Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của tỉnh Thanh Hóa
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Thanh Hoá là tỉnh ven biển Bắc Trung bộ, có diện tích tự nhiên 11.129,48km2. Tỉnh Thanh Hoá gồm thành phố Thanh Hoá, 2 thị xã Bỉm Sơn, thị xã Sầm Sơn và 24 huyện, trong đó có 11 huyện miền núi; toàn tỉnh có 637 xã, phường, thị trấn (585 xã, 22 phường, 30 thị trấn); 6.042 thôn, bản, phố.
Phía Bắc Thanh Hoá giáp với 3 tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình với đường ranh giới dài 175km; phía Nam và Tây Nam giáp với tỉnh Nghệ An, với đường ranh giới hơn 160km; phía Tây giáp với tỉnh Hủa Phăn của Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, với đường biên giới dài 192km; phía Đông, giáp vịnh Bắc Bộ, với đường bờ biển dài 102km. Địa hình của tỉnh Thanh Hoá nghiêng dốc và kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam; đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh. Nhiều nhà nghiên cứu và khoa học cho rằng, Thanh Hoá là “Việt Nam thu nhỏ”, bởi vì Thanh Hoá có đủ các dạng địa hình, từ núi tương đối cao đến đồi trung du, đồng bằng cao thấp bậc thang, đồng chiêm trũng.
Nằm ở cửa ngõ giao lưu giữa Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, giữa Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, đồng thời nằm trên các tuyến giao lưu quan trọng của hệ thống đường quốc tế và quốc gia như: tuyến đường sắt Thống Nhất, quốc lộ 1A, quốc lộ 10; đường 15A và đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng Trung du Miền núi của tỉnh; có đường 217 nối Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào, đặc biệt gần đây Cảng nước sâu Nghi Sơn và Cảng hàng không Thọ Xuân đã đi vào hoạt động… nên Thanh Hoá có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài ra, Thanh Hoá còn có các cửa khẩu Na Mèo, Tén Tần, trong đó cửa khẩu Na Mèo được quy hoạch xây dựng thành Khu kinh tế Cửa khẩu thời kỳ 2008 – 2015 (Quyết định số 52/2005/QĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ), đây là lợi thế lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu, mở rộng hợp tác và giao lưu thương mại quốc tế với các tỉnh Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan và các vùng lân cận thông qua hệ thống các tuyến đường xuyên Á trong khu vực.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Giai đoạn 2011 – 2014, nền kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, bình quân ước đạt 11,3%, cao gấp 2 lần so với cả nước (cả nước tăng 5,7%/năm). GDP bình quân đầu người giai đoạn 2011 – 2014 ước đạt 1.180 USD, năm 2014 ước đạt 1.320 USD. Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2013, tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GDP chiếm 20%, giảm 1,4%; công nghiệp – xây dựng chiếm 43,9%, tăng 1%; dịch vụ chiếm 36,1%, tăng 0,4% so với cùng kỳ [49]. Trong nội bộ từng ngành cũng có sự chuyển dịch theo hướng khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của tỉnh, nâng cao hiệu quả và gắn với nhu cầu thị trường.
Cơ cấu vùng kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng hình thành các vùng kinh tế động lực, các khu công nghiệp, khu kinh tế, các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng và gắn với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Đặc biệt, Khu Kinh tế Nghi Sơn được quy hoạch, phát triển, từng bước trở thành khu kinh tế động lực của tỉnh, với tổng số vốn đăng ký đầu tư trên 16,5 tỷ USD.
Thu ngân sách nhà nước hằng năm luôn vượt dự toán; năm 2013 đạt 5.166 tỷ đồng, trong đó: thu nội địa (bao gồm cả tiền sử dụng đất) ước đạt 4.851 tỷ đồng, vượt 5,9%; thu tiền sử dụng đất ước đạt 965 tỷ đồng, vượt 0,9% dự toán tỉnh giao; có 7/13 khoản thu đạt và vượt mức kế hoạch gồm: thu từ doanh nghiệp FDI; thu từ doanh nghiệp nhà nước Trung ương; thuế sử dụng đất nông nghiệp;
thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thu phí, lệ phí; thu hoa lợi công sản và thu khác ngân sách. Chi ngân sách nhà nước ước đạt 21.064 tỷ đồng, đáp ứng nhu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao.
Trong những năm qua, môi trường đầu tư của tỉnh từng bước được cải thiện, huy động vốn đầu tư phát triển có chuyển biến rõ nét. Tổng vốn huy động trong 4 năm 2011- 2014 đạt 198 nghìn tỷ đồng (Mục tiêu đề ra là: 115 nghìn tỷ đồng, giai đoạn 2011 – 2015). Nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung đầu tư cho các ngành giao thông, thuỷ lợi, giáo dục, y tế và khu vực miền núi, ven biển, đảm bảo cơ cấu phù hợp giữa các ngành và các vùng, miền trong tỉnh.
Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ngày càng được tăng cường. Trong 4 năm (2011- 2014), tỉnh đã xây dựng mới và nâng cấp nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và đường liên huyện, liên xã, đường thôn bản. Hệ thống điện lưới đã được xây dựng đến 100% các huyện, 635/637 xã, phường, thị trấn có điện lưới; 96,5% số hộ dân được sử dụng điện; hạ tầng viễn thông, internet băng thông rộng đã được đầu tư đến cấp xã, 100% số xã có điện thoại… Kết cấu hạ tầng đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp hoàn thiện hơn; bộ mặt thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn và các thị trấn khang trang hơn.
2.1.3. Đặc điểm xã hội
- Dân số Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Năm 2013, dân số tỉnh Thanh Hóa có 3.476 nghìn người, ước năm 2014 có 3.483 nghìn người (lớn thứ 3 trong cả nước), trong đó dân số thành thị khoảng 627 nghìn người chiếm tỷ lệ 18%, dân số nông thôn có 2.856 nghìn người chiếm 82% dân số. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2013 ở mức 0,83%, ước năm 2014 khoảng 0,8% (kế hoạch đến 2015 là 0,65%). Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có có 28 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, dân tộc Kinh có gần 2.841 nghìn người chiếm 81,73% dân số, còn lại là 27 dân tộc thiểu số có hơn 635 nghìn người chiếm 18,27% dân số, sinh sống tập trung ở các huyện miền núi phía Tây. Có 06 dân tộc thiểu số có số dân đông nhất gồm Dân tộc Mường hơn 369,8 nghìn người (10,64% dân số), Dân tộc Thái 226,3 nghìn người (6,51% dân số), Dân tộc Mông 14,9 nghìn người (0,43% dân số), Dân tộc Thổ 11,8 nghìn người (0,34% dân số), Dân tộc Dao 6,3 nghìn người và Dân tộc Khơ Mú hơn 1 nghìn người.
- Nguồn nhân lực
Thanh Hóa có nguồn nhân lực trong tuổi lao động dồi dào do quy mô dân số lớn, từ 2010 đến 2014, nhân lực trong tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên tăng từ 2.115 nghìn người lên 2.234 nghìn người chiếm 64,1% dân số. Phần lớn nhân lực ở độ tuổi từ 18 đến dưới 40 (chiếm 54,7%) đã qua giáo dục Trung học cơ sở, Trung học phổ thông có điều kiện để tổ chức đào tạo, dạy nghề và thu hút vào thị trường lao động. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế năm 2014 có khoảng 2.152 nghìn người. Từ 2010 đến 2013, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% lên 49% ở mức tương đương cả nước, năm 2014 ước đạt 52% trong đó qua đào tạo nghề chiếm khoảng 38%.
Hiện tại, cơ cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chưa hợp lý, tỷ lệ lao động có trình độ từ trung cấp, cao đẳng nghề trở lên còn thấp. Lao động có tay nghề kỹ thuật cao, đặc biệt là giáo viên đại học, giáo viên dạy nghề có trình độ chuyên môn cao còn thiếu. Tỷ lệ giáo viên đại học có trình độ trên đại học mới chiếm 64%, giáo viên các trường cao đẳng công lập có trình độ trên đại học chiếm khoảng 36%, ở các trường tư thục tỷ lệ này còn thấp.
2.1.4. Đánh giá về đặc điểm tình hình của tỉnh Thanh Hoá tác động đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Thanh Hóa với những điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội như trên, tạo ra nền tảng thuận lợi nhưng đồng thời cũng có những thách thức nhất định trong thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở.
Với điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú, kinh tế của tỉnh đang có những biến động sâu sắc – điều này vừa là xuất phát điểm thuận lợi nhưng cũng hàm chứa những khó khăn cho thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong tương lai Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ có khả năng sẽ được mở rộng không gian về phía Nam (đến Thanh Hóa) tạo cơ hội để Thanh Hóa thu hút đầu tư phát triển nhanh hơn. Đặc biệt Thanh Hóa có Khu kinh tế Nghi Sơn, tại đây ngoài Khu liên hợp lọc hóa dầu đang được đầu tư xây dựng với tổng vốn của dự án trên 9 tỷ USD (công trình trọng điểm quốc gia), khu cảng nước sâu Nghi Sơn (tương lai sẽ là cảng nước sâu lớn ở phía Bắc), nhiều công trình kinh tế lớn khác sẽ được xây dựng… mở ra cơ hội phát triển mới, tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng như của vùng Bắc Trung bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện được nhiệm vụ to lớn đó, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Thanh Hóa nói chung, đội ngũ cán bộ cấp xã nói riêng có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở. Bởi lẽ, theo quy định Điều 3 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thì: chính quyền cấp cơ sở chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người trực tiếp giác ngộ, tuyên truyền đầy đủ, sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung pháp luật về dân chủ ở cấp xã cho nhân dân.
Thanh Hóa là tỉnh có đến 90% dân số sống ở nông thôn, nhất là có vùng miền núi phía Tây của tỉnh rộng lớn, địa hình phức tạp, giao thông cách trở, kết cấu hạ tầng yếu kém, kinh tế – xã hội chậm phát triển và Thanh Hóa cũng là tỉnh có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, có nền văn hóa rất đa dạng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán… điều đó đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, giữ gìn khối đại đoàn kết các dân tộc, giữ gìn sự ổn định chính trị xã hội và cũng là những yếu tố (nhất là những phong tục tập quán lạc hậu) đã và đang tác động tới việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
Trên thực tế tại một số huyện miền núi phía Tây của tỉnh, nhất là các huyện giáp biên giới với nước bạn Lào, do phần lớn dân cư là người dân tộc với nhiều tập tục lạc hậu, lại sống rải rác ở các khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đầu tư cho giáo dục khó khăn… nên trình độ dân trí và học vấn của dân cư còn thấp, tình trạng tái mù chữ còn tương đối phổ biến… Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Vì với những người trình độ văn hóa cao họ sẽ dễ dàng hiểu biết pháp luật, nhận thức đúng pháp luật và dẫn đến thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Ngược lại, với những người trình độ văn hóa thấp, sẽ khó khăn trong việc hiểu biết cũng như thực hiện pháp luật.
- Tình hình cơ sở (xã, thị trấn; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa) trước khi triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Tình hình cơ sở (xã, thị trấn; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp) ở Thanh Hóa có nhiều thuận lợi nhưng cũng bao hàm cả những khó khăn cho thực thi pháp luật về dân chủ cơ sở. Phần lớn cấp cơ sở ở Thanh Hóa có kết cấu ổn định, có truyền thống đoàn kết. Tuy nhiên các khó khăn ở cơ sở rất nhiều, chủ yếu đến từ nguyên nhân nghèo đói và trình độ, ý thức con người. Trước năm 1998, tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hóa gặp nhiều khó khăn; tổng thu nhập quốc dân của tỉnh đạt thấp, bình quân GDP đầu người năm 1997 đạt 236 USD, thấp hơn so với bình quân chung của cả nước; đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thấp kém, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; nhiều địa phương, cơ sở, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chưa khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo trong nhân dân, trong cán bộ, đảng viên để xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, ở một số địa phương, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp còn xảy ra những vụ việc phức tạp, mâu thuẫn trong nội bộ cán bộ, mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền; một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, vi phạm nguyên tắc quản lý kinh tế – tài chính, quản lý đất đai, tham ô, tham nhũng, gây bất bình trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền dẫn đến khiếu kiện đông người, vượt cấp; có những nơi trở thành “điểm nóng”, điển hình như xã Quảng Lợi, huyện Quảng Xương; xã Nam Giang, huyện Thọ xuân; xã Thọ Ngọc, huyện Triệu Sơn; xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn.
Tình hình trên đã tác động trực tiếp đến việc tổ chức triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đặt ra những thách thức không nhỏ đối với cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở và nhân dân trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đòi hỏi cấp cơ sở phải có những nỗ lực lớn lao trong triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
2.2. Quá trình triển khai và kết quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
2.2.1. Quá trình triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Quán triệt nội dung của Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 và các Nghị định của Chính phủ về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa xác định đây là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là bước cụ thể hoá phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống thực sự có hiện quả, củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để đầy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, tỉnh Thanh Hóa luôn quán triệt: Triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở vừa đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vừa tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, mở rộng quyền hạn gắn với đề cao trách nhiệm, đảm bảo lợi ích đi đôi với tăng cường nghĩa vụ thực hiện đúng cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
Với nhận thức và tư tưởng chỉ đạo đó, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hóa đã chỉ đạo các cấp uỷ Đảng phải trực tiếp lãnh đạo chính quyền các cấp nghiêm túc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở; yêu cầu Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội triển khai thực hiện trong tổ chức mình và tham gia giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã yêu cầu thành lập Ban Chỉ đao thực hiện Quy chế dân chủ ở tất cả các ngành, các cấp từ tỉnh đền cơ sở; ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, Kế hoạch để lãnh đạo, chỉ đạo hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện.
Ngày 01/9/1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị 12-CT/TU về tổ chức triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở xã; Chỉ thị 03-CT/TU ngày 29/5/2001 về tiếp tục đầy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Chỉ thị 05-CT/TU ngày 14/01/2002 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với nhiệm vụ thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã ban hành kế hoạch số 1753/TC-UB ngày 08/8/1998; Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 15/1999/CT-UB và nhiều văn bản hướng dẫn khác…
Để tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hóa đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm cho từng giai đoạn, từng năm, trên cơ sở đó có bước đi hợp lý để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Năm 1998 – 2000, chỉ đạo các cấp, các ngành, các cơ quan báo chí trong tỉnh tổ chức tuyên truyền, quán triệt, phổ biến Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, các Nghị định của Chính phủ về Quy chế dân chủ ở cơ sở; biên soạn, in, phát hành tài liệu gửi đến các xã, phường, thị trấn, các cơ quan, đơn vị đề phục vụ cho công tác tuyên truyền, học tập của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tỉnh cũng tổ chức triển khai làm thí điểm để có kinh nghiệm cho các cấp, các ngành trước khi triển khai ra diện rộng. Chỉ trong thời gian ngắn (từ tháng 9/1998 đến cuối năm 1999), 100% cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước và các xã, phường, thị trấn trên phạm vi toàn tỉnh đã tổ chức cho cán bộ, Đảng viên, công nhân viên chức và nhân dân nghiên cứu quán triệt nội dung Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, các Nghị định của Chính phủ về Quy chế dân chủ ở cơ sở và đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn dân, được nhân dân phấn khởi đón nhận, tích cực tham gia.
Giai đoạn 2001 – 2002 tập trung chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị; xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước ở thôn, bản, làng, phố; chỉ đạo các ngành chức năng lập kế hoạch xây dựng nhà văn hoá thôn, coi đây là một trong những công việc có ý nghĩa hàng đầu để thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Đề việc xây dựng quy chế, hương ước, quy ước đảm bảo chất lượng, cấp ủy và chính quyền đã chỉ đạo các ngành chức năng xây dựng hương ước mẫu, quy chế mẫu, soạn thảo đề cương, tổ chức tập huấn việc xây dựng hương ước, quy ước, quy chế làm việc đến cơ sở; cuối năm 2002 toàn tỉnh đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, bản, làng, phố và quy chế dân chủ ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp.
Trong suốt quá trình triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, Ban Chỉ đạo các cấp luôn được kiện toàn, củng cố, duy trì hoạt động thường xuyên; Thành viên Ban chỉ đạo được phân công cụ thể, phân công theo dõi địa bản, bám sát cơ sở đề chỉ đạo; thường xuyên tổ chức kiểm tra cơ sở để nắm tình hình phát hiện nhũng thiếu sót, lệch lạc; những việc cơ sở đã làm được, chưa làm được đề chỉ đạo, uốn nắn kịp thời. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Để công tác lãnh đạo, chỉ đạo thật sự có hiệu quả, sát thực tiễn, Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ từ tỉnh đến cơ sở đã phối hợp cùng cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể nhân dân thường xuyên tổ chức sơ kết (3 tháng, 6 tháng, hàng năm), sơ kết sau thời gian thực hiện chỉ đạo điểm (tháng 5/1999); sơ kết 3 năm thực hiện triển khai thực hiện Quy chế dân chủ trên địa bàn toàn tỉnh (tháng 10/2001), việc sơ kết tình hình hàng quý, hàng năm đã đánh giá đúng, thực chất những việc đã làm được cần phát huy, những việc chưa làm được đề uốn nắn, tìm ra những bài học kinh nghiệm và có chương trình kế hoạch tập trung chỉ đạo những công việc tiếp theo.
Ngay sau khi Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 11 ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ tỉnh Thanh Hóa đã khẩn trương xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của 27 huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; ở các huyện, thị xã, thành phố cũng đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của các xã, phường, thị trấn về nội dung của Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 và Nghị định 79/2003/NĐ-CP. Ngay trong kỳ họp hội đồng nhân dân các xã, phường, thị trấn trong tỉnh tháng 12/2007, một số nội dung, quy định của pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 đã được triển khai thực hiện
Có thể nói, sau hơn 15 năm quán triệt và tổ chức thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ chính trị, Nghị định 29/NĐ-CP, Nghị định 79/2003/NĐ-CP và nay là Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân các dân tộc Thanh Hóa trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân đã có chuyển biến tích cực, chỉ thị của Đảng và những quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là nội dung hợp lòng dân, đáp ứng sự mong đợi của nhân dân nên được nhân dân đồng tình hưởng ứng rộng rãi, quá trình tổ chức thực hiện có nhiều thuận lợi và đạt được những thành tích đáng phấn khởi. Pháp luật về thực hiện dân chủ thực sự đi vào cuộc sống và ngày càng hoàn thiện. Nội dung hoạt động của cả hệ thống chính trị đã tập trung theo hướng: trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân.
2.2.2. Kết quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Kết quả thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở ở xã, phường, thị trấn
- Kết quả thực hiện nội dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Về nội dung dân biết:
Căn cứ nội dung Nghị định 29/NĐ-CP, Nghị định 79/2003/NĐ-CP và Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã thực hiện được việc công khai để dân biết.
Trong 11 nội dung phải công khai, thì có 46,46% xã công khai được 9 nội dung; 25% xã công khai được 8 nội dung; 15,23% xã công khai được 7 nội dung; còn lại 13,34% xã công khai được 6 nội dung. Những nội dung được chính quyền cấp xã công khai là: kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã; việc quản lý và sử dụng các loại quỹ; các khoản huy động đóng góp của nhân dân; chủ trương, kế hoạch, phương thức vay vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo; kết quả bình xét hộ nghèo, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo; đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền xã trực tiếp thực hiện. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có trên 55% số xã công khai được các nội dung trên, tiêu biểu như: xã Định Tân (huyện Yên Định), xã Yên Thọ (huyện Như Thanh), xã Phú Lộc (huyện Hậu Lộc), xã Vĩnh Tiến (huyện Vĩnh Lộc), xã Hoằng Thắng (huyện Hoằng Hóa)…
Tùy điều kiện cụ thể của mình, các xã đã có hình thức công khai phù hợp như: công khai qua hệ thống truyền thanh (90% số xã); niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, nơi họp thôn (75% số xã); có trên 90% số xã việc công khai các nội dung được trưởng thôn thông báo trên hệ thống loa truyền thanh của thôn, làng…. các hình thức công khai nêu trên, có một số huyện làm tốt là huyện Hoằng Hóa, huyện Cẩm Thủy… Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, Ủy ban bầu cử các cấp đã thực hiện nghiêm túc việc niêm yết công khai Danh sách những người ứng cử theo đúng quy định của pháp luật (Ủy ban bầu cử tỉnh đã công bố danh sách 26 người ứng cử tại 06 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và 157 người ứng cử tại 31 đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; Ủy ban bầu cử cấp huyện đã công bố danh sách 1.596 người ứng cử tại 278 đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện nhiệm kỳ 2011-2016; Ủy ban bầu cử cấp xã đã công bố danh sách 25.983 người ứng cử tại 4.626 đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2011-2016).
- Về nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
Nội dung này trên thực tế đã được tổ chức thực hiện khá tốt, đến nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có 85% số thôn thực hiện được việc tổ chức cho nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng ở phạm vi cấp xã, thôn.
Đối với những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định, cũng được thực hiện nghiêm túc. Tính đến nay, ở tất cả các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã tập trung chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế, quy định, quy ước, hương ước; có 100% số thôn, bản, khu phố đã xây dựng được quy ước, hương ước và trên 80 % số thôn, bản, khu phố đã bổ sung, sửa đổi khi có nghị định và pháp lệnh thay thế; có 75% số thôn, bản, khu phố thực hiện việc bầu và bãi nhiệm thành viên Ban Thanh tra nhân dân; 100% số thôn bầu và bãi nhiệm Trưởng thôn. Các nội dung này một số đơn vị làm tốt như: xã Thạch Bình (huyện huyện Thạch Thành); xã Ngọc Phụng (huyện Thường Xuân); xã Xuân Giang (huyện Thọ Xuân); xã Thiệu Tiến (huyện Thiệu Hóa); xã Nga An (huyện Nga Sơn); xã Quảng Bình (huyện Quảng Xương); xã Hưng Lộc (huyện Hậu Lộc); phường Ba Đình (thành phố Thanh Hóa); phường Phú Sơn (thị xã Bỉm Sơn).
Những nội dung trên được tiến hành bằng 2 hình thức đó là: tổ chức họp toàn thể cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trong đó tổ chức họp cử tri đại diện hộ gia đình là hình thức chủ yếu. Theo thống kê, 80% số thôn, bản, khu phố có tỷ lệ cử tri đại diện hộ gia đình đi họp đạt từ 50% đến 65%; nơi cao nhất đạt 85%. Tiêu biểu là các thôn ở xã Xuân Trường (huyện Thọ Xuân); các xã Quảng Tân (huyện Quảng Xương); xã Xuân Phú (huyện Thọ Xuân); xã Thành Sơn (huyện Bá Thước); xã Cẩm Tú (huyện Cẩm Thủy); xã Nga Thạch (huyện Nga Sơn); xã Tế Lợi (huyện Nông Cống)… Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, Ủy ban bầu cử các cấp đã thực hiện theo đúng các quy trình của luật, bảo đảm công khai, dân chủ, phát huy cao nhất quyền của cử tri. Trước hết, đã tổ chức 29 hội nghị để lấy ý kiến đối với đại biểu Quốc hội, với tổng số cử tri được triệu tập là 2.472 người, trong đó 27 người đạt 100% số cử tri có mặt tín nhiệm, có 01 người đạt 98,38% số cử tri có mặt tín nhiệm và 01 người đạt 41,26 %. Đã tổ chức 177 hội nghị để lấy ý kiến cử tri đối với đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, với tổng số cử tri được triệu tập là 18.070 người, trong đó 215 người đạt 100% số cử tri nơi cư trú tín nhiệm và 01 người đạt 97,56% tín nhiệm. Các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn đã hoàn thành việc lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với 1.984 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, 30.908 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở nơi làm việc của những người ứng cử. Tại các hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, đối chiếu với 5 tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân, cử tri đã bày tỏ sự tín nhiệm cao giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Các cử tri cũng bày tỏ mong muốn các đại biểu trúng cử sẽ tăng cường mối liên hệ mật thiết với cử tri nơi công tác và nơi cư trú, tham gia quyết định có hiệu quả những vấn đề cấp bách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.
Thứ hai, theo quy trình bầu cử, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đã phối hợp với chính quyền các cấp tổ chức 62 hội nghị để các ứng cử viên đại biểu Quốc hội tiếp xúc với 11.808 cử tri, tiếp thu 335 ý kiến phát biểu; 160 hội nghị để các ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp xúc 25.656 cử tri, tiếp thu 914 ý kiến phát biểu; 1.000 hội nghị để các ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện tiếp xúc 101.590 cử tri, tiếp thu 4.715 ý kiến phát biểu; 7.514 hội nghị để các ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tiếp xúc 719.429 cử tri, tiếp thu 39.646 ý kiến phát biểu. Việc tiếp xúc cử tri, thực hiện quyền vận động bầu cử đã được tổ chức dân chủ, công khai, cởi mở và có hiệu quả thiết thực.
Nhờ thực hiện đúng các quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, dân chủ, đúng nguyên tắc, nên tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đạt 99,41%. Trong đó 3 huyện có tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt 100% là Yên Định, Quan Sơn, Lang Chánh và 11 huyện, thị xã có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu trên 99,5% là: thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn, huyện Hà Trung, Hậu Lộc, Nga Sơn, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Như Thanh, Như Xuân, Bá Thước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
- Về thực hiện những nội dung nhân dân giám sát:
Quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cho thấy, cấp ủy, chính quyền các xã, phường, thị trấn đã tôn trọng và phát huy quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với các công việc của chính quyền và những việc dân biết, dân bàn, dân làm; nhất là giám sát triển khai các dự án, công trình đầu tư; việc quản lý, sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư tài trợ theo chương trình dự án; các khoản huy động nhân dân đóng góp; chính sách an sinh xã hội; nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức.
Các hình thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân được triển khai đầy đủ: Nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình chủ yếu thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng. Bên cạnh đó, nhân dân cũng thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi cửa quyền, vi phạm dân chủ, tham nhũng và các hành vi tiêu cực. Trong thực hiện “dân kiểm tra” vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng động đã được phát huy rõ rệt. Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn đã giám sát việc triển khai các chính sách pháp luật đến nhân dân, đặc biệt là các Luật chống tham nhũng, Luật đất đai, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Luật ngân sách, Luật bầu cử đại biểu quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân… Giám sát chính quyền các cấp ban hành văn bản đảm bảo đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, phù hợp với nguyện vọng và điều kiện của nhân dân, nhất là việc quy định và huy động các khoản đóng góp trong dân.
Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã thành lập được 637 Ban Thanh tra nhân dân, với tổng số 4.992 thành viên; số Ban Giám sát đầu tư cộng đồng là 636 ban, với 4.970 thành viên. Hầu hết các Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng được thành lập, kiện toàn, bổ sung đủ số lượng, cơ cấu, thành phần theo hướng dẫn tại Nghị định số 99/2005/NĐ – CP và Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT, đã xây dựng được quy chế làm việc, kế hoạch hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên gắn với địa bàn khu dân cư. Năm 2013, các Ban Thanh tra nhân dân trong tỉnh đã tổ chức giám sát được 1.247 vụ, phát hiện và kiến nghị giải quyết được 589 vụ. Những đơn vị làm tốt như: huyện Triệu Sơn, huyện Hà Trung, Thọ Xuân, Nga Sơn, Vĩnh Lộc… Các Ban giám sát đầu tư cộng đồng đã tổ chức giám sát được 1.448 công trình, đã phát hiện, kiến nghị giải quyết được 280 công trình có biểu hiện vi phạm. Những đơn vị làm tốt như: huyện Như Thanh giám sát được 185 công trình, huyện Quảng Xương giám sát được 120 công trình, huyện Thọ Xuân giám sát được 120 công trình…. Những vụ việc phát hiện có dấu hiệu sai phạm đều được Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời giải quyết, xử lý thỏa đáng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
- Kết quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở với phong trào xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình lớn của Đảng, nhà nước được thực hiện ở cấp xã (cấp cơ sở). Mục tiêu của chương trình là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát, triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung của chương trình được thể hiện trong Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Chủ thể xây dựng nông thôn mới chính là người dân ở cơ sở. Muốn thực hiện được mục tiêu của chương trình thì yêu cầu đặt ra có tính tiên quyết là phải thực hiện thật tốt dân chủ ở cơ sở được Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định, trong đó thực hiện các nội dung và hình thức công khai được ví như chìa khóa để thực hiện dân chủ.
Có thể khẳng định việc thực hiện dân chủ thời gian qua đã tạo ra một bước đột phá, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế, xã hội, tạo điều kiện cho người dân tham gia xây dựng Đảng, củng cố chính quyền, hạn chế những tiêu cực ở địa phương. Các nội dung công khai theo quy định được thực hiện khá nghiêm túc với nhiều hình thức phù hợp. Người dân có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Được hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ công dân, nhất là trong các lĩnh vực cụ thể tại địa bàn dân cư. Nhờ thực hiện dân chủ, ở các địa phương trong tỉnh đã huy động được nguồn lực từ nhân dân để phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển văn hóa xã hội, làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng “thay da đổi thịt”. Đến nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 100% số xã đã có quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới, bình quân mỗi xã đạt 9,5/19 tiêu chí, số xã được công nhận nông thôn mới đạt 19 xã, ước thực hiện năm 2014 đạt 27 xã nông thôn mới.
6 tháng đầu năm 2014, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa phát triển tương đối toàn diện; giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 4.017 tỷ đồng, tăng 3,7% so với cùng kỳ; vụ chiêm xuân được mùa lớn, năng suất lúa đạt 64,5 tạ/ha, tăng 2,5 tạ/ha so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực vụ Đông – Xuân ước đạt 947 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Chăn nuôi phát triển ổn định. Sản lượng thịt hơi ước đạt 96.486 tấn tăng 0,8%; trên địa bàn tỉnh, không xảy ra dịch bệnh lớn ở gia súc, gia cầm. Khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc, bảo vệ rừng được thực hiện theo kế hoạch; trồng rừng tập trung tăng 8,6%; đã hạn chế được số vụ cháy rừng và khai thác lâm sản trái phép. Sản xuất thủy sản tăng trưởng khá; giá trị sản xuất ước đạt 559 tỷ đồng, tăng 6,2. Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn tiếp tục được duy trì ổn định, đến nay trên địa bàn tỉnh có 155 làng nghề, cụm nghề và điểm nghề truyền thống, giải quyết cho trên 60.000 lao động có việc làm thường xuyên và hàng trăm ngàn lao động nông thôn khi nông nhàn, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông, lâm nghiệp được củng cố, phát triển. Đến nay, toàn tỉnh có 22.932 tổ hợp tác hoạt động hiệu quả, trong đó có 171 tổ đoàn kết trên biển; có 499 HTX dịch vụ nông nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp. Toàn tỉnh có 637 trang trại các loại (tăng thêm 50 trang trại so với cuối năm 2013), những huyện có số trang trại nhiều và sản xuất có hiệu quả, như: Như Thanh, Thạch Thành, Yên Định, Nga Sơn, Hậu Lộc, Nông Cống, Quảng Xương. Địa bàn nông thôn đã thu hút dược một số doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh, giải quyết nhiều việc làm cho lao động như: Tổng Công ty may 10 tại xã Quảng Hợp (huyện Quảng Xương), Tổng Công ty Tiên Sơn tại huyện Yên Định đã giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động trong khu vực; một số mô hình liên kết sản xuất trong nông nghiệp mang lại hiệu quả thiết thực như Công ty đường Lam Sơn, Công ty Cổ phần Phân bón Tiến Nông, Công ty cổ phần Việt Mỹ, Công ty cổ phần Thần Nông, Nhà máy Chế biến gỗ Thành Nam…
Về xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn, 6 tháng đầu năm 2014, các địa phương trong tỉnh đã phát huy dân chủ, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, nên đã huy động được sự đóng góp của nhân dân và cộng đồng, với số tiền 1.246 tỷ đồng, chiếm 32,21 % tổng nguồn vốn huy động cho chương trình xây dựng nông thôn mới (toàn tỉnh là 3.868 tỷ đồng), trong đó nhân dân đóng góp bằng tiền là 1.179 tỷ đồng, 25.000 ngày công lao động và hiến gần 800.000m2 đất… để đầu tư xây mới và nâng cấp, cải tạo được 510km đường giao thông nông thôn; 215km kênh mương nội đồng; 473 phòng học các cấp; 43 trạm y tế xã; 46 công sở xã; 42 nhà văn hóa xã; 304 nhà văn hóa thôn; chỉnh trang và xây mới 9.866 nhà ở dân cư; nâng cấp, cải tạo 40 chợ nông thôn; hoàn thành và đưa vào sử dụng 8.160 công trình cấp nước sinh hoạt và công trình vệ sinh.
Có thể nói, thông qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhiều địa phương trong tỉnh đã có cách làm sáng tạo, hiệu quả trong việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới như thông qua công tác đổi điền, dồn thửa để tạo quỹ đất công ích cho xã; vận động nhân dân tự nguyện hiến đất, giải phóng mặt bằng để xây dựng công trình công cộng. Duy trì và phát huy hiệu quả quy chế dân chủ cơ sở, dựa vào khả năng nội lực của địa phương và vận động con em thành đạt đang sinh sống xa quê đóng góp xây dựng nông thôn mới, việc huy động nguồn lực đã được thực hiện một cách dân chủ, minh bạch, theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
- Kết quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở với cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Thực hiện Chỉ thị số 30 CT/ TW của Bộ Chính trị về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo các xã, phường, thị trấn trong tỉnh kết hợp chặt chẽ nội dung thực hiện quy chế dân chủ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” (từ tháng 6/2001 là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”), nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, bảo tồn có chọn lọc những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần những cái lỗi thời, lạc hậu, hình thành dần những tập quán mới văn minh, sống và làm việc theo pháp luật. Xây dựng và phấn đấu theo các chỉ tiêu, quy chế, quy tắc về nếp sống văn hoá. Huy động nguồn lực của toàn xã hội tham gia các hoạt động sáng tạo và xây dựng đời sống văn hoá, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hoá phát triển, nâng cao dần mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, góp phần thúc đẩy – xã hội phát triển. Trong cuộc vận động này, Mặt trận Tổ quốc các cấp với vai trò, vị trí, chức năng của mình đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ở cơ sở thành lập Ban chỉ đạo, Ban vận động ở mỗi cấp, phối hợp với các tổ chức thành viên, các ngành, lồng ghép chương trình, các phong trào quần chúng trên địa bàn dân cư để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động. Cuộc vận động đã mang lại hiệu quả thiết thực, phát huy dân chủ, khơi dậy tiềm năng nội lực của nhân dân trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng nếp sống văn hóa, góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn, ngăn chặn và đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội. Các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, nghiện ma túy… ở nhiều khu dân cư đã giảm và không phát sinh thêm. Việc cưới, việc tang, lễ hội được tổ chức theo nếp sống mới được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Các cụm thể thao, văn hóa, điểm vui chơi giải trí của cộng đồng, thư viện, phòng đọc sách, bưu điện văn hóa… được xây dựng.
Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã công nhận 662.903/895.816 hộ gia đình văn hoá, đã khai trương và công nhận 4.244 làng, bản, khu phố, 66 xã, phường, cơ quan văn hoá; 532.140 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình “ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”; 4.032 khu dân cư không phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội; 5.430 khu dân cư bảo đảm về vệ sinh môi trường; 5.315 khu dân cư không có người sinh con thứ ba; 4.032 khu dân cư bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Ở nhiều khu dân cư, với sự đồng lòng, giúp đỡ của cộng đồng dân cư, nhiều đối tượng nghiện ma túy, vi phạm pháp luật, cờ bạc, số đề… đã được cảm hóa trở về sống lương thiện, trở thành người có ích cho xã hội. Thông qua cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, người dân đã thực sự phát huy quyền làm chủ của mình trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, quan tâm tới lợi ích cộng đồng, xây dựng xã hội thân thiện ngay tại địa bàn dân cư.
- Kết quả thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan
Quy chế dân chủ trong hoạt động cơ quan đã được thực hiện nghiêm túc tại Thanh Hóa. Có thể tóm tắt những thành công chủ yếu trên hai phương diện: Thực hiện dân chủ trong quan hệ nội bộ của cơ quan và giữa hệ thống cơ quan nhà nước, hệ thống chính trị và thực hiện dân chủ trong quan hệ với người dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Thực hiện dân chủ trong quan hệ nội bộ của cơ quan và giữa hệ thống cơ quan nhà nước, hệ thống chính trị: Qua thực tiễn thực hiện dân chủ ở cơ quan, thực tế tỉnh Thanh Hóa đã cho thấy đây là chủ trương đúng đắn, được cán bộ công chức đồng tình, ủng hộ, tiếp nhận một cách phấn khởi và tin tưởng, tạo nên chuyển biến tích cực trong nhận thức chính trị và hành động của cán bộ, công chức… Đặc biệt đã nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý điều hành, lề lối làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã… tạo ra động lực thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, cụ thể:
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, sau 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đến hết năm 2009, đã có 100% xã, phường, thị trấn xây dựng được quy chế làm việc; ban hành quy định về mối quan hệ công tác giữa cấp ủy, chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
Thông qua việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về dân chủ ở cơ sở, nhân dân và cán bộ, công chức cấp xã đã có nhiều ý kiến đóng góp với tinh thần xây dựng đối với vai trò lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các Cấp uỷ đảng, chính quyền; nhân dân cũng đã có nhiều ý kiến đóng góp chân thành, cởi mở hơn đối với lãnh đạo, tổ chức, làm cho nhân dân tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; đồng thời, tăng cường sự giám sát đối với các hoạt động của cán bộ chính quyền cơ sở. Vì vậy, các Cấp uỷ Đảng, chính quyền cơ sở và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị đã từng bước đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành, đổi mới phong cách làm việc theo hướng gần dân, tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân hơn; hạn chế những sai sót vi phạm pháp luật, làm tăng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chính quyền, góp phần vào việc củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực công tác của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Trong nội bộ các cơ quan hành chính: theo Báo cáo tổng kết nhiệm vụ cải cách hành chính của tỉnh, hầu hết các nội dung của quy chế dân chủ tại cơ quan đã được triển khai. Hàng năm có 1455/1533 số cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp tổ chức được Hội nghị cán bộ công chức, viên chức. Thông qua Hội nghị cán bộ công chức, các nội dung sau đã được công khai đầy đủ: Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý của cơ quan; Nội quy, quy chế cơ quan. Có 100% các cơ quan đơn vị của Nhà nước trên địa bàn tỉnh đã xây dựng được các nội quy, quy chế, quy chế quỹ phúc lợi, khen thưởng.v.v. Việc xây dựng các quy chế đó đã được lấy ý kiến đến toàn bộ công chức, viên chức và công khai khi các văn bản này được ban hành. Điều này tạo ra cơ sở cho việc công khai minh bạch các hoạt động của cơ quan [23, tr.7-8].
Những thay đổi liên quan đến tổ chức và hoạt động của cơ quan được công khai kịp thời. Ví dụ trong năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành và công khai các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền han và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thú y tỉnh; Đoàn Quy hoạch nông – lâm nghiệp Thanh Hóa; Đoàn Quy hoạch và thiết kế thủy lợi Thanh Hóa; các Ban Quản lý Vườn quốc gia Bến En; Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu; Pù Luông, Xuân Liên; thành lập Hạt Quản lý đê Thành phố Thanh Hóa; đổi tên Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến Thương mại; kiện toàn Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Thanh Hóa.v.v. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Ngoài ra trong hoạt động thường ngày, các cơ quan nhà nước công khai các văn bản, chủ trương pháp luật liên quan đến hoạt động của cơ quan; công khai kinh phí hoạt động hàng năm, bao gồm các nguồn kinh phí do ngân sách cấp và các nguồn tài chính khác và quyết toán kinh phí hàng năm của cơ quan. Tất cả các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh đều tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, và trong Hội nghị đó, cán bộ công chức đã tích cực thảo luận công khai, đóng góp ý kiến vào Kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan; Báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan; Các biện pháp cải tiến tổ chức và lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu dân; Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; đề bạt cán bộ, công chức trong cơ quan theo quy định; Thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của cán bộ, công chức; Nội quy, quy chế cơ quan.
Đặc biệt công tác tuyển dụng, quản lý, đề bạt cán bộ công chức – vốn là loại việc ít nhiều mang tính nội bộ và có thể gây ra nhiều dư luận nhạy cảm – cũng được thực hiện theo hướng công khai minh bạch hóa. Trong năm 2013, tỉnh đã điều động luân chuyển 29 cán bộ thuộc chức danh trưởng, phó các sở ban ngành, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Việc thi tuyển công chức hành chính ngạch chuyên viên được thực hiện công khai và đúng quy định của pháp luật. Trong năm 2012-2013, tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 482, so với chỉ tiêu tuyển dụng, tỷ lệ cạnh tranh giữa các thí sinh là 1/ 2,33. Kết quả đã có 419 thí sinh dự thi (bằng 86,93 hồ sơ đăng ký dự thi), số thí sinh đạt yêu cầu là 118 người (bằng 28,16 thí sinh dự thi). Trong số dự thi có 38 thí sinh vi phạm quy chế, trong đó 31 bị xử lý với hình thức khiển trách: 05 thí sinh bị cảnh cáo; 02 thí sinh bị đình chỉ thi.
Công tác kiểm tra, giám sát của công chức trong cơ quan hành chính được thực thi tốt – thông qua hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân trong cơ quan, và tại hội nghị cán bộ công chức. Qua kiểm tra, có khá nhiều vụ việc được làm sáng tỏ và đề nghị lên thủ trưởng hay cơ quan hành chính cấp trên giải quyết, ví dụ: năm 2013 phát hiện các xã Quảng Hùng, Quảng Thái, Quảng Chính, Quảng Châu, Quảng Nhân, Quảng Lộc.v.v. thuộc huyện Quảng Xương bố trí số lượng công chức Địa chính – Xây dựng và Môi trường, Văn hóa – Xã hội, Tài chính – Kế toán vượt quá so với quy định; các trường Trung học phổ thông Nông Cống 3, Như Thanh 2 và Cẩm Thủy 1 trong thủ tục tuyển dụng công chức chưa phù hợp với quy định pháp luật. v.v [47].
Công tác phòng chống tham nhũng: Đạt kết quả tốt, đã chủ động tăng cường kiểm tra, đôn đốc các ngành, địa phương trong tỉnh thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng, kịp thời triển khai các văn bản về phòng ngừa tham nhũng trên các lĩnh vực.
- Thực hiện dân chủ trong quan hệ giữa cơ quan với dân: Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Trong mối quan hệ giữa cơ quan với người dân, tổ chức, thực hiện dân chủ trong quan hệ với dân thể hiện rõ nét trong công tác tiếp dân và trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Trong công tác tiếp dân
Với tinh thần dân chủ, trong quan hệ giao tiếp với công dân, tổ chức – các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực công khai minh bạch các thông tin và các hoạt động trong giao tiếp với người dân, tổ chức. Các văn bản về thủ tục hành chính được niêm yết tại trụ sở cơ quan, các thông tin pháp luật quan trọng được phổ biến rộng rãi đến người dân. Công tác Cải cách hành chính, cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được đẩy mạnh: đến nay, có 100% số xã đã triển khai thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo quy định thống nhất về lĩnh vực, trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2015 được ban hành kèm theo Quyết định số 1525/QĐ-UBND ngày 23/5/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Việc giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các cấp đã cơ bản đáp ứng với yêu cầu của công dân và đảm bảo thời gian theo quy định, tạo niềm tin và sự hài lòng cho công dân, tổ chức khi đến giao dịch hành chính công tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Để tiếp tục tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp khi đến cơ quan nhà nước để giải quyết công việc, ở nhiều huyện đã ban hành quy chế phối hợp giữa các phòng, ban, chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện với nhau và giữa các phòng của Ủy ban nhân dân huyện với các cơ quan, đơn vị có liên quan như cơ quan thuế, kho bạc, kiểm lâm; và đặc biệt ban hành quy chế phối hợp giữa các phòng, ban, chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn, nhằm phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp, tránh đùn đẩy trách nhiệm trong giải quyết công việc ở cơ sở.
- Trong giải quyết khiếu nại tố cáo:
Với nền kinh tế đang phát triển tại nhiều địa phương trong tỉnh, các dự án mới ra đời, giao dịch đất đai có nhiều biến động nên giải quyết khiếu nại tố cáo ở Thanh Hóa vẫn là mảng hoạt động khá nóng và thể hiện rõ rệt mức độ dân chủ, công khai trong hoạt động chính quyền. Nhìn chung số lượt công dân đi khiếu kiện và đơn thư khiếu nại, tố cáo tuy có tăng so với năm trước, nhưng phần lớn là các vụ việc cũ và gửi đơn trùng lắp nhiều lần đến nhiều cấp, trong đó có nhiều vụ việc đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu kiện. Vụ việc mới phát sinh tập trung ở một số địa phương như: Tĩnh Gia, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, thành phố Thanh Hóa, Yên Định, Ngọc Lặc do các địa phương này đã và đang triển khai thực hiện các dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A, Quốc lộ 47, dự án phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư và đầu năm có nhiều đơn thư liên quan đến tư cách người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.
Nội dung khiếu nại chủ yếu về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp đất đai, đòi lại đất cũ là chủ yếu. Bên cạnh đó, còn có những nội dung khiếu nại liên quan đến chế độ chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách người có công, bình xét hộ nghèo. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Nội dung tố cáo chủ yếu về các sai phạm của cán bộ lãnh đạo cấp xã và một số cán bộ cấp huyện, ngành trong việc quản lý, sử dụng đất đai; quản lý kinh tế, tài chính; đầu tư xây dựng; vi phạm quy chế dân chủ; không thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị thanh tra, quyết định xử lý tố cáo, quyết định giải quyết khiếu nại của cấp có thẩm quyền; cán bộ sai phạm, mất phẩm chất đạo đức nhưng vẫn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đến 15/11/2011 các cơ quan hành chính Nhà nước trong tỉnh đã tiếp 9.216 lượt người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có liên quan đến khiếu nại, tố cáo, trong đó:
- Cấp tỉnh tiếp 1.826 lượt người, trong đó: Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp 943 lượt; Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp 185 lượt; Phòng Tiếp công dân của Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp: 474 lượt; Thanh tra tỉnh tiếp 224 lượt.
- Cấp huyện tiếp 935 lượt người.
- Cấp sở tiếp 674 lượt người.
- Cấp xã tiếp 781 lượt người.
Trong đó có các vụ khiếu nại đông người như: Khiếu nại của Bà Nguyễn Thị Thập và một số công dân xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hoá về việc Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình để mở rộng, nâng cấp QL45 nhưng đến nay chưa bồi thường về đất và hoa màu; khiếu nại việc thu hồi đất xây dựng Bệnh viện đa khoa Nam Thanh (nay là Bệnh viện đa khoa Đại An) bồi thường không đúng đơn giá đất. Kiến nghị của một số công dân xã Minh Khôi, huyện Nông Cống về việc đề nghị không mở đường Tỉnh lộ 525 đi cầu Đò Trạp vào đất hai lúa của các hộ dân. Khiếu nại của một số công dân xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hoá về đơn giá thu tiền đất tái định cư đối với 36 hộ dân thuộc diện giải phóng mặt bằng dự án đê sông Mã. Đề nghị của một số công dân xã Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia về việc giải quyết bồi thường thiệt hại của 80 hộ dân do việc Công ty xi măng Nghi Sơn nạo vét luồng lạch ra vào cảng gây chết cá lồng hàng loạt của các hộ dân. Hoặc một số công dân ở các xã: Triệu Lộc, Đại Lộc, huyện Hậu Lộc; xã Hà Dương, huyện Hà Trung; xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hoá; xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn khiếu nại về việc bồi thường đất giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ 1A. Một số công dân ở các xã: Quảng Đông, Quảng Cát, Quảng Phú, Quảng Thọ, Quảng Châu, Quảng Tâm, huyện Quảng Xương khiếu nại về việc bồi thường đất, tài sản trên đất dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ 47. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân đã được tiếp nhận, phân loại, xử lý kịp thời và hướng dẫn, chuyển đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết; các vụ việc thuộc thẩm quyền đã được xác minh, kết luận và ban hành quyết định giải quyết kịp thời, đúng pháp luật. Năm 2011, Tổng số vụ khiếu nại đã giải quyết là 824/1.008 vụ việc, đạt tỷ lệ 81 %, trong đó:
- Cấp tỉnh giải quyết 41/51 vụ, đạt tỷ lệ 80,4%;
- Cấp huyện giải quyết 463/596 vụ, đạt tỷ lệ 77,7%;
- Cấp sở, ngành giải quyết 45/51 vụ, đạt tỷ lệ 88%;
- Cấp xã giải quyết 275/310 vụ, đạt tỷ lệ 89%.
Trong 824 vụ việc đã giải quyết, có 313 vụ việc được giải quyết thông qua hòa giải, chiếm tỷ lệ 38%; 382 vụ việc phải ban hành quyết định giải quyết. Kết quả giải quyết cho thấy: khiếu nại đúng 297 vụ, chiếm tỷ lệ 36%; khiếu nại sai 396 vụ, chiếm 48%; khiếu nại có đúng, có sai 131 vụ, chiếm 16%. Còn lại 184 vụ việc đang tiến hành thẩm tra, xác minh. Kết quả giải quyết khiếu nại, đã thu hồi về cho Nhà nước 1.069 triệu đồng, 2.810m2 đất; trả lại cho công dân 512 triệu đồng, 1.395m2 đất. Tổng số vụ tố cáo thuộc thẩm quyền đã giải quyết 219/243 vụ, đạt 90,1%:
- Cấp tỉnh giải quyết 6/6 vụ, đạt tỷ lệ 100%.
- Cấp huyện giải quyết 105/113 vụ, đạt tỷ lệ 93%.
- Cấp sở, ngành giải quyết 35/48 vụ, đạt tỷ lệ 72,9%.
- Cấp xã giải quyết 73/76 vụ, đạt tỷ lệ 96,1%.
Kết quả giải quyết cho thấy: Tố cáo đúng 23 vụ, chiếm 11%; tố cáo sai 102 vụ, chiếm 47%; tố cáo có đúng có sai 94 vụ, chiếm 43%. Kết quả giải quyết tố cáo, đã thu hồi về cho Nhà nước 304 triệu đồng, 95m2 đất; trả lại cho công dân 1.114 triệu đồng, 2.858m2 đất; kiến nghị xử lý 36 người có sai phạm.
Trong năm 2011 thực hiện nhiệm vụ rà soát các vụ việc tồn đọng, kéo dài, xác định nguyên nhân và đề xuất biện pháp giải quyết, kết quả như sau:
- Tổng số vụ việc rà soát: 17 vụ (14 vụ khiếu nại, 02 vụ tố cáo, 01 vụ kiến nghị).
- Số vụ việc phải kiểm tra lại sau rà soát: 09 vụ (Thanh tra Chính phủ 05 vụ, Thanh tra tỉnh 04 vụ).
Kết quả giải quyết sau rà soát: Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Đã giải quyết 06 vụ: Khiếu nại của Bà Nguyễn Thị Nhung ở Hoằng Đức, Hoằng Hóa; khiếu nại của bà Nguyễn Thị Thơi ở xã Quảng Trung, Quảng Xương; khiếu nại của bà Nguyễn Thị Cúc ở Nông trường Thống Nhất; vụ tố cáo xã Xuân Thiên, Thọ Xuân; kiến nghị của 47 hộ xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn; khiếu nại của ông Nguyễn Bá Minh, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa.
Đang tập trung thực hiện kết luận, quyết định giải quyết 07 vụ (khiếu nại của ông Lê Nguyên Thành, phường Ba Đình; khiếu nại của ông Phạm Văn Hiến, phường Điên Biên, thành phố Thanh Hóa; Khiếu nại của ông Trần Văn Khuê, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa; khiếu nại của công dân thôn Ngọc Lẫm, xã Trường Giang, huyện Nông Cống; Khiếu nại của bà Lê Thị Lẩu, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn; vụ khiếu kiện xã Hoằng Lý, huyện Hoằng Hóa; khiếu nại của ông Lê Văn Quế, xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương)
04 vụ đã có kết luận thanh tra, hiện nay đang tập trung giải quyết:
- Khiếu nại của Công ty thương mại Hồ Thành;
- Khiếu nại của Hợp tác xã gốm Quyết Thắng (mới) về đòi bồi thường khu đất số 158 phố Lò Chum, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa;
- Khiếu nại của Công ty cổ phần Khôi Việt – Hà Nội về Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hủy bỏ kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất Khu đô thị mới Quảng Thành, thành phố Thanh Hóa;
- Khiếu nại của ông Lê Hữu Ấm và 42 hộ dân xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia về việc không được bồi thường tiền đất thu hồi thực hiện Dự án xây dựng Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn.
Trong 6 tháng đầu năm 2014, các cơ quan hành chính trong tỉnh đã tiếp 3.331 lượt công dân, trong đó cấp tỉnh tiếp 318 lượt, cấp sở ngành tiếp 106 lượt, cấp huyện tiếp 1.098 lượt, cấp xã tiếp 1.809 lượt. Tổng số đơn đã tiếp nhận là 1.799 đơn, trong đó có 564 đơn đủ điều kiện xem xét giải quyết (khiếu nại: 502 đơn, tố cáo 62 đơn), kết quả giải quyết đơn khiếu nại là 451/502 vụ đạt 90%, trong đó, cấp tỉnh giải quyết 40/48 vụ đạt 83,3%, cấp huyện giải quyết 293/324 vụ đạt 90,4%, cấp xã giải quyết 102/113 vụ đạt 90,3%, cấp sở ngành giải quyết 16/17 vụ đạt 94,1%; kết quả giải quyết đơn tố cáo: cấp tỉnh giải quyết 6/6 vụ đạt 100%, cấp huyện giải quyết 23/31 vụ đạt 74,2%, cấp xã giải quyết 12/13 vụ đạt 92,3%, cấp sở ngành giải quyết 9/12 vụ đạt 75%.
Qua tiếp công dân, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo cấp huyện, các ngành giải quyết kịp thời, dứt điểm nhiều vụ việc ngay tại cơ sở, hạn chế khiếu kiện vượt cấp, một số vụ việc phức tạp hoặc đông người liên quan đến cơ chế, chính sách Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp xem xét giải quyết với tinh thần thận trọng, đúng luật và phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh còn tổ chức các buổi tiếp công dân đột xuất, lưu động tại cơ sở để nắm bắt tình hình và chỉ đạo kịp thời, như tiếp công dân thôn Ngọc Lẫm, xã Trường Giang, huyện Nông Cống; tiếp và đối thoại với các công dân xã Quảng Tâm, huyện Quảng Xương. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Với kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo như trên, các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh đã thực sự nỗ lực trong việc công khai minh bạch, giải đáp các vướng mắc trong cộng đồng dân cư và làm rõ các vụ việc, các tranh chấp, mang lại bầu không khí tin tưởng, dân chủ không chỉ đối với người dân mà cả trong nội bộ cơ quan.
- Kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong doanh nghiệp
Là một địa phương có số lượng doanh nghiệp khá lớn và biến động: trung bình mỗi năm toàn tỉnh thành lập mới khoảng 1.200 doanh nghiệp; và tính đến thời điểm 31/12/2013, toàn tỉnh có hơn 9000 doanh nghiệp (trong đó có hơn 1000 doanh nghiệp tư nhân; 2.400 công ty cổ phần; 5.631 công ty trách nhiệm hữu hạn và 42 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) [38], việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại doanh nghiệp cũng gặp khá nhiều khó khăn. Tuy nhiên với sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của tổ chức công đoàn, việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở doanh nghiệp đã được triển khai rộng khắp và có những thành công rất đáng kể. Hầu hết các nội dung của Quy chế dân chủ đã được hiện thực hóa tại các doanh nghiệp.
Thứ nhất: Người lao động đã được bàn bạc và quyết định các công việc thuộc quyền dân chủ của mình: trong các doanh nghiệp nhà nước, 100% đơn vị đã xây dựng được quy chế, thang bảng lương, thỏa ước lao động tập thể.v.v. Quá trình xây dựng các văn bản này được lấy ý kiến đến toàn thể công nhân lao động và được công khai khi các văn bản này được ban hành. Đặc biệt điều này khá khó thực hiện đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài, nhưng cho đến nay, trong số các doanh nghiệp dân doanh: có trên 70% các doanh nghiệp đã xây dựng được các nội quy, quy chế, thang, bảng lương, thỏa ước lao động tập thể, quy chế về quỹ phúc lợi, khen thưởng.v.v.
Quy trình ký các văn bản trên đảm bảo tính dân chủ: các đơn vị xây dựng nội quy, quy chế, dự thảo, đưa xuống các phân xưởng, phòng ban lấy ý kiến của cán bộ, công nhân lao động, thông qua hội nghị cán bộ chủ chốt thống nhất sau đó mới đưa ra Hội nghị Người lao động để xem xét, biểu quyết thực hiện.
Một thành công lớn trong thực hiện Quy chế dân chủ tại doanh nghiệp biểu hiện thông qua việc tổ chức các hội nghị của người lao động trong doanh nghiệp. Do loại hình doanh nghiệp khá đa dạng nên việc tổ chức các hội nghị này cũng tuân theo các khuôn khổ pháp luật khác nhau, nhưng nói chung trên địa bàn tỉnh đã tổ chức rất thành công và đúng luật các hoạt động này. Cụ thể: đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu đã tổ chức Đại hội Công nhân viên chức theo Nghị định 07/CP ngày 13/12/1999 của Chính phủ và các quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2005/TT-LTLĐLĐ-BLĐTB&XH ngày 16/5/2005 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; đối với Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn đã tổ chức Hội nghị người lao động theo Nghị định 87/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 32/2007/TTLT (31/12/2007) của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về hướng dẫn tổ chức Hội nghị Người lao động; Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Kết quả là tính đến 6 tháng đầu năm 2014, có 324/527 công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn tổ chức được Hội nghị người lao động (chiếm 61% số các doanh nghiệp khu vực tư của tỉnh). 100% Các công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu thuộc tỉnh quản lý đã tổ chức được Đại hội Công nhân viên chức; Trong số các doanh nghiệp trên, có đến 79,5% đơn vị đã ký Thỏa ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật Lao động.
Có đến 111/527 doanh nghiệp có công đoàn tổ chức được đối thoại trực tiếp; Riêng trong tháng 5/2014 có 10 đơn vị tổ chức đối thoại trực tiếp, đó là: công ty Ivory – Hậu Lộc; Công ty Cổ phần dụng cụ thể thao Delta – Hoằng Hóa; Công ty Sunjade, Aresa, Anora – Khu kinh tế Nghi Sơn; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường và Công trình đô thị, Công ty Tân Thành Phát, Công ty Trường Phát, Công ty Kiên Việt, Công ty Tiến Nông.v.v. Đáng chú ý là việc đối thoại giữa người lao động với chủ sử dụng lao động không chỉ bó hẹp trong phạm vi doanh nghiệp, mà có cả sự tham gia của các cấp chính quyền. Cụ thể rất gần đây, ngày 28/02/2014 và ngày 28/4/2014, Liên đoàn Lao động Tỉnh đã tổ chức Hội nghị giao ban các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Thành phần Hội nghị bao gồm đại diện các Ban của Tỉnh ủy, đại diện lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Tỉnh; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội; Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn; Công an Tỉnh và Chủ tịch Công đoàn của 13 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Tại Hội nghị, công đoàn cơ sở đã phản ánh về tình hình đời sống, việc làm, tiền lương, việc thực hiện các chế độ, chính sách, pháp luật lao động – từ đó nắm bắt không chỉ tình hình mà cả tư tưởng của người lao động [24].
Hoạt động giám sát trong các doanh nghiệp được thực hiện khá nghiêm túc. Có 725 cơ quan, đơn vị bổ sung và kiện toàn Ban Thanh tra nhân dân. Trong số đó, có 55% Ban thanh tra được đánh giá hoạt động tốt, 35% khá, 10% yếu [23]. Đáng chú ý là do đặc thù doanh nghiệp nên hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân sẽ khác biệt nhiều so với Thanh tra nhân dân tại cơ quan hành chính hay tại xã, phường thị trấn. Nhưng dẫu con số chưa thật cao – thực tiễn Thanh Hóa đã phản ánh sự chủ động tích cực của người lao động trong tham gia giám sát công việc tại doanh nghiệp mình.
Rất nhiều doanh nghiệp đã xây dựng lịch tiếp dân, có thùng thư góp ý, xây dựng nội quy lao động, xây dựng các nội quy khác trong nội bộ – qua đó phát huy được các quyền dân chủ đại diện của tổ chức Công đoàn; quyền dân chủ trực tiếp của công nhân lao động. Khá nhiều ý kiến của người lao động đã được tiếp thu và kịp thời xử lý, góp phần làm tốt hơn các quan hệ trong doanh nghiệp, từ đó gián tiếp nâng cao hiệu quả chất lượng lao động.
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
2.3.1. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
Thực hiện pháp luật là quá trình phức tạp, mà hiệu quả của thực hiện pháp luật chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau. Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng chịu ảnh hưởng từ nhân tố chủ quan – trong đó chủ yếu là tinh thần quyết tâm, ý thức của chính quyền và người dân cơ sở, đồng thời cũng chịu tác động từ các nguyên nhân khách quan đến từ điều kiện tự nhiên, xã hội của tỉnh; từ các biến động kinh tế trong tỉnh, trong nước và thậm chí ảnh hưởng của kinh tế thế giới.v.v. Bởi vậy, kết quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở tỉnh cũng bao gồm cả hai mảng: bên cạnh những thành công, còn tồn tại khá nhiều bất cập. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tóm tắt các hạn chế cơ bản, chủ yếu này dựa trên các lĩnh vực chính: hạn chế trong thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn; trong thực hiện dân chủ tại cơ quan hành chính; hạn chế trong thực hiện dân chủ cơ sở ở khối doanh nghiệp.
- Những hạn chế trong thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn vẫn còn một số hạn chế, yếu kém. Các yếu kém này thể hiện trên các bình diện chính như:
Thứ nhất: Vẫn còn những nơi cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chưa thực sự quan tâm đến việc quán triệt, triển khai thực hiện Thông báo kết luận số 65 KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11. Từ việc chưa chú trọng về chủ trương, dẫn đến việc các nội dung của dân chủ cơ sở chưa được thực hiện tốt trong thực tiễn tại các địa bàn đó: chưa tạo được chuyển biến về nhận thức dẫn đến tình trạng mất dân chủ, quan liêu, cửa quyền, mệnh lệnh, hành chính, áp đặt, coi nhẹ việc bàn bạc lấy ý kiến tham gia đóng góp của nhân dân; vi phạm nguyên tắc quản lý tài chính; thực hiện các chương trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng; chính sách an sinh xã hội; thu và sử dụng các nguồn thu của dân sai nguyên tắc. Quy trình xây dựng quy chế, hương ước không đảm bảo quy định, chất lượng thấp, nhiều bản quy chế, hương ước sao chép lẫn nhau, không sát thực tiễn, không phát huy được thuần phong mỹ tục của địa phương, thậm chí có những quy định trái pháp luật.
Thứ hai: Qua tổng kết hoạt động trong 3 năm thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, cho thấy các hình thức thực hiện dân chủ cơ sở đôi khi chưa phát huy hiệu quả. Việc thực hiện các quy định theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ở một số nơi chưa đồng bộ, chưa thường xuyên, còn hình thức, chất lượng, hiệu quả thấp; tỷ lệ cử tri đi dự họp không đạt yêu cầu, việc triển khai các chủ trương, quyết định của cấp trên chủ yếu thông qua hệ thống truyền thanh và cán bộ thôn, bản; việc rà soát, bổ sung, thực hiện các quy chế, quy định của xã; quy ước hoặc hương ước ở thôn chưa nghiêm túc. Một số nơi, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các chính sách, công trình, dự án, chính sách an sinh xã hội thiếu dân chủ, chưa đúng quy trình dẫn đến khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Chất lượng tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng thấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Thứ ba: Đối với các cơ quan chính quyền cơ sở:
Hiện tại tỉnh Thanh Hóa còn 1.925 cán bộ cấp xã (chiếm 28,9% cán bộ), 262 công chức cấp xã (chiếm 3,9% công chức) chưa đạt chuẩn về chuyên môn; trong đó các đoàn thể có tỷ lệ chưa đạt chuẩn chiếm tới 58,3% tổng số cán bộ chưa chuẩn, riêng chức danh Chủ tịch Hội cựu chiến binh có gần 50% cán bộ chưa đạt chuẩn; khu vực miền núi có tỷ lệ cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn cao hơn so với trung bình của tỉnh (cán bộ chưa đạt chuẩn của khu vực miền núi là 32,2%, công chức 4,8%).
Có nhiều nguyên nhân, một số chức danh cán bộ có tính chất cơ cấu, thành phần, như: giới tính nữ để giữ chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, bộ đội xuất ngũ để đảm nhận Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, người có kinh nghiệm, cao tuổi để đảm nhận Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc… nên yếu tố chuẩn về chuyên môn đầu vào trước khi bầu chưa được chú trọng, sau khi đảm nhận chức vụ có tư tưởng yên vị, không học tập để đạt chuẩn; công chức cấp xã chưa đạt chuẩn chủ yếu là Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng quân sự xã (128 người) nhưng khó giải quyết do không có chính sách hỗ trợ đối tượng này khi nghỉ việc, trong khi đó một số công chức không đủ điều kiện đi học do quá tuổi theo quy định của ngành Công an, Quân sự.
Một bộ phận cán bộ ở cấp xã (chủ yếu là người đứng đầu) chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng chiến lược của chính sách thu hút của tỉnh, dẫn đến vẫn còn tư tưởng không muốn nhận người có trình độ đại học chính quy trở lên về làm công chức ở xã mình, vì sợ chiếm chỗ con em, người thân; số ít cán bộ, công chức cho rằng những người tốt nghiệp đại học hệ chính quy trở lên sau khi được tuyển dụng về xã công tác sẽ thay thế công chức hiện tại do chưa đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, nên chưa thật sự đồng tình với chính sách thu hút.
Về phía cơ quan hành chính, ở cấp xã phần lớn chưa bố trí được nơi tiếp công dân riêng; việc tiếp dân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chưa thực hiện theo lịch; công dân đến phản ánh kiến nghị, khiếu nại, tố cáo chưa được tiếp chu đáo, hướng dẫn, giải thích chưa đầy đủ, chưa gắn với hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc giải quyết các vụ việc khiếu kiện.
Mặt khác chưa coi trọng việc vận động, giải thích, hướng dẫn cho công dân thực hiện. Một số vụ việc đã được các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết đúng chính sách, pháp luật, thấu tình, đạt lý nhưng một số công dân vẫn cố tình khiếu kiện nhất là vào các ngày tiếp dân theo định kỳ của lãnh đạo. Trong đó có nguyên nhân là sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc giải thích, trả lời chưa thống nhất. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Từ những bất cập trong hệ thống hành chính, dẫn đến những khó khăn trong việc công khai các nội dung đã quy định tại Quy chế dân chủ cơ sở; khó khăn trong thực thi các quyền trao đổi, góp ý hay giám sát của người dân.
Thứ tư: Ngay trong việc thực thi các quyền dân tự quyết định: Việc huy động đóng góp của nhân dân còn nhiều bất cập, có những nơi thu quá sức dân, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, đời sống; một số xã thu không đúng quy định của pháp luật, thu không đúng thẩm quyền; có những khoản thu nhân dân không được bàn bạc; việc quản lý không đảm bảo nguyên tắc, sử dụng một số khoản thu không đúng mục đích, chưa coi trọng việc giám sát thực hiện của nhân dân.
Thứ năm, quyền nhân dân giám sát thực hiện trên thực tế còn nhiều yếu kém nhất. Đối với việc giám sát các công trình: đây là lĩnh vực thực hiện khó khăn nhất. Có thể đánh giá rằng việc giám sát các công trình quy mô nhỏ tại cộng đồng nơi người dân sinh hoạt đã được thực hiện tương đối tốt. Nhưng đối với những công trình có quy mô lớn (do Trung ương hay tỉnh đầu tư) thì chức năng giám sát của người dân chưa thật sự đạt được hiệu quả. Một mặt, số người tham gia giám sát còn ít, những người chủ yếu được cử vào Ban quản lý giám sát công trình, thanh tra nhân dân… thường chỉ là trưởng thôn, trưởng xóm.v.v. Mặt khác, cơ chế để nhân dân tham gia và nội dung thực hiện giám sát, kiểm tra chưa được quy định rõ nên hình thức và nội dung giám sát, kiểm tra của nhân dân trong thời gian qua hiệu quả chưa cao. Đối với các nội dung giám sát khác, tại nhiều xã, phường, cơ quan hành chính chưa quan tâm nắm bắt tình hình, tiếp xúc đối thoại với nhân dân; việc tiếp công dân chưa đi vào nề nếp, còn mang nặng tính hình thức – vì vậy, khó tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền kiểm tra giám sát. Đặc biệt ở nhiều nơi việc quản lý đơn thư chưa tập trung, chấp hành trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết chưa đảm bảo, chưa đúng, còn chậm, chất lượng không cao, một số vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết còn kéo dài; Việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư cũng như việc chấp hành trình tự thủ tục và thời hạn giải quyết đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn một số đơn vị nhất là ở cấp xã giải quyết một số vụ việc chưa đúng quy định. Việc thực hiện một số kết luận, kiến nghị thanh tra, quyết định giải quyết của cấp có thẩm quyền chậm, không dứt điểm, chưa kịp thời, nên công dân tiếp tục khiếu nại. Từ các việc trên dẫn đến hậu quả là chưa giải quyết kịp thời những kiến nghị, đề xuất, thắc mắc của nhân dân để dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo còn xảy ra, có nơi đông người, vượt cấp, như: xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa; xã Quảng Phú, huyện Thọ Xuân; phường Quang Trung, Ngọc Trạo, thị xã Bỉm sơn.
- Những hạn chế trong thực hiện dân chủ tại cơ quan
Dân chủ trước hết phải được thực thi nghiêm chỉnh tại cơ quan, từ đó mới có thể thực hiện tốt dân chủ trong quan hệ với người dân, tổ chức. Thực hiện Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ, các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có những thay đổi đáng kể trong cách thức điều hành xử lý công tác nội bộ theo hướng minh bạch hơn. Tuy nhiên, trong qúa trình triển khai cũng cho thấy còn tồn tại không ít khó khăn, cụ thể ở một số biểu hiện như sau:
Thứ nhất: Không ít cơ quan, đơn vị thực hiện quy chế dân chủ trong nội bộ còn hình thức, thiếu công khai, minh bạch về các khoản thu, chi. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Do nhận thức của cấp ủy Đảng, cũng như lãnh đạo chuyên môn chưa đầy đủ nên vẫn còn một số cơ quan, tổ chức Hội nghị cán bộ công chức chưa thực sự đúng trình tự theo quy định hoặc có tổ chức nhưng còn nặng về hình thức; nội dung các bước thực hiện chưa đầy đủ theo hướng dẫn; thời gian dành cho việc thảo luận còn ít. Một số nghị quyết của Đại hội chưa thực sự đúng là ý chí của tập thể cán bộ công chức trong cơ quan.
Ở một số cơ quan còn có hiện tượng lồng ghép tổ chức hội nghị cán bộ công chức với hội nghị tổng kết công tác chuyên môn, triển khai công tác đầu năm, do đó chất lượng nội dung và kết quả hội nghị cán bộ công chức chưa đạt yêu cầu, chưa đánh giá đầy đủ việc thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan. Cách thức điều hành công việc của thủ trưởng và ban lãnh đạo cũng chưa thực sự công khai, từ đó gây ra ít nhiều tác động đến tư tưởng của cán bộ, công chức trong cơ quan. Đặc biệt ở nhiều cơ quan, Việc công khai tài chính còn chưa minh bạch dẫn đến mất đoàn kết nội bộ.
Thứ hai: vẫn tồn tại một số lĩnh vực nổi bật trong đó tinh thần công khai, minh bạch chưa được làm rõ, ví dụ như trong việc tuyển dụng nhân sự tại cơ quan hành chính, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, việc khen thưởng, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.
Theo báo cáo tổng kết cải cách hành chính của Tỉnh Thanh Hóa, trên địa bàn tỉnh, vẫn còn tình trạng ở một số nơi chưa quan tâm quy hoạch, đào đạo, bồi dưỡng, bố trí đủ cán bộ; trình độ cán bộ còn nhiều bất cập, chưa đạt chuẩn, chưa qua đào tạo chuyên môn, số cán bộ, công chức có trình độ đại học tỷ lệ thấp, còn thiếu so với định biên được giao, một số cán bộ, công chức cấp xã còn có biểu hiện ngại học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, tin học, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn, tính chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ còn hạn chế, dẫn đến công việc thiếu tính chủ động, sáng tạo và thiếu tinh thần hợp tác. Chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ cơ sở còn nhiều bất hợp lý, nhất là những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, cán bộ thôn.
Số sinh viên đăng ký về các huyện miền núi không nhiều, do tâm lý muốn về huyện nhà không muốn đi xa, đã gây khó khăn cho việc đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các huyện miền núi. Ngay cả khi đã tuyển dụng được thì vẫn đặt ra vấn đề về trình độ năng lực. Công chức được thu hút theo chính sách của tỉnh tuy nhiệt tình, năng nổ, nhưng hiểu biết phong tục tập quán địa phương còn hạn chế, những sinh viên không phải người dân tộc thiểu số chưa biết tiếng dân tộc, đặc điểm tình hình tại nơi công tác, do đó hiệu quả công việc còn hạn chế. Trong 2 năm qua, số cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn đã giảm được 1.226 người; số giảm này chủ yếu là do đi đào tạo, rất ít công chức cấp xã chưa đạt chuẩn nghỉ việc để tuyển dụng người có trình độ đại học chính quy trở lên. Việc thực hiện chính sách nghỉ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn còn rất ít (chỉ có 38 trường hợp ở 8 huyện) [39]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Những bất cập trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có việc chưa thực sự công khai, minh bạch trong chính sách cũng như cách thức cụ thể để tuyển dụng cán bộ, công chức. Và đến lượt mình, các bất cập trong đội ngũ cán bộ, công chức đã làm ảnh hưởng đến tiến trình thực thi dân chủ tại cơ quan.
Thứ ba: trong mối quan hệ với người dân, tổ chức: Một bộ phận cán bộ, viên chức nhà nước quan liêu, vi phạm dân chủ, thiếu trách nhiệm gây phiền hà, sách nhiễu làm nhân dân bất bình. Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân tại một số cơ quan, đơn vị còn rất hình thức, quyền giám sát của cán bộ, công chức chưa được bảo đảm thực hiện.
Đội ngũ tham mưu, giúp việc cải cách hành chính tuy đã được tăng cường nhưng vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực công tác; một số người đứng đầu cơ quan hành chính chưa nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa, trách nhiệm và quan tâm tổ chức thực hiện.
Tiến độ hiện đại hóa công sở, đặc biệt là trang thiết bị, kiên cố hóa trụ sở cấp xã chậm. Cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của cán bộ, công chức ở một số xã chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là các xã khu vực miền núi.
Số thủ tục hành chính đưa vào giải quyết theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu, tiến độ thực hiện còn chậm, nhất là các công việc đưa vào thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông giữa cấp xã và cấp huyện.
- Những hạn chế trong thực hiện dân chủ tại doanh nghiệp
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế. Các bất cập trong thực hiện dân chủ ở khối doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh lại bộc lộ chủ yếu ở các bình diện sau:
Thứ nhất: Ở khối doanh nghiệp: vẫn còn hơn 30% các doanh nghiệp dân doanh chưa xây dựng được quy chế, thang bảng lương, thỏa ước lao động, quy chế về quỹ phúc lợi, khen thưởng.v.v. Trong các doanh nghiệp, số lượng thỏa ước lao động tập thể ký kết còn thấp so với đối tượng phải thực hiện, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, chưa phát huy được tác dụng của thỏa ước lao động tập thể. Việc phân công cơ quan chức năng có trách nhiệm chính trong việc triển khai quy chế dân chủ ở cơ sở theo Nghị định số 87/2007/NĐ-CP chưa rõ ràng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Công tác xây dựng, ký kết các quy chế phối hợp giữa công đoàn với cơ quan chuyên môn có lúc, có nơi còn hình thức.
Các doanh nghiệp có xây dựng được quy chế dân chủ cơ sở nhưng chậm sửa đổi, bổ sung; cá biệt có nơi không triển khai quy chế dân chủ cơ sở, còn xem nhẹ những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của công nhân, viên chức lao động. Việc xây dựng quy chế thu chi tài chính ở một số nơi nặng về hình thức, chưa sát với tình hình thực tiễn. Khá nhiều doanh nghiệp chưa công khai kết quả kiểm toán và báo cáo tài chính hàng năm; cũng như chưa công khai việc trích lập và sử dụng các loại quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi, khen thưởng… Kết quả là việc quản lý, chi tiêu tài chính ở một số nơi chưa minh bạch, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ.
Việc xây dựng thỏa ước lao động tập thể chủ yếu là sao chép chung chung, không cụ thể các nội dung và không sát với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
Vẫn còn một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, thiếu ý thức chấp hành pháp luật lao động và thực hiện chế độ chính sách cho người lao động, do vậy quan hệ lao động thiếu thân thiện, có nơi đã xảy ra tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể.
Một số doanh nghiệp chưa kịp thời bổ sung, sửa đổi nội quy, quy chế thực hiện dân chủ cho phù hợp thực tế như: Quy chế phối hợp giữa công đoàn với chuyên môn, quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở hoặc bổ sung các thành viên Ban chỉ đạo khi có sự thay đổi.
Thứ hai: Còn nhiều doanh nghiệp lẩn tránh việc trích nộp kinh phí công đoàn 2%, có doanh nghiệp thu đoàn phí của công nhân nhưng không chuyển cho công đoàn, điều này làm cho hoạt động của công đoàn tại nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tổ chức đại diện của người lao động vì vậy khó hoạt động hiệu quả.
Thứ ba: Ban Thanh tra nhân dân ở một số doanh nghiệp hoạt động còn hình thức hiệu quả chưa cao. Nhiều doanh nghiệp chưa thành lập được Hội đồng hòa giải lao động cơ sở để kịp thời giải quyết những vụ việc xảy ra tại cơ sở theo quy định của pháp luật. Hoạt động giám sát trong doanh nghiệp còn rất ít ỏi và hiệu quả giám sát nhìn chung thấp.
Thứ tư: vẫn còn một số doanh nghiệp chưa tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, Đại hội công nhân viên chức, Hội nghị người lao động theo quy định hoặc có tổ chức nhưng còn nặng về hình thức; nội dung các bước thực hiện chưa đầy đủ theo hướng dẫn; thời gian dành cho việc thảo luận còn ít, chưa động viên được người lao động tham gia ý kiến. Việc công khai tài chính để người lao động hiểu rõ làm chưa tốt. Việc tổ chức Hội nghị Người lao động ở một số doanh nghiệp còn mang tính hình thức, thậm chí vẫn còn tồn tại tình trạng tại một số doanh nghiệp chưa tổ chức được Hội nghị Người lao động, Theo báo cáo của Liên đoàn Lao động tỉnh, năm 2010 chỉ có 235/442 đơn vị có công đoàn – tổ chức Hội nghị Người lao động. Qua khảo sát cho thấy các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ quan tâm đến tổ chức Đại hội cổ đông thường niên mà chưa quan tâm đến tổ chức Hội nghị người lao động.
Hậu quả là do một số đơn vị, doanh nghiệp do không thực hiện tốt Quy chế dân chủ, thiếu ý thức chấp hành pháp luật lao động, chế độ chính sách cho người lao động, do vậy quan hệ lao động thiếu thân thiện, có nơi đã xảy ra tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, đình công chưa đúng quy định của pháp luật, như: việc đình công tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Sakurai; Công ty trách nhiệm hữu hạn giầy Sunjade (Khu công nghiệp Lễ Môn); Công ty Waude (Thị xã Bỉm Sơn).
2.3.2. Những nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Nhìn nhận một cách toàn diện, việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa trong khoảng thời gian từ 2010 – 2014, đã có khá nhiều thành công, nhưng đồng thời cũng còn không ít bất cập. Những bất cập này đến từ các nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan; hoặc có thể phân chia theo các yếu tố về pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội.v.v. Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, chúng tôi xin phân tích trước tiên và nhấn mạnh hơn các nguyên nhân về pháp luật – khả dĩ tác động đến hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
- Hệ thống pháp luật liên quan đến thực hiện dân chủ cơ sở
Hệ thống pháp luật tốt là tiền đề cho thực hiện pháp luật tốt, tuy nhiên, hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn còn tồn tại một số bất cập. Những hạn chế này có thể nằm trong chính các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở và cũng có thể nằm trong các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Các bất cập trong các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở
Cho đến nay, hệ thống pháp luật về dân chủ cơ sở đã được ban hành và sửa đổi cập nhật. Pháp lệnh 34/2007/PL- UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc – là hệ thống văn bản pháp luật trực tiếp quy định về dân chủ cơ sở. Hệ thống này đã cập nhật và có nhiều bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên, bên cạnh những nét tiến bộ thì vẫn còn có một số quy định gây ít nhiều khó khăn cho việc thực hiện trong thực tế – đối với cả người thi hành cũng như người phải thực hành, và đặc biệt là đối với người dân.
Thứ nhất: một số quy định trong các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở khó khả thi. Khó khả thi trong thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở có thể đến từ hai lý do: một là các quy định của các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở chưa đủ cụ thể; và thứ hai: các quy định chưa có sự thống nhất.
Một số quy định chưa đủ cụ thể. Ví dụ điển hình là trong số những việc chính quyền địa phương phải thông tin và công khai để dân biết; cơ quan hành chính nhà nước hay doanh nghiệp phải công khai cho công chức và người lao động biết – có nội dung về công khai tài chính. Nhưng trên thực tế cho thấy đây là loại việc kém khả thi nhất. Lý do vì các quy định pháp luật quá chung chung, trong khi đó tài chính lại là nội dung rất cụ thể, chuẩn xác, nếu chỉ công khai một cách sơ lược hay một phần thì rất khó nắm bắt mà thực hiện quyền giám sát. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Ví dụ: Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn quy định nghĩa vụ của chính quyền xã phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm. Nhưng trên thực tế, việc công khai tài chính thường chỉ mới được thông qua tại Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn và cũng chỉ nêu lên tỷ lệ phần trăm hoặc nêu chung chung ngân sách năm nay cao hơn năm trước. Cách báo cáo này chính là kẽ hở để cho tham nhũng có cơ hội phát triển. Vì vậy, pháp luật cần có quy định chi tiết hơn về công khai dự toán này: nếu không thuộc bí mật Nhà nước, người có thẩm quyền báo cáo bắt buộc phải có trách nhiệm đưa ra những số liệu cụ thể, chi tiết và chính xác để dân biết; và mức độ công khai, thời hạn công khai cũng phải rõ ràng.
Cũng như vậy trong Nghị định số 07/1999/NĐ-CP có quy định một nội dung phải công khai cho người lao động biết là: “Các khoản thu của doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh và từ các hoạt động khác như: các khoản thu từ hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp; thu từ hoạt động mua bán tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu; thu từ cho thuê, khoán tài sản; thu chênh lệch giá trị bán tài sản thanh lý; thu từ phần trợ giá của nhà nước; thu từ hoạt động liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, thu lãi tiền gửi, tiền cho vay. Đầu tư phát triển, chi cho đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ người lao động. Quy định và thực hiện các khoản chi của doanh nghiệp cho hoạt động quản lý, tiếp khách, hội họp, giao dịch và chi hoa hồng môi giới; các khoản phạt doanh nghiệp phải nộp”.
Trên thực tế những nội dung tài chính trên khá biến động, và không có khung pháp lý rõ ràng, nên việc công khai thường rất khó khăn – nhất là trong giải trình các chứng từ kèm theo. Hơn nữa, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận – đặc biệt là những doanh nghiệp ở khu vực tư nhân; cho nên việc công khai tài chính có thể ảnh hưởng rất nhiều đến các vấn đề khác như thuế, cổ phiếu.v.v. nên cũng khó thực hiện thường xuyên.
Cũng có thể coi là các quy định hướng dẫn thực hiện dân chủ cơ sở chưa đủ cụ thể trong trường hợp về Hương ước: theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT- BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/03/200, thì biện pháp thưởng, phạt quy định đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước chủ yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể, cộng đồng; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận, thống nhất trong tập thể cộng đồng, có thể thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp xử phạt nặng nề xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. Dưới góc độ người thực hiện ở địa phương, Quy định này còn chung chung, chưa cụ thể hóa được biện pháp xử phạt trong hương ước và khái niệm “nặng nề”, “không nặng nề” không rõ ràng và không có chuẩn mực, gây khó khăn trong quá trình xây dựng hương ước ở cơ sở. Để hương ước có tính khả thi, cần có những quy định pháp lý thiết thực, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước và bảo đảm được trật tự, nền nếp ở địa phương.
- Thứ hai: nhiều loại việc thuộc dân chủ cơ sở chưa được quy định đồng bộ trong pháp luật – mà có cảm giác “cắt khúc” ở cấp xã. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Một trong các nội dung mà người dân được tham gia ý kiến và thực hiện quyền giám sát, kiểm tra là: “Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư”. Tuy nhiên, để thực hiện được nội dung này không chỉ phụ thuộc vào vai trò của chính quyền cấp xã: đây là cả một trình tự công việc liên quan đến rất nhiều cấp chính quyền khác nhau, vì vậy nếu chỉ một cấp trong số đó bị ách tắc sẽ làm ảnh hưởng đến cả quy trình, và quan trọng nhất là đến cấp cuối cùng, việc công khai hay đưa ra bàn bạc sẽ không thực hiện được. Việc thiếu đồng bộ giữa cấp trên và cơ sở, nhất là trong lĩnh vực xây dựng, giải tỏa, giao thông công chính.v.v. sẽ dẫn đến tình trạng các nội dung này không được công khai tại cấp xã, và người dân khó nắm bắt mà thực hiện các quyền tham gia hay giám sát. Từ đây sẽ là nguyên nhân dẫn đến các bức xúc, thậm chí là các khiếu kiện kéo dài trong nhân dân.
Cũng như vậy, quyền giám sát của người dân ở cơ sở trong một số trường hợp khó thực hiện đối với nhiều loại công trình. Theo pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, người dân phải được công khai và có quyền giám sát “Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã”. Qua thực tiễn ở Thanh Hóa, có thể thấy rằng khâu kiểm tra là khâu yếu nhất trong toàn bộ quá trình thực hiện quy chế dân chủ. Đối với các công trình tại cộng đồng nơi người dân sinh hoạt, việc giám sát tương đối tốt. Nhưng đối với những công trình có quy mô lớn (do trung ương, tỉnh hay huyện chủ trì) thì chức năng giám sát của dân chưa thật sự đạt được hiệu quả. Lý do là pháp luật mới chỉ có quy định cụ thể về nghĩa vụ của cấp xã trong việc công khai các dự án, công trình đầu tư – còn nghĩa vụ của các cấp trên chưa rõ ràng, điều này dẫn đến việc khó khả thi khi thực hiện nghĩa vụ của cấp xã trong trường hợp công trình, dự án thuộc cấp trên quản lý.
Như vậy có thể thấy rằng để thực hiện được một nội dung dân chủ cơ sở, cần có quy định thống nhất không chỉ đối với một cấp, mà đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực đối với nhiều cấp, nhiều ngành khác nhau. Có như vậy mới tạo ra tính khả thi trong thực hiện các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở.
Cũng bàn về tính cụ thể, khả thi của các văn bản pháp luật về Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở: Khoản 2 Điều 12 có quy định “Các kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã mời đại diện các tổ chức đoàn thể tham dự và mời đại diện nhân dân dự thính”. Tuy nhiên, nên quy định cụ thể cách thức, tiêu chí của đại diện nhân dân dự thính, quyền hạn và trách nhiệm của đại diện nhân dân dự thính, để chất lượng kỳ họp cao hơn. Trong toàn bộ nội dung Quy chế, nhân dân chỉ có quyền yêu cầu, đề nghị các cá nhân, tổ chức thực hiện những quy định liên quan tới mình, nhưng Quy chế lại không có chế tài cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức liên quan nếu họ không thực hiện đúng các quy định. Ví dụ tại Điều 4 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có quy định: Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Các hành vi bị nghiêm cấm:
- Không thực hiện hoặc làm trái các quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã.
- Trù dập người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.
- Bao che, cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.
- Lợi dụng việc thực hiện dân chủ ở cấp xã để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [46, Điều 4].
Tuy nhiên trách nhiệm cụ thể ra sao, chịu hình thức xử lý nào, ai là người có trách nhiệm xử lý và quy trình xử lý ra sao – chưa được quy định rõ.
Dưới cái nhìn của người dân cơ sở, đây là hạn chế lớn nhất của Quy chế, dẫn đến thái độ bàng quan của chính quyền đối với việc của dân, vì không thực hiện họ cũng không bị ảnh hưởng gì. Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung Quy chế theo hướng quy định cụ thể chế tài cho những đối tượng có liên quan.
- Thứ ba: các quy định tại pháp luật về dân chủ cơ sở chưa có sự phân hóa cụ thể để phù hợp với từng đối tượng thi hành.
Qua đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có thể thấy rằng: ở khá nhiều nơi việc xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá… chưa được nhân dân thực sự quan tâm. Nhiều nơi rập khuôn quy ước tổ dân phố mẫu trên đưa xuống áp dụng cho địa phương mình. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến địa phương, vì quy ước mẫu không phù hợp với tình hình khu phố và nhu cầu người dân. Nguyên nhân ngoài ý thức và sự quan tâm của người dân, của chính quyền cơ sở đối với hương ước, quy ước – còn có lý do là pháp luật chưa có sự phân hóa nhu cầu xây dựng hương ước, quy ước nói riêng (và nhu cầu tự quản nói chung) cho phù hợp với từng địa bàn. Và có thể thấy rằng nhu cầu ở mỗi địa bàn khác nhau, cũng như vậy nội dung hương ước ở mỗi địa bàn cũng phải khác nhau.
Cụ thể về hình thức: Ở trung ương, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN đã hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, nội dung hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm. Và Hội đồng nhân dân tỉnh dựa vào đó ban hành mẫu Hương ước chung, theo đó, các quy định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy định ngay tại các điều, khoản cụ thể. Theo quy định, hương ước cần ngắn gọn, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Nhưng nếu xây dựng theo quy định này thì vô hình dung các hương ước trở thành một văn bản luật, dài dòng, nhiều điều khoản. Thực tiễn ở một số địa phương cho thấy, có hương ước không thực hiện được tiêu chí ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Về nhu cầu xây dựng hương ước: có thể thấy rằng nhu cầu xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước là không đồng đều ở các địa bàn. Thông thường địa bàn nông thôn sẽ có nhu cầu riêng và khác biệt so với thành phố. Nhưng Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở đã nhất thể hóa các đơn vị hành chính ở nông thôn, thành thị, đồng bằng, ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo theo một mô hình duy nhất. Do vậy nhiều khi hương ước – nhất là khi được xây dựng tại địa bàn đô thị – không chỉ nặng về tính hình thức mà có rất ít giá trị thực tiễn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Thứ tư: nhiều quy định trong các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở còn khá rườm rà, phức tạp, dẫn đến khó thực hiện trong thực tiễn, ví dụ điển hình là trình tự, thủ tục xây dựng hương ước. Theo Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở, hương ước phải qua rất nhiều bước và công đoạn cuối cùng là phê duyệt. Tuy nhiên, việc phê duyệt hương ước chỉ được thực hiện sau khi hương ước đã được thông qua, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xem xét nội dung của hương ước, bảo đảm phù hợp với pháp luật, thuần phong, mỹ tục và trao đổi, thống nhất với Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp về nội dung, trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt. Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn, Bí thư chi bộ, Trưởng ban Công tác Mặt trận kèm theo Biên bản thông qua tại Hội nghị.
Hương ước gửi lên Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phải có Công văn đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản hương ước và Công văn đề nghị phê duyệt. Trong trường hợp hương ước không được phê duyệt thì Phòng Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phòng Văn hóa – Thông tin hướng dẫn cơ sở chỉnh lý, hoàn thiện để trình lại.
Nghiên cứu quy trình phê duyệt hương ước cho thấy, để xây dựng được hương ước, khâu cuối cùng tốn rất nhiều thời gian, đôi khi hương ước được phê duyệt thì nội dung đã không còn phù hợp, cần phải sửa đổi, bổ sung. Vậy liệu có cần thiết phải quy định quy trình dài như trên hay không? Do đó, nên sửa đổi thẩm quyền phê duyệt hương ước, giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để rút ngắn quy trình, không tốn thời gian cũng như các thủ tục đề nghị phê duyệt.
Về hình thức thực hiện Quy chế và trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức liên quan: Trong quá trình triển khai thực hiện Quy chế, một số hình thức thực hiện quyền dân chủ theo pháp luật đã bộc lộ tính khó khả Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có quy định hội nghị thôn, làng, ấp, bản được tổ chức 6 tháng 1 lần hoặc bất thường gồm toàn thể cử tri hoặc các chủ hộ do trưởng thôn phối hợp với ban công tác mặt trận, các đoàn thể triệu tập. Trong trường hợp chủ hộ không dự được, nên cho phép đại diện hộ đi dự thay (đại diện hộ là những người có năng lực hành vi dân sự và không phạm pháp, không đang ở trong giai đoạn bị truy tố hoặc chấp hành án phạt tù…) và nên quy định hội nghị được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số hộ trong tổ dân phố, ấp dự họp.
- Các bất cập trong các văn bản pháp luật khác
Thực hiện dân chủ cơ sở không chỉ dựa trên những quy định của các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở – mà còn phải dựa trên nhiều văn bản pháp luật khác, bởi nội dung của các quyền dân chủ cơ sở có liên quan chặt chẽ với các quyền dân sự, chính trị và văn hóa – xã hội khác. Mặt khác để thực hiện được pháp luật về dân chủ cơ sở, không thể thiếu các tiền đề quan trọng: pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, về tổ chức hoạt động của các cơ quan hành chính – trong đó nền tảng là các quy định phân cấp, trao quyền tự chủ cho các cơ sở này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
- Về các quyền chính trị dân sự để đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở
Các quyền dân chủ ở cơ sở – cụ thể là các nhóm quyền được biết, được bàn, được quyết định và được kiểm tra, giám sát – luôn có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và có mối liên hệ với các quyền dân sự, chính trị khác của cá nhân và công dân. Do vậy để một quyền dân chủ cơ sở được bảo đảm trọn vẹn thì thì từng quyền cụ thể cần được bảo đảm, đồng thời, những quyền dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội khác cũng cần được bảo đảm thực hiện.
Trong các quyền cơ bản thì các quyền dân chủ cơ sở có mối liên hệ chặt chẽ với các quyền, tự do thông tin, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền tự do ngôn luận. Các quyền này là nền tảng cơ bản để thực hiện quyền tham gia của người dân ở cơ sở.
Hiến pháp sửa đổi năm 2013, đã có những đổi mới quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đề cao, đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong Hiến pháp – cụ thể tại chương II. Hiến pháp cũng đã khẳng định nguyên tắc nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”; “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của Luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Hiến pháp đã quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có bổ sung một số quyền mới theo hướng mở rộng hơn nhiều: quyền sống, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được hưởng phúc lợi, bảo trợ xã hội.v.v. Hiến pháp sửa đổi cũng rất tiến bộ qua việc quy định các quyền chính trị, quyền tham gia bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội… Trong Hiến pháp lần này quy định rất rõ, mọi người có quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Tức là, tất cả mọi người bình đẳng trước pháp luật từ lĩnh vực chính trị – kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây chính là tiền đề tối cao cho việc thể chế hóa các quyền dân sự chính trị cụ thể khác, có liên quan trực tiếp tới thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, để triển khai các quy định Hiến pháp, cần một lộ trình dài liên quan đến xây dựng và thực thi các đạo luật trên các lĩnh vực quyền con người, quyền công dân.
Thực tiễn địa phương cho thấy việc thực hiện các quyền dân chủ cơ sở còn hạn chế cũng có nguyên nhân từ quy định pháp luật thực hiện các quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, hội họp.v..v còn chưa đầy đủ và thực tiễn triển khai chưa thực sự hiệu quả. Ví dụ: Bảo đảm quyền tự do thông tin là bảo đảm sự trao đổi thông tin, ý kiến về các vấn đề chính trị giữa Nhà nước và công dân, những người đại diện được bầu thông qua các phương tiện truyền thông, báo chí. Đồng thời, bảo đảm sự công khai, minh bạch trong việc quản lý, điều hành đất nước, hoạt động của các cơ quan công quyền, công khai thông tin trong toàn bộ các hoạt động bầu cử, ứng cử, các thủ tục, điều kiện tham gia vào các cơ quan công quyền. Để người dân tham gia, thì trước hết phải cho dân biết, biết về thực trạng tình hình địa phương, cơ sở, tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước trên địa bàn, biết về các chính sách, chủ trương phát triển đất nước, công khai, minh bạch các thủ tục hành chính. Như vậy, cần có các quy định pháp luật cụ thể để thực hiện quyền này, tuy nhiên trên thực tiễn nước ta, Luật tiếp cận thông tin vẫn chưa được thông qua. Rất nhiều lĩnh vực vẫn còn rơi vào phạm vi bí mất công tác, bí mật nhà nước, do đó thiếu cơ sở để công khai cho dân biết, từ đó khó có thể thực hiện các quyền dân bàn, dân kiểm tra. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Cũng như vậy, nếu như quyền tự do thông tin là điều kiện để “dân biết” thì quyền tự do ngôn luận là cơ sở để “dân bàn”. Mọi chính sách, quyết định của nhà nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân, do đó, người dân phải có quyền được thảo luận, đóng góp ý kiến, đánh giá về các hoạt động của cơ quan nhà nước, quyết định các vấn đề của địa phương, cơ sở. Công dân có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện do mình bầu ra. Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt là bảo đảm cho công dân tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội… dưới các hình thức tuyên truyền bằng miệng, bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật hay thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, và rộng hơn, có thể liên quan cả đến quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình. Tuy nhiên, các hình thức biểu đạt ý chí của công dân vẫn còn hạn chế mà một trong các nguyên nhân là do chưa đủ các quy định pháp luật; hoặc các luật trong lĩnh vực này ít nhiều hạn chế như luật xuất bản – và ranh giới thực hiện các quyền này rất nhiều rủi ro xâm phạm vào các lĩnh vực an ninh, trật tự xã hội khác. Trong lĩnh vực này, khung pháp lý ở nước ta vẫn chưa hoàn thiện: quyền lập hội cho đến nay mới chỉ được quy định trong văn bản dưới luật. Khung pháp lý này cũng gây ảnh hưởng nhất định đến thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, không chỉ ở Thanh Hóa nói riêng mà trên phạm vi toàn quốc.
- Về tự quản địa phương – tiền đề để thực hiện dân chủ cơ sở
Cũng như các tỉnh trong toàn quốc, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có sự khác nhau trên từng địa bàn cụ thể, nhưng có thể thấy rằng, một trong các hạn chế của thực hiện dân chủ ở cơ sở đến từ nguyên nhân thiếu và yếu trong cơ chế tự quản của địa phương.
Điển hình là cấp xã – nơi trực tiếp được giao thực thi các quyền dân chủ cơ sở cho dân – khó có thể hoạt động độc lập trong thực thi các thẩm quyền này. Mọi hoạt động của cấp xã đều nằm trong chuỗi hoạt động với các cơ quan nhà nước ở cấp trên, mà cơ bản là Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh. Nếu các chủ trương, hoạt động của cơ quan cấp trên chậm trễ hoặc không đủ thông tin, sẽ khó khăn hoặc không khả thi trong việc triển khai, thông báo hay tổ chức cho người dân tham gia bàn bạc, kiểm tra, giám sát. Điều này càng trở nên trầm trọng đối với những quy định trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn liên quan đến các công việc ít nhiều mang tính “tự quản” ở địa phương như việc bầu trưởng thôn, việc xây dựng hương ước, việc lập Ban giám sát cộng đồng.v.v. Thực tiễn ở Thanh Hóa cho thấy: dù pháp luật có quy định trưởng thôn là người đại diện cho nhân dân tại thôn, làng.v.v. nhưng trên thực tế công việc của Trưởng thôn phụ thuộc nhiều vào chính quyền, và có thể coi là “cánh tay nối dài” của chính quyền cơ sở, đôi khi hầu như không giữ vai trò đại diện cho người dân trong cộng đồng. Cũng như vậy, các Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát cộng đồng hoạt động khá hình thức, do sự phụ thuộc nhất định vào chính quyền hay đoàn thể. Điều này gây khó khăn cho việc phát huy tính tự quản hay tự giác trong dân cư, không làm cho người dân thấy rõ lợi ích của việc cùng bàn bạc, quyết định và giám sát – trên cơ sở sức mạnh cộng đồng. Thực tiễn này cho thấy vấn đề tự quản và quản lý hành chính còn chưa được phân biệt rõ ràng, và do vậy dẫn đến kém hiệu quả trong thực thi dân chủ ở cơ sở. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và tình hình dân cư
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở cũng chịu sự tác động từ các nhân tố bên ngoài như các yếu tố địa lý, thời tiết, thổ nhưỡng, tài nguyên.v.v. các điều kiện này sẽ quyết định đến phân bố dân cư, đặc điểm, trình độ của dân cư, phong tục tập quán và lối sống theo pháp luật.v.v. Thanh Hóa là tỉnh rộng, dân số đông, nhiều đơn vị hành chính, cơ sở hạ tầng có nơi còn gặp nhiều khó khăn; trình độ dân trí chưa đồng đều, các yếu tố này cũng gây cản trở nhất định đến hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Kinh tế có phát triển, nhưng những năm gần đây, Thanh Hóa chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khá rõ, thiên tai, thời tiết diễn biến phức tạp. Mùa hè nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 27- 280C, lượng mưa trung bình 1600- 1650 mm. Mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng 11 đến tháng 4, nhiệt độ trung bình 19- 200C, lượng mưa 250- 300 mm. Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10, bão mạnh nhất lên tới cấp 12- 13. Mùa khô, lưu lượng dòng chảy các sông xuống thấp cộng với triều dâng gây xâm nhập mặn theo nước sông vào sâu trong đất liền có nơi trên 30km, ảnh hưởng mạnh đến sản xuất nông nghiệp. Cường độ mưa, bão cũng tăng lên gây ngập úng, lũ quét làm sạt lở đất, thiệt hại sản xuất. Những biến động trên gây khó khăn đến đời sống kinh tế, sản xuất, và từ đó gây những hạn chế nhất định trong triển khai các hoạt động của chính quyền cơ sở, của doanh nghiệp, người dân – và do vậy cũng hạn chế việc triển khai thực thi các hoạt động dân chủ cơ sở. Ngoài ra yếu tố dân cư, văn hóa cũng có tác động không nhỏ đến tình hình triển khai dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh. Cộng đồng dân cư trong tỉnh gồm có 28 dân tộc anh em, cơ cấu thành phần các dân tộc đến nay có sự thay đổi. Dân tộc Kinh có gần 2.841 nghìn người chiếm 81,73% dân số, còn lại là 27 dân tộc thiểu số có hơn 635 nghìn người chiếm 18,27% dân số sinh sống tập trung ở các huyện miền núi phía Tây. Có 06 dân tộc thiểu số có số dân đông nhất gồm Dân tộc Mường hơn 369,8 nghìn người (10,64% dân số), Dân tộc Thái 226,3 nghìn người (6,51% dân số), Dân tộc Mông 14,9 nghìn người (0,43% dân số), Dân tộc Thổ 11,8 nghìn người (0,34% dân số), Dân tộc Dao 6,3 nghìn người và Dân tộc Khơ Mú hơn 1 nghìn người. Trên địa bàn hiện có 4 tôn giáo đã được công nhận về tổ chức gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành và Cao đài với số lượng chức sắc, tín đồ các tôn giáo hơn 220 nghìn người chiếm 6,4% dân số toàn tỉnh. Cộng đồng dân cư đa dạng các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán, tín ngưỡng khác nhau có ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách làm, phát triển sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa mới còn chưa đồng đều trong đồng bào các dân tộc, tôn giáo. Trình độ dân trí, nhận thức pháp luật chưa đồng đều, dẫn đến việc thực thi các quyền dân chủ ở một số địa phương chưa cao. Việc nhân dân thảo luận, bàn bạc còn lệ thuộc vào việc nhận thức, vận dụng chính bản thân người dân. Thực tiễn Thanh Hóa cho thấy Cơ sở nào dân trí cao, có nhiều cán bộ hưu trí mạnh dạn hơn thì việc phát biểu, phê phán những biểu hiện quan liêu, làm giàu bất chính của cán bộ; nhưng ở những nơi khác, các ý kiến đóng góp của người dân chỉ có tính chất chiếu lệ, thái độ còn dè dặt. Thậm chí ở một vài nơi, nhận thức của một bộ phận nhân dân về quyền làm chủ, nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc thực hiện Quy chế dân chủ còn hạn chế, còn có biểu hiện lợi dụng dân chủ để xuyên tạc; khiếu nại, tố cáo sai sự thật.
- Cơ chế hoạt động và phối hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là quá trình đòi hỏi sự tham gia cả hai chiều: cơ quan hành chính, cán bộ công chức và người dân cơ sở. Tuy nhiên vai trò của cơ quan và cán bộ công chức là trước tiên và chủ động: nếu phía chính quyền không thực hiện tốt các nghĩa vụ công khai, tổ chức bàn bạc, tiếp thu ý kiến và tạo điều kiện cho giám sát của dân thì sự tham gia của người dân không thể thực thi được. Bởi vậy, hoạt động của chính quyền và cán bộ, công chức chắc chắn là một trong các nhân tố dẫn đến các hạn chế trong thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
Thực tiễn ở Thanh Hóa cho thấy: những địa bàn còn có vấn đề về dân chủ cơ sở thường là những địa bàn mà ở đó sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ; công tác tuyên truyền, cổ vũ, biểu dương chưa được tiến hành kịp thời; việc tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm chưa được thường xuyên; việc xử lý sai phạm ở một số địa phương chưa kịp thời, thiếu quyết liệt. – Một bộ phận cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở chưa có nhận thức đầy đủ và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung của Quy chế dân chủ, nên thiếu biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo một cách cụ thể và thiết thực. Các bước trong xử lý công việc của một số loại việc chưa được bàn bạc và thông tin thông suốt giữa các cấp, các ngành – đặc biệt là giữa cơ quan cấp trên với chính quyền cơ sở – nên gây ra khá nhiều trở ngại trong việc thực thi đúng quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở: khó công khai kịp thời, đúng hạn các thông tin, và do đó khó tổ chức cho người dân góp ý, cũng khó thực thi quyền giám sát của người dân.
- Nhận thức và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức
Đây là nguyên nhân chủ quan nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện dân chủ cơ sở. Ở Thanh Hóa, một số cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, cơ sở chưa nhận thức đầy đủ nhiệm vụ xây dựng cơ sở và thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở; việc nắm tình hình và chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở chưa thường xuyên liên tục, nhất là giải quyết những vấn đề mới phát sinh ở cơ sở. Một số cán bộ công chức còn quan liêu, ngại khó, ngại va chạm, nên việc tổ chức thực hiện hiệu quả chưa cao. Điều này bắt nguồn từ nhận thức và năng lực trình độ của cán bộ công chức. Hiện tại tỉnh ta còn 1.925 cán bộ cấp xã (chiếm 28,9% cán bộ), 262 công chức cấp xã (chiếm 3,9% công chức) chưa đạt chuẩn về chuyên môn; trong đó các đoàn thể có tỷ lệ chưa đạt chuẩn chiếm tới 58,3% tổng số cán bộ chưa chuẩn, riêng chức danh Chủ tịch Hội Cựu chiến binh có gần 50% cán bộ chưa đạt chuẩn; khu vực miền núi có tỷ lệ cán bộ, công chức chưa đạt chuẩn cao hơn so với trung bình của tỉnh (cán bộ chưa đạt chuẩn của khu vực miền núi là 32,2%, công chức 4,8%).
Có nhiều nguyên nhân, một số chức danh cán bộ có tính chất cơ cấu, thành phần như giới tính nữ để giữ chức Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ, bộ đội xuất ngũ để đảm nhận Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, người có kinh nghiệm, cao tuổi để đảm nhận Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc nên yếu tố chuẩn về chuyên môn đầu vào trước khi bầu chưa được chú trọng, sau khi đảm nhận chức vụ có tư tưởng yên vị, không học tập để đạt chuẩn; công chức cấp xã chưa đạt chuẩn chủ yếu là Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng quân sự xã (128 người) nhưng khó giải quyết do không có chính sách hỗ trợ đối tượng này khi nghỉ việc, trong khi đó một số công chức không đủ điều kiện đi học do quá tuổi theo quy định của ngành Công an, Quân sự. Thêm vào đó một bộ phận cán bộ ở cấp xã (chủ yếu là người đứng đầu) chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng chiến lược của chính sách thu hút của tỉnh, dẫn đến vẫn còn tư tưởng không muốn nhận người có trình độ đại học chính quy trở lên về làm công chức ở xã mình, vì sợ chiếm chỗ con em, người thân; số sinh viên đăng ký về các huyện miền núi không nhiều, do tâm lý muốn về huyện nhà không muốn đi xa, đã gây khó khăn cho việc đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các huyện miền núi. Công chức được thu hút theo chính sách của tỉnh tuy nhiệt tình, năng nổ nhưng hiểu biết phong tục tập quán địa phương còn hạn chế, những sinh viên không phải người dân tộc thiểu số chưa biết tiếng dân tộc, đặc điểm tình hình tại nơi công tác, do đó hiệu quả công việc còn hạn chế, nhất là trong các hoạt động trực tiếp làm việc với người dân cơ sở.
Ngoài ra chế độ phụ cấp cho cán bộ cơ sở, nhất là đối với cán bộ bán chuyên trách cấp xã, trưởng ban công tác mặt trận, các đoàn thể ở khu dân cư chưa được thực hiện, nên chưa động viên được đội ngũ cán bộ cơ sở trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây cũng là nguyên nhân góp phần không nhỏ dẫn đến các hạn chế trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
