Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng khai thác các giá trị tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội phục vụ du lịch dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Tổng quan về khu vực phía Tây Hà Nội

Trong phần phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đã có đề cập sơ qua về khái niệm phía Tây Hà Nội được sử dụng ở luận văn này đó chính là toàn bộ khu vực tỉnh Hà Tây cũ. Ở mục này, khái niệm này sẽ được phân tích kỹ hơn để người đọc có thể hiểu rõ hơn về khu vực phía Tây Hà Nội.

Trong giáo trình Tuyến điểm du lịch Việt Nam của tác giả Bùi Thị Hải Yến có viết:

Hà Tây cũ có diện tích 2169 km2, số dân (năm 2004) là 2,47 triệu người. Tỉnh có 2 thị xã là Hà Đông, Sơn Tây và các huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thạch Thất, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường Tín, Mỹ Đức, Ứng Hòa, Phú Xuyên. Tỉnh Hà Tây được sát nhập bởi hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây trước đây. Tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, phía bắc giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, phía tây giáp tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, phía đông giáp Hà Nội, Hưng Yên, phía nam giáp với tỉnh Hà Nam. Địa hình của tỉnh đa dạng gồm có đồi, núi, đồng bằng, đặc biệt có nhiều địa hình đá vôi với nhiều hang động và phong cảnh đẹp. Tỉnh có nhiều sông hồ lớn, khí hậu mát mẻ (ở vùng núi Ba Vì), lại nằm ở vùng văn hóa xứ Đoài xưa vì vậy tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, đặc sắc cả về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn”. [30, tr.93-94].

Đây là một tỉnh cũ Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, đã từng tồn tại trong hai giai đoạn: 1965-1975 và 1991-2008. Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ địa giới của Hà Tây được sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội, và như vậy tính từ sau đó đến nay thì tỉnh này không còn tồn tại nữa. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Trong giáo trình Tuyến điểm du lịch Việt Nam này, tác giả Bùi Thị Hải Yến khi nói về Hà Tây cũ có đề cập tới 1 địa danh mà hiện nay việc xác định địa danh đó cũng còn chưa ngã ngũ. Đó là địa danh “xứ Đoài xưa”.

Trong tiếng Hán, Đoài có nghĩa là hướng chính Tây, cũng là quái Đoài trong bát quái. Vì vậy, Đoài trở thành tên gọi cho vùng đất phía Tây kinh đô Thăng Long. Xưa kia, Cầu Giấy là cửa ô phía Tây của thành Thăng Long, vì vậy xứ Đoài được coi là bắt đầu từ ô Cầu Giấy. Nếu nhìn trên bản đồ hiện nay, có thể phác họa sơ lược ranh giới xứ Đoài xuất phát từ Cầu Giấy như sau: một bên bắt đầu từ Cầu Giấy theo đường Lạc Long Quân qua sông Hồng đến Phúc Yên ngược lên Hưng Hóa; một bên bắt đầu từ Cầu Giấy xuôi theo đường Láng đến Ngã Tư Sở chạy theo đường 6 đến thị xã Hà Đông hất qua vùng Quốc Oai, Hòa Lạc bây giờ. Vùng đất trong vòng ranh giới phía Tây ấy chính là xứ Đoài . Thành cổ Sơn Tây ngày nay là thủ phủ của xứ Đoài.Ngược thời gian, ngay từ triều Lý, vùng Sơn Tây đã được gọi là “Xứ Đoài”. Đến triều Nguyễn đặt cấp hành chính “Xứ” gồm 3 tỉnh phía Bắc “Sơn Tây, Hưng Hoá và Tuyên Quang” là một “Xứ” lấy tên là “Xứ Đoài”. Vì thế, ba tỉnh này được gọi là các tỉnh Đoài . Như vậy, xứ Đoài ở triều Nguyễn đã mở rộng hơn nhiều so với xứ Đoài ở triều Lý. Sau khi chế độ phong kiến triều Nguyễn kết thúc, tên gọi xứ Đoài dần trở thành địa danh mang tính dân gian, không phải là tên gọi chính thống, trong khi các địa danh hành chính trong vùng đất này lại thay đổi rất nhiều qua thời gian, khiến cho đôi khi khó xác quyết được địa danh nào là thuộc xứ Đoài xưa và địa danh nào không. Cũng có thể vì sự rối rắm ấy mà ngày nay, tên gọi “xứ Đoài” dường như chỉ được dùng để chỉ khu vực thuộc tỉnh Hà Tây cũ . Rõ ràng cần phân biệt giữa tên gọi xứ Đoài và các địa danh hành chính nhỏ nằm trong xứ ấy. “Xứ Đoài”, theo ý nghĩa của từ này, là vùng đất phía Tây của kinh đô. Còn trong vùng đất ấy, các địa danh hành chính có thể có thay đổi theo thời gian, nhưng về mặt không gian thì vẫn nằm trong “xứ” ấy chứ không trật đi đâu cả.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.2 Các điểm đến tâm linh tiêu biểu khu vực phía Tây Hà Nội có giá trị phục vụ du lịch

2.2.1 Di tích tôn giáo

2.2.1.1  Chùa

  • Chùa Hương

Nam thiên đệ nhất động” là năm chữ mà chúa Trịnh Sâm đã đề lên vách đá động Hương Tích khi tuần du qua nơi này. Đó chính là chùa Hương thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, cách trung tâm Hà Nội khoảng 70 km về phía Tây Nam.

Theo truyền thuyết thì chùa Hương là nơi tu hành đắc đạo của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát ứng thân làm công chúa Diệu Thiện, thường gọi là Bà Chúa Ba, con vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm. Bà được vua cha vô cùng yêu quý, cưng chiều nhưng bà không vâng lời vua cha lấy chồng mà quyết chí tu hành khiến Đức vua vô cùng tức giận sai người giết. Tuy nhiên, Ngọc Hoàng Thượng Đế sớm biết chuyện nên sai thần linh hóa thành mãnh hổ đến cứu bà và đưa bà đến núi rừng Hương Sơn. Sau chín năm tu hành, Bà Chúa Ba đã đắc đạo, trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát. Khi được thành chính quả, Bà Chúa Ba không về trời mà ở lại để độ trì cứu khổ, cứu nạn cho dân lành. Khi nghe tin phụ hoàng bị ốm nặng, Bà trở về quê nhà chữa bệnh cho Vua cha, trừ nghịch cho đất nước, phổ độ chúng sinh. Sau lại cứu cha mẹ và hai chị thoát khỏi tai ương yêu quái hãm hại, thuyết phục cả gia đình bỏ tà tâm ác nghiệp, quyền lực để tâm hoàn lương thiện. Bà được Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc phong là: Đại Từ, Đại Bi, Cứu Khổ, Cứu Nạn, Nam Mô Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát rồi ban tặng tòa báu hoa sen, trao phó vĩnh viễn là chủ đạo tràng núi Phổ Đà biển Nam Hải. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Lấy Suối Yến là lối đi chính vào Hương Sơn, người ta chia quần thể khu du lịch tâm linh chùa Hương làm ba tuyến chính: Hương Tích, Long Vân và Tuyết Sơn.

Tuyến thứ nhất là tuyến Hương Tích. Đây là tuyến chính của chùa Hương bao gồm: Suối Yến – đền Trình Ngũ Nhạc – cầu Hội – chùa Thanh Sơn – Hương Đài – chùa Thiên Trù – chùa Hinh Bồng – chùa Tiên – chùa Giải Oan – đền cửa Võng và cuối cùng là động Hương Tích. Mỗi địa danh nơi này đều gắn với truyền thuyết, giai thoại huyền bí. Sau một khoảng thời gian thưởng thức cảnh đẹp trên dòng suối Yến, du khách đặt chân lên Đền Trình Ngũ Nhạc – một di tích lịch sử văn hóa trong khu thắng cảnh Hương Sơn. Theo thuyết phong thủy, dãy núi Ngũ Nhạc có hình thế một con rồng lớn, dáng núi uy nghiêm, minh đường tụ thủy, sinh khí trường tồn nên từ xa xưa dân nơi đây đã dựng ở đầu dãy núi một ngôi đền nhỏ để thờ một vị thần Tướng đã góp công đánh giặc Ân phò Vua Hùng Vương thứ VI. Ngôi đền này thời Sơn Thần và mồng sáu tháng Giêng có lễ mở cửa rừng được cử hành trọng thể để người dân xin phép thần rừng được vào rừng bái lễ và làm ăn sinh sống. Tiếp theo sẽ đến chùa Thanh Sơn – động Hương Đài với ngôi chùa được xây dựng năm 1860 và là một trong những ngôi chùa cổ xưa của đất Bắc cùng động Hương Đài nằm trên núi Phụng Dực do sư cụ Đàm Thuyết cùng nhân dân thôn Hội Xá khai phá với nhiều thạch nhũ kỳ ảo và được tương truyền những ai hiếm muộn thường đến chùa Thanh Sơn để cầu mong gia đình sớm có tiếng cười con trẻ. Chùa Thiên Trù là điểm đến kế tiếp với kiến trúc ban đầu được hình thành là một thảo am nhỏ dưới đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) sau đó phát triển dần thành một công trình tuyệt mĩ  và trở thành trung tâm giữa chốn núi rừng Hương Sơn với  bố cục kiến trúc hài hòa: tam bảo, tiền đường, nhà thờ tổ, nhà Mẫu, nhà khách…với tháp Thiên Thủy, tháo Viên Công – một công trình nghệ thuật đất nung có từ thế kỷ 17. Rời chùa Thiên Trù, du khách tiếp tục cuộc hành trình qua động Hinh Bồng, chùa Tiên Sơn trong động Tiên Sơn, chùa Giải Oan bên suối Giải Oan, điểm dừng chân cuối cùng và cũng là điểm quan trọng nhất đó là động Hương Tích với những khối nhũ đá đủ hình dáng kích thước được người xưa tựa theo hình dáng của thạch nhũ mà đặt tên.

Tuyến Long Vân là tuyến thứ hai gồm động và chùa Long Vân. Để đi tuyến này thì sau khi đặt lễ ở đền Trình Ngũ Nhạc và xuống đò đi tiếp du khách sẽ thấy dòng suối rẽ đôi: phía bên phải là đường vào Hương Tích và phía trái là đi vào động và chùa Long Vân. Con suối nhỏ này có tên là suối Long Vân dài 1,5km và từ bến Long Vân leo cao thêm 150m nữa sẽ đến chùa Long Vân nằm bên sườn núi một nửa nấp sau núi Ân Sơn. Chùa được sư thầy Thanh Nhàm người thôn Đục Khê cùng đóng góp của du khách thập phương tạo dựng. Đi qua eo núi chùa Long Vân ta sẽ đến động Long Vân. Trên cửa động có đề ba chữ hán “Long Vân động”, bên trong bày một ban tam bảo nhỏ thờ Phật. Bên trong động có một hang sâu gọi là động âm, dưới hang này có nhiều hình thù rất lạ. Khu vực Long Vân còn có động Hóa Thân (Thánh Hóa), chùa Cây Khế…tạo nên một quần thể thắng cảnh nằm giữa hai khu danh thắng Tuyết Sơn và Hương Tích thu hút du khách thăm quan chiêm bái.

Tuyến Tuyết Sơn là tuyến cuối cùng của quần thể danh thắng Hương Sơn bao gồm: đền Trình Phú Yên, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả, Bảo Đài, đền Mẫu, đền Thượng và động Ngọc Long. Theo đánh giá, khu Tuyết Sơn được coi là quần thể di tích đẹp thứ hai sau Hương Tích. Cảnh đẹp Tuyết Sơn cuốn hút say đắm lòng người đến nỗi mà khi đến vãn cảnh, Chúa Trịnh Sâm đã đề tặng nơi đây bốn chữ “Kỳ sơn tú thủy” (nghĩa là núi nước đẹp lạ). Từ bến đò Tuyết Sơn, đầu tiên các phật tử sẽ vào lễ đền Trình Phú Yên rồi đi tiếp đến Bảo Đài Cổ Sái để lễ Phật, nghe kinh. Điều hấp dẫn du khách nhất của tuyến này đó chính là động Ngọc Long (tên gọi khác là động Tuyết Sơn) nằm cách chùa Bảo Đài khoảng hơn một cây số. Động nằm ở lưng chừng núi, trong động bài trí một bên là Tam Bảo thờ Phật, một bên là điện thờ Mẫu có các tượng cô,cậu bằng đá. Bên cạnh ban Tam Bảo thờ Phật là một khối thạch nhũ lớn gọi là cây trường tuyết, trong vách đá có bức phù điêu bà quận chúa Ngọc Hương.

  • Chùa Thầy Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Chùa Thầy thuộc địa phận xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Tây cũ (nay là huyện Quốc Oai, Hà Nội). Đây vừa là tên riêng chỉ trực tiếp ngôi chùa có tên chữ là Thiên Phúc Tự, vừa là tên chung chỉ quần thể di tích Phật giáo quanh núi Sài Sơn gồm chùa Thiên Phúc ở bên này hồ, chùa Long Đấu bên kia hồ, chùa Đỉnh Sơn, am Phật Tích, chùa Bối Am ở trên núi và cả những di tích tâm linh khác như đình thờ thành hoàng, Võ miếu thờ thần võ, đền thánh Văn Xương chủ đề văn học, lại thêm cả hang Cắc Cớ và chợ Trời để trai gái du xuân…

Theo bia Bối Am tự bi dựng năm Sùng Khang V (1570) ở chân vách đá thì chùa Thầy vốn khởi dựng từ thời Đinh, các đời tiếp theo đều tu bổ để mở rộng quy mô. Lúc đầu chi là một am nhỏ trong động đá và lều cỏ dưới chân núi. Đến thời Lý trước khi thiền sư Từ Đạo Hạnh về tu luyện thì ở đây đã có Am Phật sau đó thiền sư mở rộng quy mô. Di vật của thời Lý nay vẫn còn chiếc bệ đá sư tử đội tòa sen hiện làm bệ tượng thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh ở gian giữa tòa Thượng điện. đến thời Trần hiện nay chùa cũng còn lưu giữ lại được một số hiện vật quý hiếm như: Mảng gỗ lung ngai ghế làm năm Thiệu Phong VI (2346) chạm cẩn thận với các hình sóng nước, cặp sừng vắt chéo tựa lưỡng nghi, ngọc báu, tia sáng…được bố trí đăng đối, bệ đá hoa sen khối hộp hai tầng thờ Tam Bảo với tầng trên cao 44cm rộng 172 cm dài 226cm, tầng dưới cao 44cm, rộng 275cm và dài 391cm, các góc chạm chim thần, thân bệ chạm rồng đơn vặn xoắn, nhiều loại hoa lá và những cụm mây có đuôi dài, cặp tượng sâu đá làm lan can bậc từ cửa Thượng điện xuống sân sau được tạo dáng rất thực với những khối mập khỏe…Thời Lê Sơ còn lại bệ tượng vua Lý Thần Tông được xem là hậu thân của Từ Đạo Hạnh với những hình chạm đẹp về sóng và rồng mây hồi tưởng lại dáng dấp thời Trần và những chân song con tiện ảnh hưởng từ phương Bắc. Thời Mạc với việc chấn hưng Phật giáo đã để lại ở hai đầu dư ở gian giữa tòa Trung điện sang nhà cầu để xuống Tiền đường chạm rồng thời Mạc…đến thời Lê trung hưng, chùa được làm lại khang trang mà thành tựu cơ bản vẫn còn đến nay, sang đến thời Tây Sơn và thời Nguyễn chỉ có những sửa sang nhỏ.

Trong cụm di tích quanh núi Thầy thì chùa Thiên Phúc nổi bật lên hàng đầu cả ở quy mô và nghệ thuật kiến trúc điêu khắc nên được gọi là chùa Thầy hay chùa Cả. Theo thuyết phong thủy thì núi Thầy được xem là con rồng lẻ đàn sắc sảo (quái long) với chung quanh là 16 quả núi nhỏ (thập lục kỳ sơn) được hình dung là các con lân, phượng, rùa…chầu về. Chùa được dựng trên khu đất được gọi là hàm rồng, bãi trước chùa là lưỡi rồng thò ra uống nước, hai cầu Nhật Tiên Kiều – Nguyệt Tiên Kiều vênh sang hai bên như hai sợi râu rồng. Nhà Thủy Đình là viên ngọc mà rồng vờn. Chùa lúc đầu vốn không có sư trụ trì cai quản. Sau thiền sư Từ Đạo Hạnh, ở đây dường như chỉ có các bà vãi và ông thống trông nom chùa vì thế không có tháp mộ sư. Đây là nét độc đáo của chùa Thầy cũng giống như hai chùa Keo ở Thái Bình và Nam Định thờ thiền sư Minh Không/ Không Lộ là bạn tu hành cùng với thiền sư Từ Đạo Hạnh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Chùa được thiết kế theo kiến trúc “nội Công, ngoại Quốc”. Tòa Tiền đường ở đằng trước gắn với hai dãy hành lang ở hai bên rồi nối lại bằng tòa Hậu đường ở phía sau, đồng thời sau Tiền đường có một nhà cầu nhỏ thông sang Trung điện, lại cách một hẻm lên Thượng điện mà dân gian quen gọi ba nếp nhà đó là các chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Ngày thường, chùa Hạ đóng cửa, khách tham quan phải đi cửa phụ ở dưới gác chuông vào sân trong chùa rồi vào khu Tam Bảo bằng cửa phụ nhỏ ở vách sau chùa Thượng rồi đi dần từ trên xuống chùa Hạ.

Tiền đường (chùa Hạ) dàn ngang ba gian hai chái, dựng trên một nền cao vừa phải, các mái tỏa ra bốn phía với các đầu đao vươn cong, vừa bè ra bề thế vừa như con thuyền bồng bềnh chao đảo. Tòa Tiền đường không có nhiều tượng như nhiều chùa khác mà để thông thoáng dành cho giảng đạo hay chuẩn bị hành lễ.

Phía sau Tiền đường là Trung điện cũng ba gian hai chái dài chừng tầm 20m, do nền cao hơn nên mái cũng cao hơn so với Tiền đường. Nhờ chiếc nhà cầu nối lại ở đây có dạng chữ “Công” quen thuộc của thế kỷ XVII – XVIII. Trung điện có sự bài trí tượng thờ như thu lại toàn bộ Tam bảo được gọi là Đại Hùng Bảo Điện. Ở đây gian giữa thờ bộ tượng Tam Thế, vốn còn cả các tượng Thánh Phụ và Thánh Mẫu của thiền sư Từ Đạo Hạnh, cả tượng Minh Không và Giác Hảo giờ đây còn có thêm một số tượng thạch cao đổ khuôn từ các tượng gốc chùa Tây Phương vốn bày trong thời chiến. Các gian bên phía trong đắp bộ tượng Hộ Pháp to lớn chạm mái chùa chiếm cả khoang giữa hai cột. Hai pho này được bày theo lối riêng là nhìn vào gian giữa tức là bày đối diện nhau. Phía ngoài của các gian bên là ban thờ Thánh Tăng và Long Thần nhìn ra trông xuống nhà Tiền đường.

Phía sau Trung điện lại có một dải sân hẹp nữa qua một số bậc đá hẹp dẫn lên Thượng điện (chùa Thượng) trên nền cao. Thượng điện chỉ một gian hai chái nhưng dàn ra không kém hai tòa phía trước. Các mái tỏa ra xung quanh, vươn cao nhưng lan xuống nền khá thấp, đi vòng quanh ngoài hiên ta dễ dàng với được tay đến mái. Thượng điện có bệ đá sư tử đội tòa sen thờ Lý và bệ đá tòa sen khối hộp hai tầng thời Trần mà phần trên đã nói, lại có cả bộ tượng Di Đà tam tôn với bệ gỗ chạm trang trí các hình sóng nước, cặp sừng, cây thiên mệnh điển hình của khoảng chuyển tiếp từ thế kỷ XVI sang thế kỷ XVII. Song thờ chính ở tòa Thượng điện là thiền sư Từ Đạo Hạnh nên tòa này mang tính chất “Điện Thánh” nhiều hơn. Có ba tượng gắn với ba giai đoạn “vi Tiên, vi Phật, vi Quốc Vương” (là Tiên, là Phật là Quốc Vương): thiền sư Từ Đạo Hạnh khuôn mặt rất thực ngồi tòa sen ở gian giữa, đạo sĩ cử động được ngồi trong khám kín ở gian trái và vua Lý Thần Tông là hậu thân ngồi ở gian phải.

Từ cửa sau của Thượng điện xuống 2m là sân chùa, phía sau sân là nhà Hậu đường dàn ngang 13 gian, ngăn ra các khu trong đó dành 5 gian giữa là nhà Tổ với một số tượng Hậu và phù điêu trên bia đá rất sinh động. Dọc hai bên sườn chùa là hai dãy hành lang dài, đoạn trước ngang với khu Tam bảo được đắp bộ tượng Thập bát La Hán mỗi bên 9 vị, đoạn sau nhô lên Gác chuông (bên trái) và Gác trống (bên phải) hai tầng còn treo quả chuông và chiếc trống thuộc loại lớn nhất miền Bắc.

Rời khu chùa Cả, qua Nguyệt Tiên Kiều lên hệ thống chùa trên núi. Theo lối mòn du khách lên chùa Đỉnh Sơn vì ở lưng chừng núi nên còn được gọi là chùa Cao. Sau chùa là động Phật Tích còn gọi là am Hiển Thụy hay hang Thánh Hóa đều gắn với điềm lành thiền sư Từ Đạo Hạnh trút xác để đầu thai vào hoàng gia nhà Lý, bàn thờ Long thần và một số tượng đá. Đi tiếp lên đỉnh núi đến Chợ Trời và men theo sườn núi sẽ đến hang Cắc Cớ sâu thẳm. Đi thêm sẽ đến Đền Thượng, chùa Bối Am (chùa Một Mái) lợi dụng hang đá chỉ xây thêm một mái chồng diêm nữa. Cạnh đấy là hang Gió rồi đến đền thờ Phan Huy Chú và nhà lưu niệm Bác Hồ ghi lại dấu tích Bác Hồ đã ba lần về thăm và làm việc trong thời gian kháng chiến. Xuống núi trở ra vòng qua chùa Long Đẩu rồi lại về chùa Cả. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Hội chùa Thầy vào mồng 7 tháng 3 âm lịch, tương truyền là ngày Thánh hóa, nhưng sử cũ ghi thiền sư Từ Đạo Hạnh trút xác vào tháng Sáu. Rõ ràng đây là lớp văn hóa Phật giáo muộn đã phủ lên lớp văn hóa cổ truyền mà thực chất là chùa Thầy là hội giao duyên của trai gái với tục chơi núi chơi hang như câu ca dao xác nhận:

“Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy

Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ”

Chùa Thầy – chùa Cả – Thiên Phúc Tự, như tên gọi quả là một công trình kiến trúc thuộc loại hàng đầu trong di sản nghệ thuật cổ truyền. Đặc biệt với bộ tượng Di Đà Tam Tôn (niên đại: đầu thế kỷ XVII) đã được Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia thẩm định và Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia ngày 14/1/2015 là một niềm hạnh phúc lớn của người dân đất Việt.

  • Chùa Tây Phương

Chùa Tây Phương, còn có tên là Sùng Phúc Tự dựng trên núi Tây Phương (tên xưa là núi Câu Lậu), một ngọn núi cao chừng 50m ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây cũ.

Từ chân núi leo qua 237 bậc lát đá ong thì đến cửa chùa với bốn chữ Hán lớn “Tây Phương Cổ Tự”. Chùa được xây dựng vào thời nhà Mạc với đặc trưng kiến trúc và phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, sau đó được trùng tu lớn nhiều lần vào các năm Nhâm Thân 1632 và an tượng năm 1635 dưới thời chúa Trịnh Tráng (1623-1657), năm Canh Ngọ 1690 niên hiệu Chính Hòa 11 thời chùa Trịnh Căn, năm 1735-1740 dưới thời chúa Trịnh Giang. Tuy vậy mặt bằng kiến trúc chùa theo kiểu ngày nay là do năm Giáp Dần 1794 đã được xây dựng lại chùa theo đúng kiểu chùa Kim Liên xây dựng năm 1792 mang đặc điểm kiến trúc thời Tây Sơn. Có thể nói chính việc chỉnh sửa làm lại chùa dưới thời Tây Sơn này đã đem lại những giá trị độc đáo cho chùa như vậy. Truyền thuyết kể rằng hiệp thợ dựng chùa Kim Liên năm 1792 xong thì được mời về đây dựng chùa Tây Phương. Những thực nghiệm ở chùa Kim Liên về một kiểu kiến trúc và điêu khắc mới được những người thợ mộc chạm hoàn chỉnh cho chùa Tây Phương giữa đỉnh núi Câu Lậu tạo ra một không gian ngoại thất gắn kết mái chùa với cây cối thành một môi sinh tự nhiên. Ba nếp chùa chồng diêm song hành với 24 bó hoa đao vươn lên rực rỡ, từng nếp cách nhau khoảng sân hẹp theo chữ Tam, nhưng lại được xây tường bao quanh thành chữ Công biểu hiện một sự sáng tạo trên nền truyền thống, ở đó đóng mà vẫn mở, riêng cõi thiền mà vẫn chan hòa với vũ trụ, thiên nhiên. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Kiểu nhà dù được gợi ý từ những gác chuông song là cả một sự sáng tạo làm cho bộ mái nhẹ đi và không gian nội thất vươn cao thông thoáng. Ba nếp nhà giống nhau, nếp giữa thu chiều dài, nở chiều rộng và vươn cao hơn, tạo sự thống nhất trong đa dạng. Bộ khung chùa với những thành phần gỗ liên kết không chỉ để chịu lực mà còn để trang trí. Tùy từng bộ phận mà bào trơn đóng bén, soi gờ chạy chỉ, hoặc trạm khắc một số hình trang trí. Trong những bố cục tương tự ở nếp nhà ngoài và nhà trong tập trung vào đề tài hoa lá thì nếp nhà giữa lại chuyển thành hổ phù, rồng, phượng. Với lối chạm nổi vừa phải nhưng cao thấp khác nhau và có độ vênh nghiêng, khi tiếp nhận ánh sáng tạo sự đậm nhạt làm cho hình trở nên mềm mại. Hoa, lá và cả rồng, phượng giờ đây được chạm khắc thực mà lại tươi mát. Loại lá ngô đồng tựa như lá đu đủ vừa biểu đạt ước mong cụ thể vừa vươn lên cao quý “ngô đồng phương đậu” dù đến thời Tây Sơn mới bước vào nghệ thuật nhưng lại trở thành chủ đạo.

Phù điêu gỗ có ở khắp nơi trong chùa, trên xà, trên bẩy, trên cốn…Nhưng chùa Tây Phương nổi tiếng hơn cả bởi các pho tượng. Trong tổng số hơn 80 pho tượng thì xấp xỉ một nửa trong số đó là những tượng nổi tiếng hiện thực sâu sắc được xác định thuộc thời Tây Sơn. Nó vừa đạt tới sự chuẩn xác của giải phẫu cơ thể, vừa bám sát cuộc đời nhân vật với các tính sắc sảo ở thời điểm điển hình do đó đã đạt tính chân dung đậm. Loạt tượng này có ba mảng: các vị Tổ kế đăng đầu tiên của Phật giáo; các vị bảo vệ Phật đạo; các vị Phật và Bồ Tát.

Trong chùa có hệ thống tượng các vị Tổ kế đăng rất nổi tiếng mà đến nay vẫn bị lầm tưởng là tượng La Hán. Loạt tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây Phương có 18 vị. Trong tổng số 28 vị Tổ kế đăng đầu tiên người Ấn Độ thì chùa Tây Phương có gần như liên tục từ Tổ thứ nhất đến Tổ hai mươi trong đó bị thiếu các  Tổ 11, Tổ 15 và các Tổ từ 21 đến Tổ 28. Các tượng Tổ này hoàn toàn khác nhau cả hình dạng và nội tâm. Trừ hai vị Tổ Ca Diếp và A Nam đứng trên Thượng điện thì mười sáu vị Tổ còn lại được chia đôi bày hai bên của nếp nhà trong, không theo trật tự kế đăng, có vị ngồi vị đứng đan xen không đều do đó tạo một nhịp điệu dãn cách tự nhiên.

Mảng tượng thứ hai đó chính là các vị bảo vệ Phật đạo. Gần gũi với các tượng Tổ vốn là những người trần sống giữa các Phật tử là tượng Kim Cương gồm 8 pho bày ở hai bên nếp nhà thứ nhất và có thể kể thêm các pho Thái tử Kỳ Đà và Cấp Cô Độc bày ở bên trái Thượng điện. Các tượng này đều mang tính chất tượng Hộ pháp bảo vệ đạo lý nhà Phật trên hai khía cạnh khuyến thiện và trừng ác. Các tượng này đều lớn hơn người thực với độ cao trên 2m, mặc áo giáp trụ như kim cương có thể chống lại mọi cám dỗ, hai tay luôn ở tư thế một cao một thấp như sự đối ứng âm dương trong số đó các pho mặt đỏ – trừng ác tay cầm vũ khí, khuôn mặt bừng bừng toàn thân lên tấn chắc đanh, còn các pho mặt trắng – khuyến thiện tay cầm báu vật khuôn mặt nhân hậu. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Nhóm các tượng cuối cùng là tượng Phật hay các vị Bồ Tát đã thành những mẫu người chuẩn mực lý tưởng từ bỏ mọi ham muốn song vẫn đậm đà nhân tính. Trong nhóm này sinh động hơn cả, đầy chất người về tính tình và về cấu tạo cơ thể phải là tượng Di Lặc và tượng Tuyết Sơn đối lập để cùng tôn nhau. Tượng Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình, là Phật tương lai, béo đẫy hoan hỉ, là sự sung mãn cả về vật chất và tinh thần mà mọi người chờ đợi. Tượng Tuyết Sơn là khi Thích Ca tu khổ hạnh, hy sinh thân xác để mong tìm chân lý, người gầy đét song lại nung nấu cháy bỏng lẽ sống. Hai pho tượng này sang thời Nguyễn ở nhiều chùa cũng được tạc phỏng theo nhưng đều không thể sánh được.

Chùa Tây Phương là tinh hoa nghệ thuật cổ truyền Việt Nam ở cả hai lĩnh vực kiến trúc và điêu khắc. Nó là sản phẩm thủ công của những người thợ mộc chạm vừa có tính cần mẫn và khéo léo của nghệ nhân. Họ không lưu tên riêng theo danh dự cá nhân mà với thiên chức chùng trách nhiệm cao thì sự “vô danh” chính là nét đẹp danh dự của cộng đồng những người cùng nghề. Các pho tượng và các phù điêu có mặt khắp mọi nơi trong ba nếp chùa đã trở thành một bảo tàng nghệ thuật điêu khắc kiến trúc vô cùng có giá trị ở Việt Nam. Chính vì thế hệ thống các Tượng Phật giáo thời Tây Sơn chùa Tây Phương (Niên đại: cuối thế kỷ XVIII) đã được công nhận là Bảo vật quốc gia cùng thời gian với bộ tượng Di Đà Tam Tôn ở chùa Thầy vào ngày 14/1/2015.

  • Chùa Mía

Chùa Mía – Sùng Nghiêm tự là một ngôi chùa cổ kính với một Phật điện đông đảo và đặc sắc bậc nhất miền Bắc nằm ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây. Mía vốn là một vùng đất cổ, ở phía Tây thị xã Sơn Tây chỉ 5km trên đường đi về huyện Ba Vì. Nơi đây gò đồi san sát và ứng với nó là ngòi lạch vòng vèo, âm dương đối đãi, sinh khí tụ đọng, cây cối xum xuê vật nhiều người thịnh. Người dân địa phương luôn tin vào mảnh đất địa linh, hào kiệt đời nào cũng có và càng ra sức đắp bồi bằng những công trình văn hóa của mình.

Chùa Mía vốn có từ xa xưa nhưng chỉ là một ngôi chùa nhỏ, ngôi chùa hiện tại cơ bản được gia đình Bà chúa Mía – Nguyễn Thị Ngọc Dao cho dựng lại đầu thế kỷ XVII. Chùa Mía được xây dựng trên một quả đồi thấp đỉnh bằng phẳng rộng chừng một héc-ta, ở gần phía Đông Bắc có sông uốn khúc, phía Tây Nam núi thấp vây quanh, xa xa có sông lớn Hồng Hà từ phía Bắc chảy xuôi đằng Đông và núi cao Tam Đảo ở phía Tây Bắc chầu về. Theo quan niệm phong thủy, đó là chỗ “địa linh” hội được long mạch với cả gió lành nước sạch để nguyên khí phát triển. Mặt chùa hướng về Nam, xuôi theo sườn đồi nhìn xuống khu đất phẳng là nơi mở chợ Chùa mà theo tấm bia dựng năm 1612 hiện ở Tam quan chùa thì chợ Chùa có từ lúc đó. Chợ và Chùa là hai thế đối trọng của một thực thể, cuộc sống vật chất ồn ào và đời sống tâm linh thanh tĩnh, là thể phức hợp văn hóa giao lưu và hội tụ để phát triển. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Chùa Mía thuộc loại chùa có nhiều tượng nhất với tổng số các pho lớn nhỏ gần 300 pho, bên cạnh nhiều tượng gỗ tập trung ở Thiêu hương và Thượng điện thì cũng có rất nhiều tượng đất đắp ở Tiền đường, Hậu đường và hành lang hai bên, tất cả đều được sơn thếp trang trọng. Nếu phần lớn tượng gỗ thuộc thời Lê trung hưng thì hầu hết các tượng đất lại thuộc thời Nguyễn. Điều này được nhận biết qua phong cách tạc tượng cũng phù hợp với tượng ở các chùa nói chung và lệnh của phủ chúa Trịnh cho phép làm tượng Phật ở các chùa để cầu phúc thì dùng gỗ hay đá chứ không được tô tượng Phật bằng đất hay làm tạp nham, còn nếu bằng đồng thì phải xin phép bề trên. Như vậy chùa Mía nếu kiến trúc được hoàn chỉnh dần từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX thì điêu khắc tượng tròn cũng được tăng cường bổ sung trong thời gian ấy.

Tượng gỗ với nhiều pho thuộc các đề tài Tam Thế, Tam Thân, Tam Tôn, Thích Ca Tọa Thiền, Quan Âm Chuẩn Đề, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn…thường gặp ở các chùa với vẻ đẹp óng chuốt quý phái của thế kỷ XVII-XVIII, ở chùa Mía đặc biệt cần lưu ý đến loạt tượng đắp đất, nó chính là thành tựu mới của điêu khắc thời Nguyễn mà trước đây vẫn bị xem thường hoặc bị bỏ qua.

Ngoài nội dung chính là thờ Phật, chùa Mía cũng như nhiều chùa khác còn là nơi thờ Mẫu theo tín ngưỡng bản địa của dân gian. Ngay ở gian đầu hồi bên trái tòa Tiền đường ngoài là một ban thờ Tam tòa Thánh Mẫu. Ngoài ra một Mẫu cụ thể đã được lịch sử hóa và huyền thoại hóa là Công chúa Liễu Hạnh đầy quyền năng được tôn vinh với tượng thờ ở một ban riêng. Và đặc biệt nói đến chùa Mía không thể không nhớ tới người con gái có công đầu là cung phi Nguyễn Thị Ngọc Dao mà dân địa phương gọi thân mật là Bà chúa Mía, tôn vinh Bà thành vị Thánh đồng nhất với Mẫu Địa. Tượng Bà được khoác áo vàng thờ trong khám trang nghiêm, có các tượng Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Thượng Ngàn ở hai bên.

Chùa Mía từ lâu đã vượt khuôn khổ làng Mía để trở thành chùa của cả vùng, cả nước. Nó có nguồn gốc cung đình song lại mang đậm tính chân quê, lấy sân vườn thoáng đãng ở phía trước để đối trọng là các nếp nhà dồn dập phía sau, lấy sự kiệm ước của trang trí kiến trúc để tập trung sự chú ý vào điêu khắc tượng tròn vô cùng phong phú, xây dựng lâu đài từ gỗ ngói đơn sơ và vắt đất thành vàng mười nghệ thuật làm sáng danh cả một giai đoạn từng bị bỏ quên.

  • Chùa Trăm Gian

Quảng Nghiêm Tự là tên chữ của ngôi chùa trên núi Sở thuộc thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ – chùa có quy mô lớn thuộc loại “trăm gian”. Vì thế chùa còn có các tên gọi thông dụng là chùa Trăm Gian, chùa Sở, chùa Núi hay chùa Tiên Lữ. Xa xưa nơi đây là xã Tiên Lữ tổng Tiên Lữ huyện Yên Sơn phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây, sau chuyển sang huyện Chương Mỹ và kéo dài đến ngày nay. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Chùa dàn trải trên quả đồi hướng về phía Nam song cổng mở đầu lại là theo hướng Đông – Nam để giáp đường tiện cho du khách thăm chùa. Cổng chùa được xây hai trụ lớn tạo một lối đi ở giữa, hai bên là tường nối với hai trụ nhỏ như vậy mang tính chất Nghi môn là của Đình-Đền. Qua cổng là một sân gạch có hai dãy hành lang ở hai bên làm chỗ bán hàng giải khát và đồ lưu niệm và cũng là nơi để du khách chỉnh đốn y trang và đồ lễ trước khi lên chùa. Cuối sân là con đường lên chùa mấy lần đổi hướng chữ Chi và cũng nâng dần độ cao. Cuối đường gạch rẽ trái là nhà bia tưởng niệm, rẽ phải đến Tam Quan kiêm Gác chuông. Tam quan nằm trên trục tâm của khu Tam bảo song hơi lệch xoay về phía Tây. Phía dưới Tam quan là nhà Giá Ngự (hay Giá Roi) để ngày lễ rước kiệu Thánh ra đây cùng nhân dân xem các trò chơi vui tổ chức ở hồ bán nguyệt dưới chân núi gợi khúc sông cong tụ phúc.

Từ Tam quan – Gác chuông đi theo trục tâm qua khoảng sân hẹp chừng 7m, vượt 27 bậc đá lên trên sân trên của chùa  dàn ngang rất hẹp. Giữa sân kê chiếc sập đá có đặt một bát hương. Lại leo thêm 7 bậc đá nữa lên thềm chùa, hoặc rẽ ra đầu sân bên trái rồi theo đường dọc sau lung hành lang để vào sân trong của chùa với các khu nhà phụ (nhà khách, phòng tăng…) rồi lên khu Tam Bảo từ phía sau nhà Hậu đường.

Khu vực trung tâm của chùa là cả một tổng thể kiến trúc đông đặc, trong đó các tòa Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện kết hợp với nhau thành một nội thất thống nhất theo chữ Công, lại có hành lang dài ở hai bên ăn thông với Tiền đường ở phía trước và Hậu đường ở phía sau, bao lại thành một kiến trúc đóng có hình chữ Quốc. Ngoài ra khoảng sân sau Thượng điện trước Hậu đường được dựng tòa phương đình treo cả trống và khánh, được xem như một nốt son điểm vào giữa chữ Quốc, cũng là chỗ cho du khách ngồi nghỉ ngắm các chậu hoa cây xanh tô điểm xung quanh. Ngoài ra còn vườn tháp mộ sư và bốn miếu Tứ trấn ở bốn góc đồi.

Chùa Trăm Gian ngoài thờ Phật còn thờ Đức Thánh Bối, ở đây ghi là “Đại Thánh Khai Sơn Bình đẳng thành nghĩa tín Bồ tát”. Khu thờ Thánh không xây riêng mà quay ván bưng gian bên trái Thượng điện cũng gọi là Cung Thánh thiêng liêng chỉ nhà sư được vào hành lễ. Đức Thánh Bối tên tục Nguyễn Bính An đã tu luyện ở đây thành Thánh với chức danh Bồ tát Bình đẳng Hành nghĩa, khi sống có tài đi mấy bước về quê Bối Khê lấy cà muối và nấu niêu cơm mà cả trăm thợ dựng chùa ăn không xuể, khi hóa rồi còn làm cơn mưa máu đuổi giặc Minh.

Hệ thống tượng thờ ở đây đầy đủ cho một Phật điện thông thường từ Tam thế xuống đến Hộ pháp. Đặc biệt pho Tuyết Sơn bắt chước bố cục của tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương song các đường gân và mạch máu nổi lên quá rõ. Trong số tượng Hậu Phật, chùa Trăm Gian nổi lên tượng đô đốc Đặng Tiến Đông- một quan võ thời Tây Sơn, sau chiến công đánh thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu 1789 đã về quê đóng góp vào việc tu bổ chùa, được tạc tượng chân dung thờ ở chùa ngay khi còn sống, tương truyền tượng giống đến mức khi rước kiệu vào chùa người xem không phân biệt được kiệu người hay kiệu tượng. Ngoài ra, chùa Trăm Gian có một số hiện vật thuộc loại quý hiếm. Đó là đôi rồng đá thời Trần làm lan can thành bậc cửa chùa có thân dài mập nhưng ghép đầu rồng thời Nguyễn. Đó là những viên gạch thời Mạc được xây bệ tượng Tam Thế, nhiều viên chạm chim thần và các con thú rất sinh động.

Đó cũng là bộ tranh La Hán và tranh Thập điện được chạm nổi có kết hợp vẽ…

2.2.1.2 Nhà thờ Kitô giáo Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Theo như thống kê của Tổng giáo phận Hà Nội thì khu vực Hà Tây cũ có tới 46 giáo xứ trải dài trong khắp các các vùng trong tỉnh với 4 giáo xứ lớn nhất đó là: Giáo xứ Bái Xuyên ở xã Minh Tân huyện Phú Xuyên với 5944 giáo dân; giáo xứ Lưu Xá , Mỹ Lương, Chương Mỹ với 5935 giáo dân; giáo xứ Nghĩa Ải , Hợp Thanh, Mỹ Đức với 5674 giáo dân và giáo xứ Thạch Bích, Bích Hòa, Thanh Oai với 7933 giáo dân. Tiêu biểu quy mô lớn có thể kể đến là nhà thờ Hà Đông và nhà thờ Thạch Bích. Các nhà thờ dù với quy mô lớn hay nhỏ thì cũng đều đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của các giáo dân sống trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũ.

Nhà thờ Hà Đông là điểm sinh hoạt tôn giáo của bà con giáo dân xứ Hà Đông. Nhà thờ Hà Đông được xây dựng năm 1908, đây là công trình kiến trúc đẹp nằm trong lòng trung tâm quận Hà Đông. Cổng chính của nhà thờ nằm trên phố Hoàng Hoa Thám, cổng sau giáp phố Minh Khai. Nhà thờ nằm dọc theo phố Trưng Nhị.

Nhà thờ Thạch Bích nằm ở xã Bích Hòa, Thanh Oai thuộc giáo xứ Thạch Bích . Tương truyền cuối thế kỷ 18, có 6 tín hữu đến nơi này và họ quây quần cùng với một số người ngoại lập thành một làng nhỏ, họ lấy tên là “Thạch Tuyền”. Chỉ từ 6 người gốc Công giáo, họ đã lập thành gia đình và sinh sống tại đây. Đến thời Vua Tự Đức con số giáo dân đã lên khoảng 600 người ( ghi chú: làng còn một số chưa theo đạo, mãi tới đầu thế kỷ 20 mới là làng toàn tòng Công Giáo) và đổi tên là Làng Thạch Bích. Năm 1860, khi Vua Tự Đức ban hành những sắc chỉ cấm đạo khắc nghiệt, các tín hữu Thạch Bích cũng chịu ảnh hưởng. Nơi thờ phụng bị triệt hạ, nhà cửa bị tàn phá, tài sản bị tịch thu, khắc chữ tà đạo lên trán… nhiều người phải di tản phương xa ẩn náu. Năm 1862, sau khi Vua Tự Đức ký ( Hoà Ước Nhâm Tuất) số phận chung các người Công Giáo được đối xử nhẹ tay hơn. Thời gian này giáo dân Thạch Bích dựng được ngôi nhà thờ nhỏ và phòng tạm trú cho các Cha đến làm phúc, đó là ngôi nhà ba gian (nhiều người còn nhớ nền ngôi nhà cũ này). Sau đó vì số  lượng giáo dân tăng lên nên đã tiến hành dòng dã 8 năm xây dựng nhà thờ mới, khởi công từ năm 1904 và tới năm 1911 mới hoàn thành. Đặc tính ngôi Thánh Đường hiện có: nền cao 1,5 mét, lòng rộng 15 mét, dài 45 mét, với hai tháp chuông cao 30 mét, phía trước có sân rộng, chung quanh có đường rước kiệu và khu vực nhà thờ có tường hoa bao quanh rất trang nghiêm và xinh đẹp.

2.2.1.3 Đạo quán

Cùng đồng hành với Phật giáo và Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ khá sớm thì Đạo giáo cũng đóng một vai trò đáng kể trong hoạt động tư tưởng và văn hóa của nhân dân đất Việt. Những trào lưu này đã được người dân Việt cải biến cho phù hợp với truyền thống và nhu cầu của đất nước để trở thành một nhân tố của nền văn hóa và hệ tư tưởng nước nhà.

Khi hệ tư tưởng Nho giáo bị lung lay phần nào vào cuối thế kỷ XVI – XVII khiến các Nho sĩ bắt đầu nói nhiều hơn về mệnh trời, về thuyết quả báo, cả về phép phù thủy…để dự đoán sự thịnh suy của đất nước và sự rủi may của con người thì đó là lúc Đạo giáo có cơ hội phát triển. Chính vì thế mà các Đạo quán được hình thành. Có thể lấy ví dụ như Đan Sơn Tứ Quán ở xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức (gồm Linh Tiên Quán ở thôn Cao Xá Thượng; Viên Dương Quán ở thôn Chiền; Lão Quân Quán ở thôn Lưu Xá; Huyền Thiên Quán ở thôn Lũng Kênh); Lâm Dương Quán ở thôn Đa Sỹ, xã Kiến Hưng, thị xã Hà Đông; Hưng Thánh Quán ở thôn An Duyên, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín (nay gọi là chùa Mui);

  • Linh Tiên Quán Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Linh Tiên Quán có thể coi là một trong hai không gian Đạo giáo hiếm hoi còn lưu giữ được nhiều yếu tố của Đạo giáo còn lại trên đất Hà Tây cũ.

Linh Tiên Quán nằm trên địa phận làng Cao Thượng, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức. Theo như truyền thuyết và văn bia ở đây còn lưu giữ thì chúng ta được biết Linh Tiên Quán có từ rất lâu đời (khoảng những năm 111 TCN) và gắn với nhân vật Lữ Gia (Lữ Gia là tể tướng của nước Nam Việt). Khi nhà Hán có ý định xâm lược Nam Việt thì triều đình Nam Việt có ý đầu hàng thì tể tướng Lữ Gia đã phản đối. Năm 111 TCN, nhà Hán đánh chiếm Nam Việt, Lữ Gia đã dẫn đầu vài trăm người chạy trốn ra biển, lấy thuyền đi về hướng Tây. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đăng Duy thì Lữ Gia đã dừng chân tại Đức Thượng để tu tiên và luyện đan. Hiện nay, trong quán có treo một biển gỗ viết bằng chữ Hán và được giải thích là chép từ bia đá trước đây, trong đó có đoạn viết: “Nguyên Triệu thời, Lữ Nam đế Hưng Gia, giá du hành chí thử hương, hiến tiên nhân biến kỳ, ư thự đế liên giá bái kệ tiên nhân, tiên nhân ngộ nhận thắng thiệu. Nhân sự . Lã Gia lập Linh Tiên Quán .” (Tạm dịch là: Vào thời Triệu Nam đế có ông Lữ Gia, đi chơi đến làng này, thấy tiên đang đánh cờ liền quỳ xuống bái lạy người tiên, người tiên nhân thấy thế bay lên trời. Nhân chuyện này, Lữ Gia cho lập Linh Tiên Quán, quán về tiên linh thiêng).

Nói về Linh Tiên Quán không thể không nhắc đến không gian nghệ thuật kiến trúc và hệ thống tượng, điện thờ cúng nơi đây. Về kiến trúc tồn tại hiện nay không còn giữ được nguyên bản mà đã trải qua nhiều đời tu sửa. Theo tư liệu lưu giữ thì công trình này được công chúa Mạc Kim Dung và phò mã Mạc Ngọc Liễn tu sửa vào năm Giáp Thìn (1544). Và lần tu sửa này đã để lại một công trình văn hóa quy mô và bề thế bằng gỗ như ngày nay. Công trình kiến trúc của Linh Tiên Quán không kể các kiến trúc phụ mới xây dựng sau này thì Linh Tiên Quán là một kiến trúc gỗ quy mô, hình chữ Công ở trung tâm làm điện thờ. Gồm có nhà đại bái, nhà ống muống, nhà thượng điện…Đây là tòa kiến trúc bằng gỗ từ thế kỷ XVI còn sót lại một cách tương đối nguyên vẹn. Điều thú vị nữa về sự cổ kính của công trình kiến trúc này là nhà Tam quan ở phía trước (hướng Đông) treo khánh và gác chuông – chuông đồng được đúc năm Cảnh Thịnh 5 (1797) cao 1,40m treo ở phía sau. Tam quan đều là những kiến trúc gỗ chồng diềm hai tầng. Đây là tam quan khác hẳn với tam quan ở các nơi khác được làm vào thời Lê, Nguyễn sau này (tam quan thời Lê và Nguyễn thường xây bằng gạch) . Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Hệ thống tượng thờ ở Linh Tiên Quán cũng khá đặc biệt. Đó chỉ là một số ít tượng của Phật giáo như: Thích Ca sơ sinh, Hộ pháp Khuyến Thiện và Trừ Ác cưỡi sư tử, Quan Âm Thị Kính (thờ tại nhà đại bái) còn lại chủ yếu là các tượng của Đạo giáo.

  • Viên Dương Quán

Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương và sự tích ghi trong bài minh trên quả chuông của Viên Dương quán thì ngôi quán được tể tướng Lã Gia (nhà Triệu) hưng công xây dựng cách ngày nay hơn hai nghìn năm cùng với quán Linh Tiên. Năm Ất Dậu đời Mạc Mục Tông (1585) thấy Viên Dương quán nằm trên một địa thế rất đẹp, tuy không cao song có nhiều ao hồ, có dòng Nhuệ giang dẫn thuỷ, quy tụ hợp lưu nên Hiển cung Đại phu của triều Mạc là Nguyễn Định mới cho hưng công tu tạo Thượng điện và Hậu đường. Việc này được khắc trong bia đá dựng năm Hưng Trị thứ hai (1589) đặt tại quán. Từ đó về sau quán Viên Dương còn qua nhiều lần tu bổ sửa chữa. Toà Tiền đường hiện nay là kết quả của lần tu tạo năm Bảo Đại Giáp Tuất (1934), các hạng mục công trình khác như Tam quan – Gác chuông, Thượng điện, nhà Tổ đều đã được sửa chữa, phục hồi.

Viên Dương quán được xây dựng trông về hướng Đông (ghé Nam chút ít) ở rìa phía Đông làng Chiền, cách xa khu dân cư như tất cả các ngôi quán cổ khác (Hội Linh quán, Hanh Thông quán, Hưng Thánh quán…). Mặt bằng tổng thể kiến trúc Viên Dương quán có bố cục kiểu chữ đinh (J) tương tự như phần lớn các ngôi chùa được xây dựng hoặc tu bổ ở thời Nguyễn vì thế nó không nằm trong bố cục tổng thể chung của các quán đạo Lão khác là mặt bằng chữ công (I).

Toà Tiền đường gồm 7 gian 2 chái được xây dựng theo kiểu thức tường hồi bít đốc 2 mái chảy. Các bộ vì được làm theo lối kèo kẻ quá giang trốn hàng cột cái tiền. Sát tường hậu các gian bên được xây các bệ gạch là nơi toạ lạc của các bộ tượng Hộ Pháp, Đức Ông, Thánh Hiền và tượng Hậu.

Toà Thượng điện 5 gian được nối liền với gian giữa Tiền đường kéo dài về phía sau tạo chuôi vồ. Trong lòng Thượng điện được bài trí hương án và xây các bệ thờ bằng gạch làm nơi bài trí các pho tượng. Ở đây tượng thờ đã có sự đan xen giữa Đạo giáo với Phật giáo, song cơ bản vẫn là một Phật điện như: Bộ tượng Thập điện Diêm Vương; bộ tượng Cửu Long và Phạm Thiên – Đế Thích; bộ tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn với hai vị Bồ tát; bộ tượng Ngọc Hoàng với Tứ ngự ở xung quanh gồm hai tượng Nam Tào – Bắc Đẩu ở phía trước, Đông Nhạc Đại Đế và nữ thần Hậu Thổ Hoàng Địa Kỳ ở hai bên lùi về sau một chút; bộ tượng Tam Thanh; bộ tượng Di Đà Tam Tôn và tượng Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Toạ Sơn. Những pho tượng này có niên đại chủ yếu ở các thế kỷ XVIII – XIX, được tạo hình tỉ mỉ, tinh tế từ chất liệu gỗ mít hay đất luyện. Điều đáng quan tâm là tượng Phạm Thiên và Đế Thích không đội mũ bình thiên như trong nhiều chùa mà lại được tạc như hai vị thần trong Đạo giáo có vẻ như Văn Xương và Đế Quân. Còn bộ tượng Tam Thanh ở đây đã có nhiều đổi khác về mặt tạo hình so với tượng ở các quán Hội Linh, Lâm Dương, Hanh Thông. Tượng Thái Thanh đã được thể hiện cụ thể là sự hoá thân của Lão Tử – một nhân vật lịch sử, là giáo chủ của đạo giáo ở Trung Quốc, được thể hiện khác hẳn Ngọc Thanh và Thượng Thanh, trong hình dáng một cụ già tóc đen nhưng có râu rất dài và bạc phơ. Quán Viên Dương (chùa Viên Dương Quán) đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, thành phố tại quyết định số 1230/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2011.

  • Lâm Dương Quán Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Người ta vẫn quen gọi quán Lâm Dương ở thôn Đa Sỹ (xã Kiến Hưng, quận Hà Đông) là chùa Đa Sỹ. Quán được xây cạnh miếu thờ Hoàng Đôn Hòa và phu nhân, là ông Tổ thuốc Nam cuối thế kỷ XVI. Đầu năm Chính Hòa nguyên niên (1680), quán được gọi là chùa, cho nên hệ thống tượng thờ có cả tượng Phật và tượng Thánh. Mở đầu bàn thờ chính là bộ tượng Tam thánh gồm Nguyên Thủy tiên tôn ở giữa, Lĩnh Bảo Đạo quân bên trái và Thái Thượng Lão Quân bên phải. Cả ba pho tượng đều giống người thật, mặt hơi dài, mắt mở to tự nhiên, tóc búi, áo mặc nhiều lớp, có cánh tay thụng. Tượng thể hiện con người nhàn tảng vô lo. Bệ tượng hình vuông chia ba lớp, lớp giữa thót lại, trên mặt đứng của thành bệ được chạm nổi mây cụm, lá sồi và những lá đề chứa trong lòng cây “Thiên mệnh”, những ụ tròn nổi và những hạt lửa tỏa lan… thường gặp ở thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII. Ở hai gian bên trái và phải có hai pho tượng Quan Âm tọa sơn, đội mũ thiên quan có những hoa nổi khối, áo buông dài, chảy… được chạm kênh bong với nhiều nét điển hình gắn với phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Hai bên còn có hai tượng Lão Đam và Ngũ Nhạc, những tượng này mang hình thức võ tướng, ngồi buông thõng, đầu đội mũ, chân đi hia được thể hiện liền bệ, chạm nổi hoa văn xoắn như tượng Tam Thánh. Ngoài ra còn có nhiều tượng hậu ghi nhớ những người có công tôn tạo. Quán Lâm Dương đã có mặt ở Đa Sỹ ít nhất từ thế kỷ XVII, mỗi lần tu sửa lại lưu giữ lại một dấu ấn như các bia hậu Phật dựng năm Chính Hòa 6 (1685), năm Bảo Thái 5 (1724), cây hương đá cao 2,15m dựng năm Cảnh Hưng 1 (1740), đặc biệt có một tấm bia “Hưng Tạo Lâm Dương quán bia” dựng năm Vĩnh Tộ 10 (1628), cùng với tấm bia này còn có một án quan cũng được làm vào thời Vĩnh Tộ, do một vị án quan trong triều cung tiến. Bẵng đi một thời gian dài, đến năm Bảo Đại 10 (1935), có một tấm bia ghi lần trùng tu nữa. Cho nên quán Lâm Dương ngày nay mang đậm phong cách thời Nguyễn. Nhìn chung, quán Lâm Dương được dựng khá quy mô với đầy đủ các hạng mục công trình, lại bảo lưu được nhiều di vật quý như: hệ thống bia đá và án gian thời Lê, chuông đồng thời Tây Sơn, nhất là hệ thống tượng Phật và tượng Thánh mang dấu ấn của đạo Phật.

  • Hưng Thánh Quán

Chùa Mui nằm ở thôn An Duyên, xã Tô Hiệu (Thường Tín, Hà Nội) là một di tích có tiếng, không phải là nơi thờ Phật mà là một Đạo quán. Quán này có tên Hưng Thánh quán, là một trong số ít những di tích Đạo quán cổ còn lưu lại được ở nước ta tới nay. Phía sau Hưng Thánh quán còn một nơi nhỏ hơn, xây riêng gọi là Trấn Vũ Cung thờ thần Trấn Vũ. Cung thờ cũng được khởi dựng cùng vào thời Lý với Hưng Thánh quán.

Không xa khu vực này có đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín) thờ Huyền Thiên Đổng Thiên Vương, cũng gọi là Quán Thánh. Nếu ở đền Bộ Đầu có bức tượng Huyền Thiên bằng đất cao 7-8 m thì trong Hưng Thánh quán cũng có riêng tượng đất một vị đức thánh khá lớn, tay đang bắt quyết, xung quanh tượng là các loài thú, tôm cá. Người trong chùa Mui gọi là Đức Thánh Lương.

Kết nối dữ liệu ở cả 3 di tích trên thì thần Huyền Thiên là Trấn Vũ ở Quán Thánh. Đổng Thiên Vương có lẽ đã bị nhầm thành Đông Nhạc thần. Như đã biết, Huyền Thiên Đổng Thiên Vương chính là Lão Tử. Hưng Thánh Quán như vậy là một di tích khởi dựng thời Lý, thờ Lão Tử (Thái Thượng Lão Quân), gắn với sự tích Huyền Thiên Trấn Vũ.

Điện thờ trên cùng của Hưng Thánh quán là điện Tam bảo (Đại hùng bảo điện), nhưng không phải thờ Phật mà thờ Tam Thanh. Tam Thanh là ba vị thần tiên tối cao của Đạo Giáo gồm Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, cũng chính là Thái Thượng Lão Quân. Nguyên Thủy Thiên Tôn được đặt ngồi ở giữa. Bên phải là Linh Bảo Thiên Tôn tay cầm gậy như ý. Bên trái là Đạo Đức Thiên Tôn cầm quạt.

Trước ban Tam bảo là bệ hoa sen. Bệ này còn lưu lại những trang trí gạch gốm của thời Mạc, hình rồng, hoa sen và chim thần khá đẹp.

2.2.2 Di tích tín ngưỡng Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

2.2.2.1 Đình

Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền. Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của làng xã. Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội….Hà Tây tự hào có ba trong số những ngôi đình cổ nhất và có giá trị điêu khắc nhất Việt Nam đó là đình Thụy Phiêu và đình Tây Đằng và đình Chu Quyến.

  • Đình Thụy Phiêu

Đình Thụy Phiêu tọa lạc tại làng Thụy Phiêu, xã Thụy An, huyện Ba Vì. Làng Thụy Phiêu, còn có tên gọi khác là làng Nhang Phiêu, là một làng cổ nằm cách huyện lỵ Ba Vì chừng 5km về phía Nam. Thời Lê, làng này là một làng lớn nhất xã nên tên làng còn được dùng để đặt tên cho tổng Thụy Phiêu thuộc huyện Phúc Lộc.

Đình được dựng trên một gò đất cao hơn 20m ở đầu làng Thuỵ Phiêu, quay hướng Đông – Đông Bắc, tựa lưng vào núi Ba Vì, trông ra đầm Đượng. Trong đình Thuỵ Phiêu, trên phần đầu cây cột cái tiền bên trái gian giữa có khắc dòng chữ Hán “Thôn Đông, giáp Nam. Đại Chính nhị niên . Tân Mão, thập nhị nguyệt, sơ thất nhật, tu lý” (giáp Nam, thôn Đông sửa ngày 07 tháng 12 năm Tân Mão niên hiệu Đại Chính năm thứ hai). Đại Chính là niên hiệu của vua Mạc Đăng Doanh và năm Tân Mão dưới triều này là năm 1531. Niên đại 1531 của đình làng Thuỵ Phiêu khẳng định đây là ngôi đình cổ nhất nước ta.

Như nhiều công trình kiến trúc dân gian truyền thống khác, đình Thuỵ Phiêu có kết cấu khung gỗ chịu lực chính, ba phía (sau và hai bên) có xây tường gạch nhưng chủ yếu mang tính chất bảo vệ cổ vật và không gian thờ tự. Hầu hết cột và các cấu kiện khác đều được làm bằng gỗ mít. Một số cột được thay bằng gỗ lim ở các lần tu bổ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có cột cái trước bên phải gian giữa được thay năm Quý Hợi (1923), cột cái sau bên phải gian giữa làm năm Cảnh Thịnh 8 (1800), cột quân trước gian bên phải làm năm Canh Thân (1860). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Phía sau của gian giữa có một sàn lửng được tạo cách mặt nền khoảng 1,5m tạo mặt bằng sàn thờ có diện tích 12m², mở cửa phía trước tạo thành cung thờ Thành hoàng làng.Trên kiến trúc gỗ đình Thuỵ Phiêu không được trang trí cầu kỳ và dày đặc như đình Tây Đằng nhưng qua các mảng điêu khắc trên vì nóc, bộ khung của sàn gác lửng đã góp phần khá quan trọng cho việc nghiên cứu về mỹ thuật của người Việt truyền thống qua các thời kỳ.

Trong đình Thụy Phiêu trang trí biểu tượng vân xoắn lớn được thể hiện nhiều hơn cả trên các thành phần điêu khắc. Theo các nhà nghiên cứu nghệ thuật dân tộc, vân xoắn lớn là biểu tượng của nguồn sáng, của chớp trong tư duy của cư dân nông nghiệp lúa nước. Vân xoắn trên các con rường ở đình Thuỵ Phiêu được thể hiện bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm chìm khá tròn trịa và trau chuốt. Đặc biệt trên một ván lá đề ở vì nóc gian bên phải có chạm hai vân xoắn lớn cuộn ngược chiều đối xứng với nhau và được buộc bởi một chuỗi hạt nổi có gắn lá đề nhỏ. Đề tài rồng cũng được chạm ở nhiều vị trí khác nhau, đáng chú ý hơn cả là các mảng chạm “tiên cưỡi rồng” trên ván lá đề ở các vì nóc.

Nằm trong vùng văn hoá cổ, cũng như hàng loạt các di tích ven chân núi Ba Vì, đình Thuỵ Phiêu thờ Đức Tản Viên làm Thành hoàng làng. Trong đời sống tinh thần của người Việt, thần Tản Viên có vị trí quan trọng đặc biệt. Tổ tiên ta đã coi thần là người mở đầu cho quá trình đấu tranh bền bỉ để chinh phục tự nhiên. Thần là biểu tượng cho truyền thống lao động sáng tạo của tổ tiên ta từ buổi đầu dựng nước. Trong cung thánh đình Thụy Phiêu vẫn còn lưu giữ được ba cỗ long ngai trên đặt ba bài vị, trong lòng bài vị có ghi “Tản Viên Sơn Quốc Chủ Tam Vị Đại Vương” và các bản ngọc phả (thời Nguyễn) ghi chép về sự tích của các vị thành hoàng làng. Bài vị và hai cỗ ngai là tác phẩm điêu khắc nghệ thuật thế kỷ XVII, còn một cỗ long ngai khác là sản phẩm của điêu khắc cuối thế kỷ XVIII. Hai bên có hai tượng phỗng chầu bằng gỗ trong tư thế quỳ, hai tay chắp trước ngực, cởi trần, đóng khố, tóc búi trái đào mang đậm chất dân gian. Hai đầu cột sàn gác lửng đặt đôi nghề thờ bằng gỗ chạm tư thế ngồi chống hai chân trước chầu vào. Miệng nghê há rộng, ngậm viên ngọc, các đường nét làm cách điệu, nổi khối sinh động. Đôi nghê là tác phẩm điêu khắc gỗ thế kỷ XVII.

Đình Thụy Phiêu đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại quyết định số 52/2001/QĐ-BVHTT ngày 28 tháng 12 năm 2001.

  • Đình Tây Đằng

Đình Tây Đằng thuộc thôn Đông, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013.

Đây là một trong những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, độc đáo vào loại bậc nhất ở xứ Đoài. Đình thờ ba vị Thành hoàng: Tản Viên, Cao Sơn và Quí Minh, những vị anh hùng văn hoá, biểu trưng cho sức mạnh của dân tộc trong việc chế ngự thiên tai, lũ lụt và chống giặc ngoại xâm… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Căn cứ vào dấu vết kiến trúc và nghệ thuật trang trí hiện còn, có thể khẳng định, đình Tây Đằng có niên đại khởi dựng vào thời Mạc, thế kỷ XVI. Và, kết quả kiểm tra bằng phương pháp C14 cũng đã ủng hộ nhận định này. Đến nay, đình đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, và lần gần đây nhất là vào năm 2002 – 2004.

Kiến trúc của đình gồm: cổng đình, hồ bán nguyệt, nghi môn, tả- hữu mạc, đại đình, giếng đình và một số hạng mục phụ trợ khác. Điểm đặc biệt trong kiến trúc đình Tây Đằng và các ngôi đình cùng niên đại thời Mạc (thế kỷ XVI), như Đình Thanh Lũng (Ba Vì), là còn có thêm bộ phận cánh gà đỡ dưới dạ các xà dọc (tai cột). Cấu kiện này bao gồm hai thân gỗ, có đặc điểm dài ở trên, ngắn ở dưới. Một số cánh gà còn có hai đấu vuông thót đáy kê ở giữa, với thân ván dày, bên dưới còn được chạm khắc tỉ mỉ các đề tài rồng, cá chép hóa rồng. Đình Tây Đằng hiện còn bảo tồn được tương đối nguyên vẹn hệ thống cánh gà có niên đại sớm nhất và hiếm thấy trong di tích cổ truyền ở nước ta.

Về kết cấu mặt bằng, kiến trúc đình Tây Đằng thuộc phong cách nghệ thuật thế kỷ XVI. Theo mặt cắt dọc các bộ vì được các xà dọc liên kết lại thành một khung chịu lực. Liên kết của đấu bao gồm: Đứng lực trên xà là một đấu vuông thót đáy lớn, hai bên đều có tay đỡ ngang uốn đầu lên đỡ những đấu vuông thót đáy nhỏ hơn. Trên lưng tay đòn của đấu được thể hiện hình tượng của các thiên thần, như: nhạc sĩ thiên thần, vũ nữ thiên thần, thổi sáo, tiêu, gảy đàn đáy, đàn nguyệt. Các hình tượng trang trí này đã trở thành chủ thể độc đáo ở di tích đình Tây Đằng. Tại gian giữa tòa Đại đình phía trước bài trí sập thờ, hương án, án gian và các đồ thờ tự. Gian trái bên phải đình đặt ban thờ quan bộ hộ. Hậu cung là nơi thờ Thành hoàng làng, lưu giữ các vật thiêng liêng và đồ thờ cúng. Bên trong cửa hậu cung là nơi trang trọng, thâm nghiêm được đặt 3 ngai thờ vị Thành hoàng.

Nghệ thuật điêu khắc, trang trí kiến trúc đình Tây Đằng được thể hiện trên toàn bộ kết cấu gỗ của ngôi đình, hầu như không có mảng trống nào trên gỗ là không có chạm khắc trang trí. Với kỹ thuật chạm lộng, chạm bong kênh, chạm nối, chạm thùng đạt đến đỉnh cao của một hình thức thao diễn, tạo nên những tác phẩm điêu khắc tuyệt tác, dù những tác phẩm này đứng riêng biệt hay hòa nhập trong một tổng thể kiến trúc. Các đề tài được tập trung vào ít nhất ba loại hình cơ bản sau: linh vật, hình tượng con người, biểu tượng tự nhiên và cây cỏ được “vũ trụ” hóa. Các linh vật thì phổ biến nhất là rồng, lân, hươu, phượng, voi, ngựa… như miêu tả sinh hoạt của con người, đó là đốn củi, đuổi hổ, bắt rắn, làm xiếc, xen lẫn hoa cúc, lan đằng… Trong tạo hình rồng ở đình Tây Đằng là sự kế thừa gần gũi của con rồng thời Lê sơ. Rồng của đình Tây Đằng nhìn chung đa số đầu dày, môi dày, râu và long mi răng cưa, tai và sừng vểnh lên. Ngoài đề tài rồng, tại đình Tây Đằng còn chạm khắc đề tài lân.

Đình Tây Đằng không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa của nhân dân địa phương, nơi hội tụ cộng đồng làng xã, mà còn là một “bảo tàng văn hoá, nghệ thuật dân gian” sống động, là nguồn tư liệu sáng giá để nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử, văn hoá của cộng đồng và dân tộc.

  • Đình Chu Quyến Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Đình Chu Quyến, thuộc xã Chu Minh, huyện Ba Vì – một ngôi đình cổ được xây dựng từ thế kỷ 17 chính là một ngôi đình tiêu biểu, góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa cho vùng đất thiêng Ba Vì.

Đình Chu Quyến thờ thành hoàng làng là Nhã Lang Vương – con của Hậu Lý Nam Đế Phật tử. Đình thường được người dân ở đây gọi là đình Chàng vì xưa đình vốn thuộc làng Chu Chàng, xã Châu Chàng, tổng Châu Chàng, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây.

Với những giá trị độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc và lịch sử văn hóa, từ năm 1962, đình đã được Bộ Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch) xếp hạng là một trong những di tích văn hóa lịch sử đặc biệt quan trọng của Quốc gia.

Như hầu hết các ngôi đình cổ xứ Đoài, đình Chu Quyến có bộ mái đình xòe rộng ra bốn phía, chiếm tới hơn 3/4 toàn thể ngôi đình nhưng lại lan rộng xuống thấp nên càng làm tăng thêm vẻ vững chãi, bề thế của ngôi đình. Bù lại, các đầu đao của mái đều được uốn cong làm cho ngôi đình trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát và duyên dáng gấp bội phần.

Đình Chu Quyến là một ngôi đình cổ hiếm hoi có nhiều tác phẩm trang trí đặc sắc được thể hiện cả trên đất nung và trên gỗ. Ông Bạch Công Tiến – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Ba Vì cho biết, rất nhiều đoàn chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa đã đến tham quan, tìm hiểu về giá trị của ngôi đình cổ này và đều khẳng định: Những con giống làm bằng đất nung được trang trí trên hai đầu nóc, đầu đao của đình là rất tuyệt vời. Hình ảnh mây lửa mềm mại, hình tượng con lân, đầu rồng mắt to, trợn tròn, miệng há rộng hướng về các đao lửa trên bờ guột của đình thể hiện tài năng sáng tạo cao độ của người Việt xưa.

Giá trị văn hóa lịch sử của đình Chu Quyến còn được thể hiện ở những thần tích và một số di vật cổ, đặc biệt là những đạo sắc phong của các triều Lê Trung Hưng, Tây Sơn và triều Nguyễn phong thần cho Nhã Lang Vương còn được lưu giữ đến tận ngày nay.

Đình Chu Quyến đã góp phần tạo thành một giá trị phong cách kiến trúc nổi bật ở một xứ nằm phía Tây Thăng Long, xứng với câu thành ngữ tục ngữ: “Cầu Nam – chùa Bắc – đình Đoài”.

2.2.2.2 Đền

Đền thờ ở phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) thường có kiến trúc nội công ngoại quốc, được xây dựng ngay trên đất của các vị thánh, thành hoàng lúc còn sinh sống. Các công trình kiến trúc trong khu đền đối xứng theo trục chính đạo và là nơi thờ Thánh hoặc thờ Thành hoàng làng. Đáng kể nhất ở đây cần nói tới đó là Đền Và và quần thể đền thờ Tản Viên sơn thánh (đền Hạ – đền Trung – đền Thượng).

  • Đền Và

Đền Và thuộc huyện Ba Vì, nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh (Tam vị thánh Tản: Tản Viên sơn thần, Cao Sơn, Quý Minh), vị thánh đứng đầu trong Tứ Bất Tử của người Việt. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Tọa lạc trên một quả đồi rộng và thấp, thâm u bóng lim cổ thụ, bao quanh là những bức tường xây bằng đá ong, đền Và có tổng diện tích khoảng trên dưới 2.000m2 , nằm trong khuân viên có tổng diện tích 8000m2. Theo thuyết phong thuỷ, đồi có thế đất hình con rùa (một trong tứ linh biểu tượng cho sự bền vững) quay mặt về hướng Đông. Nằm giữa cánh đồng Khói Nhang , đền được xây dựng ngay trên lưng rùa, đầu rùa nhìn ra đầm Vân Mộng. Khu vực bên ngoài là dinh thờ Ngũ hổ, động Sơn Trang thờ Mẫu Thượng Ngàn và giếng Cô Tiên. Tam quan của đền nằm giữa hàng đại già có đến vài trăm năm tuổi, hướng về phía núi Tản Viên. Qua Tam quan, vào khu vực Ngoại cung là một khoảng sân gạch rộng, bên trái có gác chiêng, bên phải có gác trống, được kiến trúc theo kiểu chồng diêm tám mái. Kế đến là nhà tiền tế (được gọi là đền Hạ) với hai dãy tả, hữu vu, thuộc khu vực Nội cung. Theo nội dung tấm bia Vân Già trước nhà tiền tế, năm Tự Đức thứ 36- năm tổ chức đợt trùng tu đền lớn nhất với tiền cung tiến của dân sở tại, các quan chức hàng huyện, hàng tỉnh, các nhà buôn và khách thập phương thì đền Và đã có từ thời nước ta còn bị nhà Đường đô hộ (giai đoạn lịch sử 679- 866. Thông với nhà tiền tế (đền Hạ) là gian ngoài của hậu cung (đền Trung). Tại đây, có hai pho tượng: Một văn, một võ (văn võ lưỡng ban) trong tư thế ngồi, quay mặt vào nhau và bốn pho tượng Tứ trấn kích cỡ tương đương người thật, mỗi bên hai vị, đứng đối diện nhau, mặc áo bào đỏ, tay cầm vũ khí trấn ở bốn cung của Tam vị đức thánh Tản. Qua đền Trung đến gian trong của hậu cung (đền Thượng). Ngay ở vị trí trang trọng của thượng cung là bức đại tự với dòng chữ: “Thượng đẳng tối linh” có niên đại cùng với niên đại của tấm bia dựng ở đầu hồi nhà tiền tế, đồng thời cũng là năm đền được trùng tu với quy mô lớn nhất là năm Tự Đức – Quý Mùi (1883). Phía trong cùng của hậu cung- theo thứ tự từ trong ra- là một chiếc khám lớn sơn son thếp vàng, cao trên ba mét, trong đặt bài vị đức Quốc mẫu là bà Đinh Thị Điên (tục gọi là bà Đen), mẹ của đức thánh Tản. Phía trước bài vị đức Quốc mẫu là bài vị Tam vị đức thánh Tản: Ở bên tả và ở vị trí cao nhất là Tản Viên, kế đến Cao Sơn (còn gọi là Sùng Công) và cuối cùng là Quý Minh (Hiển Công). Trước khám thờ là hương án, trên có ba cỗ long ngai của Tam vị đức thánh Tản.

Hiện ở đền Và còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Sắc phong của các triều đại, các đồ tế tự (trong đó có hai cây đèn đá thời Lê) và đặc biệt là những tấm ván gỗ khắc văn thơ của các danh sĩ như: Nguyễn Khản, Nguyễn Thiện Kế, Trần Lê Nhân… khiến cho không gian linh thiêng và không gian văn hóa ở đây hòa quyện vào nhau, mang đậm bản sắc văn hóa xứ Đoài.

Đền Và đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 1964. Với những giá trị cảnh quan và cũng  là di tích lớn nhất trong số 200 di tích lịch sử – văn hóa thờ Tản Viên sơn Thánh xứ Đoài;  có vị trí địa lý gần gũi với làng cổ Đường Lâm, thành cổ Sơn Tây đền Và đã trở thành  điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước khi về thăm đất Sơn Tây – trung tâm xứ  Đoài xưa kia và một nét văn hóa đặc sắc của Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến ngày nay.

  • Quần thể đền thờ Tản Viên sơn thánh (đền Hạ – đền Trung – đền Thượng)

Đền Hạ: Nằm dưới chân núi Tản, ven bờ sông Đà dữ dội, thường được người dân bản địa gọi là Tây cung hay đền Năm Dân. Đền Hạ được xây dựng từ đầu thế kỷ XVIII, gắn với huyền thoại Tam vị Sơn thánh đi đốn củi và nghỉ lại qua đây, nhân dân dựng đền để tưởng nhớ. Kiến trúc của Đền Hạ gồm điện thờ chính (Tiền Bái, Hậu Cung), Tam quan, nhà thờ Mẫu, Lầu cô, Lầu cậu, nhà sắp lễ. Hiện nay tại đền còn lưu giữ một tấm bia “Tản Viên từ ký” dựng năm Tự Đức thứ nhất 1848 ghi chép về đền thờ Đức Thánh Tản. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Đền Trung: theo một số tư liệu, Đền Trung được xây dựng từ triều Lý. Đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng cho Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai trùng tu lại. Đền có kết cấu kiến trúc hình chữ Tam phỏng theo quẻ Càn trong kinh dịch, biểu tượng cho sự bền vững gồm Tiền tế, Đại bái, Hậu cung. Đền có quy mô lớn, hoành tráng, gồm nhiều hạng mục kiến trúc như miếu thờ Đức Ông, nhà Mẫu, nhà thờ Phật … tất cả đã tạo thành một quần thể di tích liên quan đến sự tích Đức Thánh Tản Viên Sơn Tinh và là ngôi đền có một vị thế đẹp nhất trong các ngôi đền thờ Tản Viên ở Ba Vì.

Đền Thượng: Tạo lạc trên đỉnh núi Tản, ở độ cao 1.227m so với mực nước điểm; đền Thượng không chỉ là nơi lý tưởng cho sức khỏe của con người mà còn là địa điểm có tầm nhìn rộng, có thể quan sát được toàn bộ khu vực núi Ba Vì, sông Đà, đời sống của người dân tộc thiểu số và khu bảo tồn nguyên sinh. Sự độc đáo của ngôi đền chính là được xây dựng dựa vào núi, một phần nằm trong núi tạo nên cảm giác vững chãi và kỳ bí.

Năm 2011, Đền Thượng – đền Hạ – đền Trung chính thức được trùng tu dựa trên cơ sở kiến trúc, vật liệu và vị trí cũ. Theo ông Hà Xuân Hưng, Chủ tịch UBND huyện Ba Vì, cho biết: “Trong tổng số 340 di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn huyện Ba Vì  có tới 75 di tích thờ đức thánh Tản. Trung bình, mỗi năm, hệ thống di tích thờ Tản Viên đón trên 10 vạn lượt khách đến tham quan, chiêm bái. Trong tương lai, khi các hạng mục trùng tu, xây dựng và mở rộng được hoàn thiện đưa vào khai thác; chắc chắn lượng khách du lịch biết đến và tiến hành du lịch ở quần thể này sẽ tăng cao. Cơ sở hạ tầng tại điểm di tích cũng được quy hoạch từ trước dẫn đến việc nâng cao năng lực sẵn sàng đón tiếp khách và không gây nên tình trạng quá tải trong mùa vụ chính.

2.3 Các sản phẩm du lịch tâm linh tiêu biểu của khu vực Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Du lịch tâm linh là điểm nổi trội của hoạt động du lịch ở Hà Tây cũ bởi sự phong phú và đa dạng của các nguồn tài nguyên tâm linh vật thể và phi vật thể đã, đang khai thác và những nguồn tài nguyên tiềm năng chưa được khai thác…Dựa trên nguồn tài nguyên đó, ngành du lịch Hà Tây cũ và hiện nay là Hà Nội đã xây dựng một số sản phẩm du lịch tâm linh tiêu biểu như sau:

2.3.1 Du lịch tham quan các di tích tâm linh

Điểm đến của sản phẩm này là hệ thống các điểm cá thể, quần thể các di tích tín ngưỡng, tôn giáo trên địa phận tỉnh Hà Tây cũ. Đây là những bằng chứng sống ghi lại những tinh hoa văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc của các thời đại phong kiến trên xứ Đoài cổ kính.

Loại hình này thể hiện qua các hoạt động chiêm nghiệm, tham quan, nghiên cứu…Tại các chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, thánh địa, du khách trực tiếp chiêm ngưỡng, tìm hiểu kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật… Qua đó du khách có thêm những kiến thức về các giá trị về kiến trúc, điêu khắc của cha ông, biết thêm về hệ thống thờ tự, giáo lý, lễ nghi của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo…và hơn nhất đối với họ là ý niệm linh thiêng về các đối tượng tâm linh được phần nào thỏa mãn vì ngoài hoạt động quan sát, chiêm ngưỡng họ còn kết hợp với việc ngưỡng vọng, cầu khấn các biểu tượng thiêng liêng tại di tích.

Sản phẩm này không phụ thuộc vào thời vụ mà có thể tổ chức quanh năm.

Du khách có tham gia vào chuyến đi vào bất cứ thời điểm nào họ mong muốn. Tuy vậy, các điểm đến này cần đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhất định về phạm vi không gian, bố trí cảnh quan, danh tiếng, vị trí các vị Phật – Thần – Thánh được thờ trong tâm thức người bản địa, những yếu tố lịch sử và số lượng – chất lượng các tác phẩm nghệ thuật…để có thể phát triển. Đặc biệt nó cần phải có khả năng thu hút được du khách ở mức độ nhất định để mang lại lợi ích kinh tế cho người dân bản địa, chính quyền địa phương và cho các ngành dịch vụ.

2.3.2 Du lịch tham gia vào các nghi lễ tâm linh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Một trong những sản phẩm khác của hoạt động du lịch tâm linh đó chính là du lịch tham gia vào các nghi lễ tâm linh. Đó là các hoạt động trong nghi lễ khai lễ, các hoạt động sau khi khai lễ và các hoạt động bên lề khác.

Mỗi hình thức tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng thường có những nghi lễ riêng của mình. Các nghi lễ thường gắn với đối tượng phụng thờ và được tổ chức tại các di tích hoặc thánh đường. Tham gia trực tiếp các nghi lễ này thường là các tín đồ của các tôn giáo. Việc du khách được tham gia vào các nghi lễ tâm linh này được xem là những nghi thức thiêng liêng giúp họ thỏa mãn trí tò mò cũng như hiểu hơn về các sinh hoạt tôn giáo – tín ngưỡng.

Các di tích Phật giáo thường là nơi thờ Phật, các lễ thường là cầu an, cầu siêu, dâng hương, dâng hoa, thả đèn hoa đăng, thắp hương ngày rằm phóng sinh, lễ Phật Đản, lễ tắm Phật … Các nghi lễ này được tổ chức theo một nghi thức rất thiêng liêng với quy mô lớn nhỏ tùy theo khả năng tổ chức và điều kiện của các nhà chùa. Người đứng đầu các nghi lễ này là các nhà sư và có sự hỗ trợ của các bà vãi ở bản địa.

Ở các nhà thờ thì việc tổ chức các nghi lễ lại thường xuyên hơn so với chùa. Thông thường một số nhà thờ  hàng ngày có thể có một đến hai lễ  vào buổi chiều và buổi tối. Vào chủ nhật, có những nhà thờ tổ chức tới 6 Thánh lễ. Đối với người công giáo, Thánh lễ rất quan trọng họ đến đây để cầu nguyện, rửa tội, nhận lộc Thánh…Các hoạt động thể hiện sự phụng thờ và khẳng định niềm tin của họ về vị Thánh của họ.

Tại các đền, phủ, quán…thường là các nghi lễ tế lễ mừng ngày sinh của các vị Thánh, các nghi lễ tín ngưỡng hát văn hầu đồng nhằm ngợi ca công lao, đóng góp của những vị Thần tại nơi đó thờ phụng…Tới đây, du khách sẽ được trực tiếp cảm nhận và hòa mình trong những nghi thức tâm linh trang trọng  nhưng không kém phần náo nhiệt và sống động này.

Loại hình tham gia vào các nghi lễ tâm linh này có đặc trưng cố định về thời gian do các nghi lễ tôn giáo- tín ngưỡng đều được tổ chức theo lịch trình cụ thể mà mỗi tín ngưỡng tôn giáo đã đặt ra. Do đó, sản phẩm này có tính mùa vụ và khách tham quan chỉ có thể tham gia tại những thời điểm đã được ấn định từ trước do chính quyền, những người đứng đầu cai quản các di tích và người dân bản địa nơi đó quyết định. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

2.3.3 Du lịch lễ hội

Đây là một trong những sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh phi vật thể tiêu biểu ở khu vực phía Tây Hà Nội. Các di tích tín ngưỡng – tôn giáo là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống – là nơi lưu truyền, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Nhiều lễ hội lớn và sự nở rộ của hội làng là một nét đặc trưng văn hóa truyền thống của khu vực này. Theo những số lượng thống kê chưa đầy đủ thì toàn bộ khu vực Hà Tây cũ có tới 2388 di tích trong đó có tới 12 di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp loại đặc biệt quan trọng…và tính trung bình cứ 1km2 thì có một di tích. Có người nói khu vực này là “vương quốc” của di tích. Vậy nên hàng năm tại các di tích này có đến hơn 700 lễ hội, từ hội làng, hội vùng đến những lễ hội có quy mô cả nước như lễ hội chùa Hương. Hội vùng lễ hội chùa Thầy với những nghi thức thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh,  hội chùa Tây Phương, hội đền Và thờ đức Thánh Tản, hội chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian thờ đức Thánh Nguyễn Bình An…

Ở chùa Hương hàng năm cứ vào ngày khai hội, người dân thôn Yến Vĩ đều tổ chức múa rồng ở sân đền Trình và bơi thuyền múa rồng trên suối Yến rất sôi động, hào hứng tạo không khí lễ hội tưng bừng náo nhiệt cuốn hút du khách. Đến đây nếu du khách nán lại đến đêm ngày Lễ Khánh đản Bà Chúa Ba sẽ được xem diễn chèo tái diễn lại sự tích Bà Chúa Ba tại sân chùa Thiên Trù. Ngoài ra còn các trò chơi dân gian như: kéo co, chọi gà, đua thuyền, bắt vịt…thu hút đông đảo người tham gia đặc biệt là thế hệ trẻ. Trong những năm gần đây mỗi năm ban tổ chức lễ hội chùa Hương đều chọn một chủ đề cho lễ hội và căn cứ vào đó để xây dựng chương trình phù hợp. Như năm 2013 chủ đề được chọn là “Lễ hội chùa Hương: nét đẹp truyền thống Việt” theo đó tại sân chùa Thiên Trù có tổ chức thêm múa lân, múa công, múa rùa do hội người cao tuổi xã Hương Sơn thể hiện…

Lễ hội truyền thống chùa Thầy được tổ chức tại chùa Thầy từ ngày mùng 5 đến 8 tháng 3 âm lịch (chính hội ngày 7-3) hằng năm, gồm những nghi lễ độc đáo, như: Tắm tượng (mộc dục), lễ nghinh bài vị Đức thánh Từ Đạo Hạnh từ chùa Thượng xuống chùa Trung, lễ cúng yên vị, lễ tế, lễ rước…Trong những ngày lễ hội, người dân địa phương và du khách còn được xem biểu diễn múa rối nước và nhiều trò chơi dân gian độc đáo, sôi động.

Hội chùa Tây Phương bắt đầu từ mồng 6 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch. Ca dao xưa còn ghi lại cảnh nô nức đến chùa như sau:

Nhớ ngày mồng sáu tháng ba, Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây.

Các bà, các chị thường đi hội chùa dài ngày hơn nam giới. Vào dịp hội thường đọc kinh kệ hoặc diễn các tích theo Phật thoại tại sân chùa. Những năm sau này người ta còn rước các lễ vật tới chùa cúng Phật. Dưới chân núi có hàng quán bán đặc sản địa phương, đồ lưu niệm chùa cho khách hành hương. Đây vốn là một vùng đất trù phú của xứ Đoài xưa. Dân Thạch Xá còn có truyền thống làm con rối và có phương múa rối nước khá nổi tiếng từ lâu đời. Vào dịp hội phường rối hay tổ chức biểu diễn để phục vụ khách dự hội. Những năm gần đây, sinh hoạt hội hè ngày càng được chú ý mở rộng. Không chỉ riêng Thạch Xá mà các làng xung quanh khu vực chùa Tây Phương cũng quan tâm tới việc tổ chức hội chùa. Do vậy hội chùa ngày càng đông vui, nhộn nhịp. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Lễ hội Đền Và diễn ra xuân thu nhị kỳ: mùa xuân mở vào tháng Giêng, mùa thu mở vào tháng Chín. Hàng năm lễ hội đền Và mở vào ngày rằm tháng giêng. Cứ 3 năm thì tổ chức lễ hội lớn một lần vào các năm Tý – Mão – Ngọ – Dậu. Lễ hội diễn ra trong một không gian rộng, được tổ chức chặt chẽ. Lễ hội bắt đầu mở từ ngày 13 tháng giêng. Dân thôn Vân Gia lên đền dọn dẹp, trang trí cờ hội. Buổi chiều dân các thôn rước cỗ kiệu của làng mình về đặt ở sân trước nhà tiền tế tại đền Và. Các cỗ kiệu xuống thuyền qua sông. Cư dân vạn chài ở trên sông tấp nập kéo tới, ghép thuyền lại thành một cầu phao lớn cùng đưa đoàn rước sang sông và họ nhập vào đoàn rước trở thành những người đi hội. Quan niệm của dân vào ngày này vạn chài nào trên sông làm nhiều điều phúc thì Thánh Tản sẽ cho nhiều lộc lớn trong năm. Sang ngày 15 tháng giêng, ngày chính hội là những cuộc vui chơi, tiếp đón khách thập phương đến đền Và dâng hương, hoa trái và viếng Đức Thánh Tản. Ngày 15 ở sân trước nhà tiền tế có đấu vật. Các đô vật xứ Đoài đến vật chầu bóng Thánh, sau đó diễn trò vui vật giật giải, một thú vui đua sức, đua tài vốn rất được dân xứ Đoài hâm mộ. Lễ hội thu (rằm tháng 9 âm lịch) Lễ hội mở vào ngày 14 tháng 9 (âm lịch), dân làng các thôn trong vùng cùng đánh bắt cá tập thể trên đoạn sông này. Mọi người mang những công cụ đánh bắt cá như nơm, vó, xúc… Ai bắt được loại cá trắng, to thì nộp cho làng, cá nhỏ mang về nhà. Cuộc đánh bắt cá đến khi nào chọn ra đủ 99 con thì mang số cá đó về làm tiệc cá, thờ Đức Thánh Tản ở đền Và. Lễ hội này dân gian gọi là lễ hội “đả ngư ”. Trò đánh bắt cá tập thể của 5 làng trên đoạn sông Tích có ý nghĩa lấy vui, lấy may. Ai được con cá to tâm niệm năm ấy Đức Thánh Tản phù trợ cho làm ăn gặp nhiều may mắn. Trong số 99 con cá ấy, được rửa sạch chế biến thành nhiều món dâng lên đức Thánh Tản. Tất cả dân chúng thành kính trước uy linh của Ngài. Cuối buổi, mọi người ngồi thụ lộc các món đặc sản từ cá trong không khí sảng khoái. Có một chi tiết của lệ tục xưa ở đền Và qui định cơm ăn, cỗ cúng ở đây không được dùng muối, mà phải ăn nhạt. Khi ăn cơm xong, quan viên uống nước ăn trầu (lá trầu, cau, vỏ) nhưng không được dùng vôi. Vì thế, dân gian có câu: “Hội đền Và trầu không vôi, xôi không muối”

Nhiều lễ hội khác diễn lại các “hèm” liên quan đến tín ngưỡng cổ (Hèm là trò diễn lại sự tích của vị thần thờ trong làng, được coi là một nghi thức trước khi vào đám). Hội làng Vân Sa (xã Tản Hồng, Ba Vì) có trò chiềng tứ dân lạc nghiệp tổ chức rước kéncướp kén; hội làng Miêng Hạ (xã Hoa Sơn, Ứng Hòa) diễn trò ội ại tắt đèn giằng bông; hội làng Sơn Đồng  (xã Sơn Đồng,

Hoài Đức) diễn trò cướp bông, thi bánh dày, bánh cuốn; hội Giã La làng La Cả (Dương Nội, Hà Đông) có tục tắt đèn giã đám…phản ánh tín ngưỡng tồn thực của người Việt cổ. Hội làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức) có trò nghiềm quân ánh xạ tín ngưỡng thờ mặt trời. Hội làng Hạ Thái kỷ niệm nữ thần tự nguyện hiến mình cho hổ liên quan đến tục hiến sinh thời cổ. Hội làng Đục Khê (Yến Vĩ, Hương Sơn, Mỹ Đức) có tục ném đá cầu mùa; hội làng Bình Đà (xã Bình Đà, Thanh Oai) rước bánh vía…thể hiện tín ngưỡng cầu nước, cầu mùa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Tại các lễ hội người dân bản địa còn thể hiện các loại hình ca dao dân ca mang đặc trưng của vùng miền như hát Dô gắn liền với hội Dô ở Liệp Tuyết, Quốc Oai; hát Chèo tầu và hội Chèo tầu ở xã Tân Hội, Đan Phượng; hò cửa đình và lễ hội tháng 8 gắn với tục thi bơi chải ở Phú Nhiêu, Phú Xuyên, múa rối nước ở hội chùa Thầy…Tất cả đã tạo ra một sức hút mãnh liệt tới du khách đi được đến và tham gia vào loại hình sản phẩm du lịch tâm linh lễ hội này.

2.4 Các dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

2.4.1 Dịch vụ vui chơi, giải trí, quà lưu niệm

Mặc dù được sát nhập vào Hà Nội từ tháng 8/2008 và cách trung tâm thành phố không quá xa nhưng hiện nay các dịch vụ vui chơi, giải trí tại các điểm du lịch tâm linh ở khu vực phía Tây Hà Nội còn đơn giản và ít phát triển. Ngoài 1 địa điểm vui chơi giải trí lớn là Thiên đường Bảo Sơn ở Hoài Đức thì các hoạt động vui chơi giải trí khác trong vùng mới chỉ dừng lại ở các hoạt động karaoke, massage, bơi lội…ngoài ra không có hoạt động nào mới lạ đặc biệt dễ gây tâm lý nhàm chán cho du khách vì họ đi đến bất cứ nơi đâu cũng có thể được tham gia các hoạt động dịch vụ ấy. Bên sạnh đó thì chất lượng của các điểm vui chơi giải trí và thái độ phục vụ du khách còn kém, sẵn sàng chặt chém du khách nếu có cơ hội, gây phản cảm bất bình cho du khách. Điều này dẫn đến việc chi trả cho các dịch vụ của du khách sẽ giảm thiểu làm ảnh hưởng đến doanh thu của du lịch. Tuy nhiên hiện tại thành phố Hà Nội cũng đang cho triển khai đầu tư xây dựng thêm các điểm vui chơi giải trí khác gắn với các khu du lịch, điểm du lịch tâm linh như: khu du lịch Tuần Châu – Sài Sơn (Quốc Oai), làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô (Sơn Tây)… Du khách khi đến với mỗi vùng đất, điểm đến mới thường có tâm lý chung là muốn mua đồ lưu niệm về tặng người thân hoặc đơn giản là để lưu giữ lại những kỷ niệm cho riêng mình. Về cơ bản, dịch vụ đồ lưu niệm tại các điểm du lịch tâm linh của khu vực khá phát triển. Các mặt hàng đa phần là những sản phẩm liên quan đến tôn giáo – tín ngưỡng như: vòng, dây chuyền, tranh, ảnh các vị Thần – Phật – Thánh …Ngoài ra ở một số điểm du lịch tâm linh ở khu vực này người dân bản địa phát triển thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống của mình như mây tre đan, nón, sơn mài, mỹ nghệ…Tuy nhiên nếu xem xét kỹ các mặt hàng này thì ta nhận thấy hầu như không có sản phẩm nào mang tính đặc trưng cho các điểm đến cả. Hơn nữa, giá trị của các mặt hàng này không cao và một số mặt hàng lại còn không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và đại đa số là các mặt hàng Trung Quốc hoặc không có nhãn mác. Đây chính là mặt hạn chế và là lỗ hổng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ đồ lưu niệm của khu vực phia Tây Hà Nội nói riêng và phần lớn các điểm du lịch tâm linh của các khu vực khác trên địa bàn Hà Nội và cả của Việt Nam.

2.4.2 Cơ sở vật chất của hệ thống giao thông vận chuyển du khách Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Mạng lưới giao thông ở khu vực phía Tây Hà Nội hiện nay chủ yếu là giao thông đường bộ (chùa Hương còn kết hợp thêm đường thủy). Với ưu thế có nhiều các điểm du lịch tâm linh nổi tiếng trong vùng và cả đất nước, khu vực phía Tây Hà Nội đã được đón nhiều du khách ở trong và ngoài các tỉnh, thành phố và cả du khách nước ngoài đến thăm quan, chiêm bái qua các cung đường từ các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Hưng Yên, Vĩnh Phúc…và dù ở mọi nơi, mọi hướng thì du khách đến với các điểm này đều tập trung qua các quốc lộ lớn như: Quốc lộ 6, quốc lộ 21B, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 32, Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 21A. Ngoài các quốc lộ lớn kể trên, khách du lịch cũng có thể đến bằng một số đường khác như các đường liên huyện, xã, thôn…nhưng lượng khách đi qua các đường nhỏ này không nhiều. Nếu như ngày xưa để đến được các điểm di tích tâm linh thì du khách phải mất rất nhiều thời gian và vất vả băng qua các bãi nước, đường nhỏ chật chội…thì hiện nay với các dự án cải tạo, nâng cấp hạ tầng du lịch thông qua việc làm đường, mở rộng nâng cấp các bến bãi đỗ xe thì chỉ cần không quá 2 tiếng là tới nơi. Từ khi được công nhận là nơi lưu giữ các bảo vật Quốc gia thì các tuyến đường quốc lộ: 32, 21A, quốc lộ 6 được mở rộng trong đó tuyến quốc lộ 21A đến chùa Thầy, chùa Tây Phương được làm mới hoàn toàn và mở thành 2 làn đường giúp du khách di chuyển thuận lợi. Hàng ngày, còn có một số tuyến xe bus liên vùng và nội vùng chạy theo cả hai chiều tạo điều kiện đi lại cho du khách.Ở chùa Hương, cầu Yến Vĩ được xây mới với hai làn xe, quốc lộ 21B từ Ba La về chùa Hương được nâng cấp, hệ thống cáp treo được bảo dưỡng đảm bảo an toàn cho du khách. Hệ thống giao thông đường thủy thông thoáng hơn, không còn hiện tượng bán hàng rong trên thuyền; các banner quảng cáo, biển chỉ dẫn được sắp xếp hợp lý không làm ảnh hưởng đến khung cảnh thiên nhiên.

Tuy vậy, hệ thống giao thông trong vùng vẫn còn gặp phải những hạn chế nhất định. Việc chất lượng không đồng đều của hệ thống giao thông nông thôn với những con đường liên xã, huyện…cắt ngang các tuyến quốc lộ cộng thêm các phương tiện vận tải hàng hóa, chất thải với trọng tải lớn đi lại rất nhiều dẫn đến chất lượng đường xá bị xuống cấp, bụi bẩn. Du khách chủ yếu là người nội tỉnh đi đến các di tích tâm linh bằng phương tiện xe máy dẫn đến sự nguy hiểm cho họ khi trên đường các xe tải di chuyển như “hung thần”. Ở chùa Hương và một số điểm di tích khác có hiện tượng cò mồi chèo kéo giành giật khách sử dụng các dịch vụ vận chuyển tạo ấn tượng xấu với du khách. Vào nhưng ngày cao điểm, các tuyến đường chính bị tê liệt nhốn nháo do sự tham gia giao thông mất trật tự, ùn tắc. Đây là việc có thể giải quyết và khi đã giải quyết được sẽ càng thu hút và hấp dẫn du khách bốn phương về với khu vực này. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Nhìn chung hệ thống hạ tầng giao thông dẫn vào các điểm du lịch tâm linh đều khá thuận tiện. Tuy nhiên đại đa số du khách khi được hỏi về mặt bằng cơ sở kỹ thuật phục vụ bãi đỗ, trông giữ và trả xe cho du khách thì đều đánh giá ở mức trung bình thậm chí là thấp. Theo khảo sát điều tra về hạ tầng cơ sở phục vụ việc trông giữ xe cho du khách tại một số điểm tâm linh tiêu biểu trong khu vực thì có đến trên 80% du khách thấy không hài lòng bởi các khu trông giữ xe mặc dù đã được mở rộng nhưng vẫn không đủ để đáp ứng đủ chỗ đỗ xe bởi số lượng người đua nhau đổ về những nơi được cho là rất linh thiêng này. Một số bãi đỗ tự tiện tăng giá vé trông xe, nhất là đối với xe máy và ô tô. Có nơi giá vé tăng gấp 5 đến 10 lần so với ngày thường. Ngoài việc giá cả trông giữ phương tiện tăng cao đột ngột không kéo theo dịch vụ lên mà nhiều nơi thái độ, tác phong phục vụ của đội ngũ trông giữ xe còn thiếu nhã nhặn, thiếu nhiệt tình trong việc chỉ dẫn sắp xếp phương tiện, lời lẽ ứng xử không tế nhị, cộc lốc không phù hợp với không gian văn hóa của điểm đến. Việc này cũng là một yếu tố không nhỏ gây cản trở tới sự phát triển hoạt động tham quan du lịch một cách bền vững.

2.4.3 Cơ sở vật chất của dịch vụ lưu trú

Nhìn chung, cơ sở vật chất dịch vụ lưu trí tại khu vực phía Tây Hà Nội có phát triển hơn so với trước đây nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Hiện tại ở một số điểm di tích tâm linh lớn của vùng thì có một vài khách sạn, resort, đạt tiêu chuẩn để phục vụ du khách, còn lại phần lớn là các dịch vụ lưu trú nhà nghỉ, nhà trọ. Ở chùa Hương chỉ có nhà nghỉ Công Đoàn chùa Hương, khách sạn Thành Hải đạt tiêu chuẩn hay ở gần chùa Thầy – chùa Tây Phương có một số các resort có đủ tiêu chuẩn phục nhu cầu lưu trú trung bình khá của du khách như Asean resort, Tản Đà resort, Hoàng Long resort…Các nhà nghỉ, nhà trọ đều mang tính chất tự phát mang tính chất thời vụ, các trang thiết bị không đồng bộ thậm chí giản đơn không đủ đáp ứng nhu cầu của du khách. Mặt khác giá cả phòng cũng không ổn định, tăng giảm bất thường theo lượng khách trong ngày gây tâm lý ức chế cho du khách sử dụng dịch vụ.

Sở dĩ các cơ sở vật chất của dịch vụ lưu trú ở khu vực này chưa phát triển như vậy cũng là một điều dễ hiểu do hầu hết các du khách đến các điểm du lịch tâm linh phần lớn là người trong vùng hoặc ở các vùng lân cận đều có thể đi về trong ngày. Nếu có du khách quốc tế hoặc các du khách từ các tỉnh xa xôi đến thì họ cũng không chọn ở lại đấy mà quay trở về trung tâm thành phố, nơi có những điều kiện đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe cho họ sau một ngày tham quan mệt mỏi. Rõ ràng để níu chân được du khách nước ngoài và các du khách các tỉnh xa xôi ở lại và sử dụng dịch vụ lưu trú tại chỗ thì chất lượng, cung cách phục vụ của dịch vụ lưu trú cần được đầu tư, cải thiện với quy hoạch thống nhất.

2.4.4 Cơ sở vật chất của dịch vụ ăn uống Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Các nhà hàng tại khu vực hầu như gắn liền với các địa điểm kinh doanh dịch vụ lưu trú như đã nêu ở trên và ngoài việc phục vụ du khách lưu trú hoặc đặt ăn uống theo đoàn, nhóm thì đối tượng chính của chúng là phục vụ nhu cầu tiệc tùng của địa phương. Những nhà hàng này phần nào có sự chuyên nghiệp, có tính quy mô và thực đơn khá phong phú. Số các nhà hàng, quán ăn còn lại thì đều mang tính tự phát và thời vụ, do tư nhân quản lý, các món ăn nghèo nàn không phong phú, chưa đầu tư kỹ lưỡng về chất lượng với thái độ phục vụ có phần thiếu chuyên nghiệp. Những nhà hàng quán ăn bình dân này cơ bản đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người chứ không đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế và các du khách từ nơi xa đến. Do mặt bằng hẹp nên những điểm ăn bình dân này thường thiếu cây xanh, chỗ để xe nên ít hoặc hầu như không có khách đi theo đoàn.

Trong ngân sách chi tiêu của du khách hành hương thì chi phí dành cho việc ăn uống chiếm đến 40% nhưng do dịch vụ ăn uống tại các địa điểm này chưa đáp ứng đủ nhu cầu nên phần lớn du khách đều chuẩn bị đồ ăn từ nhà mang đi, ít nhiều làm giảm doanh thu của các nhà hàng, quán ăn.

Nếu được các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động ăn uống trong vùng được tổ chức và quản lý tốt, nâng cao chất lượng phục vụ và chất lượng đồ ăn thì doanh thu của ngành du lịch trong vùng sẽ tăng cao mà không những thế sẽ giải quyết được những vấn đề liên quan đến môi trường do hậu quả từ việc du khách vứt rác bừa bãi làm ảnh hưởng đến cảnh quan chung gây ô nhiễm môi trường. Vậy nên những người làm quản lý các điểm du lịch, khu du lịch tâm linh cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình để kích thích khả năng chi tiêu của du khách tại các điểm đến tâm linh.

2.4.5 Cơ sở vật chất thông tin liên lạc, điện nước, xử lý rác thải tại khu du lịch

Dịch vụ thông tin liên lạc đã tương đối tốt để phục vụ khách hàng. Nếu trước đây khi đến một số địa điểm tín ngưỡng tâm linh như chùa Hương, chùa Thầy…thì các mạng di động đôi khi bị mất sóng thì nay người sử dụng có thể bắt sóng tại hầu như bất kì khu vực nào tại đó.

Hệ thống nước, hệ thống cung cấp nước tại các điểm này về cơ bản vẫn là từ các giếng khoan và các nguồn nước tự nhiên khác. Hệ thống nước sạch đạt tiêu chuẩn vẫn chưa được xây dựng hoặc một số nơi chưa hoàn thành. Điều này dẫn đến việc vào mùa lễ hội, khi du khách đến và đặc biệt vào tầm cao điểm thì hiện tượng thiếu nước sạch sử dụng thường xuyên xảy ra gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của du khách.

Vấn đề xử lý rác thải là một vấn đề nhức nhối của các điểm du lịch, đặc biệt là các điểm du lịch tâm linh bởi tính mùa vụ tập trung số lượng người quá lớn tại một điểm trong một khoảng thời gian ngắn dẫn tới nguy cơ ô nhiễm môi trường là rất lớn. Mặc dù hiện nay ý thức của du khách trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường và ban quản lý các điểm du lịch tâm linh cũng đã tiến hành lắp đặt khá nhiều các thùng đựng rác trong phạm vi khu vực các điểm tham quan nhưng rác thải vẫn bị xả bừa bãi xung quanh đường đi và dẫu những người thu gom rác thải hoạt động hết công sức cũng không xử lý hết được. Hệ thống xử lý nước thải chưa có hoặc không xử lý triệt để gây ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững cho các điểm du lịch tâm linh này.

2.5 Thị trường khách du lịch tâm linh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

2.5.1 Lượng khách

Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua ngành du lịch Hà Nội đã có những bước phát triển đáng kể. Lượng khách du lịch đến Hà Nội ngày một tăng lên và tăng khá đều với trung bình khoảng 600.000 người mỗi năm. Khách du lịch đến với Hà Nội thường có nhiều mục đích khác nhau như:  du lịch tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa, mục đích thư giãn tinh thần với các địa điểm có thiên nhiên hùng vĩ, độc đáo, hay đơn giản là lang thang trên những khu phố cổ của thành phố vì hòa bình, hội thảo hoặc thăm người thân…

Biểu đồ 2.1: Mục đích của du khách quốc tế khi đến Hà Nội năm 2015

Khách du lịch quốc tế đến Thủ đô với nhiều mục đích, trong đó với mục đích du lịch chiếm khoảng 70%, khách công vụ, thương mại, hội nghị hội thảo chiếm 15,9 % ; chữa bệnh 2%; thăm thân 8,1% và mục đích khác là 4 %.

Khách du lịch lựa chọn Hà Nội là điểm đến trong chuyến đi của mình chủ yếu là do các giá trị văn hoá, lịch sử, yếu tố tài nguyên tự nhiên. Lời khuyên của bạn bè, người thân trong việc lựa chọn Hà Nội là điểm đến cũng rất quan trọng, ngoài ra còn các yếu tố Hà Nội là điểm đến an toàn, sự hiếu khách của người dân, giá cả hợp lý và cơ hội mua sắm.

Theo báo cáo của Sở văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nôi, lượng du khách trong nước và quốc tế đến Hà Nội ngày càng tăng:

Biểu đồ 2.2: Lượng du khách đến Hà Nội qua các năm

Khách quốc tế đến Hà Nội ngày càng tăng, lượng khách hàng năm tăng trung bình từ 18-20%. Năm 2009 do khủng hoảng kinh tế toàn cầu và các dịch bệnh lượng khách là 1,02 triệu lượt; năm 2010 với sự kiện Đại lễ  kỷ niệm  1000 nghìn năm Thăng Long – Hà Nội và năm Du lịch Quốc gia, lượng khách đên Hà Nội tăng mạnh, tổng số trên 1,7 triệu lượt; Năm 2011 đón 1,84 triệu lượt khách quốc tế. Ước tính năm 2012, Hà Nội đón trên 2 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Thị trường khách du lịch nội địa đến Hà Nội cũng chiếm tỷ trọng lớn hàng đầu cả nước, với lượng khách trung bình hàng năm chiếm trên 20 % tổng lượng khách du lịch nội địa của Việt Nam. Năm 2009 đã đón được 9,2 triệu lượt, năm 2010 đã đón được 10,6 triệu lượt, năm 2011 đạt 11,6 triệu lượt và 2012 ước đạt trên 12 triệu lượt khách.

Cũng theo nguồn báo cáo này, lượng khách du lịch tâm linh đến khu vực Hà Tây cũ qua các năm cũng tăng dần đều.

Biều đồ 2.3: Lượng khách tâm linh đến khu vực Hà Tây cũ qua các năm

Bảng thống kê cho thấy lượng khu khách đến với các điểm du lịch tâm linh ở khu vực phía Tây Hà Nội năm sau nhiều hơn năm trước với độ tăng trưởng rất đáng kể trong đó tập trung khách tới vào dịp đầu xuân và lễ hội vì theo tính mùa vụ du khách tập trung hành hương và chiêm bái, cầu cúng vào đầu xuân theo quan niệm đầu năm đi lễ cho cả năm may mắn tốt lành.

Giai đoạn 2011-2013 là giai đoạn khách du lịch tâm linh tăng trưởng nhanh nhất từ 2,47 triệu lượt khách năm 2013 lên 2,49 triệu lượt khách năm 2014 và trong năm 2015 là 2,53 triệu lượt. Có thể lý giải được điều này vì giai đoạn này chính quyền địa phương nói riêng và Sở Văn Hóa Thể Thao và Du lịch Hà Nội đã có sự chú trọng vào đầu tư nâng cấp hệ thống đường xá giao thông giúp việc đi lại của du khách được thuận lợi hơn, tiết kiệm thời gian di chuyển hơn. Nhất là năm 2015 khu vực này có chùa Tây Phương và chùa Thầy được công nhận và 2 nơi có bảo vật Quốc gia. Điều này thu hút số lượng không nhỏ du khách trong và ngoài nước đên tham quan và tìm hiểu. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

2.5.2 Cơ cấu khách

Dựa theo số liệu điều tra của tác giả, phỏng vấn nhanh du khách ở 03 điểm tâm linh lớn của khu vực Hà Tây cũ tại chùa Hương, chùa Thầy, Đền Và. Mỗi nơi tác giả tiến hành phát phiếu điều tra cho 100 khách ngẫu nghiên (không phải là người dân sở tại) thì du khách đến chủ yếu là du khách trong nước và đa phần là ở các tỉnh thành trong khu vực phía Bắc. Lượng khách từ Hà Nội là đông nhất với khoảng 48 % nguồn khách, Hà Nam – Nam Định 16%, Hòa Bình 12%, các tỉnh thành khác trong cả nước chiếm 23 % và 1% là du khách quốc tế.

Sự chênh lệch trong cơ cấu khách đến lễ hội thể hiện việc maketing, tuyên truyền quảng bá cho các điểm đến vẫn còn chưa tốt. Khách du lịch đến với các địa điểm tâm linh ở đây vẫn chủ yếu là người trong vùng và các địa phương lân cận do không tốn nhiều thời gian đi lại cũng như có điều kiện giao thông thuận tiện và đi về trong ngày dễ dàng.

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu khách du lịch tâm linh đến khu vực phía Tây Hà Nội

2.5.3 Đặc điểm khách

Theo kết quả khảo sát, khách du lịch khi tới các điểm tâm linh với các mục đích khác nhau nhưng mục đích chính vẫn là nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh tín ngưỡng – tôn giáo. Ngoài ra còn có thêm mục đích khác như: tham quan – du lịch và học tập – nghiên cứu…Kết quả này được khảo sát nghiên cứu trên 300 khách tại 3 điểm chính: chùa Hương, chùa Thầy, đền Và với kết quả như sau:

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu điều tra mục đích chuyến đi của du khách đến các điểm du lịch tâm linh

Trong bản điều tra tác giả khảo sát tại các điểm cũng có 1 điểm chú ý đó là độ tuổi của khách du lịch tham gia các hoạt động du lịch tâm linh (bao gồm cả khách du lịch nội địa và nước ngoài) có phổ khá rộng. Các du khách thuộc nhóm tuổi từ 17-35 chiếm ít nhất (61 người) chiếm 20,1 %; khách thuộc nhóm tuổi từ 36-55 chiếm tỉ lệ nhiều hơn (116 người) chiếm 38,6 % song lại khá tương quan với nhóm tuổi thứ ba từ 56-70 tuổi (123 người) là 41,3 %. Trong đó số khách du lịch nội địa chiếm đa số vào mùa cao điểm chính hội (từ tháng 12 âm lịch năm trước đến tháng 3 âm lịch năm sau); số lượng khách du lịch nước ngoài tuy không tập trung nhiều vào mùa chính hội nhưng lại trải khá đều vào các tháng  còn lại trong năm. Theo điều tra của tác giả, số du khách nước ngoài đến với các điểm du lịch tâm linh thường là thông qua các tour du lịch của các công ty lữ hành quốc tế (Vietravel, Khánh Sinh Tour, Buffalow Tour…). Số lượng khách quốc tế tự đi ngoài không qua tour thì hầu như không có và ngay cả số lượng khách thông qua các công ty lữ hành Quốc tế cũng hạn chế do ít có thông tin hoặc ít hiểu biết về giá trị văn hóa của điểm đến. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Xét về thành phần nghề nghiệp của du khách tới và tham gia các hoạt động sinh hoạt, hành lễ hay lễ hội tạo các điểm tâm linh đa phần là những doanh nhân, tiểu thương và cán bộ công chức nhà nước để cầu mong trong năm công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt. Số lượng khách doanh nhân chiếm 36% (108 du khách) và số lượng cán bộ công chức chiếm 33 % (khoảng 100 du khách).

Xét về giới tính của du khách, có thể dễ dàng nhận thấy do thói quen đi lễ đền, chùa, miếu mạo thường là các chị, các cô, bác, các cụ nên du khách nữ giới chiếm đa số tại các điểm du lịch tâm linh này. Khảo sát cho thấy trong tổng số 300 mẫu điều tra thì có tới 70 % (210 khách) là nữ giới còn lại 30 % là du khách nam.

Xét theo trình độ học vấn, du khách đến với  các điểm tôn giáo –tín ngưỡng có trình độ học vấn khá cao với 43 % (129 khách), cao đẳng –trung cấp là 24 % (72 khách), sau đại học là 11 % ( 33 khách) , trung học phổ thông chiếm 17 % (51 khách) và số khác là 0,5 % (15 khách).

Qua điều tra ta thấy, các điểm du lịch tâm linh ở khu vực phía Tây Hà Nội do nằm cách xa trung tâm hành chính của Thủ đô nên tới đây các du khách có trình độ học vấn cao chủ yếu thông qua các chuyến du lịch do các công ty lữ hành tổ chức tới tham quan. Tuy nhiên việc tổ chức đi theo các công ty du lịch các hãng lữ hành …ít được lựa chọn. Hình thức đi du lịch chủ yếu là tự tổ chức đi hoặc đi theo nhóm riêng lẻ, đi du lịch kêt hợp thăm người thân của người dân, các đoàn hội, câu lạc bộ địa phương, sinh viên.

2.5.4 Xu hướng du lịch của du khách

Xu hướng của du khách hiện nay là tìm kiếm sự khác biệt về văn hóa ở điểm đến hơn là sự hưởng thụ về điều kiện vật chất. Các điểm đến ngoài sự hấp dẫn về cảnh quan, kiến trúc, nghệ thuật thì còn mang lại cho du khách sự hiểu biết nhiều hơn về truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, ẩm thực…của các vùng miền khác nhau. Du khách đến với các điểm du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội ngày càng đông, nhưng hầu hết là đi về trong ngày và thường chỉ đến những điểm tâm linh nổi bật và những điểm tâm linh nhỏ hơn ở gần điểm tâm linh nổi bật thì họ không biết hoặc không để ý đến. Chẳng hạn nếu như đi chùa Hương thì trong 3 tuyến: Hương Tích, Tuyết Sơn và Long Vân thì gần như 100 % du khách được hỏi khi đến chùa Hương đều chỉ đi tuyến Hương Tích, nhiều người còn không biết có 2 tuyến còn lại. Hay như đi chùa Tây Phương thì phần lớn du khách cũng không biết và không đến những chùa nằm quanh khu vực núi Câu Lậu còn có chùa Am Thanh, chùa Quan Âm hay chùa Cực Lạc…

Xu hướng của du khách đến các điểm tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội trong thời gian 2 ngày là khá ít. Nói chính xác hơn là nếu kéo dài trong thời gian 2 ngày thì chương trình thường là sự kết hợp thăm viếng, hành hương tới các điểm tâm linh kết hợp hội thảo hoặc nghỉ dưỡng ở khu vực Ba Vì hoặc các resort gần đó. Xu hướng này khách thường chọn vào cuối tuần và xu hướng đó ngày càng phát triển và đối tượng là nhóm công nhân, viên chức sau những ngày làm việc vất vả cả tuần trong nội thành thì hai ngày cuối tuần là dịp cho họ và gia đình về các khu vực ngoại thành nghỉ ngơi kết hợp đi lễ.

2.6 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch tâm linh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Theo đánh giá nguồn nhân lực du lịch lao động gián tiếp trên địa bàn thành phố Hà Nội, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch ở cấp quận, huyện mới chỉ có từ 1-2 người mà chủ yếu là kiêm nhiệm chuyên môn nhiều lĩnh vực nên công tác tham mưu, quản lý nhà nước về du lịch còn yếu. Đa số lực lượng lao động tại các doanh nghiệp hoạt động du lịch chưa qua đào tạo về nghiệp vụ du lịch.

Nguồn lao động trực tiếp phục vụ hoạt động du lịch tâm linh tại khu vực phía Tây Hà Nội chủ yếu là những người làm nông nghiệp và chỉ hoạt động theo tính chất mùa vụ, không thường xuyên, hầu hết chỉ tập trung trong mùa lễ hội  thường từ khoảng tháng Chạp năm trước đến hết tháng 3 âm lịch năm sau và tập trung ở các dịch vụ: lưu trú, vận chuyển, ăn uống, bán hàng lưu niệm. Sau mùa lễ hội này đến 90% số lao động này quay trở lại làm nông nghiệp.

Đội ngũ hướng dẫn thuyết minh tại điểm là một vấn đề khó khăn, nan giải. Hiện nay ở các điểm tâm linh lớn của khu vực như chùa Hương, chùa Thầy, đền thờ đức Thánh Tản Viên…mới có mỗi điểm 1 vài thuyết minh viên. Tuy nhiên số lượng này là không đủ đáp ứng cho nhu cầu của du khách khi vào mùa cao điểm. Chất lượng của các thuyết minh viên cũng không đồng đều và chưa có 1 đơn vị hay cơ quan có thẩm quyền nào kiểm chứng kiến thức của họ. Các điểm tâm linh khác thì không có thuyết minh tại điểm và trên thực tế thì ở các điểm này đôi khi việc hướng dẫn giải thích về lịch sử hay giá trị của các điểm tâm linh lại do 1 số tín đồ là người bản địa có sự tìm hiểu về lịch sử , kiến trúc nghệ thuật…về điểm đó đảm nhiệm. Những thông tin này lại chưa có sự chứng thực xác đáng dẫn tới việc thông tin tới khách du lịch không được rõ ràng hoặc bị xuyên tạc.

Xét về cả nguồn lao động trực tiếp và nguồn lao động gián tiếp vào hoạt động du lịch tâm linh có sự phân hóa không đồng đều. Trong khi nguồn lao động gián tiếp làm nhiệm vụ quản lý du lịch chỉ có 1 vài người và kiêm nhiệm, ở các doanh nghiệp chưa qua đào tạo và tỉ lệ những người đảm bảo yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn và ngoại ngữ rất nhỏ thì nguồn lao động trực tiếp trong hoạt động du lịch tâm linh lại rất nhiều mà lại không có chuyên môn và nghiệp vụ du lịch. Điều đó dẫn đến việc thừa lao động kém chuyên môn và thiếu lao động có chuyên môn. Lý do là do bị phụ thuộc vào lễ hội, vào mùa vụ nên hiệu quả hoạt động không cao, không có điều kiện thu hút, hấp dẫn những lao động có trình độ.Tính mùa vụ làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng nhân sự, nguồn lực lao động của du lịch tâm linh làm hình ảnh du lịch của các điểm đến tâm linh phần nào bị suy giảm.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

Nội dung chương đưa ra cái nhìn tổng quan về khu vực phía Tây Hà Nội là khu vực tỉnh Hà Tây cũ giúp người đọc mường tượng được đối tượng mà tác giả nghiên cứu. Với kho tàng di sản văn hóa tâm linh tín ngưỡng – tôn giáo cùng những huyền tích, nghi lễ thờ cúng, lễ hội, nghệ thuật dân gian…những công trình kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo hòa mình với thiên nhiên, cảnh và vật hòa quyện trở thành một lợi thế lớn của du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội. Nếu biết cách khai thác hợp lý có hiệu quả thì nó sẽ giúp phát triển nền kinh tế của vùng nói riêng và của thành phố Hà Nội nói chung.

Tuy nhiên qua những thông tin, những kết quả điều tra khảo sát của tác giả cho thấy mặc dù tiềm năng du lịch tâm linh của khu vực là một lợi thế nhưng hiện tại nó vẫn chưa được coi trọng và chú trọng đầu tư phát triển. Thậm chí việc khai thác chỉ chú trọng đầu tư vào lợi nhuận, tư tưởng của một số bộ phận nhà quản lý các khu-điểm di tích không nhận định được việc bảo tồn bền vững các công trình kiến trúc cổ xưa mà chỉ nghĩ đến việc bỏ cũ thay mới (câu chuyện chùa Trăm Gian – Chương Mỹ)…thì không những không tạo ra sự độc đáo, hấp dẫn riêng biệt cho hoạt động du lịch tâm linh của vùng mà càng làm cho các giá trị đó xuống cấp và có nguy cơ mai một, không thể khôi phục được. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc quy hoạch, tổ chức khai thác và quản lý các giá trị di sản văn hóa truyền thống kết hợp sao cho hài hòa với phong cách hiện đại để hoạt động du lịch tâm linh có hiệu quả và phát triển bền vững. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội

One thought on “Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Tây Hà Nội

  1. Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch tâm linh khu vực phía Tây Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464