Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng qui định pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam
2.1.1. Các qui định pháp luật về chủ thể tham gia bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam
Chủ thể tham gia bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa bao gồm: Bên dự thầu (Nhà thầu, nhà đầu tư – Bên được bảo lãnh); Bên mời thầu – Bên nhận bảo lãnh và Bên thứ ba – Bên bảo lãnh.
- Bên mời thầu (chủ đầu tư)
Theo Luật đầu thầu năm 2013 (Khoản 3, Điều 4) đã quy định về Bên mời thầu (chủ đầu tư) là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án.
Khi tổ chức đấu thầu, chủ đầu tư thường mời các cá nhân, tổ chuyên gia về kỹ thuật, về thương mại giúp chủ đầu tư viết hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời quan tâm và trực tiếp tham gia vào quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu của nhà thầu để tìm ra được nhà thầu cung cấp được hàng hóa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng tốt, giá cả hợp lý theo hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.
Điều 16 Luật đấu thầu 2013 qui định điều kiện đối với cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu:
- Cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu và có trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của gói thầu, dự án, trừ cá nhân thuộc nhà thầu, nhà đầu tư.
- Cá nhân tham gia trực tiếp vào việc lập hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất thuộc tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị hoạt động tư vấn đấu thầu, ban quản lý dự án chuyên nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu.
Khoản 43 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 quy định tổ chuyên gia: Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Tổ chuyên gia gồm các cá nhân có năng lực, kinh nghiệm được bên mời thầu hoặc đơn vị tư vấn đấu thầu thành lập để đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.
Điều 116 Nghị định Số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, đã qui định tổ chuyên gia:
- Cá nhân tham gia tổ chuyên gia phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu, trừ cá nhân quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.
- Tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của gói thầu, thành phần tổ chuyên gia bao gồm các chuyên gia về lĩnh vực kỹ thuật, tài chính, thương mại, hành chính, pháp lý và các lĩnh vực có liên quan.
Cá nhân không thuộc quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Đấu thầu, khi tham gia tổ chuyên gia phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu;
- Có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu;
- Am hiểu các nội dung cụ thể tương ứng của gói thầu;
- Có tối thiểu 03 năm công tác trong lĩnh vực liên quan đến nội dung kinh tế, kỹ thuật của gói thầu.
Trong trường hợp đặc biệt cần có ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành thì không bắt buộc các chuyên gia này phải có chứng chỉ đào tạo về đấu thầu.
Luật đấu thầu 2013 đã quy định tương đối đầy đủ và chi tiết về Bên mời thầu và quy định những điều kiện cụ thể về các cá nhân, tổ chuyên gia, những người tham gia trực tiếp vào quá trình đấu thầu để giúp chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật và thương mại.
- Bên thứ ba (các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam)
Biện pháp bảo lãnh không phải là biện pháp bảo đảm bằng tài sản của nhà thầu, nhà đầu tư mà là biện pháp bảo đảm bằng uy tín của bên thứ ba là bên bảo lãnh nên vai trò của bên thứ ba trong quan hệ bảo lãnh dự thầu rất quan trọng.
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 thì bên thứ ba trong quan hệ bảo lãnh là các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng, có hiệu lực từ ngày 15/1/2018 đã qui định tổ chức tín dụng & chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại điều 4 như sau:
- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật này.
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.
Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân.
Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập ở nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài.
Tổ chức tín dụng nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là loại hình ngân hàng thương mại; công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài là loại hình công ty tài chính; công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài là loại hình công ty cho thuê tài chính theo quy định của Luật này.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam.
Như vậy Chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam.
- Bên dự thầu (nhà thầu, nhà đầu tư)
Trong đấu thầu mua sắm hàng hóa thì nhà thầu, nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức có khả năng cung cấp hàng hóa, muốn thông qua đấu thầu để được quyền cung cấp hàng hóa. Tổ chức, cá nhân tham gia đấu thầu mua sắm hàng hóa phải là thương nhân.
Điều 6 Luật thương mại 2005 qui định thương nhân:
- Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
- Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.
- Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ.
- Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia. Chính phủ qui định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước.
2.1.2. Các qui định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Trình tự, thủ tục thực hiện bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam bao gồm các bước sau:
Bước thứ nhất: Bên dự thầu lập và gửi hồ sơ đề nghị bảo lãnh dự thầu đến tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam.
Hồ sơ bảo lãnh dự thầu gồm: Đơn đề nghị bảo lãnh của nhà thầu, nhà đầu tư; hồ sơ về tư cách pháp lý của nhà thầu, nhà đầu tư; hồ sơ mục đích bảo lãnh dự thầu; hồ sơ tài chính của nhà thầu, nhà đầu tư; hồ sơ bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo lãnh.
- Đơn đề nghị bảo lãnh (theo mẫu của bên bảo lãnh – Bên thứ ba).
Hồ sơ về tư cách pháp lý của nhà thầu, nhà đầu tư gồm: Quyết định thành lập, điều lệ (nếu có), giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (hoặc giấy phép hành nghề), đăng ký mã số thuế (bản sao công chứng); Quyết định bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện pháp nhân (Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc), kế toán trưởng (Bản sao). Nếu là công ty TNHH hoặc công ty cổ phần thì phải có giấy uỷ quyền hoặc nghị quyết của Hội đồng quản trị giao quyền cho Giám đốc để thực hiện giao dịch với Tổ chức tín dụng; Thỏa thuận liên danh, giấy ủy quyền (đối với công ty liên danh); Bản tự giới thiệu về chủ doanh nghiệp; Các giấy tờ khác có liên quan đến tư cách pháp lý của khách hàng. Các lần đề nghị bảo lãnh tiếp theo, bổ sung hồ sơ pháp lý trong các trường hợp sau đây: Có sự thay đổi đăng ký kinh doanh hoặc thay đổi trong điều lệ hoạt động, thay đổi về người đại diện theo pháp luật, thay đổi kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán.
Hồ sơ tài chính của nhà thầu, nhà đầu tư gồm: Báo cáo tài chính hai năm liền kề (Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ (nếu có). Đối với doanh nghiệp bắt buộc phải kiểm toán thì phải nộp báo cáo kiểm toán kèm theo kết luận của cơ quan kiểm toán, xác nhận tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước của cơ quan thuế (đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng), các giấy tờ khác có liên quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp (trường hợp doanh nghiệp mới hoạt động dưới hai năm, phải có các báo cáo tài chính từ khi hoạt động đến thời điểm đề nghị bảo lãnh) Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Hồ sơ liên quan đến mục đích bảo lãnh dự thầu gồm: Hồ sơ mời thầu hoặc thông báo mời thầu, quy chế hoặc quy định đấu thầu của bên mời thầu, quyết định phê duyệt hồ sơ mời thầu của cấp có thẩm quyền (đối với bảo lãnh dự thầu), hợp đồng liên danh, thông tin về các thành viên tham gia liên danh trường hợp liên danh).
Hồ sơ bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo lãnh gồm: Phiếu thu tiền ký quỹ và các giấy tờ liên quan khác (Khi bên bảo lãnh đồng ý bảo lãnh cho khách hàng).
Bước thứ hai: Ngân hàng tiến hành thẩm định đầy đủ các nội dung như tính hợp pháp, khả thi của gói thầu mua sắm hàng hóa cần có bảo lãnh dự thầu, năng lực pháp lý của khách hàng, hình thức bảo đảm cũng như tình hình tài chính của khách hàng xin bảo lãnh dự thầu.
Bước thứ ba: Ngân hàng thông báo thư bảo lãnh dự thầu cho bên nhận bảo lãnh dự thầu (bên mời thầu). Thư bảo lãnh qui định rõ ràng các nội dung cơ bản trong hợp đồng cấp bảo lãnh, nêu rõ các tài liệu mà bên nhận bảo lãnh cần có để chứng minh sự vi phạm của bên được bảo lãnh, ngoài ra qui định rõ các hình thức chi trả của ngân hàng cho bên nhận bảo lãnh.
Bước thứ tư: Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh dự thầu với bên nhận bảo lãnh dự thầu nếu nghĩa vụ xảy ra.
Bước thứ năm: Ngân hàng yêu cầu bên được bảo lãnh dự thầu thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng.
Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã được bảo lãnh, ngân hàng tiến hành trả thay và tự động hạch toán nợ vay bắt buộc đối với số tiền trả nợ thay theo lãi suất nợ quá hạn cuả bên được bảo lãnh. Ngân hàng áp dụng biện pháp cần thiết để thu nợ như phát mãi tài sản cố định, trích tài khoản của bên được bảo lãnh.
2.1.3. Các qui định pháp luật về phạm vi bảo lãnh dự thầu, hình thức, giá trị, hiệu lực của bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam
Phạm vi bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam Khoản 1 Điều 11 Luật đấu thầu 2013 qui định bảo đảm dự thầu áp dụng trong các trường hợp sau đây: Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp và gói thầu hỗn hợp.
Đấu thầu rộng rãi và chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư.
Như vậy Bảo lãnh dự thầu sẽ được áp dụng cho hình thức đầu thầu là: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh.
- Đấu thầu rộng rãi:
Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự (Điều 20 Luật Đấu thầu 2013).
Đây là hình thức lựa chọn được nhà thầu tốt nhất mang tính cạnh tranh cao. Tuy nhiên, hình thức này cũng mang lại nhiều khó khăn cho bên mời thầu khi phải quản lý số lượng lớn hồ sơ, chi phí cho hoạt động tổ chức đấu thầu cũng kéo theo thời gian thực hiện công tác tổ chức cũng dài. Đồng thời, có thể xảy ra trường hợp nhà thầu liên kết với nhau để đẩy giá trúng thầu.
- Đấu thầu hạn chế:
Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu. (Điều 21 Luật Đấu thầu 2013).
Ưu điểm của hình thức này là bên mời thầu tiết kiệm được thời gian và chi phí. Tuy nhiên, do sự lựa chọn ít nên trong nhiều trường hợp bên mời thầu chưa chắc đã lựa chọn được nhà thầu phù hợp nhất. Hình thức này không tạo ra được môi trường cạnh tranh lớn nhất giữa các nhà thầu, vì thế có thể giảm hiệu quả của hoạt động đấu thầu. Danh sách nhà thầu tham dự do chủ đầu tư quyết định trên cơ sở đánh giá của bên mời thầu về năng lực, kinh nghiệm. Điều kiện áp dụng hình thức này chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu gói thầu, do yêu cầu của nguồn vốn sử dụng và do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Chính vì tính đặc thù và đòi hỏi kĩ thuật cao mà đấu thầu hạn chế chỉ cần lập danh sách ngắn các nhà thầu, nhà đầu tư đáp ứng đủ yêu cầu mà không cần các bước sơ tuyển, thông báo mời thầu, hồ sơ mời thầu mà chỉ gửi thư mời thầu.
- Chào hàng cạnh tranh (Điều 23 Luật đấu thầu 2013):
Chào hàng cạnh tranh được áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức theo qui định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng; đơn giản;
- Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng;
- Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt.
Chào hàng cạnh tranh được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt;
- Có dự toán được phê duyệt theo qui định;
- Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu.
Phạm vi áp dụng chào hàng cạnh tranh theo Nghị định Số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu tại Điều 57 như sau:
Chào hàng cạnh tranh theo quy trình thông thường áp dụng đối với gói thầu quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu có giá trị không quá 05 tỷ đồng.
Chào hàng cạnh tranh theo quy trình rút gọn áp dụng đối với gói thầu quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu có giá trị không quá 500 triệu đồng, gói thầu quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều 23 của Luật Đấu thầu có giá trị không quá 01 tỷ đồng, gói thầu đối với mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng.
Hàng hóa cung cấp qua hình thức chào hàng cạnh tranh là mặt hàng thông dụng, sẵn có trên thị trường, gói thầu có giá trị không lớn (nhỏ hơn 5 tỷ đồng). Hàng hóa thông dụng thì giá cả thường ít chênh nhau nên sự rủi ro trong việc cung cấp hàng hóa và thiệt hại xảy ra khi Nhà thầu trúng chào hàng không thực hiện ký Hợp đồng là nhỏ nên trong Luật đấu thầu 2005 không yêu cầu Nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu. Tuy nhiên vẫn có trường hợp Nhà thầu trúng thầu nhưng đã không tiến hành thương thảo ký hợp đồng hay không thực hiện đúng hợp đồng vẫn còn xảy ra. Vì vậy Luật đấu thầu 2013 đã qui định bảo đảm dự thầu áp dụng cả trong trường hợp chào hàng cạnh tranh. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
- Hình thức bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam
Hình thức bảo lãnh: Bắt buộc phải được lập thành văn bản (có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính). Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực (BLDS 2005).
Theo BLDS 2015 không qui định về hình thức của bảo lãnh dự thầu, nhưng theo Luật đấu thầu 2013 Điều 4 khoản 2 qui định “Bảo lãnh dùng trong bảo đảm dự thầu mua sắm hàng hóa là bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam”.
Như vậy Bảo lãnh dự thầu là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh (bên mời thầu) để bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của bên được bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm quy định dự thầu mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính tham gia dự thầu thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện thay.
Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng Số 17/2017/QH14 thì bảo lãnh dự thầu là một loại bảo lãnh ngân hàng.
- Khoản 18 Điều 4 luật các tổ chức tín dụng qui định:
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
Khoản 1 Điều 3 Thông tư số: 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 & Thông tư số 13/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2015 đã quy định về bảo lãnh ngân hàng như sau:
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh.
Thông tư số: 07/2016/TT-BKHĐT ngày 29/6/2016 của Bộ Kế hoạch và đầu tư quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu mua sắm hàng hóa đối với đấu thầu qua mạng (Điều 9) đã qui định hình thức bảo đảm dự thầu như sau:
- Bảo đảm dự thầu đối với đấu thầu qua mạng được thực hiện theo hình thức thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
- Đối với những tổ chức tín dụng đã kết nối với Hệ thống, nhà thầu thực hiện bảo lãnh dự thầu qua mạng.
- Đối với tổ chức tín dụng chưa có kết nối đến Hệ thống, nhà thầu quét (scan) thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng và đính kèm khi nộp hồ sơ dự thầu qua mạng. Nhà thầu được mời vào thương thảo hợp đồng phải nộp bản gốc thư bảo lãnh cho Bên mời thầu.
Thông tư số 05/2015/TT – BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch & Đầu tư qui định chi tiết lập hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa tại bảng chỉ dẫn nhà thầu có qui định:
Khi tham dự thầu, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trước thời điểm đóng thầu theo hình thức thư bảo lãnh do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam phát hành hoặc đặt cọc bằng Séc (đối với trường hợp đặt cọc) như quy định tại Mục 19.2 chỉ dẫn nhà thầu (CDNT). Trường hợp sử dụng thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh đó phải theo Mẫu số 04 (a) hoặc Mẫu số 04 (b) Chương IV – Biểu mẫu dự thầu hoặc theo một hình thức khác tương tự nhưng phải bao gồm đầy đủ các nội dung cơ bản của bảo lãnh dự thầu. Trường hợp HSDT được gia hạn hiệu lực theo quy định tại Mục 18.2 CDNT thì hiệu lực của bảo đảm dự thầu cũng phải được gia hạn tương ứng.
Khoản d Điều 18 Nghị định Số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu quy định về thư bảo lãnh của ngân hàng như sau:
Đối với trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.
Khoản 1 Điều 5 Thông tư 04/2017/TT – BKHĐT ngày 15/11/2017 qui định: Khi tham dự thầu qua mạng, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trước thời điểm đóng thầu theo hình thức thư bảo lãnh do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam phát hành. Đối với những ngân hàng, tổ chức tín dụng đã kết nối với Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (sau đây gọi là Hệ thống), nhà thầu thực hiện bảo lãnh dự thầu qua mạng. Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng chưa có kết nối đến Hệ thống, nhà thầu quét (scan) thư bảo lãnh của ngân hàng và đính kèm khi nộp E-HSDT. Trong trường hợp này, nhà thầu phải cam kết nộp bản gốc bảo lãnh dự thầu theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Như vậy hình thức bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa được làm bằng văn bản do đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam phát hành.
- Giá trị bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam
Bảo lãnh dự thầu là một trong ba hình thức của bảo đảm dự thầu, vì vậy qui định pháp luật về giá trị bảo lãnh dự thầu cũng theo các qui định pháp luật về bảo đảm dự thầu. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Khoản 3 Điều 11 Luật Đấu thầu 2013 qui định giá trị bảo đảm dự thầu:
- Đối với lựa chọn nhà thầu, giá trị bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo một mức xác định từ 1% đến 3% giá gói thầu căn cứ quy mô và tính chất của từng gói thầu cụ thể;
- Đối với lựa chọn nhà đầu tư, giá trị bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu theo một mức xác định từ 0,5% đến 1,5% tổng mức đầu tư căn cứ vào quy mô và tính chất của từng dự án cụ thể”.
Đối với trường hợp nhà thầu, nhà đầu tư tham dự thầu với tư cách liên danh được qui định bảo đảm dự thầu như sau:
Theo khoản 3 Điều 5 (tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư) luật đấu thầu 2013 qui định:
Nhà thầu, nhà đầu tư có tư cách hợp lệ theo qui định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tham dự thầu với tư cách độc lập hoặc liên danh; trường hợp liên danh phải có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó qui đỉnh rõ trách nhiệm của thành viên đứng đầu liên danh và trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng của từng thành viên trong liên danh.
Khoản 6 Điều 11 (Bảo đảm dự thầu) Luật đấu thầu 2013 qui định: Trường hợp liên danh tham dự thầu, từng thành viên trong liên danh có thể thực hiện bảo đảm dự thầu riêng rẽ hoặc thỏa thuận để một thành viên chịu trách nhiệm thực hiện bảo đảm dự thầu cho thành viên đó và cho thành viên khác trong liên danh. Tổng giá trị của bảo đảm dự thầu không thấp hơn giá trị yêu cầu trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Trường hợp có thành viên trong liên danh vi phạm qui định tại khoản 8 Điều này thì bảo đảm dự thầu của tất cả thành viên trong liên danh không được hoàn trả.
Theo Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT (16/6/2015) của Bộ kế hoạch & Đầu tư qui định chi tiết lập hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa đã qui định mẫu hồ sơ mời thầu tại mục 19.1 có qui định về bảo đảm dự thầu trong trường hợp liên danh như sau:
- Trường hợp liên danh thì phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu theo một trong hai cách sau:
Từng thành viên trong liên danh sẽ thực hiện riêng rẽ bảo đảm dự thầu nhưng bảo đảm tổng giá trị không thấp hơn mức yêu cầu quy định tại Mục 19.2 chỉ dẫn nhà thầu; nếu bảo đảm dự thầu của một thành viên trong liên danh được xác định là không hợp lệ thì hồ sơ dự thầu của liên danh đó sẽ không được xem xét, đánh giá tiếp. Nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh vi phạm quy định của pháp luật dẫn đến không được hoàn trả bảo đảm dự thầu theo quy định tại Mục 19.5 chỉ dẫn nhà thầu thì bảo đảm dự thầu của tất cả thành viên trong liên danh sẽ không được hoàn trả.
Các thành viên trong liên danh thỏa thuận để một thành viên chịu trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu cho thành viên liên danh đó và cho thành viên khác trong liên danh. Trong trường hợp này, bảo đảm dự thầu có thể bao gồm tên của liên danh hoặc tên của thành viên chịu trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu cho cả liên danh nhưng bảo đảm tổng giá trị không thấp hơn mức yêu cầu quy định tại Mục 19.2 chỉ dẫn nhà thầu. Nếu bất kỳ thành viên nào trong liên danh vi phạm quy định của pháp luật dẫn đến không được hoàn trả bảo đảm dự thầu theo quy định tại Mục 5 chỉ dẫn nhà thầu thì bảo đảm dự thầu sẽ không được hoàn trả. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Nghị định Số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu còn quy định về giá trị của bảo đảm dự thầu đối với những gói thầu có quy mô nhỏ. Theo đó, gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá mười tỷ đồng thì bảo đảm dự thầu có giá trị từ 1% đến 1,5% giá gói thầu.
Hiệu lực bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam Theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Luật đấu thầu: “Thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu bằng thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất cộng thêm 30 ngày”.
Như vậy, để xác định thời gian hiệu lực của bảo lãnh dự thầu cần biết thời gian hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất. Khái niệm về thời gian có hiệu lực của hồ sơ mời thầu được quy định tại Khoản 42 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 như sau:
Thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất là số ngày được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và được tính kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày đóng thầu được tính là 01 ngày.
- Điểm l khoản 1 Điều 12 Luật đấu thầu 2013 qui định:
Thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất tối đa là 180 ngày, kể từ ngày có thời điểm đóng thầu; trường hợp gói thầu qui mô lớn, phức tạp, gói thầu đấu thầu theo phương thức hai giai đoạn, thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu tối đa là 210 ngày, kể từ ngày có thời điểm đóng thầu. Trường hợp cần thiết, có thể yêu cầu gia hạn thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và phải bảo đảm tiến độ dự án.
Hiệu lực của bảo lãnh dự thầu có quan hệ chặt chẽ với hiệu lực của Hồ sơ dự thầu, Hồ sơ đề xuất, vì vây trường hợp hiệu lực của Hồ sơ dự thầu được gia hạn thì bảo lãnh dự thầu cũng phải được gia hạn.
- Khoản 5 Điều 11 Luật Đấu thầu 2013 quy định:
Trường hợp gia hạn thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất sau thời điểm đóng thầu, bên mời thầu phải yêu cầu nhà thầu, nhà đầu tư gia hạn tương ứng thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu. Trong trường hợp này, nhà thầu, nhà đầu tư phải gia hạn tương ứng thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu và không được thay đổi nội dung trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất đã nộp. Trường hợp nhà thầu, nhà đầu tư từ chối gia hạn thì hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất sẽ không còn giá trị và bị loại; bên mời thầu phải hoàn trả hoặc giải tỏa bảo đảm dự thầu cho nhà thầu, nhà đầu tư trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày bên mời thầu nhận được văn bản từ chối gia hạn.
2.1.4. Qui định pháp luật về hợp đồng bảo lãnh dự thầu Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
- Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, bảo lãnh là một hình thức cấp tín dụng.
Khoản 1, Điều 15 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định các nội dung cần thiết (phải có) của cam kết bảo lãnh. Khoản 4, Điều 15 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng phải áp dụng thống nhất mẫu cam kết bảo lãnh do tổ chức tín dụng thiết kế, in ấn trong toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
Bảo lãnh dự thầu là một loại hình bảo lãnh thông dụng hiện nay được các tổ chức tín dụng thực hiện. Mục 19 Chương I về chỉ dẫn nhà thầu tại mẫu hồ sơ mời thầu số 01 và mục 18 Chương I về chỉ dẫn nhà thầu tại mẫu hồ sơ mời thầu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT quy định: Trường hợp sử dụng thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh đó phải theo Mẫu số 04 Chương IV – Biểu mẫu dự thầu hoặc theo một hình thức khác tương tự nhưng phải bao gồm đầy đủ các nội dung cơ bản của bảo lãnh dự thầu.
Với các quy định trên thì bên mời thầu và nhà thầu có thể thỏa thuận một thư bảo lãnh dự thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu và quy định tại Thông tư số 07/2015/TT-NHNN.
- Mặt khác, Khoản 2, Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng quy định:
Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Nội dung của Hợp đồng bảo lãnh dự thầu
- Tên và địa chỉ của Bên mời thầu (Bên thụ hưởng)
- Ngày phát hành bảo lãnh
- Số bảo lãnh dự thầu
- Tên và địa chỉ nơi phát hành bảo lãnh (Tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng – Bên thứ ba).
Các cam kết của tổ chức tín dụng gồm các nội dung sau:
Cam kết về việc Bên yêu cầu bảo lãnh (Nhà thầu, nhà đầu tư) sẽ tham dự thầu để thực hiện gói thầu cung cấp hàng hóa theo thư mời thầu của Bên mời thầu.
Cam kết với Bên thụ hưởng rằng Bên bảo lãnh sẽ bảo lãnh cho nhà thầu tham dự thầu gói thầu này bằng một khoản tiền (số tiền này được ghi bằng số và chữ và đồng tiền thanh toán).
Cam kết của Bên bảo lãnh về việc sẽ thanh toán cho Bên thụ hưởng một khoản tiền khi nhận được văn bản của Bên thụ hưởng thông báo về việc nhà thầu vi phạm một trong các lỗi sau:
- Nhà thầu rút hồ sơ dự thầu sau thời điểm đóng thầu và trong thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu;
- Nhà thầu vi phạm pháp luật về đấu thầu dẫn đến phải hủy thầu theo quy định của pháp luật.
- Nhà thầu không tiến hành hoặc từ chối tiến hành thương thảo hợp đồng trong thời hạn yêu cầu của chủ đầu tư (Bên mời thầu), kể từ ngày nhận được thông báo mời đến thương thảo hợp đồng của Bên mời thầu, trừ trường hợp bất khả kháng;
- Nhà thầu không tiến hành hoặc từ chối tiến hành hoàn thiện hợp đồng trong thời hạn yêu cầu của bên mời thầu, kể từ ngày nhận được thông báo trúng thầu của Bên mời thầu hoặc đã hoàn thiện hợp đồng nhưng từ chối ký hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng;
- Nhà thầu không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định của pháp luật.
- Thời gian có hiệu lực của bảo lãnh dự thầu: Thông báo bảo lãnh có hiệu lực bao nhiêu ngày kể từ ngày phát hành.
- Thời gian hết hiệu lực của bảo lãnh dự thầu: Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Nếu Bên yêu cầu bảo lãnh được lựa chọn bảo lãnh này sẽ hết hiệu lực ngay sau khi Bên yêu cầu bảo lãnh ký kết hợp đồng và nộp Bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho Bên thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng đó.
Nếu Bên yêu cầu bảo lãnh không được lựa chọn bảo lãnh này sẽ hết hiệu lực ngay sau khi tổ chức tín dụng nhận được văn bản thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu từ Bên thụ hưởng gửi cho Bên yêu cầu bảo lãnh; trong vòng 30 ngày sau khi hết thời hạn hiệu lực của hồ sơ dự thầu.
Bất cứ yêu cầu bồi thường nào theo bảo lãnh này đều phải được gửi đến địa chỉ của chúng tôi trước hoặc trong ngày đó.
Trách nhiệm pháp lý của các bên khi thực hiện bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam
Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi do Nhà nước áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, theo đó cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật phải chịu những chế tài được quy định tại phần chế tài của quy phạm pháp luật.
Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật mà cá nhân, tổ chức vi phạm phải gánh chịu những loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật.
Như vậy các chủ thể tham gia đấu thầu phải tuân thủ các quy định pháp luật về đấu thầu. Nếu thực hiện không đúng thì trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu thầu (trong đó bao gồm các chủ thể của hoạt động bảo lãnh dự thầu) có thể bị xử lý theo Điều 90 Luật đấu thầu 2013 như sau:
Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Ngoài việc bị xử lý theo qui định tại khoản 1 của Điều này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu còn bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu và đưa vào danh sách các nhà thầu vi phạm trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Như vậy, theo Luật đấu thầu hiện hành các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu nói chung hay pháp luật về bảo lãnh dự thầu nói riêng có thể phải chịu những trách nhiệm pháp lý sau:
- Trách nhiệm hình sự:
Từ ngày 1/1/2018, Luật số 12/2017/QH14 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều có hiệu lực thi hành. Với chế tài mới, tại Điều 222 của Bộ luật, “tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ bị xử lý hình sự.
Liên quan đến tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, Điều 222 của Bộ luật đã quy định rõ các mức độ xử lý vi phạm như: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm (Khoản 1); bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm (Khoản 2); bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm (Khoản 3); và người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (Khoản 4).
Bộ luật Hình sự có quy định tại Điều 222 về “tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” chính là sự nối tiếp quy định tại Điều 90 của Luật Đấu thầu 2013 và tạo ra sự đồng bộ về hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý hành vi tiêu cực cũng như răn đe đối với các đối tượng thực hiện hành vi tiêu cực trong đấu thầu.
Điều 222 Bộ luật Hình sự 2015 kết hợp với Điều 89 và Điều 90 của Luật Đấu thầu đã tạo nên sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật từ hành chính đến hình sự quy định về cùng một vấn đề, nội dung quy định đã rất rõ.
Qua phản ánh của nhà thầu có nhiều dấu hiệu về tình trạng “nhờn luật”, cố tình “lách luật” hoặc không tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu. Phổ biến là tình trạng không tuân thủ quy định về công bố thông tin đấu thầu, né tránh bán hồ sơ mời thầu (HSMT); cài cắm tiêu chí trong HSMT để tạo thuận lợi cho nhà thầu “ruột”, hạn chế sự tham gia của các nhà thầu lạ; cản trở nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu (HSDT), làm rõ mang tính chiếu lệ các kiến nghị của nhà thầu…
Ngoài ra, có khá nhiều quan ngại về tình trạng “vận dụng” quy định của pháp luật về đấu thầu để chỉ định thầu hoặc áp dụng Điều 26 Luật Đấu thầu (lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt) mà thực ra là một sự “lòng vòng” để rồi chỉ định thầu những gói thầu lớn không thuộc trường hợp được chỉ định thầu.
Với chế tài mới tại Điều 222 Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ 1/1/2018, nếu các cá nhân, tổ chức không tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu, thì người nào thực hiện một trong những hành vi: Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu; Vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu;… gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.
Như vậy, với quy định “người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây…”, nghĩa là bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, bao gồm cả nhà thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, những người có thẩm quyền,… nếu có thực hiện các hành vi được liệt kê tại Khoản 1 Điều 222 nêu trên thì đều là đối tượng điều chỉnh của Điều này. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Đặc biệt, Khoản 2 Điều 222 nêu rõ: Phạm tội thuộc một trong những trường hợp: “Vì vụ lợi; Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Gây thiệt hại từ 300 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng” thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm.
Liên quan đến việc áp dụng cơ chế đặc thù trong đấu thầu và những quan ngại về “vận dụng” thì “Nếu cá nhân nào làm không đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, nếu giao thầu không theo quy định của Luật Đấu thầu, không đúng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt thì với chế tài nêu trên, có thể dẫn đến bị phạt tù”.
Với chế tài như vậy, cơ quan bảo vệ pháp luật đã có đủ cơ sở để “tìm đến” các cá nhân, tổ chức có dấu hiệu vi phạm, bao gồm cả những người làm cơ quan công quyền và cơ quan tư vấn. Vì Bộ luật Hình sự lần này quy định “người nào” có nghĩa là không giới hạn về cấp bậc, đối tượng, chức vụ, quyền hạn…
- Xử lý kỷ luật. Hình thức xử lý kỷ luật thường áp dụng cho các cá nhân có hành vi vi phạm nhẹ luật đấu thầu. Có nhiều hình thức kỷ luật tùy vào mức độ sai phạm của mỗi trường hợp như: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, giáng chức, buộc thôi việc.
- Xử phạt vi phạm hành chính: Áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật đấu thầu ở mức độ nhẹ, gây hậu quả chưa nghiêm trọng, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nghị định số 155/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, trong đó có hoạt động đấu thầu đã qui định các mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm các qui định về kế hoạch đầu thầu (điều 16); các hành vi vi phạm các qui định về hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu (điều 17); các hành vi vi phạm các qui định về tổ chức đấu thầu (điều 18) và các hành vi vi phạm hành chính khác về đấu thầu (điều 19).
Trong khoản 2 Điều 19 Nghị định này đã qui định rõ hành vi “Không hoàn trả hoặc giải tỏa bảo đảm dự thầu cho nhà thầu theo quy định” bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Trách nhiệm pháp lý của các bên đối với bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của nhà thầu do đó bên bảo lãnh còn phải có trách nhiệm dân sự nếu vi phạm pháp luật về bảo lãnh dự thầu. Cụ thể, Bên bảo lãnh (nhà thầu, nhà đầu tư) sẽ không được giải tỏa bảo lãnh trong các trường hợp sau: (Khoản 8 điều 11 Luật đấu thầu 2013) đã qui định:
- Nhà thầu, nhà đầu tư rút hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất sau thời điểm đóng thầu và trong thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất;
- Nhà thầu, nhà đầu tư vi phạm pháp luật về đấu thầu dẫn đến phải hủy thầu.
- Nhà thầu, nhà đầu tư không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
- Nhà thầu không tiến hành hoặc từ chối tiến hành hoàn thiện hợp đồng trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo trúng thầu của bên mời thầu hoặc đã hoàn thiện hợp đồng nhưng từ chối ký hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng;
Nhà đầu tư không tiến hành hoặc từ chối tiến hành hoàn thiện hợp đồng trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo trúng thầu của bên mời thầu hoặc đã hoàn thiện hợp đồng nhưng từ chối ký hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng.
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
- Thực tiễn các chủ thể tham gia bảo lãnh dự thầu đăng ký thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đấu thầu qua mạng
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Đấu thầu 2013 và Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT – BKHĐT – BTC ngày 8/9/2015 của Bộ Kế hoạch Đầu tư & Bộ Tài chính qui định bắt đầu từ ngày 1/7/2016 trước thời điểm đóng thầu 2 ngày làm việc, nhà thầu, nhà đầu tư phải xác nhận đăng ký thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới được tham dự thầu đối với các gói thầu, dự án có hình thức lựa chọn nhà thầu theo qui định của Luật đấu thầu. Do đó để được tham gia dự thầu, nhà thầu, nhà đầu tư đều phải đăng ký các thông tin lên mạng đấu thầu quốc gia. ĐTQM đã trải qua 3 năm triển khai chính thức với lộ trình giai đoạn 2016 – 2018 được quy định cụ thể trong Thông tư 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC.
Về hiệu quả kinh tế của đấu thầu qua mạng, Bộ KH&ĐT đánh giá, ĐTQM trong 3 năm qua luôn đạt tỷ lệ tiết kiệm cao hơn so với đấu thầu truyền thống (năm 2016 là 9% so với 7,11% của đấu thầu truyền thống; năm 2017 là 8,2% so với 6,98%; năm 2018 là 7,15% so với 5,26%).
Trong đấu thầu qua mạng, thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu ngắn hơn bình quân khoảng 3 – 5 ngày so với đấu thầu truyền thống, nhân sự tham gia tổ chức lựa chọn nhà thầu, thủ tục và chi phí hành chính, chi phí đi lại giảm đáng kể. Đấu thầu qua mạng cũng giúp tăng cường công khai, minh bạch; giảm khiếu nại, kiến nghị.
Theo Thông tư số 07, trong năm 2018, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện lựa chọn nhà thầu qua mạng tối thiểu 40% số lượng các gói thầu chào hàng cạnh tranh, 30% số lượng các gói thầu quy mô nhỏ đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Tuy nhiên, tổng kết của Bộ KH&ĐT đã chỉ rõ, tỷ lệ đấu thầu qua mạng không đạt chỉ tiêu theo lộ trình quy định, bởi nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai ĐTQM còn chậm, không đảm bảo theo yêu cầu.
Một trong số những nguyên nhân được chỉ ra là việc quy định tỷ lệ áp dụng ĐTQM theo tỷ lệ % số lượng gói thầu tại TT07 dẫn đến việc lựa chọn gói thầu nào thực hiện ĐTQM mang tính chủ quan, không công bằng. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương cũng gặp khó khăn khi theo dõi tỷ lệ triển khai ĐTQM trong năm. Trên thực tế, từ đầu năm, các bộ, ngành, địa phương đã có các văn bản đôn đốc triển khai ĐTQM nhưng đến cuối năm các đơn vị này mới tổng kết được tình hình triển khai, khi đó các gói thầu đều đã được thực hiện, dẫn đến không kịp thời điều chỉnh để đạt được chỉ tiêu theo quy định [43].
Trong 6 tháng đầu năm nay, có 13.400 gói thầu đấu thầu qua mạng, chiếm tỷ lệ 28% với tổng giá trị gói thầu là 37.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 10%. Kết quả này tuy cao hơn cả năm 2018 (18% số lượng gói thầu và 4% giá trị gói thầu) nhưng còn thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu quy định tại Nghị quyết 01 của Chính phủ (50% và 15% tương ứng).
Tính cạnh tranh, hiệu quả kinh tế của đấu thầu qua mạng cũng chưa được khai thác tối đa. Cụ thể, số liệu cho thấy chỉ khoảng 4,6% số lượng nhà thầu đã đăng ký trên Hệ thống tham gia đấu thầu qua mạng, số lượng nhà thầu trung bình tham gia 1 gói thầu là 2,5; đặc biệt có khoảng 36% tổng số các gói thầu (chủ yếu là lĩnh vực xây lắp) chỉ có 1 nhà thầu tham gia. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, đây là biểu hiện của việc lách luật, vi phạm quy định về cạnh tranh, công bằng, đồng thời lật tẩy tình trạng quân xanh, quân đỏ trong đấu thầu truyền thống. Những biến tướng này cần được ngăn chặn để bảo đảm tính cạnh tranh của đấu thầu qua mạng.
Bên cạnh đó, tổng giá trị các gói thầu đấu thầu qua mạng còn chiếm tỷ trọng chưa cao so với tổng giá trị các gói thầu trên cả nước, do đó chưa tận dụng được lợi ích của đấu thầu qua mạng [38].
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến việc chậm triển khai đấu thầu qua mạng trên phạm vi cả nước. Đầu tiên là do sự thiếu quyết tâm chính trị của người đứng đầu chủ đầu tư, bên mời thầu. Ngoài ra, còn một số lượng không nhỏ chủ đầu tư, bên mời thầu có tâm lý “ngại” thay đổi và không muốn áp dụng đấu thầu qua mạng vì quá công khai, minh bạch.
Nguyên nhân thứ hai là quy định áp dụng đấu thầu qua mạng theo tỷ lệ% số lượng gói thầu chưa thực sự phù hợp với thực tế, dẫn đến lựa chọn gói thầu nào thực hiện đấu thầu qua mạng mang tính chủ quan, cơ chế xin – cho, không công bằng. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương cũng gặp khó khăn khi theo dõi tỷ lệ triển khai đấu thầu qua mạng trong năm để kịp thời đôn đốc đơn vị trực thuộc. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Một rào cản khác là sự hạn chế về công nghệ, kỹ thuật của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Mặc dù Bộ Kế hoạch và Đầu tư thường xuyên chỉnh sửa, nâng cấp chức năng Hệ thống, nhưng để mở rộng các tính năng khác tạo thuận tiện hơn cho người sử dụng, ứng dụng các công nghệ mới trên nền tảng công nghệ của hệ thống Hàn Quốc là rất khó khăn.
Cuối cùng, do năng lực cán bộ còn hạn chế, chưa đồng đều. Không giống như các đơn vị có số lượng gói thầu hàng năm lớn, các chủ đầu tư, bên mời thầu có số lượng gói thầu hàng năm thấp, có ít kinh nghiệm và trình độ về đấu thầu sẽ gặp nhiều trở ngại hơn khi chuyển đổi, do cơ hội thực hành trên các gói thầu thực tế không nhiều.
Tới đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ đề xuất áp dụng lộ trình mới theo nguyên tắc lượng hóa các gói thầu bắt buộc phải đấu thầu qua mạng (quy định hạn mức gói thầu bắt buộc phải đấu thầu qua mạng), đồng thời đưa ra chế tài cụ thể (không giải ngân) nếu không thực hiện theo quy định. Rõ ràng, để thúc đẩy các đơn vị tham gia đấu thầu qua mạng và đạt mục tiêu 70% vào năm 2025, rất cần quyết tâm mạnh mẽ từ Chính phủ. Vì nếu không bị bắt buộc thì không ai dại gì mà làm. Bởi hình thức đấu thầu truyền thống vẫn bị lợi dụng để tạo ra sự nhập nhằng thiếu minh bạch nhằm mang lại cơ hội làm giàu cho bên mời thầu [38].
- Thực tiễn các cá nhân, tổ chuyên gia áp dụng các qui định pháp luật để lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu về thương mại quốc tế và đã tham gia vào Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vì vậy việc mua sắm hàng hóa sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đều phải thông qua đấu thầu. Để tổ chức lựa chọn nhà thầu thành công còn cần đến đội ngũ tổ chuyên gia tham gia vào quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu. Để thực hiện tốt công tác đấu thầu các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã tuyển chọn và đào tạo được đội ngũ cán bộ tham gia công tác đấu thầu có chất lượng,.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia công tác đấu thầu được coi như “chìa khóa” đảm bảo cho hoạt động này ngày càng cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Trong thời gian qua, dù năng lực cán bộ đấu thầu đã được tăng cường, song vẫn còn có ý kiến cho rằng, chất lượng đội ngũ cán bộ này còn hạn chế và chưa đồng đều.
Đề cập về công tác này, Cục Quản lý đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, đến nay, hầu hết cán bộ tham gia trong lĩnh vực đấu thầu đều được cấp chứng chỉ tham gia các khóa đào tạo về đấu thầu. Các văn bản hướng dẫn được ban hành đã có tác động tích cực đối với việc thực hiện quản lý đầu thầu tại các cấp, góp phần nâng cao chất lượng quản lý đấu thầu. Hơn nữa, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu thời gian qua cũng đã giúp hoạt động đào tạo của các cơ sở từng bước đi vào nề nếp, đảm bảo chất lượng hơn, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động này trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Tuy chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia công tác đấu thầu đã từng bước được nâng cao, nhưng một số địa phương vẫn chưa thực sự yên tâm với năng lực của cán bộ đấu thầu [45].
Theo tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu năm 2018 của các bộ, ngành, địa phương cho thấy, đa số các tồn tại, hạn chế của công tác đấu thầu đều do chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu còn thấp (bao gồm cả chủ đầu tư và đơn vị tư vấn) dẫn đến áp dụng sai hoặc không đầy đủ các qui định pháp luật về đấu thầu nói chung và bảo lãnh dự thầu nói riêng.
Theo đánh giá của UBND tỉnh Lạng Sơn, nhiều cán bộ thực hiện công tác đấu thầu trên địa bàn còn thiếu kinh nghiệm, nhất là trong việc lập hồ sơ mời thầu (HSMT), đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT). Nhiều chủ đầu tư năng lực hạn chế, phải thuê đơn vị tư vấn đấu thầu nhưng không kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện dẫn đến nhiều sai sót trong quá trình thực hiện các thủ tục, không đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định pháp luật.
Còn Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tỉnh Hà Tĩnh cho biết, một số chủ đầu tư chưa làm hết trách nhiệm mà thường giao phó cho tư vấn đấu thầu. Trong khi đó, đội ngũ chuyên gia về đấu thầu của các đơn vị tư vấn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về năng lực chuyên môn và kinh nghiệm nên chất lượng một số cuộc thầu chưa đảm bảo. Một số dự án, hồ sơ thiết kế, dự toán còn thiếu sót, chất lượng chưa cao, trong quá trình triển khai thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung khối lượng phát sinh ngoài phạm vi hợp đồng, làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án.
Sở KH&ĐT tỉnh Tuyên Quang cũng cho rằng, một số chủ đầu tư chưa có kinh nghiệm, năng lực của cán bộ làm công tác đấu thầu còn hạn chế nên chất lượng HSMT, hồ sơ yêu cầu chưa đáp ứng tốt yêu cầu. Một số ban quản lý dự án mới được thành lập, phần lớn đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo chuyên nghiệp về đấu thầu qua mạng, chưa có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu nên việc triển khai công tác đấu thầu của nhiều đơn vị gặp khó khăn.
Báo cáo về công tác đấu thầu năm 2018, Sở KH&ĐT tỉnh Điện Biên cũng thừa nhận, một trong những tồn tại, hạn chế trong công tác đấu thầu của địa phương là năng lực của đội ngũ cán bộ đấu thầu hạn chế, tính chuyên nghiệp thấp, chất lượng không đồng đều. Ở một số dự án, gói thầu vẫn còn tình trạng chậm tiến độ, có dự án lựa chọn nhà thầu chưa đảm bảo yêu cầu, làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện; một số trường hợp đã phải lựa chọn nhà thầu thay thế. Một số chủ đầu tư chậm trễ trong thực hiện giải phóng mặt bằng đã làm ảnh hưởng lớn tới tiến độ thực hiện các gói thầu, dự án [49].
Sở KH&ĐT tỉnh Bắc Giang cho biết, kết quả của 7 cuộc thanh tra, kiểm tra đấu thầu đối với 18 chủ đầu tư và 30 dự án với tổng số 192 gói thầu trong năm 2018 đã cho thấy, một số chủ đầu tư triển khai công tác lựa chọn nhà thầu chậm hơn so với thời gian trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu được duyệt. Việc lập và phê duyệt HSMT, hồ sơ yêu cầu còn để xảy ra tình trạng quy định một số nội dung chưa phù hợp với quy mô, tính chất của gói thầu và quy định của pháp luật. Ở một số chủ đầu tư cấp huyện, cấp xã còn chưa chấp hành nghiêm túc việc đăng tải kế hoạch lựa chọn nhà thầu ký kết nội dung chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Ở một số gói thầu, việc đánh giá HSDT của tổ chuyên gia đấu thầu còn hạn chế, thể hiện sự qua loa, chưa đi sâu đánh giá đề xuất kỹ thuật với năng lực thực tế của nhà thầu nên có tình trạng nhà thầu yếu kém về năng lực, kinh nghiệm mà vẫn được lựa chọn, dẫn đến chất lượng công trình hạn chế và tiến độ thực hiện hợp đồng chậm.
Việc quản lý, thực hiện hợp đồng sau đấu thầu của một số gói thầu chưa tuân thủ các quy định của HSMT, cam kết của nhà thầu trong HSDT và hợp đồng đã ký kết như chậm tiến độ, tùy tiện điều chỉnh hợp đồng… Còn một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm trong tổ chức đấu thầu, không chủ động triển khai công việc, không thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình theo quy định…
Còn UBND TP. Hải Phòng cũng cho biết, một số chủ đầu tư trên địa bàn TP. Hải Phòng chưa thường xuyên cập nhật các văn bản, quy định mới về đấu thầu để áp dụng trong công việc, dẫn đến tình trạng các bước thực hiện đấu thầu, chỉ định thầu chưa hợp lý, chưa đảm bảo tiết kiệm. Chất lượng của HSMT tại một số gói thầu còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho công tác lựa chọn nhà thầu. Các yêu cầu của HSMT còn chung chung, các tiêu chí đánh giá còn hình thức…
Bên cạnh đó, một số chủ đầu tư lại không thực hiện nghiêm túc và đầy đủ chế độ báo cáo về công tác đấu thầu theo quy định, gây khó khăn trong việc kiểm tra, theo dõi của cơ quan quản lý nhà nước; công tác kiểm tra về đấu thầu của cơ quan quản lý nhà nước cũng còn hạn chế [49].
Thực tiễn áp dụng pháp luật về hình thức, giá trị của bảo lãnh dự thầu:
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về hình thức bảo lãnh dự thầu
Do các văn bản pháp luật về đấu thầu có những quy định khác nhau về hình thức đấu thầu nên khi áp dụng trên thực tế bên mời thầu đã yêu cầu hình thức hồ sơ mời thầu không đúng quy định. Một số trường hợp cụ thể như:
Ngày 22/7/2017 Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng thông báo mời thầu gói thầu mua sắm hàng hóa quy mô nhỏ và nêu yêu cầu bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt; Ngày 15/6/2016 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đăng tải thông báo mời thầu gói thầu mua sắm hàng hóa, nêu hình thức bảo đảm dự thầu: Bằng tiền mặt hoặc bảo lãnh qua ngân hàng; ….
- Báo đấu thầu sau khi tiếp nhận và xử lý thông báo đã hướng dẫn các đơn vị trên như sau:
Theo Thông tư 05/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập hồ sơ mời thầu mua sắm hàng hóa, khi tham dự thầu, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trước thời điểm đóng thầu theo hình thức thư bảo lãnh do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam phát hành hoặc đặt cọc bằng Séc (đối với trường hợp đặt cọc) [40].
Hoặc trường hợp Đấu thầu tại Bộ Tư lệnh Hải quân: Chấp nhận bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt như trường hợp sau:
Cục Kỹ thuật Hải quân (Chủ đầu tư) thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân vừa tiến hành đóng/mở Gói thầu số 01 thuộc Dự toán mua sắm vật tư, hàng hóa bảo đảm an toàn hệ thống nhà máy, xưởng, trạm kỹ thuật đợt 1 năm 2019.
Trước đó, do có kiến nghị của nhà thầu, Cục Kỹ thuật Hải quân đã gia hạn thời điểm đóng thầu. Tuy nhiên, tại Lễ mở thầu, 4/5 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu (HSDT) đã nộp bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt, không đúng quy định của hồ sơ mời thầu (HSMT) cũng như quy định của pháp luật về đấu thầu. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Như Báo Đấu thầu đã đưa tin, trong thời gian phát hành HSMT Gói thầu số 01 Mua sắm trang bị phòng cháy chữa cháy (PCCC) bảo đảm an toàn cho hệ thống xưởng, trạm kỹ thuật Hải quân năm 2019, có nhà thầu đã phản ánh bị làm khó khi đi mua HSMT. Sau khi phóng viên Báo Đấu thầu “vào cuộc” tìm hiểu sự việc, Chủ đầu tư đã gia hạn thời điểm đóng/mở thầu đến ngày 28/5/2019.
Gói thầu nêu trên sử dụng nguồn vốn ngân sách quốc phòng, được đấu thầu rộng rãi trong nước. Theo cán bộ đấu thầu của Cục Kỹ thuật Hải quân, tính đến ngày 16/5/2019 (trước thời điểm đóng thầu 12 ngày) đã phát hành được 10 bộ HSMT cho các nhà thầu (gồm 6 nhà thầu ở thành phố Hải Phòng và 4 nhà thầu ở Hà Nội). Đây cũng là số lượng nhà thầu mua HSMT trong suốt thời gian phát hành HSMT.
Theo Biên bản mở thầu, có 5 nhà thầu nộp HSDT, gồm: Công ty CP Thương mại Thiết bị phụ tùng; Công ty TNHH Thiết bị vật tư Việt Tùng; Công ty CP Phát triển Đầu tư xây dựng và Thương mại Long Biên; Công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Hải Nam; Công ty CP Tư vấn đầu tư và Xây dựng Nam Á. Có 5 nhà thầu đã mua HSMT nhưng không nộp HSDT, trong đó có nhà thầu đã gửi kiến nghị tới Báo Đấu thầu về việc bị gây khó dễ khi đi mua HSMT.
Trao đổi với phóng viên Báo Đấu thầu, cán bộ đấu thầu của Nhà thầu kiến nghị cho biết, sau khi mua và nghiên cứu HSMT, Nhà thầu nhận thấy không đáp ứng được một số hạng mục công việc của Gói thầu, như: cung cấp máy cắt cỏ (yêu cầu nhà thầu phải có hợp đồng tương tự) nên Nhà thầu quyết định không tham gia đấu thầu nữa. Bên cạnh đó, ngày 20/5/2019, Chủ đầu tư có văn bản phê duyệt điều chỉnh HSMT, theo đó bổ sung một số quy định về đóng gói, cách thức giao nhận hàng hóa. Yêu cầu này khiến phát sinh thêm chi phí so với yêu cầu trong HSMT trước đó.
Quá trình tìm hiểu của phóng viên Báo Đấu thầu cho thấy, trong số 5 nhà thầu đã nộp HSDT, có duy nhất Công ty TNHH Thiết bị vật tư Việt Tùng (địa chỉ ở Hà Nội) nộp bảo đảm dự thầu bằng bảo lãnh ngân hàng. Đây cũng là nhà thầu có giá dự thầu thấp nhất trong số 5 nhà thầu, với 3,986 tỷ đồng (giảm 19 triệu đồng so với giá gói thầu là 4,005 tỷ đồng). Trong số 5 nhà thầu đã nộp HSDT, tài khoản trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia của Công ty CP Tư vấn thiết kế xây dựng Hải Nam đã hết hiệu lực từ ngày 31/3/2019 (trước thời điểm đóng thầu gần 2 tháng). Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Về việc 4/5 nhà thầu nộp bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt tại Lễ mở thầu, TS. Nguyễn Việt Hùng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý đấu thầu (nay là Cục Quản lý đấu thầu) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, theo quy định tại Thông tư 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 quy định chi tiết lập HSMT mua sắm hàng hóa, đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, nhà thầu chỉ được nộp bảo đảm dự thầu thông qua thư bảo lãnh do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam phát hành hoặc đặt cọc bằng Séc (đối với trường hợp đặt cọc). Việc 4/5 nhà thầu nộp bảo đảm dự thầu bằng tiền mặt là vi phạm quy định này [44].
- Thực tiễn áp dụng pháp luật về giá trị của bảo lãnh dự thầu
Giá trị của bảo lãnh dự thầu hay bảo đảm dự thầu đã được qui định trong Luật đấu thầu, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và các thông tư. Tuy nhiên khi phát hành hồ sơ mời thầu và hồ sơ đề xuất vẫn có một số trường hợp chủ đầu tư vẫn mắc phải lỗi tính sai giá trị của bảo lãnh dự thầu trong hồ sơ mời thầu. Việc sai sót trên đã làm tốn mất nhiều thời gian và công sức cho các bên dự thầu. Báo đấu thầu là đơn vị tiếp nhận và xử lý các phiếu thông báo mời thầu đã đăng tải một số thông tin về việc bên mời thầu tính sai giá trị của bảo lãnh dự thầu như một số trường hợp sau:
Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ký phê duyệt thông báo mời thầu Gói thầu “Mua sắm cân kiểm tra tải trọng xách tay” với giá Gói thầu là 1.080.000.000 đồng và bảo đảm dự thầu là 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, giá trị bảo đảm dự thầu áp dụng đối với gói thầu quy mô nhỏ được quy định chỉ từ 1% – 1,5% giá gói thầu. Như vậy, đơn vị này đã tính sai khi tăng giá trị bảo đảm dự thầu gấp… 3 lần so với quy định.
Công ty CP Bột giặt Lix đã thông báo mời thầu Gói thầu “Cung cấp, tháo dỡ, di dời và lắp đặt thiết bị xưởng bột giặt”, với giá Gói thầu là hơn 12 tỷ đồng và bảo đảm dự thầu là 300 triệu đồng. Với mức bảo đảm dự thầu này, có thể thấy giá trị bảo đảm dự thầu của Gói thầu đã bị tính cao hơn so với quy định là 3% [33].
Việc nhiều bên mời thầu yêu cầu sai về bảo đảm dự thầu trong hồ sơ mời thầu và thông báo mời thầu dù cách tính bảo đảm dự thầu đã được quy định rất cụ thể, không chỉ làm mất thời gian cho cơ quan có chức năng thẩm định, mà còn gây cho chủ đầu tư tốn nhiều công sức để chỉnh sửa và trình ký văn bản. Đặc biệt, sai sót này cũng làm ảnh hưởng đến thời gian lựa chọn nhà thầu, ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện dự án. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Lý giải về nguyên nhân tính sai bảo đảm dự thầu trong hồ sơ mời thầu và thông báo mời thầu, nhiều bên mời thầu đã đưa những lý lẽ rất “ngây ngô”, như cán bộ phụ trách phát hành hồ sơ mời thầu… tính nhầm, hay mỗi gói thầu do một phòng, ban khác làm vì thế có cán bộ chưa hiểu nắm rõ quy định…
Ngày 12/7/2016 Ban quản lý dự án xây dựng Sở chỉ huy Sư đoàn 309 có đăng ký thông báo mời chào hàng gói thầu mua sắm hàng hóa qui mô nhỏ, tuy nhiên lại nêu yêu cầu bảo đảm dự thầu vượt quá 1.5% giá gói thầu; Ngày 5/7/2016 Sở Y tế thành phố Cần Thơ có đăng ký thông báo mời chào hàng gói thầu mua sắm hàng hóa qui mô nhỏ, tuy nhiên lại nêu yêu cầu bảo đảm dự thầu vượt quá 1,5% giá gói thầu…
Như vậy việc nhiều bên mời thầu yêu cầu sai về bảo đảm dự thầu trong hồ sơ mời thầu và thông báo mời thầu không chỉ làm mất thời gian cho cơ quan thẩm định, mà còn gây thiệt hại cho chủ đầu tư. Đặc biệt, sai sót này gây ảnh hưởng đến thời gian lựa chọn nhà thầu, ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện dự án. Như trường hợp của Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thời gian phát hành hồ sơ mời thầu từ ngày 25/12/2015 nhưng vì phải sửa bảo đảm dự thầu nên việc lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu cho đơn vị này bị lùi lại [33].
2.3. Thực trạng vi phạm các quy định pháp luật về bảo lãnh dự thầu Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
- Vi phạm về thời hạn hiệu lực của bảo lãnh dự thầu
Cục Quản lý đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đã tiếp nhận một tình huống trong đấu thầu: Hồ sơ mời thầu quy định thời gian có hiệu lực của bảo lãnh dự thầu là 210 ngày kể từ thời điểm đóng thầu (ngày 31/3/2017), tức là bảo lãnh dự thầu của các nhà thầu tham dự thầu phải có hiệu lực tối thiểu đến ngày 26/10/2017. Tuy nhiên, bảo lãnh dự thầu của nhà thầu A phát hành ngày 25/3/2017, thời gian có hiệu lực của bảo lãnh dự thầu là 210 ngày kể từ ngày phát hành bảo lãnh, đồng nghĩa bảo lãnh dự thầu của nhà thầu A sẽ có hiệu lực đến ngày 20/10/2017.
Theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP Điều 18 Khoản 2 Điểm d quy định một trong những tiêu chí đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu là có bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạn hiệu lực đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Đối chiếu với quy định nêu trên thì bảo lãnh dự thầu của nhà thầu A không đáp ứng về thời hạn có hiệu lực đã đưa ra tại hồ sơ mời thầu và nhà thầu này được đánh giá là có hồ sơ dự thầu không hợp lệ. Trong trường hợp này, theo quy định thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu A không được xem xét, đánh giá ở các bước tiếp theo [31].
Việc bảo lãnh dự thầu không đáp ứng yêu cầu về thời hạn hiệu lực đã đưa ra tại hồ sơ mời thầu như trên không phải là hiếm gặp.
- Bảo lãnh dự thầu đề sai tên đơn vị thụ hưởng hoặc sai tên gói thầu [30]:
Công ty cổ phần Quản lý và Xây dựng cầu đường Nam Định đặt câu hỏi như sau: Công ty tham gia đấu thầu qua mạng và đã đáp ứng tất cả các nội dung chính mà hồ sơ mời thầu yêu cầu. Tuy nhiên, bảo lãnh dự thầu do ngân hàng phát hành ghi sai tên đơn vị thụ hưởng.
Theo hướng dẫn tại Khoản 17.2, Mục 17, Chương I Mẫu hồ sơ mời thầu xây lắp qua mạng (mẫu số 01) ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017/TT-BKHĐT ngày 15/11/2017 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì bảo đảm dự thầu được coi là không hợp lệ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Có giá trị thấp hơn, thời gian hiệu lực ngắn hơn so với yêu cầu quy định tại Mục 17.1 E-CDNT, không đúng tên bên mời thầu (đơn vị thụ hưởng), không có chữ ký hợp lệ hoặc có kèm theo điều kiện gây bất lợi cho bên mời thầu.
Trường hợp E-HSMT quy định đơn vị thụ hưởng là Ban Quản lý dự án giao thông nông thôn 3 (bên mời thầu) thì việc bảo lãnh dự thầu của nhà thầu ghi đơn vị thụ hưởng là Sở Giao thông vận tải tỉnh Nam Định được đánh giá là không hợp lệ theo hướng dẫn nêu trên.
Tên gói thầu là A thành gói thầu B. Sự nhầm lẫn hẳn từ gói thầu này sang gói thầu khác, không phải là lỗi chính tả, lỗi do đánh máy trong ghi tên gói thầu. Theo một chuyên gia về đấu thầu, việc ghi chính xác tên gói thầu trong thư bảo lãnh là để đảm bảo trách nhiệm tham dự thầu của nhà thầu đối với một gói thầu cụ thể. Nếu tên gói thầu trong thư bảo lãnh bị ghi “nhầm” từ gói thầu này sang gói thầu khác thì cũng tương đương với việc không có bảo lãnh dự thầu, vì bảo lãnh dự thầu như vậy là không phải cho gói thầu mà nhà thầu đang tham dự, nên không có giá trị pháp lý.
- Bảo lãnh dự thầu không do người đại diện hợp pháp ký hoặc người được ủy quyền hợp pháp của tổ chức tín dụng ký như trường hợp sau
Hồ sơ dự thầu của Agimexpharm khi dự thầu Gói thầu Mua thuốc generic cho các cơ sở y tế công lập và cơ sở y tế ngoài công lập có hợp đồng bảo hiểm y tế trong tỉnh Bình Dương năm 2015 – 2016 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương. Trong khi theo quy định của pháp luật về đấu thầu, thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên [31].
- Lợi dụng các quy định của pháp luật về bảo lãnh dự thầu để thông thầu
Khi tham gia dự thầu, đã có hiện tượng nhiều nhà thầu đã câu kết với nhau để tự loại mình ra khỏi cuộc đấu thầu bằng cách làm sai bảo lãnh dự thầu như sai tên gói thầu, không nộp bảo lãnh dự thầu hoặc nộp bảo lãnh dự thầu có giá trị không đúng với hồ sơ mời thầu. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
- Làm giả bảo lãnh dự thầu [42]:
Trường hợp Cấm Nhà thầu Gia Phúc 4 năm vì làm giả bảo lãnh dự thầu sau đây:
Giám đốc Công ty Điện lực Vĩnh Long vừa ban hành quyết định cấm Công ty TNHH Giải pháp công nghệ Gia Phúc tham gia hoạt động đấu thầu đối với toàn bộ các gói thầu do Điện lực Vĩnh Long tổ chức đấu thầu trong thời gian 4 năm. Lý do là Nhà thầu Gia Phúc đã cung cấp thông tin không trung thực khi dự thầu 1 gói thầu đấu thầu qua mạng tại đơn vị này vào tháng 5/2019.
- Giả mạo bảo lãnh dự thầu
Từ ngày 26/4 – 8/5/2019, Công ty Điện lực Vĩnh Long phát hành hồ sơ yêu cầu qua mạng của Gói thầu Mua sắm bản quyền phần mềm MS Windows Client, MS Windows Server, MS Office, MS Visual Studio, Photoshop CC và Auto CAD thuộc Dự án Trang bị bản quyền Windows, Office và các phần mềm ứng dụng khác năm 2019.
Tại thời điểm đóng thầu ngày 8/5, có 6 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu (E-HSDT) gồm: Công ty TNHH Giải pháp công nghệ Gia Phúc; Công ty TNHH Tin học Mai Phương; Công ty TNHH Tổng công ty công nghệ và giải pháp CMC; Công ty CP Công nghệ Đại Trần Gia; Công ty CP Giải pháp tin học Mặt trời; Công ty CP Công nghệ và Tư vấn CIC.
Trong quá trình đánh giá E-HSDT, Tổ chuyên gia cho biết, Công ty TNHH Giải pháp công nghệ Gia Phúc; Công ty CP Giải pháp tin học Mặt trời không đạt đánh giá sơ bộ do không đáp ứng yêu cầu về tính hợp lệ của E-HSDT. Cụ thể, Nhà thầu Gia Phúc cung cấp chứng thư bảo lãnh dự thầu do Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Phú Lâm phát hành. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Phú Lâm đã có Công văn số 0720/2019/CV-OCBPL ngày 20/6/2019 xác nhận chưa từng phát hành chứng thư bảo lãnh với các nội dung như chứng thư mà Công ty Điện lực Vĩnh Long đã nhận được từ Nhà thầu Gia Phúc. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Trên cơ sở đề xuất của Tổ chuyên gia, ngày 18/7/2019, Công ty Điện lực Vĩnh Long đã có Quyết định xử lý nhà thầu vi phạm trong đấu thầu.
Theo đó, do cung cấp các thông tin không trung thực trong E-HSDT, Công ty TNHH Giải pháp công nghệ Gia Phúc (địa chỉ tại Phường 2, Quận 11, TP.HCM) bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu đối với toàn bộ các gói thầu do Công ty Điện lực Vĩnh Long tổ chức đấu thầu trong thời gian 4 năm kể từ ngày 18/7/2019.
Theo dữ liệu của Báo Đấu thầu, trong thời gian từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2019, Nhà thầu Gia Phúc được công bố trúng 7 gói thầu. Trong 7 gói thầu này, chỉ có duy nhất Gói thầu Cung cấp, lắp đặt, triển khai hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến do Trường Đại học Nông lâm TP.HCM làm bên mời thầu không thuộc ngành điện lực. Ở 6 gói thầu còn lại, bên mời thầu đều là các đơn vị trực thuộc ngành điện lực.
Riêng tại Công ty Điện lực Vĩnh Long, Nhà thầu Gia Phúc đã từng được công bố trúng 3 gói thầu trong thời gian từ tháng 11/2015 đến nay. Đó là Gói thầu Mua bảng LED điện tử thuộc Dự án Mua sắm bảng LED điện tử lắp đặt trước phòng giao dịch tại nhà điều hành sản xuất mới của Điện lực Trà Ôn; Gói thầu Mua sắm thiết bị máy chủ chuyên dụng và phần mềm thuộc Dự án Phần mềm ảo hóa máy chủ và thiết bị ảo hóa; Gói thầu Thiết bị điều khiển và thiết bị phát sóng không dây thuộc Dự án Hệ thống mạng không dây phục vụ quản lý, điều hành sản xuất tỉnh Vĩnh Long.
Ví dụ sau đây minh chứng thêm cho hành vi làm giả bảo lãnh dự thầu: Trong quá trình tìm hiểu về quá trình đấu thầu tại gói thầu nói trên, ngoài sai phạm của Nhà thầu Gia Phúc, Công ty CP Giải pháp tin học Mặt trời là một trong những nhà thầu bị loại với lý do rất đáng lưu ý.
Cụ thể, thư bảo lãnh dự thầu không đúng tên nhà thầu (bảo lãnh dự thầu ghi tên bên yêu cầu bảo lãnh là Công ty CP Công nghệ Đại Trần Gia). Được biết, Công ty CP Công nghệ Đại Trần Gia cũng dự thầu gói thầu trên, được Tổ chuyên gia đánh giá xếp thứ 3 về giá thấp nhất (sau khi đã tính ưu đãi).
Trao đổi với Báo Đấu thầu về lý do bị loại của Công ty CP Giải pháp tin học Mặt trời, một cán bộ của Công ty Điện lực Vĩnh Long cho biết, trong quá trình chấm thầu, Tổ chuyên gia đã phát hiện sự bất thường tại E-HSDT của nhà thầu này. Tuy nhiên, Tổ chuyên gia cho rằng, chưa có đủ căn cứ để đánh giá 2 nhà thầu nêu trên có sự thông đồng, móc nối trong việc dự thầu gói thầu này. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Đấu thầu, Công ty CP Giải pháp tin học Mặt trời và Công ty CP Công nghệ Đại Trần Gia đã từng cùng tham dự một số gói thầu như: Gói thầu Trang bị màn hình vi tính và máy tính xách tay phục vụ công tác vận hành hệ thống CMIS 3.0 thuộc kế hoạch mua sắm vật tư thiết bị năm 2018 của Công ty Điện lực Sài Gòn; Gói thầu Cung cấp bản quyền phần mềm cho thiết bị tường lửa Fortinet FG-1500D (tại Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM); Gói thầu Mua (gia hạn) bản quyền phần mềm chống virus (tại Công ty Điện lực Vĩnh Long)… Tại các gói thầu này, Công ty CP Giải pháp tin học Mặt trời thường bị trượt thầu do không đạt đánh giá kỹ thuật và Công ty CP Công nghệ Đại Trần Gia trúng thầu.
Qua những vụ việc trên ta thấy hành vi làm giả bảo lãnh dự thầu để tham gia thầu nhằm thông thầu hoặc cố tính làm giả hồ sơ dự thầu đã gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước.
Những sai sót trên trong bảo lãnh dự thầu cho thấy tính chuyên nghiệp của các nhà thầu khi tham gia đấu thầu chưa cao. Đây có thể coi là lý do trượt thầu không đáng có, vì quy định của pháp luật về đấu thầu đã hướng dẫn rất rõ ràng, nhà thầu chỉ cần cẩn thận hơn là sẽ không mắc lỗi này.
Tuy nhiên, cũng có thể lý giải cho những lỗi sơ đẳng về bảo lãnh dự thầu là sự cố ý để bị trượt thầu. Đây là trường hợp bên mời thầu, chủ đầu tư cần lưu ý, thống kê tần suất “quên”, nhầm lẫn trong bảo lãnh dự thầu của cùng một nhà thầu liên tục tại nhiều gói thầu, cùng với những dấu hiệu khác, để xem xét về hành vi thông thầu.
Như vậy qua nghiên cứu thực trạng pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa ở Việt Nam đã cho thấy một số bất cập của pháp luật về đấu thầu và bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa.
Các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu chưa được cụ thể, chi tiết nên khó qui trách nhiệm cho Bên mời thầu khi họ cố tình vi phạm như trường hợp Bên mời thầu lập hồ sơ mời thầu có xây dựng thang điểm đánh giá chi tiết hồ sơ mời thầu nhưng khi đánh giá lại thay đổi, điều chỉnh dẫn đến lựa chọn nhà thầu không đảm bảo các tiêu chí trong hồ sơ mời thầu nhưng vẫn trúng thầu hoặc nhà thầu nộp bảo lãnh dự thầu không đúng qui định về hình thức, giá trị và thời hạn của bảo lãnh dự thầu, dẫn đến bảo lãnh dự thầu không hợp lệ do đó làm mất thời gian của nhà thầu và bên mời thầu khi đánh giá, xem xét hồ sơ dự thầu…
Các qui định pháp luật về đấu thầu qua mạng chưa cụ thể, chi tiết nên một số chủ đầu tư và nhà thầu còn không muốn tham gia đấu thầu qua mạng nên tính công khai, minh bạch trong công tác đấu thầu còn hạn chế.
Các qui định pháp luật về hình thức bảo lãnh dự thầu chưa được rõ ràng vì vậy có trường hợp bên dự thầu đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bên mời thầu để không nộp bảo lãnh dự thầu hoặc bảo lãnh không hợp lệ để thông thầu…
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
Thực trạng về pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay đã phù hợp với tình hình phát triển, hội nhập kinh tế của đất nước và đã cho thấy xu hướng bắt kịp với các quy định của pháp luật thế giới về bảo lãnh dự thầu. Các quy định về chủ thể, phạm vi áp dụng, hình thức áp dụng, giá trị, hiệu lực của bảo lãnh dự thầu và trách nhiệm pháp lý của các bên khi tham gia bảo lãnh dự thầu đã được quy định khá đầy đủ và cụ thể trong Luật đấu thầu và các văn bản pháp luật có liên quan.
Các quy định hiện hành về bảo lãnh dự thầu đã tạo ra hành lang pháp lý cho các bên tham gia trong quan hệ bảo lãnh dự thầu và cũng đã đóng góp vào việc tiết kiệm cho ngân sách nhà nước thông qua đấu thầu. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng những quy định về bảo lãnh dự thầu cũng đã bộc lộ một số hạn chế, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo lãnh dự thầu vẫn còn tồn tại gây ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu, làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Vì vậy nhu cầu đặt ra là có những phương hướng, giải pháp để xây dựng pháp luật về bảo lãnh dự thầu hoàn thiện hơn nữa nhằm giảm thiểu thất thoát tiền ngân sách của nhà nước trong hoạt động đấu thầu. Luận văn: Thực trạng bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp về bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về bảo lãnh dự thầu trong mua sắm hàng hóa