Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Quan điểm chỉ đạo thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua đã cho thấy: dân chủ cơ sở là chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và nhà nước ta. Thông qua thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, các nhiệm vụ của chính quyền, cơ quan, doanh nghiệp, được thực hiện có hiệu quả hơn; quyền và lợi ích của người dân, người lao động được bảo vệ; các hoạt động kinh tế, xã hội trở nên “thực chất” và gắn sát nhu cầu của cộng đồng hơn. Bởi vậy, tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở là định hướng rõ ràng đã được nêu ra trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ban Chỉ đạo Trung ương về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong năm 2014 đã đề ra các nhiệm vụ trung tâm là: tiếp tục quán triệt các quan điểm của Đảng về mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; các chỉ thị, kết luận của Đảng về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) về tăng cường và đổi mới công tác dân vận. Mở rộng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng nâng cao nhận thức, ý thức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong các loại hình cơ sở về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Ban Chỉ đạo tiếp tục chỉ đạo thể chế hóa chủ trương của Trung ương về quy chế dân chủ thành các quy định của pháp luật; gắn việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia góp ý vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện có hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới. Đồng thời tiếp tục tham mưu cho cấp ủy ban hành các văn bản chỉ đạo, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, hướng dẫn việc thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình cơ sở.

Trong bối cảnh chung đó, các quan điểm chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là:

3.1.1. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở cần được tiến hành đồng bộ trong công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và các nhiệm vụ chính trị khác của Đảng và Nhà nước, của địa phương Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên toàn quốc cũng như tại địa bàn Thanh Hóa cho thấy: để thực hiện được dân chủ ở cơ sở phải tiến hành lâu dài và cần có những tiền đề toàn diện và đồng bộ. Dân chủ ở cơ sở chỉ có thể phát huy hiệu quả trên cơ sở một môi trường dân chủ chung. Đó là môi trường pháp lý, hành chính và thể chế thuận lợi, tạo điều kiện cho thực thi pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Chính vì vậy, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở muốn có hiệu quả tốt phải được tiến hành đồng bộ với các hoạt động khác đã và đang được tập trung chỉ đạo trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, như: cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính.v.v.

Khung pháp luật làm hành lang pháp lý cho thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở phải được hoàn thiện. Khung pháp luật này hiểu rộng không chỉ bao gồm các quy định về dân chủ ở cơ sở mà còn bao gồm cả các quy định khác làm nền tảng cho thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp tại xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính và doanh nghiệp. Xác định tầm quan trọng của hoàn thiện pháp luật, nội dung hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở là chủ trương đầu tiên đã được nêu ra tại Kết luận 65-KL/TW ngày 04/02/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở: “Tăng cường việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa trong các quy định của pháp luật, chính sách cụ thể. Tổng kết, rà soát, bổ sung các văn bản đã ban hành; sớm nghiên cứu, ban hành pháp lệnh về xây dựng và thực hiện dân chủ cho các loại hình doanh nghiệp. Các cơ sở, các loại hình cần rà soát, bổ sung, xây dựng quy chế thực hiện dân chủ (xây dựng thành quy định, nguyên tắc, quy trình thực hiện dân chủ) trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể của địa phương, đơn vị mình, nhất là các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân”.

Cùng với việc sửa đổi hoàn thiện pháp luật, cần đặt việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở vào dòng chảy chung của công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp của nước ta. Có như vậy thì pháp luật về dân chủ cơ sở mới được thực thi một cách hoàn chỉnh, gắn khớp với các hoạt động khác của bộ máy nhà nước, và như vậy tránh sự chồng chéo, trùng lặp trong thực hiện các nhiệm vụ của bộ máy nhà nước cũng như của các đoàn thể quần chúng. Điển hình là các chủ trương thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ở cơ quan nhà nước không thể tách rời các nhiệm vụ cải cách hành chính, bởi chúng có chung mục đích và có nhiều điểm giống nhau ở cách thức, phương pháp tiến hành. Và cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền cũng là tiền đề cho thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ngược lại, thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo nên những gợi mở và đột phá, từ đó cho phép tiến hành các hoạt động cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo chiều thực tiễn, đi từ sáng kiến thực tế ở cơ sở. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Ở góc độ chính trị, xã hội, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở cần gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị như; cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; các phong trào thi đua yêu nước nhằm tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Có như vậy mới tạo được sự đồng bộ, sức mạnh tổng hợp để cùng thực hiện thống nhất các mục tiêu chung ở địa phương cũng như trên toàn quốc.

3.1.2. Nâng cao nhận thức của các chủ thể về pháp luật về dân chủ ở cơ sở và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Trong thực hiện pháp luật, chỉ có các quy định pháp luật và bộ máy thực thi là chưa đủ, mà ý thức pháp luật cũng đóng vai trò quan trọng dẫn đến việc thực thi có hiệu quả hay không hiệu quả các quy định pháp luật đó. Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, cần phải quán triệt, nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về pháp luật dân chủ cơ sở, về tầm quan trọng và các lợi ích từ việc thực thi pháp luật về dân chủ cơ sở. Vì lẽ đó, tại Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, đã khẳng định phương hướng là:

Tiếp tục quán triệt, không ngừng nâng cao nhận thức; xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị – xã hội; của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về những quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở [6].

Các chủ thể bao gồm: các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể chính trị – xã hội; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân. Các nội dung cần phổ biến đến các chủ thể là những quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát huy quyền làm chủ, mở rộng dân chủ của nhân dân ở cơ sở.

Để nâng cao nhận thức của các chủ thể pháp luật trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, việc tuyên truyền, phổ biến các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản của nhà nước, của tỉnh Thanh Hóa về xây dựng, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đến đảng viên, cán bộ, công chức, công nhân lao động và nhân dân các dân tộc trong tỉnh có vai trò rất quan trọng. Tổng hợp các văn bản đó bao gồm tất cả các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các văn bản khác làm nền tảng cho việc thực hiện pháp luật đó. Cùng với việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về dân chủ cơ sở, cần kết hợp với các hoạt động mang tính tổ chức thực tiễn nhằm nâng cao hiểu biết cho các chủ thể về dân chủ ở cơ sở và các lĩnh vực liên quan. Đó là các cuộc thi, cuộc họp phổ biến pháp luật, phổ biến kiến thức và kinh nghiệm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Thông qua các hình thức tuyên truyền sâu rộng đó, nhằm làm cho chủ trương pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn có thể đến tất cả mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời với các hoạt động đó, cần kết hợp với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; với việc rà soát, bổ sung quy ước, hương ước. Đối với việc triển khai thực hiện Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ, các ngành liên quan và Liên đoàn lao động tỉnh cần có kế hoạch chỉ đạo cụ thể đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước, trọng tâm là hướng dẫn bổ sung các qui chế, quy định mới, phù hợp với qui định của Nghị định. Đồng thời với việc triển khai thực hiện Nghị định phải chỉ đạo thành lập các tổ chức đoàn thể, hội, công đoàn trong các đơn vị kinh tế này, nhằm phát huy vai trò làm chủ và các hoạt động giám sát của người lao động.

Kết hợp lồng ghép đồng bộ tất cả các các nội dung công tác ở cấp cơ sở, sẽ có tác động sâu rộng, thiết thực, hiệu quả đối với việc thực hiện các nội dung của pháp luật về dân chủ ở cơ sở.

3.1.3. Nâng cao vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn, tiêu cực ở cơ sở Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Cơ sở là nơi gần dân nhất, mọi công việc được giải quyết với dân trực tiếp tại cơ sở và cũng tại cơ sở, tiếng nói của người dân được thể hiện trực tiếp và toàn diện nhất. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, không thể thiếu vai trò của chủ thể cơ bản nhất: người dân. Người dân ở xã, phường, thị trấn, thôn, làng, ấp, bản; người cán bộ, công chức trực tiếp làm việc tại cơ quan nhà nước; người lao động trong doanh nghiệp – là các chủ thể trực tiếp thực thi các quyền dân chủ cơ sở mà pháp luật quy định.

Nâng cao vai trò của nhân dân ở cơ sở là chủ trương chiến lược và hoàn toàn phù hợp với bản chất, mục đích của Nhà nước ta: Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Hệ thống pháp luật đã tạo lập những tiền đề để thực hiện chủ trương này. Vai trò của người dân cơ sở được thực hiện trên nhiều lĩnh vực, nhưng cần xác định những lĩnh vực mũi nhọn mà người dân có thể thực thi quyền dân chủ của mình. Chính vì vậy, Kết luận của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: nâng cao vai trò của người dân cơ sở trước hết trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn, tiêu cực ở cơ sở. Đây là lĩnh vực nhạy cảm nhất, và khắc phục được nó có thể tạo tiền đề cho thực hiện pháp luật dân chủ sâu rộng: làm trong sạch, đưa vào kỷ cương trật tự hoạt động hành chính; tạo lập niềm tin cho người dân ở cơ sở. Trong tất cả các nội dung thực hiện dân chủ cơ sở của người dân, thì việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền thể hiện rõ rệt nhất mức độ thực thi quyền dân chủ. Thực tiễn ở Thanh Hóa cho thấy rằng nơi nào việc kiểm tra giám sát các tệ nạn quan liêu, tham nhũng của chính quyền cơ sở tốt – đó chính là nơi thực hiện dân chủ cơ sở thực chất nhất, và ở đó chính quyền hoạt động có sự tuân thủ pháp luật nghiêm minh, niềm tin và sự tự giác của người dân thể hiện cao nhất. Và như vậy, các công việc được thực thi tốt hơn cả, mang lại hiệu quả cao trong phát triển kinh tế – xã hội.

Để nâng cao vai trò của người dân cơ sở trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn, tiêu cực ở cơ sở, cần có cơ chế thích đáng trong việc thu thập ý kiến nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia giám sát tại địa phương, cơ quan, doanh nghiệp. Hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân cần được đầu tư và kiện toàn theo hướng thực chất, thực quyền hơn, gắn sát với nhân dân hơn. Cơ chế tiếp dân cần bảo đảm tính công khai, minh bạch; tăng cường hoạt động đối thoại với dân thông qua nhiều kênh khác nhau: từ chính quyền cho đến các đoàn thể; từ tổ chức cho đến vai trò cá nhân các đại biểu Quốc Hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Các cấp, các ngành cũng cấn tăng cường vai trò tích cực trong giải quyết khiếu nại tố cáo của nhân dân – đây cũng là điều kiện cho quyền kiểm tra, giám sát của người dân đối với các hoạt động của cán bộ, công chức và người có thẩm quyền tại cơ quan hành chính được thực hiện hiệu quả. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

3.1.4. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn về thực hiện dân chủ ở cơ sở

Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là một quá trình, do đó cần từng bước tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm để xây dựng lộ trình tiến hành các bước tiếp theo hiệu quả hơn. Thực tiễn sinh động là nơi kiểm nghiệm đúng đắn nhất mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin , tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nhưng ý thức xã hội có thể tiến bộ hơn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Do đó, việc thường xuyên sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện pháp luật về dân chủ nói chung và dân chủ ở cơ sở nói riêng là một giải pháp góp phần nâng cao và đảm bảo thực hiện pháp luật về dân chủ. Pháp luật về dân chủ bao gồm nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng chủ yếu được quy định tại Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trước đây (ban hành kèm theo Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 7/7/2003 và nay là Pháp lệnh 34/2007/PL- UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Các văn bản này, trong quá trình thực thi cần được đánh giá: những quy định phù hợp với thực tiễn nên tiếp tục phát huy và những quy định chưa thực sự khả thi hoặc còn mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác cần phải khẩn trương sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ.

Do vậy, một trong những phương hướng để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là cần tập trung chỉ đạo việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hương ước, quy ước, quy chế làm việc cho phù hợp với pháp lệnh và nghị định mới ban hành, chỉ đạo tốt việc tổng kết, đánh giá tình hình, kết quả công tác xây dựng cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ hàng năm, xây dựng kế hoạch hoạt động năm sau, đảm bảo sát với tình hình cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương.

Quá trình hoàn thiện quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở cần phải từng bước nghiên cứu hoàn thiện và nâng giá trị pháp lý ở mức xây dựng Luật thực hiện dân chủ (bao gồm cả điều chỉnh việc thực hiện dân chủ và loại hình cơ sở khác), đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan và điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực. Quá trình tổng kết thực tiễn gắn với việc hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực pháp lý cao hơn, tiến bộ hơn sẽ đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật. Do đó, để từng bước hoàn thiện và đảm bảo sự đồng bộ trong việc thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, cần phải tổng kết đánh giá thực tiễn để có căn cứ chuẩn xác nhất từ đó điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về dân chủ ở cơ sở và tất cả những văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu thực thi dân chủ cơ sở của cả nước nói chung và của Thanh Hóa nói riêng

Chất lượng của thực hiện pháp luật phải dựa trên một trong những tiền đề đầu tiên: sự tồn tại của hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Bởi vậy, trong số các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn toàn quốc nói chung cũng như ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng, việc hoàn thiện các quy định pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng. Hoàn thiện hệ thống pháp luật làm cơ sở cho thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở – là việc hoàn thiện các quy định trực tiếp tại các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở (bao gồm Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc) và hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Sửa đổi bổ sung các quy định trong các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở:

  • Thứ nhất: cụ thể hóa một số quy định tại các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở:

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật về dân chủ cơ sở, các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này cần được cụ thể hóa. Trong Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn cần cụ thể hóa cách thức để công khai tài chính – một nội dung cơ bản thuộc quyền được biết, được kiểm, tra giám sát của người dân. Để việc giám sát trong lĩnh vực này khả thi, pháp luật cần cụ thể hóa: cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cần công khai các hạng mục gì – báo cáo tài chính phải cụ thể đến đâu; hình thức công khai: thành văn bản ở dạng nào, đưa ra tại cuộc họp hay niêm yết; thời hạn công khai trước khi tổ chức cuộc họp là bao lâu.v.v. Có như vậy, việc công khai tài chính của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và việc giám sát tài chính của người dân mới có thể khả thi. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn cần cụ thể hóa về nội dung “mời đại diện nhân dân tham dự các kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã” (khoản 2 điều 12 Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn). Để người được mời thực sự là đại diện của nhân dân chứ không mang tính hình thức, pháp luật nên cụ thể hóa cách thức nhân dân bầu ra người đại diện này. Cụ thể, nhân dân có thể cử đại diện nhân dân: thông qua nội dung cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố. Vì vậy, cần bổ sung thêm vào Điều 13 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, trị trấn: những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết: bên cạnh các nội dung đã có (Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng) cần bổ sung thêm nội dung: Bầu, bãi nhiệm người đại diện nhân dân tham dự các cuộc họp Hội đồng nhân dân xã.

  • Thứ hai: cần bãi bỏ những quy định rườm rà, gây phức tạp hóa cho việc thực hiện trong thực tế:

Điển hình là quy định về trình tự, thủ tục xây dựng hương ước. Để có hương ước hoàn chỉnh, sau khi đã được trao đổi, bàn bạc và quyết định tại thôn, làng, tổ dân phố, Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn, Bí thư chi bộ, Trưởng ban Công tác Mặt trận kèm theo Biên bản thông qua tại Hội nghị; có Công văn đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã. Sau khi có các hồ sơ đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản hương ước và Công văn đề nghị phê duyệt. Quy trình này kéo dài và qua rất nhiều bước, gây mất thời gian, rườm rà phức tạp.

Qua thực tiễn triển khai ở cơ sở cho thấy: vì Hương ước là văn bản mang nặng tính tự quản địa phương, nên cần trả lại về cơ sở quản lý. Do đó, Pháp lệnh nên sửa đổi thẩm quyền phê duyệt hương ước, giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để rút ngắn quy trình, không tốn thời gian cũng như các thủ tục đề nghị phê duyệt. Cụ thể, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có thể quy định cho phép chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện ủy quyền hoặc giao hẳn cho chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã quyết định công nhận quy ước tổ dân phố – ấp, hương ước, quy ước của xã… và quy định trách nhiệm của chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đối với việc này. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

  • Thứ ba: pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở cần có quy định mềm dẻo, phân hóa phù hợp với từng đối tượng thi hành.

Việc các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định các mẫu, các quy trình chung để thực hiện các nội dung dân chủ cơ sở là rất cần thiết cho việc tạo lập sự thống nhất trong thực thi pháp luật. Tuy nhiên các quy định đó cần có độ mềm dẻo, linh hoạt nhất định để phù hợp với việc thực hiện trên địa bàn. Ví dụ: theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, nội dung hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm. Điều này trên thực tế cho thấy sẽ làm rườm rà, khó hiểu và rập khuôn các mẫu hương ước. Theo chúng tôi, các văn bản hướng dẫn thi hành không nhất thiết quy định thể thức cụ thể hay một mẫu Hương ước, quy ước nào mà có thể chỉ quy định chung về những nội dung cần có trong hương ước, quy ước, còn lại các nội dung cụ thể và độ dài, ngắn của hương ước, quy ước để cho người làm hương ước (cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp) tự quyết định. Cũng như vậy, các hình thức để dân bàn, biểu quyết, tham gia ý kiến – có thể nên quy định linh hoạt, không nhất thiết là họp dân mà có thể thực hiện thông qua vận dụng bất kỳ dịp sinh hoạt tập thể (theo phong tục, tập quán, truyền thống.v.v.) và hội tụ đủ số người cần thiết.

  • Thứ tư: nên quy định chế tài xử lý đối với những vi phạm trong thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở.

Thực tiễn triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn cho thấy có khá nhiều trường hợp ở một số địa phương, doanh nghiệp, đơn vị đã có tình trạng vi phạm quy chế dân chủ cơ sở. Tuy nhiên, rất khó để xử lý các trường hợp này do pháp luật không có chế tài cụ thể. Ví dụ: tại chính quyền cơ sở, nếu cán bộ công chức cấp xã không thực hiện các quy định về thực hiện dân chủ ở cấp xã – cũng chưa có chế tài nào quy trách nhiệm, do đó, làm khó cho tính hiệu lực của Quy chế. Đặc biệt ở doanh nghiệp, vẫn còn tình trạng rất nhiều doanh nghiệp không công khai tài chính hay các quy định khác; không tổ chức Hội nghị người lao động.v.v. nhưng chưa có biện pháp xử lý. Tình trạng này để kéo dài sẽ dẫn đến việc không coi trọng các quy định pháp luật, quyền dân chủ của người dân cơ sở không được tôn trọng. Bởi vậy, theo chúng tôi cần cụ thể hóa các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về dân chủ ở cơ sở, ví dụ: chế tài kỷ luật, hoặc không xét khen thưởng, hoàn thành nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức; chế tài liên quan đến phạt tiền hoặc cắt giảm, không được hưởng các chính sách ưu đãi (nếu có) đối với các chủ doanh nghiệp nếu không thực thi các quy định pháp luật về dân chủ ở cơ sở.v.v.

  • Hoàn thiện các quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan đến thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Quyền dân chủ cơ sở chỉ có thể được thực hiện trong tổng thể các quyền dân sự, chính trị và văn hóa – xã hội khác. Bởi vậy việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở cũng chỉ có thể có hiệu quả trên cơ sở hoàn thiện các văn bản pháp luật quy định về các quyền dân sự chính trị nền tảng bảo đảm cho thực hiện dân chủ cơ sở.

Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013 đã có những đổi mới quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, để triển khai các quy định của Hiến pháp, cần cụ thể hóa nhiều quy định trong Hiến pháp thành các đạo luật trên các lĩnh vực quyền con người, quyền công dân, cụ thể như sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

  • Xây dựng và ban hành luật trưng cầu dân ý:

“ Luật trưng cầu dân ý chính là cầu nối để người dân hiểu rõ về quyền dân chủ trực tiếp của mình” [41, tr.136-137]. Trưng cầu dân ý có liên quan trực tiếp đến thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở. Có thể coi đây là một trong những chế định quan trọng để đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp, để nhân dân tự lựa chọn quyết định và thể hiện ý chí của mình đối với những vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, trình độ dân trí đang ngày càng được nâng cao, các phương tiện kỹ truyền thông phát triển, đảm bảo cho năng lực tự quyết định, lựa chọn những vấn đề liên quan mật thiết đến đời sống của nhân dân có điều kiện hơn, đó là điều kiện cơ bản để ban hành luật trưng cầu dân ý. Trên cơ sở Luật trưng cầu dân ý, sẽ là nền tảng để ban hành các quy định về dân chủ trực tiếp ở địa phương như quy trình tham vấn cộng đồng trước khi quyết định các vấn đề nhạy cảm liên quan đến địa phương, như xây dựng thủy điện, sòng bạc.v.v.; quy trình tiếp thu các sáng kiến pháp luật của nhân dân.v.v.

Nội dung Luật trưng cầu ý dân quy định các vấn đề cơ bản như: Khái niệm trưng cầu ý dân, nguyên tắc trưng cầu ý dân, những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và những vấn đề không đưa ra trưng cầu ý dân, thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân, trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân. Đồng thời, quy định trình tự, thủ tục tổ chức trưng cầu ý dân, hiệu lực kết quả trưng cầu ý dân. Luật trưng cầu ý dân cần xác định quy mô trưng cầu và thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân. Cần chia trưng cầu ý dân thành hai cấp, cấp quốc gia và cấp địa phương: ở cấp địa phương có thể giao cho Hội đồng nhân dân – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương quyết định. Thực tiễn cho thấy, hiện nay các vấn đề cần phải giải quyết thường phát sinh nhiều ở địa phương, nhất là ở cấp cơ sở. Tổ chức trưng cầu dân ý cấp địa phương vừa phát huy dân chủ cơ sở, vừa là tiền đề trực tiếp để thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

  • Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin, Luật Biểu tình, Luật về Hội,

Các đạo luật về tiếp cận thông tin, biểu tình, lập hội sẽ là nền tảng quan trọng để thực hiện quyền dân chủ – trong đó có các nội dung liên quan đến dân chủ ở cơ sở. Chỉ trên cơ sở bảo đảm quyền tự do thông tin mới thực hiện được sự trao đổi thông tin, ý kiến về các hoạt động giữa chính quyền và công dân, những người đại diện được bầu thông qua các phương tiện truyền thông, báo chí. Đồng thời, có tự do thông tin mới bảo đảm sự công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan công quyền. Để người dân tham gia, thì trước hết phải cho dân biết, biết về thực trạng tình hình đất nước, tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước, biết về các chính sách, chủ trương phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước, công khai minh bạch các thủ tục hành chính…

Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt có thể hiểu là quyền của công dân tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội… dưới mọi hình thức tuyên truyền bằng miệng, bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật hay thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu như quyền tự do thông tin là điều kiện để “dân biết”, thì quyền tự do ngôn luận là cơ sở để “dân bàn”. Mọi chính sách, quyết định của nhà nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân, do đó, mọi công dân phải có quyền được thảo luận, đóng góp ý kiến, đặc biệt là góp ý các dự thảo luật, đánh giá về các hoạt động của cơ quan nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Công dân có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người đại diện do mình bầu ra.

Cũng nhằm mục tiêu thực hiện dân chủ ở cơ sở, việc ban hành các Luật về lập hội, hội họp hòa bình sẽ tạo điều kiện trực tiếp cho thực thi các quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Thực thi được các quyền lập hội, hội họp hòa bình sẽ trực tiếp củng cố vào các phương thức thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hiến pháp hiện hành ghi nhận các quyền dân sự chính trị cơ bản này, nhưng đồng thời có ít nhiều hạn chế khi quy định việc thực hiện chúng phải do pháp luật quy định (điều 25 Hiến pháp 2013). Hệ thống văn bản pháp luật nước ta trong lĩnh vực này còn khá sơ sài, mới được điều chỉnh ở cấp độ văn bản pháp quy. Bởi vậy, Nhà nước cần sớm ban hành luật nhằm hiện thực hóa quyền hội họp, biểu tình của người dân, góp phần trực tiếp thực thi các quyền dân chủ ở cơ sở. Cụ thể cần ban hành Luật về lập hội trong đó quy định rõ thủ tục thành lập hội; các diễn tiến trong hoạt động của hội; hội viên; xử lý các vi phạm đối với quyền lập hội. Luật về hội cũng cần xác định các ranh giới tối thiểu mà theo đó quyền lập hội có thể bị hạn chế vì những lý do đặc biệt như an ninh, quốc phòng.v.v. Có quy định cụ thể về quyền lập hội, hội họp hòa bình, thì người dân ở cơ sở mới có phương tiện pháp lý vững chắc để thực hiện quyền tham gia của mình, và sức mạnh tham gia được nhân lên nhiều lần so với sự tham gia của từng cá nhân riêng rẽ.

Về quyền hội họp hòa bình: Nhà nước cần ban hành một đạo luật điều chỉnh chung các hoạt động hội họp hòa bình, trong đó có thể bao gồm cả quyền biểu tình. Đạo luật về hội họp này nên bao gồm các nội dung: nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm tự do hội họp, thủ tục thông báo về việc tổ chức, trách nhiệm của người tổ chức, các giới hạn về thời gian, địa điểm, thủ tục khiếu nại… Đồng thời để quyền hội họp, biểu tình có thể thực thi tốt, cũng cần cụ thể hóa nhiều quyền khác có liên quan, đặc biệt là quyền tự do đi lại cần được tôn trọng. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

  • Tiếp tục hoàn thiện Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Trong số các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, việc thực hiện thông qua cơ quan đại diện là hình thức quan trọng và có nhiều ưu thế, bởi thiết chế này có những thẩm quyền quan trọng trong tham gia đời sống chính trị xã hội trên quy mô toàn quốc cũng như ở địa phương. Tuy nhiên, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay còn rất nhiều hạn chế vì nhiều lý do, trong đó cả bệnh hình thức, thành tích trong công tác vận động và tổ chức bầu cử mà nhiều địa phương chưa có báo cáo hết những hạn chế trong thực hiện. Pháp luật bầu cử vẫn còn một số hạn chế trong quy định cứng nhắc về số người ứng cử tại đơn vị bầu cử; quy định số lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu không phù hợp với số dân cư; các tiêu chuẩn, điều kiện của người ứng cử vẫn còn chung chung, khó cho việc ứng cử cũng như việc giám sát của cử tri.v.v.

Ngoài ra, cũng tồn tại những bất cập pháp lý khi thực hiện bầu cử chung đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016, do có rất nhiều điểm vênh giữa hai đạo luật này. Do đó, cần tổng kết thực hiện luật để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện luật bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo hướng dân chủ, thực sự tăng trách nhiệm và ràng buộc về mặt pháp lý của các đại biểu với cử tri, quy định rõ hơn về tranh cử, về chương trình hành động của ứng cử viên, quy định những chức danh nhân dân bầu trực tiếp… trên cơ sở tiếp tục giữ vững nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Cần có thiết chế cho phép người dân tiếp xúc và đánh giá tốt hơn về ứng cử viên; đồng thời, hạn chế việc bầu cử theo cơ cấu, thông qua con đường hiệp thương. Cũng nên sửa đổi Luật theo hướng nên giảm bớt số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử để tăng cường mối liên hệ giữa đại biểu với cử tri nơi mình ứng cử; cụ thể hóa các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Chỉ trên cơ sở bầu cử thực chất thì việc thực hiện các quyền dân chủ ở cơ sở thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân mới thực sự hiệu quả.

  • Tiếp tục hoàn thiện Luật khiếu nại, Luật tố cáo; Luật phòng, chống tham nhũng; Luật Cán bộ, công chức và các văn bản quy phạm pháp luật khác

Việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trên đảm bảo cho nhân dân thực hiện tốt chức năng giám sát các đại biểu dân cử và cơ quan nhà nước, xây dựng nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh của dân, do dân và vì dân. Cụ thể, hoàn thiện các quy định tại Luật Cán bộ, công chức; Luật phòng, chống tham nhũng cho phép xây dựng, tuyển dụng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả, trong sạch và kỷ cương. Đây là tiền đề để thực thi các hoạt động liên quan đến dân chủ cơ sở như: công khai thông tin; duy trì quan hệ với nhân dân, lắng nghe, tiếp thu ý kiến nguyện vọng và chịu sự giám sát của nhân dân. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo cũng là trực tiếp góp phần vào thực hiện dân chủ cơ sở, bởi lẽ, thông qua khiếu nại mà có thể thực hiện quyền “dân kiểm tra”. Cơ chế giải quyết khiếu nại tố cáo có hiệu quả thì dân chủ cơ sở mới được đảm bảo. Luật Khiếu nại mới ban hành năm 2011 đã có nhiều quy định tiến bộ và phù hợp thực tiễn về trình tự, thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính, tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được xem xét hoàn thiện. Ví dụ: việc quy định người chưa thành niên 18 tuổi phải có người đại diện khiếu nại là chưa phù hợp, vì trong một số lĩnh vực pháp luật hành chính khác, họ đã có năng lực chủ thể đầy đủ – như trong xử phạt vi phạm hành chính – cho nên sẽ là phù hợp hơn nếu pháp luật quy định cho họ có quyền khiếu nại trong những lĩnh vực này. Hoặc để thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại của dân và cũng là để kiểm tra giám sát chặt chẽ hoạt động hành chính – trong tương lai Luật Khiếu nại có thể mở rộng sang khiếu nại đối với cả quyết định quy phạm.

Đối với Luật tố cáo: cần quy định việc tiếp nhận tố cáo đa dạng hơn cho phù hợp với tình hình thực tiễn công tác giải quyết tố cáo và sự phát triển của khoa học công nghệ như: việc tố cáo qua điện thoại, qua mạng. Mặt khác, Luật Tố cáo cũng nên ghi nhận quyền được tố cáo không cần nêu rõ họ, tên, địa chỉ của người tố cáo để khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân nêu cao ý thức pháp luật, ý thức xây dựng, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng. Tuy nhiên, phải quy định cụ thể những trường hợp tố cáo nặc danh nhưng nội dung đơn tố cáo rõ ràng, người tố cáo cung cấp được chứng cứ xác thực, có cơ sở xác minh thì đủ điều kiện để thụ lý giải quyết. Luật Tố cáo cũng cần phải quy định đối với trường hợp người tố cáo cho rằng việc giải quyết tố cáo trước đó không đúng pháp luật, thiếu khách quan hoặc quá thời hạn quy định mà không giải quyết thì họ có quyền tố cáo tiếp đến lần thứ hai, nếu không có chứng cứ mới thì không xem xét, giải quyết.

Để việc tố cáo có hiệu quả, Luật Tố cáo cần làm rõ nguyên tắc bảo vệ cho người tố cáo, trong đó xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cho người tố cáo, có như vậy mới tạo ra cơ sở pháp lý bảo đảm vững chắc để người dân yên tâm thực hiện quyền tố cáo. Đồng thời, cũng cần đa dạng hoá hình thức công khai, mở rộng hình thức công khai như niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan đã có kết luận vụ việc tố cáo, quyết định xử lý tố cáo; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức công bố công khai kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo. Pháp lệnh về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã quy định về việc này, nhưng Luật Tố cáo và Luật Khiếu nại không có quy định trình tự công khai, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong vận dụng trên thực tiễn.

  • Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên quan đến tự quản địa phương – tiền đề để thực hiện dân chủ cơ sở

Để thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, không thể thiếu các tiền đề quan trọng: pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, về tổ chức hoạt động của các cơ quan hành chính, trong đó nền tảng là các quy định phân cấp, trao quyền tự chủ cho các cơ sở này. Chỉ trên cơ sở xây dựng và hoàn chỉnh các quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền và tự quản cơ sở thì việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ở Thanh Hóa nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung mới thực sự có hiệu quả.

  • Thứ nhất: thúc đẩy việc phân cấp, trao quyền cho chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cơ sở – trong các quy định pháp luật. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Hiến pháp (sửa đổi) 2013 với tinh thần mới: phân cấp, tự chủ địa phương – đã có rất nhiều quy định tạo tiền đề cho việc thực thi phân cấp, phân quyền cho địa phương. Đặc biệt, trong đó tại khoản 2 điều 112 có quy định: “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương” [35]. Đây là nền tảng cho các đạo luật tổ chức và luật chuyên ngành xác định phạm vi phân cấp, phân quyền cho chính quyền cơ sở.

Ở cấp cơ sở, thực tiễn hiện nay cho thấy hầu như hoạt động của cấp xã đều nằm trong chuỗi hoạt động với các cơ quan nhà nước cấp trên, mà cơ bản là Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh. Điều này phản ánh thực trạng pháp luật chưa có sự phân cấp rành mạch giữa thẩm quyền cấp xã với các cấp hành chính khác. Do đó, việc đòi hỏi cấp xã chịu trách nhiệm tuyệt đối trong thực hiện Quy chế dân chủ là không phù hợp khi mà các công việc thuộc nội dung dân chủ cơ sở lại không được giao cho riêng mình cấp xã. Ngay cả khi cấp xã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ quy định tại Pháp lệnh dân chủ cơ sở, nhưng cấp trên chưa thực hiện thẩm quyền trong công việc có liên quan thì việc cấp xã phải công khai hay tổ chức đưa ra lấy ý kiến về công việc đó là không thể khả thi. Đây chính là nguyên nhân lớn dẫn đến những bất cập trong thực hiện Quy chế dân chủ tại xã, phường, thị trấn. Vậy giải pháp cụ thể là cần có sự phân cấp dứt khoát giữa các công việc của cấp xã và các cấp chính quyền khác; và trong chừng mực có thể, nên giao một số loại việc gắn với địa phương cho cấp xã trực tiếp quyết định. Có như vậy, cấp xã mới thực sự là cấp chính quyền cơ sở, và phản ánh trực tiếp quyền quản lý của người dân cơ sở. Các công việc có thể giao cho cấp xã trực tiếp và toàn quyền quản lý là loại việc gắn chặt với sinh hoạt của dân cư địa phương: quản lý trường mầm non, phê duyệt hương ước, quy ước; phê duyệt các dự án đầu tư ở xã với kinh phí nhỏ; tổ chức tuyển dụng, quản lý các chức danh công chức, cán bộ không chuyên trách ở xã. v.v. Khi chính quyền cơ sở có thẩm quyền quyết định trong một lĩnh vực công việc thì mới có khả năng chịu trách nhiệm hoàn toàn trong thực thi công việc đó – bao gồm cả việc công khai, việc tiếp thu ý kiến và giải trình sự giám sát của nhân dân đối với công việc đó.

  • Thứ hai: cần nâng cao vai trò tự quản cơ sở thông qua các thiết chế thôn, làng, ấp, bản và trưởng thôn, hương ước.

Khi mà cấp xã chưa được trao quyền tự quản chung thì tự quản cơ sở chủ yếu được thực hiện thông qua các thôn làng, ấp bản – đơn vị quần cư tự nhiên. Thực tiễn và lịch sử ở nước ta cho thấy từ lâu đời thôn làng đã đóng vai trò quan trọng trong tự quản: đây là tế bào nhỏ nhất của các cộng đồng dân cư nông thôn, nơi quy tụ đầy đủ yếu tố của một đơn vị dân cư hoàn chỉnh [42, tr.122]. Bởi vậy, đã có quan điểm cho rằng cần quy định thôn, làng như một cấp chính quyền cơ sở, bởi đây là nơi có thể thực hiện tự quản một cách thiết thực nhất. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Các thiết chế thôn, làng, ấp, bản là thiết chế dân chủ trực tiếp chứ không phải đại diện cho chính quyền cơ sở, trưởng thôn không phải là cánh tay nối dài của chính quyền cấp xã. Cần phải đặt cơ sở pháp lý chính thức quy định địa vị pháp lý của các thôn, làng, ấp, bản thành cấp chính quyền cơ sở, đồng thời giảm các cấp chính quyền bên trên trung gian [11, tr.118].

Các quan điểm khoa học có thể đưa ra những giải pháp dài hạn, tuy nhiên trước mắt, pháp luật có thể tăng cường vai trò tự quản của thôn, làng, ấp, bản – coi như một thí điểm trước cho việc tiến tới tự quản ở đơn vị hành chính cơ sở. Đồng thời, với việc đó, cần có hành lang pháp lý rõ ràng theo hướng tạo điều kiện để trưởng thôn thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn của mình với tư cách đại diện cộng đồng dân cư. Cuối cùng: cần quy định cho việc ban hành hương ước thực sự là thỏa thuận ý chí của cộng đồng, thực thi hương ước với sự đồng thuận của cộng đồng – lúc này hương ước mới có thể là phương tiện để khẳng định và thực thi khả năng tự quản của thôn làng.

Cụ thể: pháp luật cần xác định lại vai trò của thôn, làng, theo hướng trao cho thôn, làng một số quyền hạn trong thực hiện dân chủ trực tiếp (giám sát, góp ý công việc của chính quyền; tự tổ chức thực hiện một số công việc của cộng đồng). Pháp luật cũng cần quy định lại địa vị pháp lý của trưởng thôn theo hướng: giảm bớt sự can thiệp lệ thuộc hành chính vào chính quyền xã, mà nâng cao vai trò là người đại diện cho nhân dân địa phương. Ở đây, có thể thấy một thay đổi khá lớn trong khung pháp luật liên quan đến lĩnh vực này: nếu như thời kỳ đầu (Nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đều có quy định về cách thức bầu, mối quan hệ công tác giữa trưởng thôn với chính quyền xã, thì đến Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn – quy định này không còn hiện diện. Nghị quyết số 09/2008/NQLT-CP-UBTUMTTQVN của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nạm và Chính phủ ngày 17/4/2008, Hướng dẫn thi hành các Điều 11, Điều 14, Điều 16, Điều 22 và Điều 26 của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn – cũng chỉ quy định chung về trình tự, thủ tục bầu trưởng thôn. Như vậy, những nội dung còn lại hoàn toàn bỏ trống – điều này đặt trong bối cảnh hiện nay không làm cho trưởng thôn phát huy vai trò đại diện cộng đồng – mà lại chủ yếu đi thực thi nhiệm vụ của chính quyền cơ sở giao phó.

Để khắc phục tình trạng này, Pháp luật cần tiêu chuẩn hóa các điều kiện bầu trưởng thôn, xác định cơ chế hoạt động của trưởng thôn một cách rành rẽ hơn, để làm cho các công việc mà trưởng thôn tiến hành phải nhân danh người dân cơ sở chứ không nặng về phía chính quyền. Chỉ trên cơ sở một khung pháp lý rõ ràng, người dân cơ sở mới thực hiện được việc lựa chọn đúng đắn trưởng thôn – người đại diện cho cộng đồng dân cư và người đại diện đó sau khi được lựa chọn mới có thể hoạt động độc lập, không chịu sự chi phối hoàn toàn của chính quyền.

3.2.2. Nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân chủ ở cơ sở Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Để thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đạt hiệu quả, cần chuyển tải các nội dung pháp luật về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đến người dân, cơ quan, người lao động trong doanh nghiệp. Nội dung tuyên truyền không chỉ bó hẹp trong các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở mà cả các văn bản pháp luật khác có liên quan; tuyên truyền không chỉ về nội dung pháp luật mà về các lợi ích, các trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong thực hiện dân chủ tại cơ quan, chính quyền cơ sở và doanh nghiệp. Các hình thức tuyên truyền cần phong phú: dạy về dân chủ, quyền làm chủ và trách nhiệm của công dân ở tất cả các cấp học ngay từ trong trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, cần biểu dương những địa bàn, làng, xóm, khu dân cư thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tổ chức tư vấn về quyền làm chủ của người dân trong các lĩnh vực liên quan đến lợi ích thiết thực, quyền có nhà ở, quyền sử dụng đất, quyền tự do kinh doanh… Ở các xã, phường, thị trấn và trong các cơ quan (nếu có thể); cần xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng và chất lượng, số lượng tủ sách pháp luật, các tờ rơi về dân chủ tại địa bàn. Ở quy mô tỉnh, cần lập các chuyên mục, chuyên đề về dân chủ trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong thực hiện dân chủ giữa các làng, xóm, khu dân cư ở trong và ngoài tỉnh. Các hình thức tuyên truyền pháp luật về dân chủ ở cơ sở cần được đổi mới cho sinh động, hấp dẫn và thiết thực hơn. Ví dụ: có thể có các hình thức thi, thao diễn văn nghệ và khuyến khích trau dồi kiến thức, kỹ năng về thực hành dân chủ cơ sở. Đặc biệt, có thể lồng ghép các nội dung pháp luật dân chủ cơ sở vào các hoạt động cụ thể ở địa phương. Kinh nghiệm cho thấy ở nhiều nơi, việc thực hiện quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra thực sự có hiệu quả trên cơ sở một mô hình cụ thể, ví dụ: xây dựng và điều phối hoạt động của một công trình, dự án tài trợ cho cộng đồng. Ở Thanh Hóa, thiết nghĩ đây là biện pháp hữu hiệu: khi có các chương trình, dự án tài trợ về một địa phương (xã, thôn, làng) hoặc cho một doanh nghiệp… cần kết hợp thực hành dân chủ cơ sở thông qua việc để cho chính người dân đó được tham gia bàn bạc kế hoạch triển khai, rồi giám sát thi công công trình; và điều phối, lập kế hoạch sử dụng và bảo trì công trình. Có như vậy, dân chủ cơ sở mới được thực hành triệt để, và người dân tại cơ sở mới thấy rõ các lợi ích thiết thực từ thực thi dân chủ cơ sở.

Để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về dân chủ cơ sở có hiệu quả, cần chú ý đến thời điểm tuyên truyền: có thể lồng ghép tuyên truyền pháp luật về dân chủ cơ sở vào những cuộc sinh hoạt chung của cộng đồng: vào các dịp lễ hội của thôn, làng và vào những dịp sinh hoạt chung của cán bộ, công chức và người lao động.

3.2.3. Nâng cao năng lực của cấp ủy, của chính quyền và của các đoàn thể và của Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Bên cạnh việc nâng cao tính tích cực, chủ động của người dân ở cơ sở trong thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở, cần tăng cường vai trò của các chủ thể pháp luật khác tại địa phương như cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, trong đó đặc biệt là tổ chức Mặt trận Tổ quốc và Công đoàn. Báo cáo của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Thanh Hóa đã tái khẳng định quyết tâm nêu ra trong Kết luận của Bộ Chính trị: “tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng; trách nhiệm của chính quyền về thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; đồng thời phát huy vai trò của mặt trận, các đoàn thể nhân dân trong việc tuyên truyền và giám sát việc thực hiện; vận động nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cơ sở”. Trên cơ sở đó phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo nên sự nhất quán cao trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.

Các cấp ủy, chính quyền giữ vai trò chủ thể thực hiện – trong thực hiện rất nhiều quyền dân chủ cơ sở. Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trong những năm qua ở tỉnh Thanh Hóa cho thấy, ở đâu tổ chức đảng và chính quyền cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh thì ở đó năng lực, chất lượng lãnh đạo, quản lý việc thực hiện pháp luật về dân chủ được thể hiện rõ nét: từ việc quán triệt, đến việc tổ chức thực hiện những nội dung cụ thể của pháp luật về dân chủ ở cơ sở được triển khai nghiêm túc, chủ động, có chương trình, kế hoạch cụ thể, hiệu quả lãnh đạo, quản lý công tác này nâng lên rõ nét. Ngược lại, ở nơi nào tổ chức Đảng, chính quyền yếu kém, mất đoàn kết, lại tồn đọng các vụ việc tham nhũng, tiêu cực chưa được giải quyết thì nơi đó tỏ ra thờ ơ với pháp luật về dân chủ, nếu cấp trên thúc ép phải triển khai thì chỉ làm hời hợt, tắc trách, hình thức, chiếu lệ cho xong, thậm chí nhiều nơi e ngại lẩn tránh việc thực thi những yêu cầu, nội dung dân chủ ở cơ sở quy định trong pháp luật. Chính vì vậy, muốn đảm bảo thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trước hết phải nâng cao vai trò của tổ chức đảng và chính quyền. Giải pháp cụ thể là cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Thực thi pháp luật về dân chủ ở cơ sở cũng là phương cách mà qua đó khắc phục đáng kể tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí, cửa quyền của một số cán bộ, đảng viên, từ đó góp phần củng cố tổ chức đảng, chính quyền, cũng như cả hệ thống chính trị ở địa phương.

Trong số các chủ thể của hệ thống chính trị ở cơ sở, mỗi chủ thể giữ vai trò đặc trưng riêng. Cấp ủy có vai trò quan trọng trong định hướng, chỉ đạo thực hiện những nội dung của pháp luật dân chủ ở cơ sở, đồng thời, cũng là đầu mối kết hợp điều hòa hoạt động của các cơ quan chính quyền, tổ chức đoàn thể. Cấp ủy, cũng giữ vai trò kiểm tra giám sát toàn bộ quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, các hoạt động chỉ đạo thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở của cấp ủy nói riêng và toàn bộ các hoạt động khác của cấp ủy nói chung cần được tiếp tục xây dựng, củng cố và đổi mới theo tinh thần của nghị quyết Trung ương 5 khóa X về “tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”. Các cấp chính quyền có vai trò quan trọng và trực tiếp trong thực thi pháp luật về dân chủ ở cơ sở: đây là nơi công khai các việc mà pháp luật quy định, cũng là nơi tổ chức thực hiện các quyền tham gia bàn bạc, biểu quyết của người dân; và là nơi thu thập xử lý, công khai các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Để tổ chức thực hiện tốt pháp luật về dân chủ ở cơ sở, các cấp chính quyền cũng phải được đổi mới về tổ chức cũng như phương cách hoạt động theo hướng công khai, minh bạch, gần dân và vì dân. Các đoàn thể ở cơ sở có vai trò tham gia quan trọng vào thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở: các đoàn thể vừa là kênh trực tiếp để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ ở cơ sở; vừa là chủ thể cùng với nhà nước trong những hoạt động nhất định – tổ chức thực hiện các quyền dân chủ cơ sở đó.

Với vai trò rất quan trọng trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cũng cần phải tiếp tục đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động. Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ đã nêu rõ trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội bao gồm ba việc: Phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân trong thực hiện chỉ thị này và các quy chế dân chủ ở cơ sở, làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân, quyền của các tổ chức chính trị – xã hội đã được quy định trong quy chế dân chủ và giám sát thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở. Định hướng của tỉnh là: nâng cao trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện tốt pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở cơ sở, phản ánh ý kiến của nhân dân về thực hiện Pháp lệnh.

Cụ thể, Mặt trận Tổ quốc cần nâng cao vai trò vận động nhân dân phát giác các hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Mặt trận cần tích cực hơn trong tham gia giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, những khiếu kiện, thắc mắc của nhân dân đối với cán bộ cơ sở, với chính quyền xã, thị trấn, thôn. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội phải thể hiện rõ vai trò của mình đối với nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân và thu hút, lôi cuốn quần chúng vào các hoạt động của mình. Mặt trận Tổ quốc phải thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng rãi nhất, tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.

Từng tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cần phát huy tính chủ động nhưng đặt trong sự phối hợp chặt chẽ, tất cả chương trình vận động đều nhằm một mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ chính trị của cả hệ thống chính trị: Đảng, chính quyền, đoàn thể. Thực tiễn cho thấy, để thực sự sinh động và thu hút sự tham gia của nhân dân, cần khắc phục triệt để bệnh hành chính hóa công tác đoàn thể. Các tổ chức Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm riêng và lợi thế của tổ chức mình để xây dựng chương trình vận động phù hợp, tập trung vào việc đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện có hiệu quả, thực chất trên cơ sở tự nguyện, tự giác của nhân dân trong các cuộc vận động mang tính chất xã hội từ thiện.

Để nâng cao vai trò tự giác và tích cực trong huy động sự tham gia của nhân dân, các tổ chức đoàn thể phải được phân cấp rõ ràng và đảm bảo nguồn kinh phí để hoạt động. Để tạo sự chủ động trong hoạt động của các đoàn thể, cần khắc phục tình trạng “xin – cho” giữa các tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền xã, phường, thị trấn. Định hướng trong tương lai, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phải tự cân đối kinh phí hoạt động trên cơ sở thu đủ đoàn phí, hội phí, minh bạch trong quản lý hội phí, đoàn phí và các khoản hỗ trợ, quyên góp. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là trách nhiệm của tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị nói chung và trong bộ máy nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là đầu mối chịu trách nhiệm trực tiếp và chuyên trách về lĩnh vực này. Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, cần thiết phải tiếp tục phát huy vai trò, tính tích cực của Ban Chỉ đạo. Chủ trương, định hướng của tỉnh Thanh Hóa – dựa trên quan điểm chung của Đảng và Nhà nước là: Tiếp tục củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo Xây dựng và Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các cấp, các ngành. Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, các Ban chỉ đạo cần tích cực chủ động hơn trong tham mưu cho cấp ủy, Ủy ban nhân dân những giải pháp thiết thực, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay ở cơ sở. Ban chỉ đạo tỉnh và các cấp, các ngành phải chủ động đi cơ sở kiểm tra, nắm tình hình và giải quyết những vấn đề thuộc phần trách nhiệm của mình đảm nhiệm.

3.2.4. Tăng cường đối thoại giữa người dân và các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở

Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cho thấy: việc tăng cường trao đổi, đối thoại giữa người dân và chính quyền đóng vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tại cuộc họp đánh giá kết quả hoạt động của năm 2013, Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã đánh giá: tình hình khiếu nại, tố cáo còn diễn biến phức tạp, nhất là ở các địa bàn thực hiện các công trình, dự án đầu tư liên quan đến giải phóng mặt bằng, đền bù, giải tỏa khi bị thu hồi đất… là do chưa thực hiện đúng quy trình công khai, chưa bàn bạc dân chủ. Nhận thức về quy chế dân chủ ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị chưa sâu sắc, nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết những vấn đề tồn tại kéo dài. Lợi ích chính đáng của người dân chưa được quan tâm khi nhiều công trình, dự án không được nhân dân đồng tình, chất lượng kém, gây lãng phí… Điều này cũng đã dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp lợi ích giữa người lao động và chủ doanh nghiệp. Và một trong những giải pháp cụ thể được đề xuất trong hội nghị là: cần tăng cường hơn nữa công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, đoàn thể [48].

Để thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ngoài việc tuân thủ, quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, muốn để cho “dân biết” thì phải công khai, minh bạch tất cả các công việc của các tổ chức Đảng, nhà nước, các cấp chính quyền, đoàn thể, cũng như các cơ quan, doanh nghiệp; muốn để cho “dân bàn” thì cơ quan, tổ chức và người lãnh đạo phải gần dân, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhân dân, thể hiện tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ. Từ đấy, nhân dân mới được hỏi, được nói, được bàn bạc mọi việc cho đến thấu lí, vẹn tình; và từ đó dân mới có điều kiện để thực hiện quyền “dân làm”, hăng hái tham gia các công việc của đất nước, của địa phương.

Muốn tăng cường đối thoại giữa người dân và cơ quan nhà nước, giữa cán bộ, công chức và thủ trưởng, giữa người lao động và chủ sử dụng lao động trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở, cần chú ý đến công tác giao tiếp, tiếp dân, bảo đảm đúng các quy trình, thủ tục về công khai, về tổ chức hội họp.v.v. đã được quy định tại các văn bản pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Cụ thể, tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cần chú trọng công tác tiếp công dân đúng theo định kỳ; cần đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ công tác tiếp dân; phải có hệ thống sổ sách theo dõi. Cần đổi mới tuyển dụng cán bộ tiếp dân theo hướng lựa chọn người có năng lực, có thái độ, phẩm chất, đạo đức, trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn để làm công tác tiếp công dân thường xuyên. Chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh phải tổ chức tốt việc tiếp công dân định kỳ. Cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với các cán bộ làm công tác tiếp dân để họ yên tâm công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Tại các xã, phường, thị trấn cũng như tại các cơ quan, doanh nghiệp, người lãnh đạo phải củng cố và chấn chỉnh công tác tiếp công dân, thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp dân. Đặc biệt khi xảy ra những vụ việc phức tạp các đồng chí lãnh đạo phải đích thân tiếp dân, đối thoại với công dân và trực tiếp chỉ đạo giải quyết với tinh thần “giải quyết để bảo đảm yên dân chứ không giải quyết xong việc”. Ở một số điểm nóng, với một số vụ việc nhất định khi xảy ra khiếu kiện đông người, các cơ quan nhà nước phải tăng cường phối hợp để tiếp dân và vận động công dân trở về địa phương, đồng thời, có biện pháp giải quyết kịp thời, dứt điểm, không để kéo dài, tái khiếu kiện. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Đặc biệt, trong quan hệ giữa người dân và chính quyền có lĩnh vực nhạy cảm – đó là giải quyết khiếu nại, tố cáo. Quy trình này phải đảm bảo công khai, dân chủ, tăng cường đối thoại, thực hiện đầy đủ các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo, không được xem nhẹ khâu nào, nhất là phải coi trọng việc tổ chức đối thoại ở cấp xã khi giải quyết khiếu nại lần đầu. Chính quyền không thực hiện giao tiếp với người dân thì khiếu kiện kéo dài sẽ không chấm dứt.

Với quy định mới của Luật Khiếu nại về thủ tục đối thoại, thực tiễn áp dụng cho thấy đối thoại trực tiếp là việc làm rất hiệu quả, nhưng phải là người đứng đầu, người có quyền quyết định. Kinh nghiệm cho thấy, khi người đứng đầu và cả hệ thống chính trị ở địa phương cùng vào cuộc, cùng tham gia đối thoại thì khả năng thành công của buổi đối thoại sẽ rất cao. Và ngược lại, nếu ỷ lại, đùn đẩy cho người không có thẩm quyền trực tiếp đối thoại với công dân thì phần lớn là đối thoại lòng vòng, né tránh, không đưa ra quyết định, nên hiệu quả thấp và thậm chí làm cho người khiếu nại bức xúc thêm.

Đối với những đơn thư khiếu nại nổi cộm, phức tạp phải đưa ra lấy ý kiến người dân, phát huy vai trò của những người có uy tín trong tộc, họ, các chức sắc tôn giáo trong việc vận động, giải thích, thuyết phục, tạo sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân. Chính lúc này dân chủ cơ sở được phát huy cao độ.

3.2.5. Thực hiện dân chủ ở cơ sở phải đồng bộ với việc phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

Có thể nói môi trường kinh tế, xã hội là điều kiện nền tảng và cũng là động lực cho thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Không thể phát huy dân chủ cơ sở nếu điều kiện sống của người dân còn quá thấp kém, môi trường xã hội còn quá nhiều bất cập. Mọi quyền dân chủ của người dân sẽ chỉ tồn tại trên giấy nếu không gắn nó với những tiền đề và mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định. Không có dân chủ trong điều kiện đói nghèo, an ninh không được đảm bảo, người dân chỉ có thể phát huy quyền làm chủ khi nỗi lo mưu sinh không còn là nỗi lo thường trực. Chính vì vậy, thực hiện dân chủ cơ sở gắn với phát triển kinh tế – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội để đảm bảo dân chủ là yêu cầu, mục tiêu hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng.

Bởi vậy, định hướng và giải pháp tăng cường dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa luôn gắn với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Là một tỉnh đang có nhiều tiềm lực phát triển kinh tế, trước mắt tỉnh tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng để tạo thành các cụm công nghiệp quan trọng, thu hút hoạt động đầu tư trên địa bàn. Trong những năm trước mắt, cần tạo điều kiện thuận lợi để Dự án Liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn thực hiện đúng tiến độ, hoàn thành đi vào hoạt động vào năm 2017. Sau khi Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động, thu hút các dự án đầu tư phát triển cụm ngành công nghiệp lọc hóa dầu và chế biến các sản phẩm từ lọc hóa dầu tập trung ở khu vực Nghi Sơn – Bãi Trành. Khuyến khích, thu hút các dự án chế biến sản phẩm từ lọc hóa dầu như hóa chất phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, chất dẻo tổng hợp, hóa mỹ phẩm, nhựa tổng hợp, bột nhựa, hạt nhựa, keo dán các loại, cao su nhân tạo, sơn tổng hợp, sợi tổng hợp và chất nhuộm phục vụ công nghiệp dệt may, chất đốt, khí hóa lỏng LPG. Đồng thời, ưu tiên các dự án đầu tư sản xuất linh kiện điện tử, chip, bản mạch và linh phụ kiện lắp ráp các thiết bị điện tử văn phòng, thông tin, viễn thông, máy tính, thiết bị điện tử thông minh cho công nghiệp ôtô, đóng tàu, công nghiệp dân dụng vào Khu công nghiệp Lam Sơn Sao Vàng. Cũng nhằm phát huy tiềm năng kinh tế nông nghiệp của địa phương và cải thiện đời sống của người dân ở vùng sâu, vùng xa trong tỉnh, cần thu hút đầu tư các nhà máy chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi gắn với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung. Trước mắt, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chế biến sữa và công nghiệp gỗ cao cấp (ván sàn, vách ngăn, đồ nội thất, …) tiêu thụ trong nước, xuất khẩu. Hình thành các cụm công nghiệp chế biến gỗ, luồng ở Ngọc Lặc, Thường Xuân; cụm công nghiệp chế biến thủy sản ở Lạch Hới. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Giai đoạn đến 2020, ngoài các Khu công nghiệp trong Khu kinh tế Nghi Sơn, toàn tỉnh phát triển 11 khu công nghiệp với tổng diện tích 4.019,43 ha. Ưu tiên xây dựng hạ tầng phát triển nhanh các Khu công nghiệp thuộc các cực tăng trưởng (Khu công nghiệp Lam Sơn Sao Vàng, Khu công nghiệp Bỉm Sơn, Khu công nghiệp Hoàng Long, Khu công nghiệp Nam thành phố Thanh Hóa).

Để tăng cường phát triển kinh tế, xã hội, tỉnh chú trọng phát triển du lịch, trên cơ sở tập trung đầu tư phát triển các cụm trọng điểm du lịch, gồm:

  • Thành phố Thanh Hóa – Sầm Sơn – Hải Tiến: du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch đô thị, du lịch tìm hiểu lịch sử, cách mạng, du lịch khảo cổ – lịch sử.
  • Thành nhà Hồ – Lam Kinh – suối cá Cẩm Lương: du lịch sinh thái, du lịch di sản.

Nghi Sơn – Bến En: du lịch công vụ, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng. Bên cạnh đó, từng bước đầu tư phát triển các khu, điểm du lịch khác như Hải Hòa, Hòn Mê, Pù Luông, Pù Hu, Cửa Đạt – Xuân Liên. Giai đoạn đến năm 2020, ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch chủ đạo gồm: du lịch nghỉ dưỡng biển tập trung ở khu vực ven biển Hoằng Hoá – Tĩnh Gia; du lịch di sản tập trung ở Thành nhà Hồ và Lam Kinh; du lịch thương mại công vụ ở Nghi Sơn; du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn (Bến En, Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, Hòn Mê) kết hợp với sản phẩm du lịch đường sông và du lịch tâm linh. Việc phát triển du lịch phải gắn liền với khai thác và bảo tồn di sản truyền thống văn hóa của tỉnh – theo phương châm sử dụng nguồn lực địa phương và phát triển bền vững.

Tại địa bàn nông thôn, tỉnh cần đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất nông sản, lâm sản hàng hóa tập trung gắn với chế biến; các vùng sản xuất nông, thủy sản thực phẩm sạch, an toàn được chứng nhận gắn với doanh nghiệp xuất khẩu và hệ thống các cơ sở phân phối tiêu thụ. Tập trung phát triển vùng chăn nuôi bò sữa, vùng cây gỗ lớn, vùng luồng thâm canh cho chế biến, vùng rau, đậu, củ, quả thực phẩm sạch, an toàn.

Cần nhân rộng mô hình kinh tế trang trại, gia trại, mô hình kinh tế vườn đồi, vườn rừng, tổ hợp tác sản xuất có hiệu quả cao. Ban hành cơ chế chính sách ưu đãi hỗ trợ nông dân xây dựng và phát triển thương hiệu nông, lâm, thủy sản hàng hóa, đặc sản của địa phương.

Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo: tỉnh cần phát triển toàn diện lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề từ cơ sở trường lớp, đội ngũ giáo viên, đến đổi mới chương trình, nội dung đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ngày từ các bậc học đầu tiên. Với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, cần hoàn thành chương trình kiên cố hóa phòng học bậc mầm non, nâng tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia lên cao, đồng thời tăng tỉ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ. Công tác tuyển dụng, sử dụng viên chức cần minh bạch và công khai, nhằm rà soát, bố trí hợp lý đội ngũ giáo viên phổ thông ở các vùng và địa bàn trong tỉnh đáp ứng nhu cầu học 2 buổi/ngày ở cấp Tiểu học và trung học cơ sở. Đến 2015, đạt trên 99,8% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn theo chương trình đổi mới giáo dục. Đầu tư xây dựng trường Trung học phổ thông chuyên Lam Sơn thành trường chuyên chất lượng cao trọng điểm quốc gia và trường Trung học phổ thông chuyên tại trường Đại học Hồng Đức. Tỉnh cần sử dụng các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư thành lập các trường phổ thông quốc tế, trường phổ thông tư thục chất lượng cao, trường phổ thông năng khiếu ngoài công lập. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Việc đào tạo, dạy nghề phải được xã hội hóa, gắn với nhu cầu thị trường. Khuyến khích các cơ sở đào tạo, dạy nghề nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, đổi mới chương trình nội dung đào tạo, tiến đến có thể đào tạo một số ngành nghề đạt cấp độ quốc gia, khu vực (ASEAN). Tiếp tục phát triển mạng lưới các trường nghề, củng cố các trung tâm giáo dục hướng nghiệp – dạy nghề cấp huyện nhất là các huyện miền núi, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất Trường trung cấp nghề Miền núi tại huyện Ngọc Lặc.

Phát huy dân chủ cơ sở cần đồng bộ với việc chăm lo an sinh, sức khỏe cho nhân dân. Tỉnh Thanh Hóa cần có chiến lược phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại, dự phòng tích cực và chủ động. Phát triển các dịch vụ y tế thông thường đảm bảo điều kiện chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho toàn dân. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe kỹ thuật cao. Đặc biệt ở cơ sở cần phát triển mạng lưới khám chữa bệnh, củng cố các trạm y tế xã nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, tiếp tục đưa bác sĩ về làm việc thường xuyên ở các trạm y tế xã, tăng tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ đạt khoảng 70% vào năm 2015 và 90% vào năm 2020. Phát triển hoạt động bác sỹ gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 70- 80% đến 2020 và đạt 100% giai đoạn 2021- 2025.

Về văn hóa, cần chú trọng phát triển các thiết chế văn hóa cơ sở: xây dựng thiết chế văn hóa xã, thôn, bản gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên đầu tư xây dựng trung tâm văn hóa xã, nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng thôn bản ở vùng miền núi. Tỉnh Thanh Hóa đặt ra mục tiêu cụ thể: Đến 2015, đạt 75% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa, thư viện, sân bãi vui chơi giải trí; trên 80% khu phố, thôn, bản có nhà văn hóa. Đến 2020, đạt 100% khu phố, thôn, bản có nhà văn hóa.

Đầu tư từ ngân sách và xã hội hóa đầu tư tu bổ, phục hồi tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, kết hợp văn hóa với phát triển du lịch. Tiếp tục các chương trình bảo tồn văn hóa nghệ thuật dân gian, phục dựng các lễ hội truyền thống, bảo tồn khai thác các giá trị văn hóa về khảo cổ học (Văn hóa thời đại đồ đồng lưu vực sông Mã), dân tộc học, tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn, xây dựng hồ sơ các di sản văn hóa phi vật thể. Hướng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa mới từ gia đình đến cộng đồng dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, xây dựng lề lối, tác phong làm việc công nghiệp.

Song song với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, tỉnh Thanh Hóa cũng chú trọng bảo vệ an ninh, quốc phòng, bởi trên cơ sở ổn định và trật tự xã hội, dân chủ cơ sở mới có thể phát huy hiệu quả. Tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và các tâng lớp nhân nhân đối với công tác phòng, chống tệ nạn xã hội; thực hiện tốt các biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông. Tiếp tục thực hiện chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, quản lý, cảm hóa, giáo dục người vi phạm pháp luật. Xây dựng lực lượng tuần tra nhân dân ở các thôn, xóm, làng, bản; xây dựng các mô hình phong trào quần chúng tự quản trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Đặc biệt chú trọng tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đảm bảo giữ vững an ninh cơ sở, không để xảy ra “điểm nóng”. Tại cơ sở, chính quyền – đặc biệt lực lượng công an phải thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, cải cách hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa” trong đăng ký hộ khẩu, cấp chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận điều kiện về an ninh trật tự gắn trách nhiệm của cảnh sát khu vực, của công an xã với địa bàn dân cư.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

Dân chủ là giá trị chung của nhân loại, và cũng được ghi nhận từ lâu trong truyền thống Việt Nam, đặc biệt trong chính sách và pháp luật của nhà nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định từ những ngày đầu lập nước: “Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương đều do dân cử ra” [27, tr.563]. Dân chủ ở cấp cơ sở – bao gồm dân chủ tại xã, phường, thị trấn, tại cơ quan, đơn vị và tại doanh nghiệp – là hình thức thực hiện dân chủ gần gũi cộng đồng, đi từ những thành tố gốc rễ, cơ bản nhất của xã hội. Bởi vậy, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở được coi là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, đưa đất nước ta tích cực và chủ động hội nhập vào khu vực và thế giới.

Cùng với chủ trương xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở được phát động rộng rãi trên toàn quốc, tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức triển khai áp dụng các văn bản pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh. Là tỉnh ven biển Bắc Trung bộ, có diện tích tự nhiên 11.129,48km2, có địa hình phức tạp với đủ các dạng địa hình, từ núi tương đối cao đến đồi trung du, đồng bằng cao thấp bậc thang, đồng chiêm trũng, với thành phần dân cư đa dạng về sắc tộc, về trình độ văn hóa; với sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa nhiều địa phương trong tỉnh – việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ở Thanh Hoá cũng có nhiều điểm chung nhưng cũng có đặc trưng riêng so với các địa phương trong toàn quốc. Qua thực tiễn thực hiện dân chủ cơ sở tại Thanh Hóa, đã cho thấy có những chuyển biến rất tích cực: từ cấp ủy đến chính quyền đều quan tâm và thực hiện tốt hơn việc phát huy quyền làm chủ của người dân; các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được người dân hiểu biết rõ hơn và hăng hái tham gia góp ý kiến và cùng thực hiện. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống, có rất nhiều lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi sự tham gia của người dân và sự đổi mới trong tác phong, lề lối làm việc của chính quyền, của thủ trưởng cơ quan và người lãnh đạo doanh nghiệp. Pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở vì vậy cũng cần được tổng kết để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn; việc thực hiện pháp luật cũng cần có những phương thức và cơ chế mới cho phù hợp với những đổi thay của đời sống. Qua nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, có thể rút ra nhiều trải nghiệm để hoàn thiện pháp luật; để đổi mới tác phong, lề lối làm việc của chính quyền, của cơ quan, đơn vị và để tìm ra những biện pháp thu hút sự tham gia của người dân, để họ thực sự thực hiện quyền làm chủ tại cơ sở. Chúng tôi hy vọng rằng, việc nghiên cứu sẽ góp phần đóng góp thêm vào lý luận về thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; góp phần kiến nghị với Đảng, Nhà nước và đặc biệt là với chính quyền địa phương trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp, đáp ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, để phù hợp với chuyên ngành đào tạo, chúng tôi chú trọng đi sâu vào các giải pháp về mặt pháp luật, với hy vọng rằng qua thực tiễn thực hiện dân chủ cơ sở tại một địa phương cụ thể, có thể nhìn nhận đánh giá phần nào về hệ thống pháp luật hiện hành liên quan đến dân chủ ở cơ sở, từ đó đề xuất những kiến giải hoàn thiện pháp luật phù hợp.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự nghiệp chung của toàn bộ hệ thống chính trị, và của tất cả người dân ở cộng đồng. Chính vì vậy, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở không phụ thuộc đơn thuần vào một chủ thể nhất định mà đòi hỏi phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của toàn thể nhân dân. Nghiên cứu về thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở chắc chắn cần được tiếp tục để đóng góp tích cực hơn nữa vào thực tiễn triển khai dân chủ cơ sở. Luận văn: Giải pháp pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại Thanh Hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại tỉnh Thanh Hóa

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464