Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng môi trường và hệ thống pháp luật, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
2.1.1. Thực trạng môi trường ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế – xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí và các loại ô nhiễm khác.
Môi trường đất đang có xu hướng bị ô nhiễm, suy thoái. Ở khu vực nông thôn, môi trường đất bị ô nhiễm do việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững trong sản xuất nông nghiệp. Hàng năm, ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5 -3,0 triệu tấn, trong đó có đến 50 – 70% không được cây trồng hấp thụ, thải ra môi trường. [5] Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề, môi trường đất cũng bị ô nhiễm bởi chất thải từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Hiện nay, mới chỉ có 66% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải; hầu hết nước thải sinh hoạt ở các đô thị đều không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường.
Cũng theo Báo cáo Môi trường quốc gia 2009, môi trường đất ở một số nơi còn bị ô nhiễm do chất độc hóa học, chất độc màu da cam tồn lưu sau chiến tranh. Hiện còn có 335 điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật trên cả nước đã được xác định nhưng chưa được giải quyết. [5]
Chất lượng nước mặt lục địa đang bị suy giảm, có nơi đã bị ô nhiễm nặng. Các hồ ao, kênh mương tại các thành phố lớn đều bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, vượt quá mức quy chuẩn cho phép, nhiều nơi đã biến thành nơi chứa nước thải (sông Tô Lịch, sông Lừ (Hà Nội), kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hóa – Lò Gốm (thành phố Hồ Chí Minh…).
Chất lượng môi trường không khí ở nước ta đang bị suy giảm, đặc biệt tại các thành phố lớn. Môi trường không khí ở các đô thị đều đã bị ô nhiễm bụi, có nơi bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là ở các đô thị lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
Nước biển ven bờ có dấu hiệu bắt đầu bị ô nhiễm. Cụ thể dải ven biển miền Nam từ Nha Trang trở vào, đã có dấu hiệu bị ô nhiễm BOD5. [8]
Ở các vùng biển từ tỉnh Quảng Ninh đến các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, hàm lượng chất dinh dưỡng (N-NH4) đã vượt hoặc xấp xỉ quy chuẩn cho phép. [6] Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Một số vùng biển ven bờ đã có dấu hiệu bị ô nhiễm dầu. Đối với nước biển ở ngoài khơi, hàm lượng ôxy hòa tan và hàm lượng dầu mặc dù thấp hơn vùng ven biển song cũng đều vượt tiêu chuẩn ASEAN cho vùng nước bảo tồn thủy sinh.
Thời gian qua diện tích rừng vẫn bị tác động bởi các vụ cháy rừng, phá rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng. Trong giai đoạn 2004-2009 tổng số vụ cháy rừng trên cả nước là 3.659 vụ, gây thiệt hại 15.479 ha, diện tích rừng bị tàn phá là 26.985 ha, bị chuyển đổi sang các mục đích khác là 2.998 ha, số vụ khai thác gỗ trái phép bị bắt giữ là 21.804 vụ. Số liệu thống kê ở 17 địa phương cũng cho thấy, trong giai đoạn này đã xảy ra khoảng 1.200 vụ cháy rừng, 17.000 vụ vi phạm pháp luật về khai thác rừng với diện tích rừng bị thiệt hại lên đến 207.465 ha. [9]
Do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, trong những năm gần đây, đa dạng sinh học của nước ta tiếp tục suy giảm về lượng và suy thoái về chất với tốc độ cao, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên như rừng ngập mặn ven biển, đất ngập nước, núi đá vôi, bãi bồi, cửa sông ven biển bị thu hẹp, chất lượng bị xuống cấp.
Tính đến tháng 9 năm 2012, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước đã có 283 khu công nghiệp (bao gồm cả khu chế xuất) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 80.000 ha trên phạm vi 58 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, công tác quy hoạch phát triển các khu công nghiệp hiện tại không tuân theo một quy hoạch thống nhất, một số nơi thiếu cơ sở khoa học [5]. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, sự phát triển của khu công nghiệp đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, đặc biệt gây ra ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn.
Cùng với sự chuyển biến tích cực, nông thôn Việt Nam vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém: phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã có quy hoạch nhưng chất lượng quy hoạch chưa cao. Hầu hết nhà ở nông thôn và miền núi được xây không có quy hoạch, quy chuẩn [10]. Chính những hạn chế, yếu kém này kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn đang ở mức báo động ở nhiều nơi, đã và đang gây ra những tác động mạnh mẽ và lâu dài đến sức khỏe cộng đồng nông thôn.
Khu vực dân tộc miền núi Việt Nam có đặc trưng cơ bản về thiên nhiên là địa hình núi cao, suối sâu, địa hình cắt xẻ mạnh, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và môi trường tự nhiên bị phân hoá mạnh, là điều kiện thuận lợi tạo ra nguồn tài nguyên giàu có và đa dạng, quan trọng nhất là tài nguyên rừng, khoáng sản, đất đai và tiềm năng du lịch. Có thể nói, vùng núi nước ta là mái nhà chung của đất nước nhưng cũng là nguồn phát sinh của nhiều vấn đề môi trường, đối với vùng đồng bằng và biển. Bên cạnh đó, thói quen, tập quán sinh sống của các tộc người thiểu số còn mang nặng tính chất dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Quá trình khai thác lại thiếu sự quy hoạch cần thiết cũng như sự điều tiết quản lý của Nhà nước nên đã gây ra những hậu quả nặng nề đối với môi trường sinh thái. Điều đó cho thấy vấn đề môi trường khu vực miền núi là khá phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến môi trường quốc gia. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước cho thấy trong số đó, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng (đối với không khí hoặc nước hoặc đất hoặc cả ba dạng), 27% ô nhiễm vừa và những đánh giá trong thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề không giảm mà còn có xu hướng gia tăng.
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy, tại các làng sản xuất kim loại, tỉ lệ người mắc các bệnh liên quan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số.
Qua những thực trạng về môi trường đã nêu ở trên, chúng ta thấy rằng môi trường Việt Nam đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của mọi người trong xã hội. Hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh lạ mà giới khoa học đánh giá là rất hiếm xuất hiện từ xưa đến nay, các làng ung thư cũng xuất hiện ngày một nhiều, những vùng đất chết cứ ngày một tăng lên, mà gần đây nhất là đợt nắng nóng kỉ lục tại Hà Nội cùng đợt mưa lũ bất thường tại Quảng Ninh và các tỉnh phía Bắc gây hậu quả nghiêm trọng tới sản xuất và cuộc sống của nhân dân, gây thiệt hại ngàn tỷ đồng. Thiết nghĩ, nếu chúng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của môi trường và có những hành động thiết thực hơn để bảo vệ môi trường thì sẽ hạn chế được phần nào những tác động xấu của môi trường đối với cuộc sống của chúng ta.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nêu trên có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau đây: Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Thứ nhất, những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế… trong việc bảo vệ môi trường.
Thứ hai, quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả.
Thứ ba, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.
Thứ tư, công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường.
Thứ năm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.
2.1.2. Hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ môi trường và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Chủ trương, chính sách của Đảng về bảo vệ môi trường
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng văn hóa, đạo đức và lối sống; kiềm chế tốc độ tăng dân số, nâng cao thể chất và sức khỏe nhân dân; bảo vệ và cải thiện môi trường” ; “Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái”; ” Chú trọng phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm nguyên, vật liệu; công nghiệp dược và các chế phẩm sinh học; công nghiệp bảo vệ môi trường… Coi trọng việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội… Áp dụng các biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn các hành vi huỷ hoại hoặc gây ô nhiễm môi trường… xây dựng và thực hiện nghiêm các quy đinh về phục hồi môi trường các khu khai thác khoáng sản… Hoàn chỉnh pháp luật, tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội đối với việc phòng ngừa ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện môi trường. Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải xử lý ô nhiễm hoặc phải chi trả cho việc xử lý ô nhiễm… Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và quản lý khai thác tài nguyên thiên nhiên…”
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”.
Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế – xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững và xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.
Quyết định số 256/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/12/2003 phê duyệt Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực vệ hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước khẳng định quan điểm: “Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, là đầu tư cho phát triển bền vững”. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Các văn bản, quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về môi trường, bảo vệ môi trường và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường tương đối đa dạng, trong số đó trước hết phải kể đến: Hiến pháp 2013 với những quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường.
- Điều 29 của Hiến pháp nước ta quy định:
“Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.
Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhà nước khuyến khích môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Như vậy, Hiến pháp đã quy định nghĩa vụ “bảo vệ môi trường” là một nghĩa vụ pháp lý của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Việc bảo vệ môi trường được quy định bởi Luật Bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường năm 1993; Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Bảo vệ môi trường 2014) và các văn bản có liên quan.
Trong hệ thống các Luật, Pháp lệnh về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường có thể coi là đạo luật có vị trí trung tâm (luật chung) trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Luật bảo vệ môi trường sửa đổi (Luật Bảo vệ môi trường 2014) ngày 23 tháng 6 năm 2014 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, gồm 20 chương và 170 điều. Luật Bảo vệ môi trường 2014 kế thừa những nội dung và cấu trúc cơ bản của Luật bảo vệ môi trường 2005; khắc phục những hạn chế của những điều khoản còn thiếu tính thực thi; luật hóa những chủ trương, chính sách mới về bảo vệ môi trường; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về bảo vệ môi trường; xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các nghị định về bảo vệ môi trường và xây dựng các luật về bảo vệ các thành phần môi trường trong tương lai. Về nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, cả hai Luật này mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra chủ trương, chính sách mà chưa có một điều khoản hay một chương cụ thể quy định về vấn đề này. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường hiện nay còn mang nặng tính hình thức. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 5, Luật Bảo vệ môi trường 2014 có quy định: “Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường” hay tại khoản 1, Điều 6, Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học”
Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi trường (còn gọi là các luật, pháp lệnh về tài nguyên). Cụ thể, đó là Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2013; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Dầu khí năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2008); Luật Tài nguyên nước năm 2012; Luật Khoáng sản năm 2010 v.v.
Tuy nhiên, có thể nói, dù là nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhưng những văn bản pháp luật về giáo dục về bảo vệ môi trường lại khá khiêm tốn. Hiện không có luật về giáo dục pháp luật bề bảo vệ môi trường mà những quy định về giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường chỉ có thể được quy định lồng ghép trong Luật giáo dục, phổ biến pháp luật…, Luật bảo vệ môi trường.
Với việc ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian qua, có thể thấy rằng sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới vấn đề này ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, sau khi được ban hành và đi vào thực hiện một số quy định trong pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; còn những chồng chéo và khoảng trống trong các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, đã nảy sinh sự trùng lặp, mâu thuẫn, thiếu tính đồng bộ trong các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường với pháp luật khác có liên quan đến bảo vệ môi trường. Những nguyên nhân nêu trên đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đồng thời gây khó khăn cho công tác giáo dục pháp luật về bảo môi trường.
2.2. Thực trạng nội dung, hình thức, phương thức giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Thực trạng nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
Nội dung giáo dục pháp luật là yếu tố quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật. Xác định đúng nội dung giáo dục pháp luật là việc cần thiết để giáo dục pháp luật có hiệu quả thiết thực. Nội dung giáo dục pháp luật được xác định phù hợp với mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường mang những nét đặc thù riêng, vì vậy nội dung giáo dục pháp luật phải được chọn lựa sao cho phù hợp với yêu cầu của giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Về phạm vi nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
Hiện nay, công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường đã bắt đầu nhận được những sự quan tâm từ các cấp chính quyền vì vậy mà các báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục pháp luật cũng đã chú ý đến nội dung của giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường để công tác này thực sự đem lại hiệu quả.
Phạm vi nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường chủ yếu tập trung vào những nội dung liên quan đến tầm quan trọng của:
Các thông tin về pháp luật môi trường, các nội dung được đưa vào chương trình giáo dục chủ yếu là tầm quan trọng của môi trường đối với cuộc sống con người và chúng được pháp luật quy định ra sao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà người dân vẫn thờ ơ với các thông tin này, vì họ cho rằng những quy định này không ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Các thông tin về việc thực hiện pháp luật môi trường, về tình hình vi phạm pháp luật môi trường, cũng như về việc điều tra, xử lý các vi phạm đó. Nội dung này dường như nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ phía người dân, vì vậy, những tuyên truyền viên báo cáo viên luôn chọn những vụ án môi trường nổi cộm trong xã hội cũng như tại địa phương để tuyên truyền đến người dân những kiến thức về môi trường và nhận được những phản hồi tích cực từ phía nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay còn ít vụ án về môi trường được đưa ra xét xử, và cũng theo ý kiến của đại đa số người dân rằng mức xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe và thuyết phục.
Mặc dù, các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra về việc thực hiện pháp luật môi trường, áp dụng pháp luật môi trường; về vị trí của từng văn bản pháp luật môi trường với đời sống kinh tế – xã hội đặc biệt là những văn bản pháp luật môi trường có ảnh hưởng lớn tới đời sống của nhân dân, tuy nhiên trên thực tế, nội dung này chưa thực sự được chú trọng nó được lồng ghép vào với những nội dung khác, vì vậy, thường là những người có quan tâm về vấn đề nào thì sẽ tự tìm hiểu vấn đề đó.
Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân đó là quyền, nghĩa vụ và các quy trình pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vấn đề này được xem là một vấn đề quan trọng trong nội dung giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng vì vậy, đây là một nội dung khá được chú trọng trong công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Về nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường cho từng đối tượng
Như đã nêu ở Chương 1, đối tượng của giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường được chia thành các nhóm và với mỗi nhóm lại có những nội dung giáo dục khác nhau để phù hợp với đặc điểm của mình.
Đối với những người là chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, chủ các doanh nghiệp, hiện nay, nội dung dành cho đối tượng này chủ yếu là tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường đối với xã hội, một số văn bản pháp luật liên quan đến ngành nghề sản xuất, kinh doanh của họ, giúp họ nhận thức và có ý thức với việc bảo vệ môi trường. Song song với đó là các trình tự, thủ tục pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như thực hiện các nghĩa vụ cơ bản của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, việc giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng này còn gặp khá nhiều khó khăn cho các địa phương khi một địa phương có rất nhiều doanh nghiệp từ lớn tới nhỏ, sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau trong khi lực lượng các tuyên truyền viên, báo cáo viên còn ít, hạn chế về năng lực. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đối với những hộ dân ở những làng nghề truyền thống, đối tượng này dường như ít nhận được sự quan tâm hơn so với những chủ doanh nghiệp lớn. Nội dung giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng này chủ yếu là tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường mà chưa chú trọng tới những trách nhiệm pháp lý mà họ phải chịu nếu gây ô nhiễm môi trường.
Đối với những người làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Vì đặc thù của nhóm đối tượng này vừa là đối tượng vừa là chủ thể của giáo dục pháp luật nên nội dung giáo dục pháp luật cho họ là những kiến thức pháp luật chuyên sâu về công tác bảo vệ môi trường, những trình tự thủ tục, thẩm quyền để họ tiến hành công tác xử lý vi phạm nếu có vi phạm xảy ra.
Đối với học sinh, sinh viên các trường phổ thông, Cao đẳng và Đại học công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường đang dần được đề cao. Vì có số lượng đông nên nếu người học có ý thức pháp luật về bảo vệ môi trường cao thì tỷ trọng số người có ý thức pháp luật bảo vệ môi trường trong xã hội cũng cao. Người học có ý thức pháp luật bảo vệ môi trường tốt sẽ lan toả, ảnh hưởng đến những người xung quanh (ngay cả trẻ em mẫu giáo cũng có thể biết nhắc bố mẹ không vứt rác bừa bãi nếu được giáo dục về quy tắc bảo vệ môi trường). Các nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường trong chương trình gồm quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ môi trường, quyền hạn, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân đó. Trên cơ sở đó giúp học sinh có được nhận thức đúng về vai trò, vị trí của pháp luật bảo vệ môi trường trong đời sống, từ đó chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo các quy định của pháp luật.
Qua việc nghiên cứu nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường và việc thực hiện chương trình đó trong thực tế, cho thấy có những ưu điểm và hạn chế như sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Ưu điểm:
Chương trình bảo đảm trang bị cho các nhóm đối tượng những kiến thức cơ bản, hệ thống và thiết thực về pháp luật môi trường; tạo cơ sở cho người học hiểu được vai trò của nhà nước và pháp luật trong việc bảo vệ môi trường, hệ thống pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở kiến thức được trang bị, người học nâng cao ý thức pháp luật, tự giác rèn luyện, pháp luật của Nhà nước.
Trong công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường nhìn chung tính cập nhật đã được coi trọng; tập trung phổ biến những văn bản quy phạm pháp luật về vai trò của môi trường, trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường cũng như các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Các tài liệu giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường do cơ quan pháp luật biên soạn có nội dung vừa đảm bảo được tính lý luận ở chừng mực cần thiết, vừa đảm bảo được tính thực tiễn, hướng dẫn cho đối tượng học tập vận dụng những điều đã học về pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của mình.
- Hạn chế:
Đối với riêng pháp luật về bảo vệ môi trường, các địa phương cũng đã có quan tâm nhưng còn ở mức độ rất hạn chế. Nó mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống mà chưa chú trọng tới việc giáo dục những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Chương trình giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường chưa được xây dựng thành một hệ thống từ thấp lên cao, có sự phân cấp chương trình giữa các cấp học và sự liên thông giữa các loại chương trình.
Chương trình giáo dục pháp luật chưa cung cấp cho người được giáo dục những kiến thức tối thiểu phục vụ cho việc quản lý môi trường bằng pháp luật, tiến hành các hoạt động ban đầu khi có vi phạm pháp luật hoặc tội phạm xảy ra trong lĩnh vực môi trường. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tính hệ thống trong cơ cấu nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường chưa cao. Vì điều kiện thời gian và khâu tổ chức biên soạn nên nhìn chung nội dung giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường trong thời gian qua chưa mang tính hệ thống ở mức cần thiết. Do đó kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường còn chắp vá. Đây là vấn đề chúng ta phải nghiêm túc nghiên cứu để xây dựng chương trình giáo dục pháp luật trong thời gian tới đảm bảo tính thống nhất, cân đối, cập nhật.
Tính toàn diện trong nội dung giáo dục pháp luật cũng chưa được đảm bảo tốt. Phần nội dung pháp luật có liên quan đến quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế. Điển hình là việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Dù đã ban hành từ năm 1994, đến nay đã trải qua 20 năm thi hành và có bổ sung, sửa đổi, cùng nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai, nhưng so với các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá mới và chỉ được quan tâm đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây do yêu cầu quản lý môi trường trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội. Bởi vậy, pháp luật về bảo vệ môi trường chưa điều chỉnh hết các mối quan hệ trong xã hội, một số văn bản còn chưa được ban hành hoặc đã ban hành nhưng không sát với thực tế. Cụ thể như, việc xử lý hình sự đối với tội phạm môi trường gặp nhiều khó khăn do Luật hình sự quy định chỉ xử lý hình sự đối với cá nhân, nhưng thực tế ở Việt Nam thì việc gây ô nhiễm môi trường lại chủ yếu do các tổ chức.
Do đội ngũ tuyên truyền viên và báo cáo viên còn hạn chế về kiến thức pháp luật cũng như khả năng sư phạm mà nội dung giáo dục pháp luật môi trường còn nghèo nàn, hạn chế. Hoạt động giáo dục pháp luật chủ yếu tập trung vào việc phổ biến các quy định pháp luật nhiều hơn là giáo dục; chỉ chuyển đến đối tượng nội dung máy móc chứ không phải là tinh thần của pháp luật cho nên đối tượng khó tiếp thu, khó khăn trong nhận thức. Trong giáo dục pháp luật coi trọng trang bị cho đối tượng hiểu biết pháp luật mà xem nhẹ giáo dục tình cảm, lòng tin pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật.
Nội dung giáo dục pháp luật còn dàn trải, nặng về phổ biến các quy định của pháp luật, chưa chú trọng đến việc hướng học sinh rèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng vận dụng pháp luật vào để giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống.
Mặc dù nội dung và thời gian theo quy định chưa phải là nhiều nhưng một số nơi còn cắt xén, làm lấy lệ nên kết quả đạt được chưa cao. Một số đơn vị còn lúng túng trong việc xác định nội dung giáo dục pháp luật theo “phần mềm”.
- Hậu quả: Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Chính vì những hạn chế trên làm cho tình hình vi phạm pháp luật môi trường đang tỉ lệ thuận với mức độ phát triển kinh tế, ngày càng tăng dần lên với một tốc độ chóng mặt và để lại những hậu quả khôn lường tới sức khoẻ, tính mạng, tài sản của nhân dân. Các công cụ pháp lý của Nhà nước dường như không đạt được hiệu quả như mong đợi. Một số luật về môi trường dường như tỏ ra quá “hiền” không đủ sức răn đe với các hành vi vi phạm, còn một số thì lại quá hình thức, chỉ tồn tại trên giấy chứ không thể áp dụng vào thực tiễn. Các vi phạm pháp luật môi trường ngày càng để lại vô vàn hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội nhưng trách nhiệm hình sự áp dụng cho các hành vi đó lại quá ít.
Nổi cộm lên trong các hành vi vi phạm pháp luật môi trường về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; về hậu quả nghiêm trọng do hành vi đó để lại; về thái độ cố ý bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng sức khỏe tài sản của nhân dân là vi phạm về môi trường của 2 công ty Vedan và Hyundai Vinashin. Công ty Hyundai Vinashin đã có rất nhiều hành vi xâm phạm môi trường rất nghiêm trọng, kéo dài đã 10 năm nay gây thiệt hại và đe dọa gây thiêt hại rất lớn cho đời sống nhân dân. Hầu hết các hành vi đó đã thỏa mãn về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm hại tới những quan hệ được cấu thành trong các quy định của BLHS1999 nhưng trách nhiệm pháp lý của công ty này chỉ ở mức độ bị cảnh cáo xử phạt hành chính. Hậu quả nghiêm trọng do các hành vi đó để lại ngày càng tăng nhưng trách nhiệm pháp lý vẫn dừng chân một chỗ. Công ty Vedan thì cố ý xả lượng chất thải chưa qua xử lý vào hệ thống sông Thị Vải làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân khu vực ven sông. Thiệt hại và nguy cơ đe dọa gây thiệt hại cho tài sản, tính mạng, sức khỏe của nhân dân lớn gấp chục lần so với vụ Hyundai Vinashin nhưng trách nhiệm pháp lý thì quá nhẹ nhàng, gây tâm lý “khó hiểu” trong dư luận quần chúng.
Trước thực trạng vi phạm các quy định pháp luật về môi trường ngày càng nghiêm trọng và gia tăng trong thời gian qua, chính quyền cần phải có những biện pháp xử lý nghiêm minh những vi phạm đó. Song việc áp dụng các quy định của pháp luật không phải dễ dàng, suôn sẻ. Thời gian qua, dư luận đang hết sức xôn xao và bất bình trước tình trạng vi phạm pháp luật môi trường hàng loạt của các tổ chức, cá nhân. Điển hình là các vụ vi phạm của công ty Vedan (Đồng Nai), Miwon (Phú Thọ), Huyndai Vinashin…Trước những sai phạm nghiêm trọng của các tổ chức, cá nhân nói trên, dư luận cả nước nói chung cũng như nhân dân sống gần khu vực ô nhiễm đang rất trông đợi một kết quả xử lý thật nghiêm minh đối với các tổ chức cá nhân vi phạm đó. Thiết nghĩ, một kết quả xử lý thật nghiêm minh đối với các tổ chức cá nhân vi phạm là điều rất cần thiết. Điều này trước hết đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ, khắc phục môi trường sống của các hộ dân sống gần khu vực ô nhiễm, đồng thời cũng đặt ra vấn đề nâng cao trách nhiệm quản lý của Nhà nước. Vụ công ty TNHH Vedan vi phạm pháp luật môi trường trong suốt một thời gian dài mới bị phát hiện, thậm chí công ty này còn được khen thưởng trong công tác bảo vệ môi trường tại địa phương đã cho thấy các cơ quan chức năng có thẩm quyền tại địa phương đã thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, năng lực yếu kém. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
2.2.2. Thực trạng hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
Việc xác định đúng, đủ nội dung giáo dục pháp luật cho từng đối tượng là yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc đạt tới mục tiêu của giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường. Tuy nhiên nội dung giáo dục pháp luật không thể tự thân đi vào nhận thức, tình cảm của người được giáo dục mà phải qua những hình thức truyền tải thông tin, các cách thức và biện pháp tác động phù hợp với khả năng tiếp thu của đối tượng. Do đó, hiệu quả giáo dục pháp luật phụ thuộc vào không chỉ nội dung mà còn phụ thuộc vào các yếu tố tiếp theo của quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật là hình thức, phương thức tiến hành.
- Thực trạng hình thức giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường những năm vừa qua được tiến hành theo các hình thức chủ yếu sau đây:
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường thông qua hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường: Đưa giáo dục pháp luật vào nhà trường là việc sử dụng các thiết chế bộ máy, các cơ sở vất chất của nhà trường, thông qua chức năng giáo dục của nhà trường, thực hiện mục đích của giáo dục pháp luật. Là việc bằng các quy tắc, luật lệ, các hình thức và phương pháp giáo dục trong nhà trường để đưa các nội dung kiến thức, các chuẩn mực pháp luật đến với học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học.
Việc giáo dục pháp luật trong nhà trường hiện nay chủ yếu chỉ thông qua môn Đạo đức ở cấp Tiểu học và Giáo dục công dân ở bậc phổ thông. Ở Tiểu học, nội dung pháp luật được lồng ghép vào môn Đạo đức, được dạy ở cả 5 khối lớp (từ lớp 1 – đến lớp 5) với thời lượng 35 tiết/khối lớp. Nội dung giáo dục pháp luật ở tiểu học là giáo dục những kiến thức pháp luật phổ thông, cơ bản, phù hợp với lứa tuổi và nhu cầu của các em, góp phần hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen phù hợp với những giá trị đạo đức, giá trị pháp luật được học. Trong những nội dung đó có nội dung về giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường bằng những bài học đơn giản nhất như không vứt rác bừa bãi, luôn giữ vệ sinh trường lớp.
Ở Trung học cơ sở, môn Giáo dục công dân được dạy ở cả 4 khối lớp (từ lớp 6 – đến lớp 9) với thời lượng 35 tiết/khối lớp, với hai mạch nội dung : công dân với đạo đức và công dân với pháp luật. Ở cấp học này, nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường thường được tách thành một buổi sinh hoạt ngoại khóa chứ không đưa vào hoạt động dạy chính khóa.
Ở Trung học phổ thông, môn Giáo dục công dân được dạy ở cả 3 khối lớp (từ lớp 10 – đến lớp 12) với thời lượng 35 tiết/khối lớp, trong đó kiến thức pháp luật tập trung ở lớp 12. Cũng giống như ở bậc Trung học cơ sở, nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường cũng được lồng ghép vào các buổi sinh hoạt ngoại khóa. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đối với trình độ đào tạo trung cấp chuyên nghiệp môn học pháp luật được đưa vào giảng dạy chính thức ở tất cả các chương trình đào tạo. Chương trình được sử dụng thống nhất trong đào tạo trung cấp chuyên nghiệp cho các hình thức giáo dục chính quy và vừa làm vừa học, với thời lượng 30 tiết/2 đơn vị học trình, 2-4 tiết/tuần tùy theo sự bố trí của từng trường.
Hiện nay, nhiều nhà trường đã quan tâm tới việc giáo dục ý thức pháp luật về bảo vệ môi trường cho học sinh, sinh viên thông qua các hoạt động ngoại khóa hay việc phát động những phong trào bảo vệ môi trường trường học, lớp học cũng dần mang lại những kết quả tích cực. Tuy vậy, với nhiều trường việc giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường chỉ mang tính hình thức, chỉ dừng lại ở việc phát động phong trào mà không quan tâm đến kết quả thu được. Có một thực tế đáng buồn là những học sinh ở các trường mầm non và tiểu học có ý thức giữ gìn môi trường tốt hơn so với các cấp học cao hơn.
Tuyên truyền miệng: hình thức này ít tốn kém nhưng lại dễ thực hiện nên trên thực tế nhiều địa phương vẫn lựa chọn hình thức này mặc dù ngày nay các phương tiện thông tin đại chúng phát triển rất nhanh và mạnh mẽ. Vì hình thức này giúp cho các tuyên truyền viên linh hoạt hơn, có thể giải thích phân tích nội dung cần tuyên truyền. Tuy nhiên, hình thức này cũng có những hạn chế nhất định, đó là đối với những vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, việc bất đồng ngôn ngữ làm cho hình thức này trở nên khó thực hiện. Hơn nữa, đây là hình thức đòi hỏi sự người nghe cần có sự theo dõi và tập trung, nên có thể nhiều người không theo dõi ngay từ đầu sẽ không hiểu được nội dung mà tuyên truyền viên, báo cáo viên truyền tải.
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Các phương tiện thông tin đại chúng với những ưu thế đặc biệt đã thực sự là một công cụ tuyên truyền giáo dục pháp luật có hiệu quả xã hội cao. Các phương tiện thông tin đại chúng làm cho mỗi người dân trong đời sống sinh hoạt thường ngày của mình được tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng một cách trực tiếp, cập nhật, phong phú, đa dạng, sinh động, dễ dàng. Việc làm này có tác động mạnh tới nhận thức tư tưởng, tình cảm của mỗi người, khiến họ phải tự điều chỉnh hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Gần đây, các đài truyền hình đã quan tâm hơn đến vấn đề này, cụ thể là Đài truyền hình Việt Nam đã cho ra mắt chương trình “Vì một tương lai xanh” phát sóng mỗi buổi sáng trên kênh VTV3. Dù thời lượng phát sóng của chương trình chỉ trong vòng từ 5 đến 10 phút nhưng nó đã phần nào tác động đến ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường khi đưa ra những tấm gương tích cực trong việc bảo vệ môi trường hay những việc làm góp phần giảm ô nhiễm môi trường.
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường thông qua tủ sách pháp luật: Đây là một hình thức nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và sựu đồng tình ủng hộ của người dân. Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, đọc các tài liệu trong tủ sách pháp luật, người đọc có thể tự tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề mà mình quan tâm. Tuy nhiên, hiện nay, tủ sách pháp luật ở các địa phương nói chung còn thiếu những văn bản mang tính chuyên ngành trong đó có các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường. Hơn nữa, người dân vẫn ít sử dụng hình thức này do cơ chế quản lý, thái độ phục vụ còn kém chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tượng. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật: Hình thức này là hình thức sinh hoạt văn hóa pháp lý có sức hấp dẫn và hiệu quả, chính vì vậy nó được sử dụng nhiều trong thực tế cho nhiều lĩnh vực pháp luật trong đó có bảo vệ môi trường. Qua cuộc thi, những nội dung pháp luật được truyền tải đến các đối tượng một cách ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ. Trong cuộc thi có thể lồng ghép các tiết mục văn nghệ liên quan đến lĩnh vực giáo dục pháp luật vừa giúp người dân giải trí vừa giúp họ nâng cao kiến thức pháp luật. Tuy nhiên, với hình thức này cần được đầu tư cả về vật chất lẫn con người thì mới thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn.
- Thực trạng phương pháp giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường
Những người làm công tác giáo dục pháp luật với những hiểu biết và kinh nghiệm của mình sẽ sử dụng những phương pháp thích hợp để công tác giáo dục pháp luật đạt hiệu quả. Đối với công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, các tuyên truyền viên, báo cáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp sư phạm: phương pháp sư phạm tương tác là một cách tiếp cận cơ bản, năng động, mang tính hệ thống và khoa học dựa trên sự tương tác giữa 3 yếu tố cơ bản là người dạy, người học và môi trường liên quan đến việc dạy và học. Trong đó yếu tố người học luôn được đề cao nhằm tạo ra sự tích cực chủ động và hiệu quả trong quá trình tiếp thu kiến thức qua đó giúp người dạy và người học thu được hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy và học. Phương pháp này thường được tổ chức thành các đợt học tập cho các từng nhóm đối tượng để phù hợp với nội dung của từng nhóm đối tượng. Với phương pháp này, các nhóm đối tượng sẽ được tiếp cận thông tin pháp luật môi trường một cách có hệ thống. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế như mỗi nhóm đối tượng khác nhau có những yêu cầu về nội dung khác nhau, do vậy các tuyên truyền viên, báo cáo viên cần biên tập nhưng nội dung sao cho phù hợp với từng nhóm đối tượng, đòi hỏi những người làm công tác giáo dục pháp luật cần đầu tư thời gian và năng lực mới có kết quả tốt.
Phương pháp thực hành, giải quyết các tình huống cụ thể, trực quan là phương pháp đưa ra các tình huống pháp luật về môi trường cụ thể để cho các nhóm đối tượng được giáo dục đưa ra cách giải quyết. So với phương pháp sư phạm thì phương pháp này hiệu quả hơn, để giải quyết được các tình huống được đưa ra đòi hỏi các đối tượng được giáo dục cần tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, nó giúp cho đối tượng dễ tiếp thu và sẽ linh hoạt hơn nếu gặp tình huống cụ thể trong cuộc sống. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường trong các trường phổ thông hiện nay sử dụng kết hợp 2 phương pháp trên. Tuy nhiên, trên thực tế, các trường chủ yếu chọn phương pháp thực hành, giải quyết các tình huống cụ thể, trực quan thông qua hoạt động giáo dục ngoại khóa và giáo dục ngoài giờ lên lớp. Bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi và nhận thức của người học như : lồng ghép các nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường vào các hoạt động như sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn, hội, đội theo chủ đề pháp luật, tuần sinh hoạt công dân học sinh; xây dựng và tổ chức các câu lạc bộ tuổi trẻ với pháp luật, nghe nói chuyên về tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường địa phương; tổ chức các trò chơi thi tìm hiểu pháp luật, đố vui pháp luật, viết, vẽ theo các chủ đề chấp hành pháp luật, xây dựng các tiểu phẩm tình huống pháp luật. Giáo dục pháp luật trong trường học đã tạo ra một sân chơi lành mạnh mang tính giáo dục cao, thu hút được đông đảo học sinh, sinh viên tham gia.
Giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động giáo dục ngoại khóa ngoài giờ lên lớp đã góp một phần không nhỏ trong việc giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên nói chung và việc giáo dục ý thức pháp luật bảo vệ môi trường nói riêng.
Qua việc phân tích thực trạng hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường có thể thấy nó có những ưu điểm và hạn chế như sau:
- Ưu điểm: Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Mỗi hình thức giáo dục pháp luật nêu trên đều có tác dụng và hiệu quả nhất định giúp cho các đối tượng nâng cao văn hóa pháp lý, giáo dục tình cảm, lòng tin và ý thức tuân thủ pháp luật môi trường. Các hình thức được sử dụng tương đối phong phú tùy theo khả năng của chủ thể thực hiện và nhu cầu cũng như khả năng tiếp thu của đối tượng giáo dục pháp luật.
Các hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật đang được áp dụng đã phần nào giúp cải thiện được nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, giúp họ sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, xã hội. Đồng thời nó giúp họ trang bị những kiến thức pháp luật nhất định để tự bảo vệ quyền, lợi ích của mình vì quyền được sống trong một môi trường trong lành là quyền của tất cả mọi người
- Những hạn chế về hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật:
Hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên tuy rất đa dạng, phong phú nhưng thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa thường xuyên, chưa có tính hệ thống. Phương pháp phổ biến pháp luật ngoại khóa chậm đổi mới, hoạt động ngoại khóa tổ chức đơn điệu thiếu hấp dẫn, chất lượng và hiệu quả còn thấp.
Hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên chưa dựa trên kế hoạch thống nhất theo chương trình chung do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành. Chưa xây dựng được Chương trình giáo dục pháp luật ngoại khóa phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo.
Hình thức mời chuyên gia nói chuyện, giáo dục pháp luật chưa được các cơ quan, đơn vị quan tâm đúng mức.
Giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng chưa được sử dụng nhiều; mặc dù đây là những hình thức giáo dục pháp luật rất có hiệu quả. Trong chương trinh Phát thanh, Truyền hình và cả trên các báo chí hàng ngày cho đến nay chưa có chuyên mục riêng về giải đáp, tìm hiểu pháp luật, chính sách môi trường một cách thường xuyên.
Các hình thức giáo dục pháp luật mang tính phong trào, quần chúng sâu rộng, nhẹ nhàng dễ tiếp thu (như tổ chức thi tìm hiểu về pháp luật, hỏi đáp về pháp luật, câu lạc bộ pháp luật…) ít được các cơ quan, đơn vị thực hiện.
Việc giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường được thực hiện chủ yếu theo kế hoạch bắt buộc. Ý thức tự giác học tập của một số cơ quan đơn vị, của một số người chưa cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Phương pháp giảng dạy về cơ bản vẫn là độc thoại thuyết trình, giáo huấn một chiều; giáo viên giảng, học viên ghi, chưa khơi dậy được tính chủ động, phát huy tính tích cực của học viên trong việc tỉm tòi tự nghiên cứu, học tập. Có nhiều hạn chế trong việc vận dụng phương pháp dạy học tiên tiến.
Nhận thức về công tác giáo dục pháp luật nói chung, việc dạy và học pháp luật nói riêng của một số cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên chưa đúng mức, chưa đầu tư nhân lực, tài lực, thời gian thỏa đáng cho công tác này.
Hình thức giáo dục pháp luật trong thời gian qua chưa được phong phú. Đây là một thực tế cần được khắc phục. Ngoài chương trình chính thức và một số bổ trợ trong “phần mềm” của chương trình giáo dục pháp luật hàng năm, các biện pháp hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu do cơ quan đơn vị cơ sở vận dụng thường là đơn điệu. Sự đơn điệu trong các hình thức phố biến, giáo dục pháp luật đã làm hạn chế rất nhiều đến nhận thức và sự hiểu biết pháp luật trong các tập thể. Có thể nói, sự hiểu biết pháp luật còn ít hoặc hiểu biết không đầy đủ củng là một trong những nguyên nhân làm cho tình trạng vi phạm, tội phạm về bảo vệ môi trường trong thời gian qua trở nên phức tạp.
Phải khẳng định rằng trong thời gian qua, tình hình tội phạm cũng như vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có chiều hướng tăng phần lớn là do nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế hoặc có hiểu biết nhưng cố tình vi phạm. Điều đó đặt ra vấn đề cho những người làm công tác giáo dục pháp luật cần tìm ra những hình thức, phương thức phù hợp với từng loại đối tượng để góp phần làm tăng nhận thức của đối tượng được giáo dục.
2.3. Những nguyên nhân cơ bản Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã quan tâm đến công tác phổ biến, giáo dục nói chung và công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng, trên cơ sở đó kết hợp các hình thức, biện pháp thích hợp, huy động mọi lực lượng, các tổ chức chính trị, xã hội tham gia công tác này.
Lãnh đạo, Thủ trưởng của các cơ quan như Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và môi trường, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có những chỉ đạo cần thiết cho công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường. Và từ đó, các cơ quan, đơn vị đã kịp thời ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện công tác tương đối nghiêm túc, chặt chẽ bằng kế hoạch hàng năm cho các đối tượng.
Các cơ quan, đơn vị đã có sự chủ động, sáng tạo trong việc triển khai thực hiện công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, khắc phục khó khăn, tận dụng được những khả năng vốn có về vật chất cũng như lực lượng và có sự phối hợp giữa các đơn vị.
Các cơ quan bảo vệ pháp luật các với đội ngũ cán bộ có năng lực giáo dục pháp luật đã tích cực, chủ động tham mưu đề xuất kế hoạch, nội dung, phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong công tác giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường; đồng thời tự mình trực tiếp tham gia giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường theo nhiệm vụ cũng như yêu cầu của các đơn vị.
Tính tự giác, tinh thần trách nhiệm cao của những người được giao nhiệm vụ , giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường cũng như của những người là đối tượng giáo dục pháp luật, trên cơ sở nhận thức được nhu cầu cấp thiết của công tác này trong xã hội nói chung và trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng là cơ sở quan trọng để công tác giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường đạt được hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm, những bài học kinh nghiệm làm cho công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường đạt được những kết quả tốt nêu trên, cũng cần tìm ra nguyên nhân của những mặt hạn chế, thiếu sót trong công tác này để trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu, đưa công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường vào nề nếp, đạt được hiệu quả cao hơn. Theo tác giả, những hạn chế, vướng mắc của giáo dục pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có những nguyên nhân chính sau đây:
Nhận thức của một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao chưa theo kịp với đòi hỏi của thực tế, chưa thấy hết vai trò của công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, dẫn đến trách nhiệm, nhiệt tình cho công tác này chưa cao.
Chưa có một cơ chế lãnh đạo, chỉ huy thống nhất và phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu; thực hiện công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường. Vì vậy công tác này mang nhiều tính tự phát, thiếu kế hoạch, không được sơ, tổng kết một cách thỏa đáng để tìm ra những nguyên nhân, bài học cần thiết cho hoạt động tiếp theo.
Các nhà trường thiếu một chương trình chuẩn về giảng dạy pháp luật về bảo vệ môi trường củng như giáo trình chuẩn, thống nhất về môn học đó. Trong chương trình hiện nay nội dung giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường thường sơ sài về nội dung, trong khi một số nội dung thiết thực như cơ sở pháp luật về bảo vệ môi trường lại chưa (hoặc ít) được giảng dạy.
Thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường vừa có kiến thức về pháp luật vừa có khả năng sư phạm cần thiết; chưa có biện pháp thích hợp để đào tạo đội ngũ giáo viên pháp luật bảo vệ môi trường cho các nhà trường; chưa tổ chức được các lớp tập huấn, bồi dưỡng báo cáo viên chuyên về pháp luật về bảo vệ môi trường cho các cơ quan, đơn vị. Do thiếu chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường nên nhiều cơ quan, đơn vị chỉ tổ chức đọc chương trình giáo dục pháp luật từ trên đưa xuống mà chưa tổ chức báo cáo, lên lớp, thảo luận theo như hướng dẫn.
Công tác giáo dục nâng cao ý thức pháp luật bảo vệ môi trường ở các cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm thường xuyên. Nhìn chung quỹ thời gian dành cho giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường hàng năm còn ít, cá biệt có nơi còn xem nhẹ giáo dục pháp luật, gắn với giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức, nhân cách.
Trên thực tế tình hình chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường ở các cơ quan, đơn vị cũng như trong cộng đồng dân cư chưa gắn với trình độ nhận thức về pháp luật của cán bộ, nhân dân. Cán bộ, nhân dân không vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chủ yếu không phải do có hiểu biết pháp luật mà là do nhận thức được các hành vi đó trái với quy phạm đạo đức, nhân cách. Điều đó nói lên rằng hiệu quả công tác giáo dục pháp luật ở một số cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư nhìn chung chưa được cao. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
Công tác đảm bảo còn nhiều hạn chế. Chưa có nguồn kinh phí cần thiết cho công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường. Thiếu các phương tiện, công cụ truyền tải, thiếu các tài liệu cần thiết (văn bản pháp luật và tài liệu học tập về pháp luật bảo vệ môi trường), trong khi đó các phương tiện thông tin đại chúng lại chưa dành cho công tác này một vị trí thích đáng.
Chưa vận dụng tốt giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường với giáo dục đạo đức, giáo dục chính trị, giáo dục ý thức tập quán, tôn giáo… nên hiệu quả không cao. Chúng ta đã biết, cả pháp luật và đạo đức đều góp phần bảo vệ các giá trị chân chính, đều liên quan đến việc điều chỉnh hành vi, đảm bảo cho con người trong xã hội. Pháp luật tham gia điều chỉnh quan hệ xã hội bằng những quy phạm, điều khoản quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Các quy phạm pháp luật quy định chi tiết các hành vi được phép và hành vi bị cấm đoán. Đồng thời, các quy phạm pháp luật còn xác định cụ thể cách cư xử lẫn những hình phạt sẽ áp dụng nếu chủ thể vi phạm. Ngoài ra, pháp luật còn thực hiện điều chỉnh mối quan hệ giữa con người và xã hội bằng sự bắt buộc, cưỡng chế từ bên ngoài. Trong khi đó, đạo đức lại điều chỉnh các mối quan hệ bằng sự giác ngộ, tự nguyện và sự thôi thúc từ bên trong. Giáo dục pháp luật về môi trường sẽ vô cùng hiệu quả khi lồng ghép với tôn giáo, tập tục. Ví dụ: Người dân tộc nào đó đã khôi phục lại tục lệ bảo vệ rừng và truyền bá tập tục này nên dân tộc đó không phá rừng mà bảo vệ rừng… hay kết hợp với các tổ chức tôn giáo lồng ghép vào truyền bá qua các kênh tôn giáo qua các chức sắc tôn giáo…. Thông qua các già làng trưởng bản giáo dục người dân bỏ du mục, du canh du cư chống phá rừng……
Vì vậy, hiệu quả giáo dục pháp luật đạt được chưa cao. Thực trạng tình hình hiểu biết pháp luật về bảo vệ môi trường trong quần chúng nhân dân cho thấy rằng nhận thức pháp luật của đa số nhân dân còn nhiều hạn chế. Thậm chí trong hàng ngũ cán bộ, chỉ huy các đơn vị tình trạng này cũng rất đáng lo ngại. Trong nhiều trường hợp có một số người đã có những hiểu biết nhất định về pháp luật, nhưng nhận thức pháp luật chưa biến chuyển thành tình cảm, lòng tin và thói quen tuân thủ pháp luật. Thực trạng ý thức pháp luật thấp trong cán bộ và nhân dân là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng vi phạm pháp luật, phạm tội về bảo vệ môi trường đang xảy ra phức tạp và chưa có chiều hướng giảm hiện nay.
Kết luận chương 2
Nói tóm lại, những năm qua công tác giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường đã được thực hiện thường xuyên. Các cơ quan, đơn vị, cộng đồng dân cư đã tích cực triển khai các chỉ thị của Chính phủ về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng; đã hình thành và bước đầu đi vào hoạt động các hội đồng phối hợp công tác giáo dục pháp luật. Giảng dạy pháp luật đã được đưa vào chương trình học tập bắt buộc của các nhà trường. Tuy nhiên, công tác giáo dục pháp luật mới chỉ đi vào chiều rộng mà chưa có chiều sâu; mới chỉ thực hiện bắt buộc một chiều mà chưa phát huy được tính tích cực, tự giác của quần chúng nhân dân nhân. Hình thức nặng về phổ biến pháp luật hơn là giáo dục pháp luật; chưa động viên được lực lượng tổng hợp trong quần chúng nhân dân để thực hiện công tác này. Luận văn: Thực trạng giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
