinh nghiệm quản lý, tìm kiếm các đối tác kinh doanh trong và ngoài tỉnh.

Tuy nhiên, trên thực tế phải nhìn nhận rằng, hiệp hội du lịch Quảng Ninh được thành lập cách đây 10 năm (từ năm 2015) nhưng chưa thể hiện rõ vai trò của mình đối với hoạt động du lịch tại điểm đến. Phần lớn các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân liên quan đến hoạt động du lịch trong địa bàn tỉnh khi được hỏi đều không nắm được thông tin một cách rõ ràng về sự ra đời, tồn tại, hoạt động và phát triển của tổ chức này. Đặc biệt, cho tới nay, hiệp hội du lịch Quảng Ninh vẫn chưa xây dựng được trang web riêng của mình và những thông tin về hiệp hội còn rất tản mát, khiêm tốn trên các phương tiện thông tin đại chúng.

2.2.6. Sự hợp tác với các nhà cung ứng

Tại điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long, hoạt động hợp tác với các nhà cung ứng du lịch rất được xem trọng. Sự hợp tác ở đây có thể hiểu là hình thức phối hợp giữa các tổ chức du lịch trong nước và quốc tế với ngành Du lịch ở Vịnh Hạ Long. Mục đích của sự hợp tác này về cơ bản là tranh thủ nguồn vốn, công nghệ tiên tiến, mở rộng thị trường, giảm thiểu rủi ro,… cho du lịch địa phương.

Trong những năm gần đây, việc hợp tác với các nhà cung ứng ở Vịnh Hạ Long diễn ra rất sôi động, chủ yếu là với các đại lý lữ hành nội địa từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Nam, Hải Phòng…. Đặc biệt, Vịnh Hạ Long còn là điểm đến thu hút rất nhiều khách quốc tế, nổi bật là khách ở các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp… Vì vậy, việc hợp tác với các đại lý lữ hành ở các nước trên rất được quan tâm nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO.

Tuy nhiên, sự hợp tác với các nhà cung ứng ở đây còn gặp phải một số khó khăn do ảnh hưởng của tính thời vụ du lịch. Vào mùa cao điểm như mùa hè, lượng khách đến Hạ Long đông, các khách sạn, nhà hàng,… thường tăng giá để tranh thủ thời gian chính vụ. Thậm chí những cơ sở cung ứng của điểm đến còn từ chối áp dụng các mức giá ưu đãi thông thường cho các công ty lữ hành vì lý do cầu nhiều hơn cung. Chính điều này đã tạo tâm lý không thoải mái cho khách du lịch, cho các đối tác và ảnh hưởng tới hình ảnh cũng như uy tín của điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

2.2.7. Phát triển sản phẩm du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Hiện nay trên Vịnh Hạ Long, các sản phẩm du lịch thực sự chưa phát triển một cách đa dạng. Hoạt động tham quan Vịnh Hạ Long cùng một số hang động điển hình với mục đích khám phá, thẩm nhận các giá trị thẩm mỹ của Vịnh Hạ Long được coi là sản phẩm du lịch chính, điển hình nhất tại điểm đến du lịch này. Cùng với đó là các dịch vụ du lịch lưu trú nghỉ đêm trên Vịnh. Đây là loại hình dịch vụ du lịch đặc trưng thu hút được nhiều khách tham quan Vịnh, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Ngoài ra, trên Vịnh Hạ Long còn có dịch vụ vui chơi giải trí, đi xuồng cao tốc, dù kéo, dù lượn; dịch vụ du lịch ăn uống, tham quan mua bán hải sản, lưu niệm; dịch vụ chèo đò, du lịch sinh thái, văn hoá… Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan thì sản phẩm du lịch trên Vịnh vẫn chưa thu hút được đối tượng khách có khả năng chi trả cao giữ chân du khách trong nhiều ngày. Vịnh Hạ Long đang bỏ lỡ những cơ hội phát triển du lịch đặc trưng mà những nơi khác không có được.

Xác định được tầm quan trọng của việc phát triển các sản phẩm du lịch cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch phục vụ du khách trên Vịnh Hạ Long, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã xây dựng phương án phát triển các sản phẩm du lịch trên Vịnh Hạ Long. Theo đó các loại hình du lịch phát triển bao gồm: Tham quan thắng cảnh, lưu trú trên Vịnh, vui chơi giải trí, tìm hiểu và thưởng thức ẩm thực biển, bán, tìm hiểu văn hoá bản địa, khám phá tìm hiểu đa dạng sinh học, giá trị địa chất, MICE v.v.. Về cơ bản, các loại hình du lịch này sẽ được phát triển ở 6 khu vực: Khu ven bờ Vịnh, khu vực công viên Vạn Cảnh, khu công viên hang động, khu thung lũng biển, khu công viên giải trí biển, khu vực Vịnh Bái Tử Long. Việc xây dựng các sản phẩm du lịch được xác định rất rõ trên quan điểm mục tiêu phát triển du lịch theo hướng bền vững vì phát triển du lịch trên Vịnh Hạ Long là để làm công tác bảo tồn, lấy nguồn kinh phí bảo tồn quay lại để làm sản phẩm phát triển du lịch, phát triển nhưng không phá vỡ bảo tồn, phát triển lấy nguồn lực để bảo tồn. Vịnh Hạ Long sẽ phát triển du lịch từ tiềm năng, từ những thế mạnh về giá trị thẩm mỹ, địa chất của di sản Vịnh Hạ Long để định hướng cho khách du lịch có được những sản phẩm du lịch liên quan tới du lịch sinh thái, du lịch thân thiện với môi trường để phát triển bền vững. Lợi thế của Vịnh Hạ Long mà các khu di sản khác không có được đó là cộng đồng ngư dân ở trên Vịnh. Để bảo tồn nét văn hoá các làng chài trên Vịnh Hạ Long và xây dựng thành các sản phẩm tham quan du lịch, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đang xây dựng phương án bảo tồn các làng chài trên Vịnh Hạ Long.

Đối với các khu vực gần bờ đang tập trung lượng khách khá đông đến tham quan như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt, đảo Ti Tốp v.v. chỉ xây dựng một số sản phẩm dành cho khách tham quan trong ngày. Riêng đối với các khu vực nằm tương đối xa bờ, khách đến chưa đông, có nhiều tài nguyên du lịch chưa được khai thác sẽ tập trung phát triển loại hình du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, khám phá văn hoá bản địa, nghỉ dưỡng. Đặc biệt, các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao sẽ thực hiện khoanh vùng bảo tồn nguyên trạng phục vụ nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó, các bên liên quan tới hoạt động du lịch ở điểm đến du lịch này sẽ xây dựng thành sản phẩm du lịch văn hoá, sinh thái, tham quan tìm hiểu, khám phá các loài thực vật đặc hữu trên Vịnh Hạ Long. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Để mang lại cho du khách những cơ hội trải nghiệm tuyệt vời khi tham quan Vịnh Hạ Long, song song với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn các giá trị của Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh đang tiếp tục nghiên cứu, điều tra tổng thể nhu cầu của thị trường khách du lịch, khả năng cung cấp sản phẩm trong mối quan hệ cạnh tranh, mở rộng phạm vi khai thác tại Vịnh Bái Tử Long nhằm mục tiêu xây dựng nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng và hấp dẫn nhiều hơn nữa để xứng tầm với vị thế đặc biệt của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.

2.3. Khảo sát những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý điêm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, trong những nhân tố đó, có những nhân tố có thể kiểm soát và tác động được nhưng có những nhân tố rất khó để làm được điều đó như sự tác động của thời tiết. Yếu tố thời tiết làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động du lịch ở Vịnh Hạ Long, mang lại tính thời vụ cho điểm du lịch này và chính tính thời vụ đã tác động tới công tác quản lý điểm đến cả chính vụ lẫn ngoài vụ. Ví dụ như khi khách du lịch đến quá đông hay vào thời điểm vắng khách sẽ làm mất ổn định trong công tác quản lý, hoạt động quản lý sẽ phải thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.

Bên cạnh yếu tố khí hậu, một loạt các nhân tố khác cũng làm ảnh hưởng tới công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Có thể kể đến như: khả năng quản lý; chiến lược và chính sách; phương pháp, mô hình quản lý,…

Khả năng quản lý: Khả năng quản lý tốt, phương thức quản lý hiệu quả là điều kiện thuận lợi để tạo ra một Ban quản lý điểm đến du lịch mạnh. Tuy chưa thật sự toàn diện trong cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự, và cũng chưa hoàn toàn hiệu quả trong các hoạt động nhưng khả năng quản lý của BQLVHL, Sở VHTT&DL Quảng Ninh đã có những tác động không nhỏ trong công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Để quản lý, giám sát chặt chẽ các hoạt động kinh tế – xã hội trong khu vực Di sản, BQLVHL thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, địa phương liên quan kiểm tra, giám sát và kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm hại đến Di sản và công tác hướng dẫn thực hiện pháp luật đến các doanh nghiêp kinh doanh du lịch ở địa phương. Dựa trên kết quả điều tra, 90% doanh nghiệp du lịch trên địa bàn cho rằng công tác hướng dẫn thực hiện pháp luật đến các doanh nghiệp du lịch là rất thường xuyên, 10% đánh giá hoạt động này là không thường xuyên, liên tục. Như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn điểm đến đã thấy được tầm quan trọng của các văn bản pháp luật và công tác thực hiện những quy định đó trong quá trình hoạt động kinh doanh. Sự ý thức này của các doanh nghiệp đã góp phần tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý Nhà nước triển khai công tác tuyên truyền, phố biến và hướng dẫn thực hiện pháp luật đến từng đơn vị ở điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Cũng dựa vào kết quả khảo sát, điều tra cho thấy mức độ nhanh chóng, kịp thời của công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của UBND thành phố Hạ Long và Sở VHTT&DL Quảng Ninh đối với các doanh nghiệp du lịch ở điểm đến là 28 phiếu, chiếm 56% tổng số phiếu thu về. Chỉ có 18 phiếu cho rằng hoạt động này còn chậm trễ và 4 phiếu không có ý kiến gì. Có được kết quả này một phần quan trọng là nhờ vào sự phối hợp giữa BQL với chính quyền các khu dân cư, với các doanh nghiệp du lịch, các tổ cộng tác viên dân chài, tình nguyện viên trong việc bảo vệ Di sản. Trên cơ sở đó, kết quả điều tra cho thấy 45 phiếu trả lời rất tốt (chiếm 90%) về sự phối hợp của các cơ quan Nhà nước trong việc quản lý Nhà nước về du lịch tại điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Mạng lưới cộng tác viên tại các làng chài trên Vịnh được duy trì hoạt động đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác giám sát các hoạt động kinh tế xã hội cũng như phát hiện các vi phạm trên Vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, do bộ máy tổ chức của ban còn khá cồng kềnh, hoạt động chồng chéo nên đã ảnh hưởng ít nhiều tới công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Chiến lược và chính sách: Vịnh Hạ Long là khu vực biển đảo rộng lớn, thường xuyên diễn ra nhiều hoạt động kinh tế – xã hội, do vậy cần phải có những cơ chế, chính sách quản lý phù hợp. Những chính sách này sẽ tác động không nhỏ tới công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Giống như kim chỉ nam, chiến lược và chính sách sẽ giúp cho BQL Vịnh, các sở ban, ngành liên quan có một định hướng rõ ràng trong quá trình hoạt động khai thác, phát triển, gìn giữ và bảo vệ điểm đến du lịch. Kết quả khảo sát cho thấy công tác thực hiện chiến lược quy hoạch phát triển du lịch ở điểm đến du lịch vịnh Hạ Long được đánh giá là rất phù hợp với thực tế phát triển du lịch của thành phố. Trong tổng số phiếu phát ra là 50 phiếu, số phiếu trả lời là rất phù hợp có 40 phiếu (chiếm 80%), không phù hợp là 10 phiếu (chiếm 20%). Cụ thể, từ khi thành lập đến nay, BQLVHL đã tích cực, chủ động tham mưu cho Trung ương và tỉnh Quảng Ninh ban hành những cơ chế, chính sách quan trọng nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của Di sản. Với những cơ chế chính sách quản lý được ban hành, hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đã từng bước được nâng cao, trong đó các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản được bảo tồn nguyên vẹn, các hoạt động kinh tế – xã hội trong khu vực Di sản được quản lý, giám sát chặt chẽ và giảm thiểu tác động tiêu cực tới Di sản.

  • Phương pháp và mô hình quản lý

Cho đến nay, Vịnh Hạ Long vẫn còn đang xoay quanh vấn đề phương pháp và mô hình quản lý. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý điểm đến du lịch và hiệu quả của công tác này. Gần đây, trong nhiều cuộc họp bàn về cách thức quản lý Vịnh Hạ Long đã có những ý kiến cho rằng: cứ mô hình nào tốt thì làm.

Hiện nay, tỉnh đang có xu hướng tách toàn bộ mảng quản lý Nhà nước và phát huy bảo tồn Di sản, nâng cao chất lượng Vịnh Hạ Long. Mảng dịch vụ và khai thác sẽ có một đơn vị chuyên nghiệp để nâng cao việc khai thác

Vấn đề thời gian, theo nguyên tắc đầu thầu và chủ trương của tỉnh Quảng Ninh cũng chỉ cho phép doanh nghiệp được “nhượng” quyền quản trị hoạt động dịch vụ du lịch ở Vịnh Hạ Long không quá 10 năm. Tập đoàn Bitexco có đưa ra tên gọi là: Đề xuất phương án đầu tư, quản lý du lịch Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và đưa ra thời gian “nhượng” quyền 50 năm chưa hợp lý  tỉnh Quảng Ninh đã yêu cầu Bitexco sửa hoàn chỉnh để tỉnh sẽ xem xét lại.

Việc doanh nghiệp được nhượng quyền khai thác Di sản đã không còn xa lạ trên thế giới và ngay tại Việt Nam vấn đề này cũng được áp dụng ở nhiều điểm đến du lịch. Di sản Angkor Wat của nước láng giềng Campuchia từng là nơi xảy ra nạn cướp cổ vật, cả thập kỉ không được ngành Du lịch kiểm soát đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng thế giới sau khi một doanh nghiệp đứng ra “thuê” lại Di sản. Ở nước ta, doanh nghiệp Xuân Trường cũng đang khai thác khu danh thắng Tràng An. Đương nhiên, không phải mô hình nào cũng có thể áp dụng nguyên mẫu cho mô hình khác. Rất cần một cuộc khảo sát, nghiên cứu nghiêm túc và hội thảo để tìm ra hướng khai thác hiệu quả Di sản Vịnh Hạ Long.

2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

2.4.1. Những thành công

Hiện nay, các chuyên gia từ 20 quốc gia của Ủy ban Di sản thế giới (thuộc UNESCO) đã thống nhất đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo tồn Vịnh Hạ Long. Đặc biệt, việc di dời thành công hàng trăm hộ dân sinh sống bao đời nay trên Vịnh lên bờ có cuộc sống ổn định, thuận tiện hơn vừa đạt được mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, vừa làm cho môi trường sạch đẹp mà vẫn giữ được các giá trị văn hoá của các làng chài phục vụ cho hoạt động du lịch. Một điều nữa được UNESCO ghi nhận là địa phương đã giảm thiểu được tình trạng đô thị hoá, tình trạng quá tải khách du lịch tác động đến Di sản; hạn chế việc xả rác và những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Vịnh…

Năm 1994, Vịnh Hạ Long với các giá trị độc đáo, đặc sắc về cảnh quan và địa chất, địa mạo đã được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Đến năm 2021, trong cuộc bầu chọn do tổ chức New7wonders tiến hành Vịnh Hạ Long được lọt vào trong top 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.

Trong 20 năm qua, tỉnh Quảng Ninh với tư cách là địa phương trực tiếp quản lý Di sản đã có rất nhiều nỗ lực, giải pháp trong công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động xâm hại, tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường Vịnh. Đặc biệt là đã có nhiều quyết định, biện pháp giảm thiểu những tác động xấu từ hoạt động sản xuất-kinh doanh, đô thị hoá, xả thải… đến môi trường Vịnh. Tỉnh cũng đã xây dựng kế hoạch tổng thể mới cho công tác quản lý, bảo tồn Vịnh Hạ Long trong dài hạn và có điều chỉnh trong từng năm, trong đó có việc tránh phá núi, lấp biển.

Các cảnh báo của UNESCO về môi trường được các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và người dân nhanh chóng khắc phục và đề ra các giải pháp ngăn chặn, phòng ngừa. Vì vậy, Vịnh Hạ Long đã sớm được đưa ra khỏi danh sách cảnh báo…

Đánh giá về công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long không thể phủ nhận những nỗ lực trong sự hợp tác công tư hay nói cách khác là sự phối hợp giữa các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Di sản đã đạt được những hiệu quả nhất định. Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị được tổ chức; các lớp tập huấn được mở và duy trì nhằm giúp các lao động du lịch, các doanh nghiệp du lịch có nhiều thuận lợi trong hoạt động kinh doanh.

Nhằm hoàn thiện chất lượng phục vụ du khách, BQLVHL đã chủ động phối hợp với các ngành, địa phương và các đơn vị liên quan đề xuất với UBND tỉnh triển khai nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vào Vịnh Hạ Long; tổ chức đón tiếp, phục vụ, hướng dẫn khách đến tham quan Vịnh đảm bảo thuận lợi, an toàn và chu đáo. Lượng khách tham quan Vịnh Hạ Long trong những năm qua liên tục tăng nhanh. Từ năm 1996 đến nay, Hạ Long đón được trên 20 triệu lượt khách, đạt doanh thu trên 800 tỉ đồng, tạo ra nguồn lực quan trọng phục vụ trở lại cho công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản.

Với mục đích nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc tham gia, bảo vệ Vịnh Hạ Long, những năm qua nhiều hoạt động tuyên truyền đã được BQLVHL phối hợp với các ngành, địa phương liên quan thực hiện bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú. Từ năm 2012, BQLVHL đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh, Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI) triển khai chương trình “Giáo dục Di sản trong trường học” tại 154 trường học trong tỉnh Quảng Ninh; phối hợp với Tổ chức FFI thực hiện dự án “Con thuyền sinh thái – Ecoboat” – giáo dục bảo vệ môi trường Hạ Long.

2.4.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

Bên cạnh những thành công đạt được, công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long đã bộc lộ một số hạn chế sau:

  • Bộ máy tổ chức của BQLVHL còn khá cồng kềnh, có những phòng ban nhiệm vụ chồng chéo, trùng lặp, dẫn đến giảm hiệu quả công việc. Cũng do đặc thù công việc của Ban nên chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, việc bố trí lao động có chỗ chưa hợp lý,…
  • Các lớp huấn luyện, đào tạo chủ yếu phục vụ cho công tác chuyên môn trong khi các khóa đào tạo về ngoại ngữ nhằm hướng tới việc phục vụ khách quốc tế thì chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy, chất lượng đội ngũ lao động của điểm đến chưa cao, nhiều khi bị lao động của các đoàn khách nước ngoài thay thế. Cụ thể như nhiều hướng dẫn viên Hàn Quốc khi đưa khách sang Vịnh Hạ Long đã không thuê hướng dẫn viên điểm mà trực tiếp làm công việc này mặc dù đó là hành động vi phạm quy định của điểm đến.
  • Công tác quản lý môi trường tự nhiên được chú trọng đầu tư, thu hút và đạt được nhiều thành quả nhưng việc quản lý môi trường xã hội lại gặp không ít bất cập. Có thể kể đến như nạn bán vé chui khi du khách mua vé tham quan vịnh, tăng giá vé để xe ồ ạt trong những dịp lễ hội đặc biệt là canarvan Hạ Long; nạn chặt chém quá cao khi khách du lịch sử dụng dịch vụ… Đặc biệt, các cá nhân kinh doanh vận chuyển nội vùng như xe ôm, taxi…., còn khá tự do, chưa có các quy định, chế tài xử phạt hiệu quả.
  • Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trên địa bàn khá chặt chẽ thông qua hoạt động của hiệp hội du lịch Quảng Ninh. Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù là một địa bàn trọng điểm của du lịch miền Bắc, với Vịnh Hạ Long được cả thế giới biết đến nhưng Hiệp Hội du lịch Quảng Ninh vẫn chưa quan tâm đầu tư vào hoạt động giới thiệu thông tin về Hiệp Hội như lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, mục đích, nhiệm vụ, những hoạt động đã tham gia…. Vì vậy, việc tìm kiếm nội dung cơ bản về Hiệp Hội là rất khó.
  • Mối quan hệ, sự liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài địa bàn điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long còn nhiều vấn đề bất cập, đặc biệt thể hiện rõ vào thời điểm trong và ngoài mùa vụ du lịch.

Tiểu kết chương 2

Chương 2, luận văn tập trung làm rõ thực trạng công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Tuy nhiên, trước khi đi vào phần thực trạng của công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long luận văn cũng dành một sự quan tâm nhất định vào việc khái quát sự hình thành và phát triển của điểm đến. Đặc biệt, trong nội dung này, tác giả cũng đánh giá rất rõ tình hình phát triển du lịch ở Vịnh Hạ Long từ năm 2020 đến nay. Những thông tin từ thực trạng phát triển du lịch ở điểm đến đã phần nào hỗ trợ rất nhiều cho tác giả khi nghiên cứu công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long. Tác giả nhận thấy trong công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long đã có được những kết quả đáng mừng nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Đây chính là một trong những cơ sở để tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch này ở chương tiếp theo của luận văn. Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

One thought on “Luận văn: Thực trạng quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

  1. Pingback: Luận văn: Công tác quản lý điểm đến du lịch Vịnh Hạ Long

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464