Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự

3.1.1. Về kết quả thực thi pháp luật

Các quy định của pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của đương sự đã không ngừng được củng cố và hoàn thiện cho phù hợp với những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế – xã hội. Hiện nay, vấn đề đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự được điều chỉnh bởi nhiều văn bản luật khác nhau (Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại…) nhưng chủ yếu tập chung và quy định cụ thể nhất là Bộ luật dân sự năm 2015 và BLTTDS năm 2015. Bộ luật dân sự 2015 đã quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn và cũng toàn diện hơn so với quy định về chế định đại diện của Bộ Luật dân sự 2005. Điều này đã góp phần làm sáng tỏ hơn những quy định của pháp luật về đại diện, giúp cho người dân dễ dàng nắm bắt quy định này để khi áp dụng chế định đại diện vào các hoạt động pháp lý dân sự được chuẩn xác và tuân thủ đúng với quy định của pháp luật. BLTTDS năm 2015 ra đời thay thế Bộ luật tố tụng dân sự 2004 trước đó đã quy định cụ thể hơn các quyền và nghĩa vụ của đương sự, quy định cả trường hợp pháp nhân có thể làm đại diện, mở rộng hơn về các chủ thể là người đại diện theo pháp luật của đương sự so với Bộ luật tố tụng dân sự 2004, các trường hợp không được làm đại diện theo pháp luật của đương sự, căn cứ chấm dứt và hậu quả pháp lý.

Điều này được thể hiện rõ qua việc các hoạt động pháp lý được xác lập, thực hiện thông qua quan hệ đại diện diễn ra hàng ngày và trong mọi mặt của đời sống xã hội như các giao dịch được đại diện thuộc về quan hệ dân sự, các trường hợp đại diện tham gia tố tụng và quyền của họ khi tham gia quan hệ pháp luật trong nước và có cả yếu tố nước ngoài. Tầm quan trọng của đại diện theo pháp luật của đương sự còn được thể hiện qua việc pháp luật quy định vai trò của người đại diện, giám hộ đối với những cá nhân không có khả năng tự mình tham gia trực tiếp vào tất cả các giao dịch dân sự, khởi kiện các vụ việc dân sự nhằm phục vụ cho đời sống, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của bản thân mình khi bị xâm phạm hay bị thiệt hại đến lợi ích chính đáng. Nhờ vào mối quan hệ đại diện đặc biệt là đại diện theo pháp luật mà những chủ thể này có thể hưởng được quyền và lợi ích mà mọi công dân điều có quyền được hưởng. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Thực tiễn trong những năm gần đây dấy lên các trường hợp bạo lực gia đình mà phổ biến nhất là việc trẻ em bị đánh đập, hành hạ bởi chính những người nuôi dưỡng mình.Vấn đề này đã gây nhức nhối, phẫn nộ và thương tâm trong dư luận xã hội. Với những em không may bị chính cha, mẹ mình hành hạ nếu không có sự can thiệp của pháp luật thì sẽ trở thành những đứa trẻ thiếu tình thương, khuyến khuyết cả về thân thể lẫn tinh thần, nhìn một cách sâu xa hơn nữa là sẽ tạo nên những mầm móng tội phạm trong tương lai. Do đó, với những cá nhân hành hạ chính con đẻ của mình sẽ không còn tư cách là người đại diện đương nhiên cho con mình nữa, những đứa trẻ này cần có người giám hộ, đại diện khác để đảm bảo được hưởng các quyền lợi và các điều kiện về vật chất, tinh thần để có thể phát triển bình thường như những đứa trẻ khác. Bên cạnh đó, không chỉ ở nước ta mà các nước có nền kinh tế thị trường điều quan tâm đến việc điều chỉnh và phát triển quan hệ pháp luật đại diện trong lĩnh vực thương mại, vì thực tiễn cho thấy quy định về đại diện theo pháp luật đặc biệt là đại diện theo pháp luật đối với một tổ chức có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển thương mại. Quan hệ đại diện dù là trong nội bộ một doanh nghiệp hay là mối quan hệ đại diện được xác lập cho hoạt động thương mại bên ngoài doanh nghiệp điều ảnh hưởng đến cơ cấu hoạt động và việc kinh doanh. Nền kinh tế càng phát triển, doanh nghiệp mới được thành lập hay các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh cũng ngày càng nhiều, các hoạt động quản lý, đàm phán làm ăn, ký kết hợp đồng kinh tế điều cần đến sự đại diện theo pháp luật của một chủ thể có khả năng hơn. Việc pháp luật quy định mối quan hệ đại diện, phạm vi, thẩm quyền của người đại diện, hậu quả pháp lý của việc đại diện không có thẩm quyền hay vượt quá thẩm quyền đều rất thực tế và cần thiết cho việc điều chỉnh các hoạt động thương mại. Ngày nay, người đại diện của đương sự không những xuất hiện trong các vụ án có đương sự là người bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay chưa thành niên mà chủ thể này còn tham gia tố tụng trong các các vụ việc dân sự mà đương sự là chủ thể có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Trải qua một thời gian áp dụng các quy định của pháp luật về người đại diện cho đương sự vào giải quyết những vụ việc trên thực tế, chúng ta đã đạt được những thành tựu, hiệu quả rõ rệt. Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho người đại diện theo pháp luật của đương sự thực hiện tốt những công việc của mình. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của đương sự có cơ hội thực hiện khá tốt các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ từ quyền khởi kiện, quyền phản đối, rút đơn khởi kiện…, tham gia phiên tòa, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án. Số lượng người đại diện theo pháp luật của đương sự tham gia vào quá trình tố tụng dân sư ngày càng tăng và có tính chuyên nghiệp hơn.

Bên cạnh những thành công này, pháp luật về đại diện trong lĩnh vực tố tụng dân sự hiện hành vẫn còn những khiếm khuyết và hạn chế nhất định. Đặc biệt là những liên quan đến thẩm quyền của người đại diện, việc xác định người đại diện theo pháp luật, những hạn chế trong mối quan hệ đại diện đối với tổ chức, các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Từ những điểm hạn chế và thiếu xót của quy định pháp luật này dẫn đến việc áp dụng chế định đại diện vào thực tiễn gặp nhiều vướng mắt và bất cập, không những gây khó khăn lúng túng cho người đại diện theo pháp luật thực hiện các hoạt động pháp lý liên quan đến quy định về đại diện theo pháp luật của đương sự khi tham gia quan hệ tố tụng, mà đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng rất khó khăn khi giải quyết một vụ việc có liên quan đến đại diện theo pháp luật của đương sự, luật chưa quy định hay quy định một cách chung chung khi gặp vụ việc thực tiễn thì khó áp dụng vào để giải quyết, các quy định về đại diện được quy định trong Bộ luật dân sự và các luật chuyên ngành khác mâu thuẫn nhau lại không có văn bản hướng dẫn cụ thể nên khi giải quyết cơ quan có thẩm quyền không biết áp dụng văn bản luật nào cho ổn thỏa.

3.1.2. Về hạn chế, vướng mắc trong thực hiện quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Trên thực tế, việc thực hiện các quy định của pháp luật về người đại diện theo pháp luật cho đương sự vẫn còn nhiều những vướng mắc, đặc biệt là trong việc xác định vai trò của người đại diện theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.v.v. Những hạn chế đó bộc lộ qua những sai phạm trong việc xét xử của Tòa án. Dưới đây là những sai phạm phổ biến của Tòa án hiện nay, trên cơ sở phân tích và đưa ra minh chứng đó, chúng ta cùng tìm nguyên nhân, đánh giá và đưa ra giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại đó.

  • Việc xác định địa vị pháp lí của người đại diện theo pháp luật của đương sự

Những vướng mắc trong việc xác định địa vị pháp lí của người đại diện theo pháp luật chủ yếu xoay quanh vấn đề xác định sai nguyên đơn, bị đơn dân sự do nhầm lẫn tư cách pháp lí của người được đại diện và người đại diện theo pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu của vi phạm này là xuất phát từ cán bộ Tòa án còn chưa thực sự vững vàng về chuyên môn hoặc thiếu cẩn trọng cần thiết khi làm việc.

  • Thứ nhất, về người đại diện theo pháp luật của đương sự là tổ chức:

Tại khoản 7 Điều 68 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Tuy vậy, trên thực tế, vẫn có Tòa án xác định người đại diện theo pháp luật của tổ chức là bị đơn – nguyên đơn dân sự khi tổ chức đó tham gia tố tụng. Có thể minh họa cho thực trạng này qua vụ việc sau đây: Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Bản án sơ thẩm số 01/LĐ-ST ngày 13/12/2015 của TAND huyện Đông Hải giải quyết vụ kiện sa thải trái pháp luật của bà Đinh Thị Thảo với công ty chế biến lâm sản Bình Thực, có giám đốc – người đại diện theo pháp luật là ông Đinh Khắc Hòa. Tòa xác định bị đơn dân sự là ông Hòa trong khi đúng ra, bị đơn phải là công ti chế biến lâm sản Bình Thực.

  • Thứ hai, về người đại diện theo pháp luật của đương sự là cá nhân:

Theo quy định của pháp luật, đối với người không có năng lực hành vi dân sự, tức họ cũng mất năng lực hành vi tố tụng dân sự, muốn tham gia tố tụng dân sự thì buộc phải thông qua người đại diện theo pháp luật. Khi tham gia tố tụng, thì người đại diện chỉ thay mặt đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Cho nên, nguyên đơn hay bị đơn trong trường hợp này phải là người được đại diện chứ không phải người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng tại Tòa án vẫn còn sự nhầm lẫn đáng tiếc này xảy ra trên thực tế. Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng cho thấy thực tiễn xác định người đại diện theo pháp luật cho các chủ thể là vấn đề phức tạp, đặc biệt là việc xác định người đại diện theo pháp luật cho cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự còn gặp nhiều khó khăn. Người viết xin đưa ra trường hợp cụ thể để thấy được sự phức tạp, lúng túng và mâu thuẫn về quy định pháp luật trong việc xác định người đại diện theo pháp luật của đương sự trong trường hợp cá nhân bị Tòa tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015 bổ sung nội dung: “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”. Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về những người thân thích cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn.

Xét theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015, khi chưa có vụ án xảy ra, thì cha, mẹ của người mất năng lực hành vi không có quyền đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự này tham gia tố tụng ly hôn. Căn cứ được quy định tại Điều 53 Bộ Luật dân sự 2015. Điều luật này quy định chỉ thực hiện việc cử người giám hộ khi người mất năng lực hành vi chưa có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 53 Bộ Luật dân sự 2015, còn ở trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự có vợ, có chồng thì theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật dân sự 2015 “Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ”. Như vậy, người chồng hoặc người vợ của người bị bệnh tâm thần này là người giám hộ đương nhiên đồng thời là người đại diện theo pháp luật. Do đó, không thể áp dụng thủ tục cử người khác dù người đó là cha, mẹ làm giám hộ trong khi người chồng, vợ vẫn đang là người giám hộ theo pháp luật. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Tuy nhiên, ý kiến trên lại vấp phải sự phản đối bởi lẽ nếu người chồng, vợ của người mất năng lực hành vi là người giám hộ đương nhiên cũng chính là người đại diện cho người này khi tham gia tố tụng sẽ dẫn tới họ vừa là nguyên đơn, vừa là người đại diện của bị đơn. Như vậy, người đại diện là người chồng, vợ của người mất năng lực hành vi này sẽ được tự ý quyết định mọi việc bao gồm tài sản và con chung. Điều này không đảm bảo công bằng cho người mất năng lực hành vi, đi ngược lại với nguyên tắc của chế định đại diện là hành động vì quyền và lợi ích cho người được đại diện. Hơn nữa, còn một điểm chưa thỏa đáng nữa là theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ Luật dân sự 2015 thì mọi giao dịch của người mất năng lực hành vi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện do đó việc ly hôn cũng không ngoại lệ. Nhưng với những phân tích ở trên thì để vợ, chồng làm người giám hộ cho nhau thì không bảo đảm được quyền lợi của chủ thể còn lại do quyền lợi của hai bên có sự mâu thuẫn. Mặt khác, Tòa cũng không thể cử cha, mẹ hoặc người khác làm người giám hộ cho người mất năng lực hành vi vì như thế sẽ trái với quy định tại Điều 54 Bộ Luật dân sự 2015 là Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cử người giám hộ khi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi không có giám hộ đương nhiên. Cũng theo Điều luật này thì Tòa án chỉ được chỉ định người giám hộ nếu có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của BLDS năm 2015 về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ.

Trường hợp thứ hai, xét theo BLTTDS năm 2015 khi đã có vụ án diễn ra thì cha, mẹ của người mất năng lực hành vi có thể được chỉ định đại diện cho người mất năng lực hành vi để tham gia tố tụng ly hôn. Trường hợp này căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015 để thực hiện việc chỉ định cha hoặc mẹ của người bị mất năng lực hành vi dân sự làm người giám hộ vì khi này vợ, chồng của người mất năng lực hành vi dân sự rơi vào trường hợp không thể trở thành người đại diện theo pháp luật để tham gia tố tụng “Những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật: nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người đại diện mà quyền và lợi ích của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp với người được đại diện”. Từ đó, Tòa án cần áp dụng thêm quy định tại Điều 88 BLTTDS năm 2015 để chỉ định người đại diện cho đương sự: “Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.”. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Như vậy, khi người chồng hoặc vợ của người bị mất năng lực hành vi cũng là đương sự trong vụ án dân sự này và có quyền lợi đối lập với người bị mất năng lực hành vi dân sự nên không thể trở thành người đại diện theo pháp luật được thì Tòa án có thể chỉ định cha, mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự làm người đại diện tham gia tố tụng. Nếu giải thích pháp luật theo hướng này thì rất đơn giản và thuận tiện cho Tòa án, nhưng quy định ở điểm a khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015 này là để áp dụng trường hợp đã có vụ án xảy ra “Khi tiến hành tố tụng” có vụ án mới có đương sự cho nên trường hợp này chỉ được áp dụng khi người vợ hoặc chồng của người mất năng lực hành vi dân sự khởi kiện xin ly hôn với người vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự khi này sẽ áp dụng điểm a khoản 1 Điều 87 và Điều 88 BLTTDS năm 2015 để Tòa án chỉ định cha, mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự làm người đại diện tham gia tố tụng.

Theo phân tích trên thì: trường hợp thứ nhất, vụ án chưa diễn ra, thì theo khoản 2 Điều 47 Bộ Luật dân sự 2015 “Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu” và khoản 1 Điều 53 Bộ Luật dân sự 2015 vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ. Lúc này, cha, mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự không có quyền đại diện cho họ tham gia tố tụng ly hôn. Còn trường hợp thứ hai, có vụ án diễn ra. Tức là vợ, chồng đã khởi kiện xin ly hôn với vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự thì lúc này ta áp dụng điểm a khoản 1 Điều 75 và Điều 88 BLTTDS năm 2015, Tòa án chỉ định người đại diện cho chồng, vợ mất năng lực hành vi, như vậy cha, mẹ có quyền đại diện cho con mất năng lực hành vi dân sự tham gia tố tụng ly hôn.

Qua những phân tích trên, cho thấy việc quy định về cha, mẹ thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là thực sự cần thiết, họ chính là người đại diện cho một trong hai bên đương sự khi tham gia quá trình tố tụng. BLTTDS năm 2015 cần có các văn bản hướng dẫn về quy định đại diện với các vụ án ly hôn khi chồng hoặc vợ mất năng lực hành vi dân sự. Cụ thể, khi giải quyết về tài sản và con chung mà xét thấy có ảnh hưởng đến quyền lợi của người bệnh thì cần phải có người đại diện của họ tham gia. Pháp luật cần quy định rõ điều kiện để người đại diện trong trường hợp này có thể tham gia tố tụng theo hướng xác định cụ thể có cần phải thỏa mãn cả hai điều kiện là con bị tâm thần đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình hay không.

  • Về người đại diện do Tòa án chỉ định Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Người đại diện do Tòa án chỉ định là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích cho đương sự theo sự chỉ định của Tòa án. Thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự rất hiếm khi có người đại diện do Tòa án chỉ định tham gia tố tụng. Người đại diện theo pháp luật do Toà án chỉ định trong dân sự không đồng nghĩa với người đại diện do Toà án chỉ định trong tố tụng dân sự. Quy định tại các Điều 23, Điều 24 Bộ luật dân sự 2015 cho phép Toà án chỉ định người đại diện theo pháp luật khi quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, trong khi tiến hành giải quyết vụ việc dân sự thì Toà án chỉ định người đại diện nếu đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp không được làm người đại diện. Vì vậy, nếu trước đó Toà án đã tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi và quyết định người đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự trong các quan hệ về dân sự thì họ là người đại diện theo pháp luật trong dân sự và họ vẫn có thể là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự ở vụ kiện phát sinh sau này. Còn chỉ định đại diện theo Điều 88 BLTTDS năm 2015 là chỉ định người đại diện mang tính tức thì trong vụ việc dân sự mà Toà án đang giải quyết nhưng không có ai làm người đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người đại diện thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015.

Ví dụ: A nghiện ma túy nên B yêu cầu Toà tuyên bố A hạn chế năng lực hành vi dân sự. Toà đã ra quyết định giải quyết việc dân sự tuyên bố A bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và chỉ định trong quyết định: B là người đại diện theo pháp luật để quản lý tài sản (căn nhà) mà cha mẹ để lại chung cho A và B. Căn nhà đó A đã bán cho C và C là người đang chiếm giữ nhà. B khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng giữa A và C vô hiệu. Vậy A có thể tự mình tham gia tố tụng với tư cách là đương sự được không? Và B có phải là người đại diện theo pháp luật của A trong vụ án đòi nhà này hay không?

Trong ví dụ trên B là người đại diện theo pháp luật được Toà án chỉ định trong quan hệ dân sự (quản lý căn nhà), do vậy nếu B kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán nhà (giữa A và C) là vô hiệu thì B không thể là người đại diện theo pháp luật cho A trong tố tụng dân sự do quyền và lợi ích hợp pháp của A và B đối lập. Nên, Toà án phải chỉ định người đại diện cho A. Còn các quan hệ pháp luật nội dung khác mà A tham gia như quan hệ nhân thân hoặc quan hệ về hôn nhân gia đình, lao động thì B không là người đại diện trong quan hệ nội dung mà A có toàn quyền để định đoạt. Do vậy, A có thể tự mình tham gia tố tụng trong các quan hệ pháp luật nội dung khác. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Ngoài ra, trong thực tế còn có trường hợp đương sự là người vắng mặt không có tin tức mà không có người đại diện hoặc người đại diện của họ thuộc trường hợp không được làm người đại diện quy định tại Điều 75 BLTTDS năm 2015. Do pháp luật không có quy định về vấn đề này nên mỗi Toà án lại có cách vận dụng khác nhau, nhiều Toà án không chỉ định người đại diện trong những trường hợp trên dẫn tới hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảo vệ. Luật cần có các văn bản hướng dẫn hay có quy định về việc Tòa án chỉ định đối với những trường hợp này.

BLTTDS năm 2015 quy định về trường hợp đại điện do Tòa án chỉ định, người đại diện do Tòa án chỉ định có quyền và nghĩa vụ giống đương sự, không hạn chế phạm vi đại diện, nhưng pháp luật lại không có các văn bản hướng dẫn quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác định như thế nào? Nếu đương sự và người đại diện của họ không thống nhất trong việc giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ xác định căn cứ vào quyết định của đương sự hay người đại diện của họ? Cần có các quy định để hướng dẫn áp dụng quy định này để dễ dàng áp dụng vào các vụ việc xảy ra trên thực tế xét xử tại Tòa án.

  • Đương sự người thì bắt buộc phải người đại diện hay không

Trong thực tiễn xét xử, ngành Toà án đã gặp không ít trường hợp đương sự xin ly hôn là người có nhược điểm về thể chất như bị mù, bị tàn tật… Một vấn đề đã được đặt ra: Tòa có cần chỉ định người đại diện theo pháp luật cho họ hay không. Vụ việc sau đây là một ví dụ: Đầu năm 2013, anh Doãn Đức Minh đã nộp đơn đến TAND một quận tại TP.HCM xin ly hôn với vợ sau 20 năm chung sống, có với nhau hai mặt con chung. Do bị mù bẩm sinh nên anh Minh nhờ người khác viết đơn xin ly hôn, sau đó anh điểm chỉ xác nhận vào đơn. Nhận được lá đơn của anh Minh, trong nội bộ TAND quận đã phát sinh hai luồng quan điểm khác nhau về hướng giải quyết: Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Quan điểm thứ nhất cho rằng Toà án cứ việc thụ lý, giải quyết vụ ly hôn này theo thủ tục thông thường bởi anh Minh bị mù nhưng nhận thức vẫn tỉnh táo, bình thường, tức anh có nhược điểm về thể chất chứ không phải là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng Toà án phải chỉ định người đại diện theo pháp luật cho anh Minh để tham gia tố tụng bởi anh bị mù thì không thể làm những việc thông thường như viết đơn, đọc các văn bản tố tụng. Ngay cả một chuyện đơn giản là nếu để tự đi đến tòa, tìm phòng làm việc của Thẩm phán, anh Minh cũng đã gặp khó khăn rồi. Việc chỉ định người đại diện khi tham gia quá trình tố tụng là cần thiết vì chính quyền lợi của anh Minh…

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 thì chỉ có người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình mới bị xem là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Như vậy, người có nhược điểm về thể chất như bị mù, bị câm, bị liệt, bị tàn tật… không thể coi là bị hạn chế năng lực hành vi theo luật. Do đó, Toà án cũng không có quyền chỉ định người đại diện bắt buộc cho họ. Chưa kể, ly hôn là quyền nhân thân được quy định tại Điều 25 Bộ Luật dân sự 2015. Về nguyên tắc, việc này phải do chính đương sự thực hiện, không thể chuyển giao cho người khác. Người có nhược điểm về thể chất vẫn nhận thức được hành động, vẫn thể hiện rõ được ý chí của mình trong chuyện ly hôn. Như vậy, gặp các trường hợp này, Toà án vẫn có thể tiến hành các thủ tục tố tụng bình thường.

Tuy nhiên, để việc giải quyết vụ án được thuận lợi, Toà án nên chủ động tìm phiên dịch viên trong trường hợp đương sự bị câm điếc; hướng dẫn người bị mù, bị liệt tìm người giúp đỡ mình viết đơn, đọc các văn bản tố tụng…Thực tế, một khi đương sự đã tham gia tố tụng thì cũng có ý thức chủ động tìm người giúp mình, chẳng hạn như trường hợp của anh Minh nói trên. Hoặc có thể quy định một cách chi tiết tại Điều 88 BLTTDS năm 2015 về việc Tòa án chỉ định người đại diện trong trường hợp đương sự có nhược điểm hạn chế về thể chất, như thế quyền và nghĩa vụ của họ được đảm bảo và dễ dàng áp dụng trong thực tiễn xét xử.

  • Xác định sai tư cách tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự vẫn còn tồn tại

Tổ chức là một thực thể pháp lý nên việc tham gia tố tụng của tổ chức là đương sự trong tố tụng dân sự phải thông qua hành vi của người đại diện. Vì vậy, trong mọi trường hợp dù người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó khởi kiện hay bị khởi kiện thì bản án cũng phải xác định tổ chức đó là nguyên đơn hay bị đơn chứ không thể xác định người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó là nguyên đơn hay bị đơn. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều bản án đã xác định không đúng tư cách đương sự của các tổ chức khi các tổ chức này tham gia tố tụng. Có thể minh hoạ cho thực trạng này qua một vụ việc sau đây:

Vụ án tranh chấp về kỷ luật sa thải, có nội dung như sau: Anh Trần Văn H là nhân viên công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Hòa, thường xuyên đi làm muộn, không hoàn thành nhiệm vụ vì vậy bị Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Hòa, ông Đinh Văn T ra quyết định sa thải. Bất bình với quyết định này, anh A khiếu nại lên giám đốc công ty. Sau khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, anh A khởi kiện yêu cầu Toà án hủy quyết định sa thải.

Trong bản án sơ thẩm số 12/LĐST ngày 23/2/2013 của Toà án nhân dân huyện MĐ xác định ông Đinh Văn T, Giám đốc công ty Minh Hòa là bị đơn. Việc xác định bị đơn như vậy là không đúng vì công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Hòa mới là người sử dụng lao động còn ông Đinh Văn T chỉ là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Tháng 3-2014, ông Nguyễn Ngọc Hùng đã ký hợp đồng làm bảo vệ kiêm sửa chữa điện nước cho Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tại thành phố Hồ Chí Minh, sau đó hai bên ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Cuối năm 2008, hai bên ký tiếp phụ lục hợp đồng, thay đổi tên của bên sử dụng lao động vì lúc này văn phòng chuyển thành cơ quan đại diện Bộ TN&MT tại TP.HCM (gọi tắt là cơ quan đại diện). Đầu năm 2015, khu tập thể của cơ quan đại diện mất hai chiếc xe máy. Cơ quan này đã ra văn bản buộc ông Hùng phải bồi thường cho hai chủ xe mỗi người 10 triệu đồng, trừ vào tiền làm thêm giờ. Tiếp đó tháng 9-2015, cơ quan ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Hùng, lý do là ông không hoàn thành nhiệm vụ, để mất tài sản. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Không đồng ý, ông Hùng khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận 1 (TP.HCM) yêu cầu tòa hủy quyết định trên, buộc cơ quan phải nhận ông làm việc trở lại và bồi thường thiệt hại trong những ngày không được làm việc. Sau đó, ông Hùng thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu hủy quyết định cho thôi việc, không yêu cầu trở lại làm việc nhưng cơ quan đại diện phải giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc, giao sổ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bồi thường tiền lương những ngày không được làm việc cộng với hai tháng lương.

Nhận đơn kiện, Tòa án nhân dân quận 1 đã xác định cơ quan đại diện là bị đơn và người đứng đầu cơ quan đại diện là người đại diện hợp pháp của cơ quan đại diện Bộ TN&MT tại TP.HCM. Tháng 5-2016, Tòa án này xử sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Hùng, hủy quyết định cho thôi việc, buộc cơ quan đại diện bồi thường các khoản như ông Hùng yêu cầu. Sau đó, đại diện theo pháp luật của cơ quan đại diện kháng cáo, cho rằng tòa xử như vậy là không khách quan, đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu của ông Hùng.

Hai tháng sau, tại phiên xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố, đại diện Viện kiểm sát nhân dân đã cho rằng việc Tòa án nhân dân Quận 1 xác định tư cách bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn như trên là sai về tố tụng theo Điều 74 Bộ luật dân sự 2015 nên đề nghị hủy án để xử sơ thẩm lại. Theo đại diện Viện kiểm sát, bị đơn trong vụ kiện này phải được xác định là Bộ TN&MT và người đại diện theo pháp luật của bị đơn phải là Bộ trưởng Bộ TN&MT.

Tòa án nhận định cơ quan đại diện là đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT, là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của Bộ, phụ thuộc theo sự phân bổ ngân sách Nhà nước và phân cấp của Bộ, không phải là cơ quan hạch toán độc lập. Do vậy, cơ quan này có tư cách pháp nhân nhưng không đầy đủ, vẫn chỉ là một đơn vị phụ thuộc vào pháp nhân là Bộ TN&MT.

Cuối cùng, tòa phúc thẩm đã kết luận: Việc tòa sơ thẩm xác định bị đơn trong vụ án là cơ quan đại diện là không đúng quy định của pháp luật dân sự. Khi thụ lý vụ án, thấy ông Hùng khởi kiện không đúng đối tượng, lẽ ra tòa sơ thẩm phải hướng dẫn ông Hùng xác định lại nhưng không làm, đồng thời chính tòa cũng xác định sai. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho ông Hùng, tòa phúc thẩm đã tuyên hủy án sơ thẩm để giải quyết lại. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Qua thực trạng trên, theo tác giả, cần phải ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung và căn cứ pháp lý để xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn khởi kiện, người đại diện theo pháp luật. Từ đó, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát từ khi thụ lý đến khi nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên tòa xét xử. Kiểm sát viên kịp thời phát hiện những vi phạm của Tòa án để tham mưu cho lãnh đạo Viện ban hành kháng nghị để khắc phục những sai sót của bản án sơ thẩm.

  • Bỏ quy định về hộ gia đình và tổ hợp tác về người đại diện theo pháp luật

Trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định nào giải thích hay định nghĩa thế nào là hộ gia đình – với tư cách là một chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật dân sự. Qua tìm hiểu, tôi thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về hộ gia đình như: Có người đồng nhất khái niệm hộ gia đình trong BLDS với hộ gia đình theo hộ khẩu; có người hiểu hộ gia đình là chủ thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là đối tượng nộp thuế theo Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994; có người hiểu hộ gia đình là chủ thể được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ gia đình theo NĐ88/2006/NĐ – CP về đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, dưới góc độ là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì BLDS lại chưa xây dựng được khái niệm về hộ gia đình và các điều kiện của một hộ gia đình.

Điều 107 BLDS 2005 quy định về đại diện của hộ gia đình: “Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự”. Điều luật trên không quy định về cách thức hay căn cứ để xác định cá nhân nào sẽ được công nhận là “chủ hộ”: theo sổ hộ khẩu, theo phong tục hay theo thỏa thuận? Trong hệ thống pháp luật hiện hành thì khái niệm “chủ hộ” có thể tìm thấy trong số hộ khẩu nhưng những người có tên trong một quyển sổ hộ khẩu không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với một gia đình, hoặc ngược lại vì còn thiếu các điều kiện về mối quan hệ nhân thân hay điều kiện về tài sản chung. Nếu phong phong tục, tập quán thì có khái niệm “chủ gia đình” là những người cao tuổi, có khả năng quán xuyến công việc chung nhưng để khẳng định rằng họ có quyền đại diện cho cả hộ gia đình khi xác lập các giao dịch thì không chắc vì còn thiếu các điều kiện về năng lực hành vi dân sự…Theo tôi, chủ hộ gia đình phải do các thành viên thỏa thuận cử ra bằng văn bản có đầy đủ chữ ký của tất cả các thành viên trong hộ gia đình. Đây là nội dung là BLDS cần phải làm rõ khi quy định về Hộ gia đình. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Việc quy định hộ gia đình, tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự như BDS năm 2005 đã gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác vì hầu như không có hộ gia đình, tổ hợp tác là nguyên đơn hay bị đơn dân sự. Các thành viên của hộ gia đình thường xuyên có sự thay đổi (do tách, nhập, sinh, tử, kết hôn…) nên việc xác định thành viên của hộ gia đình khi có tranh chấp để xác định quyền và nghĩa vụ gặp nhiều khó khăn. Khó xác định “tài sản chung của hộ gia đình”, “lợi ích chung” của hộ gia đình khi tham gia quan hệ dân sự và điều đó gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm dân sự của cá nhân hay trách nhiệm dân sự của hộ gia đình. Ngoài ra về tổ hợp tác, hiện nay có gần 80% tổ hợp tác không đăng ký chứng thực và các quy định về tổ hợp tác hiện hành gây nhiều khó khăn trong việc xác định tư cách pháp lý của tổ hợp tác, phân định trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác và trách nhiệm dân sự của từng thành viên tổ hợp tác.

Bộ LTTDS năm 2015 đã bỏ chủ hộ ra khỏi các chủ thể đại diện theo pháp luật của đương sự khi tham gia tố tụng. Điều 101 BLDS năm 2015 đã đã xác định chủ thể tham gia quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì không mặc nhiên chủ hộ là người đại diện theo pháp luật của các thành viên trong gia đình, khi tham gia vào quá trình tố tụng. Hạn chế của điều khoản của BLDS năm 2005 và BLTTDS năm 2004 là đồng nhất chủ hộ là người đại diện cho cả hộ khi tham gia vào quá trình tố tụng, mà không xét đến trường hợp các thành viên trong hộ gia đình đó không đồng ý hoặc không muốn chủ hộ đại diện cho cá nhân mình tham gia vào quá trình tố tụng. Việc xác định người đại diện của hộ gia đình tham gia vào quá trình tố tụng được thông qua văn bản ủy quyền, nếu thay đổi người đại diện thì phải báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết. Nếu thành viên trong hộ gia đình tham gia vào quan hệ dân sự mà không được các thành viên khác ủy quyền thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.

Như vậy, BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015 đã bỏ Hộ gia đình và tổ hợp tác ra khỏi các trường hợp đại diện theo pháp luật là hết sức cần thiết, đáp ứng được những vướng mắc khó khăn thực tế của hộ gia đình khi tham gia tố tụng. Việc quy định quan hệ đại diện theo pháp luật của đương sự bao gồm có cá nhân và pháp nhân là phù hợp thông lệ quốc tế.

3.1.3. Về nguyên nhân của hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Như đã phân tích tại Chương 2, trong quá trình giải quyết các vụ án, Toà án cũng như người đại diện của đương sự đã gặp phải nhiều sai sót, vướng mắc khi áp dụng các quy định về người đại diện của đương sự. Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan sau đây.

  • Nguyên nhân khách quan

Trong công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án, do hướng dẫn áp dụng pháp luật không rõ ràng, cụ thể nên số lượng án hủy do xác định sai người đại diện theo pháp luật của đương sự vẫn còn tồn tại. Một số trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự chưa phối hợp với Toà án, thậm chí chưa làm hết trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật như lưu giữ chứng cứ nhưng không cung cấp cho Tòa án kịp thời, không trả lời xác minh của Toà án theo quy định của pháp luật… làm cho quá trình giải quyết vụ án cũng gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, những vướng mắc, bất cập và kinh nghiệm trong việc thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của đương sự cũng không được trao đổi, rút kinh nghiệm thường xuyên nên tình trạng sai lầm, bất cập vẫn không được khắc phục.

Mặt khác, một số quy định của pháp luật chưa rõ ràng, cụ thể và chưa thực sự phù hợp với thực tế cuộc sống nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự chưa được ngành tư pháp và các cơ quan liên quan phối hợp kịp thời hướng dẫn làm ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết các vụ án.

  • Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, còn có một số nguyên nhân chủ quan sau:

Một số Thẩm phán chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, nắm bắt pháp luật chưa tốt. Trong Báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và triển khai công tác năm 2014 của ngành Toà án nhân dân đã chỉ ra rằng tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ, công chức Toà án chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay. Việc thực hiện các quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự đòi hỏi cán bộ Toà án phải nắm vững cả các quy định về người đại diện trong pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các quy định về đại diện trong tố tụng dân sự, mối liên hệ giữa đại diện trong pháp luật nội dung và đại diện trong pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các công trình nghiên cứu lý luận về vấn đề này rất hiếm hoi. Các bài viết trao đổi về vấn đề này trên Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí Luật học cũng giữ một số lượng còn khiêm tốn.

Về phía người đại diện, thường thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng và sự hiểu biết pháp luật cần thiết. Do đó, khi tham gia tố tụng những người này thường không thực hiện được những quy định của pháp luật về người đại diện của đương sự, không có khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự. Để khắc phục sự yếu kém này, có những đại diện tìm cách “đi cửa sau”, “làm thân” với những người tiến hành tố tụng.Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việc thực thi các quy định về người đại diện của đương sự không đạt được hiệu quả như mong muốn.

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

  • Có các văn bản hướng dẫn quy định chỉ định người đại diện tại Điều 88 BLTTDS năm 2015

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015, “Khi tiến hành tố tụng” nếu đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 54 của BLDS năm 2015 thì nếu người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ. Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ. Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng không có quy định về đại diện theo pháp luật trong trường hợp đương sự là người có nhược điểm về thể chất tới mức không thể tham gia tố tụng (như người bị mù cả hai mắt, điếc cả hai tai) hoặc người vắng mặt không có tin tức trong việc dân sự về yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc đã chết.

Do vậy, nhằm bảo đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong những trường hợp nói trên, cần có văn bản hướng dẫn thi hành Điều 88 BLTTDS năm 2015 theo hướng đương sự là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự mà không có giám hộ đương nhiên và chính quyền địa phương cũng không cử giám hộ thì Tòa án có quyền chỉ định người giám hộ. Tòa án có quyền chỉ định người đại diện đối với trường hợp đương sự là người có nhược điểm về thể chất tới mức không thể tham gia tố tụng (như người bị mù cả hai mắt, điếc cả hai tai) hoặc người vắng mặt không có tin tức trong việc dân sự về yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc đã chết. Tòa án có quyền chỉ định trong trường hợp đương sự vắng mặt, không có tin tức hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện theo pháp luật, kể cả trường hợp có người đại diện theo pháp luật mà người này thuộc trường hợp không được đại diện. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

BLDS năm 2015 đã bổ sung quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tuy nhiên, một số VBQPPL hiện hành mới chỉ quy định về mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự trên cơ sở cụ thể hóa BLDS năm 2005 mà chưa có quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó, thiếu căn cứ áp dụng để thực hiện, bảo vệ quyền của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trong việc xác định hiệu lực của giao dịch, hiệu lực của việc đại diện như quy định tại khoản 6 Điều 157 Luật Nhà ở năm 2014; khoản 6, khoản 7 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012… Vì vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới VBQPPL hướng dẫn việc áp dụng pháp luật đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trong quan hệ dân sự cụ thể.

  • Hướng dẫn quy định tại khoản 6 Điều 69 BLTTDS năm 2015 về trường hợp đương sự và người đại diện của đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng mà không thống nhất được ý kiến với nhau

Trường hợp đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này, Toà án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng (khoản 6 Điều 69 BLTTDS năm 2015). Sở dĩ pháp luật quy định phải triệu tập người đại diện theo pháp luật của đương sự vì các đương sự này chưa có đủ năng lực hành vi nên trong trường hợp vụ việc phức tạp họ không thể đưa ra được quyết định chính xác, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có dự liệu về hệ lụy của quy định này: Khi cả đương sự và người đại diện của đương sự cùng tham gia tố tụng rất có thể họ sẽ có những quyết định khác nhau liên quan tới nội dung vụ án. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Mục đích của việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự là thay mặt đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, do vậy, cần có những quy định bổ sung theo hướng trong trường hợp đương sự và người đại diện mâu thuẫn nhau trong việc giải quyết vụ án thì Toà án phải quyết định lựa chọn sao cho bảo đảm tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy cần có văn bản hướng dẫn thi hành điều luật này theo hướng “Nếu đương sự và người đại diện cuả họ không thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án thì Toà án phải lựa chọn quyết định có lợi nhất cho đương sự”.

  • Hướng dẫn thi hành Điều 271 và Điều 186 BLTTDS 2015

Theo kết quả nghiên cứu tại Chương 2 thì hiện nay pháp luật chưa quy định rõ: Người đại diện theo pháp luật của đương sự và đương sự có thể thông qua người đại diện theo ủy quyền khởi kiện, kháng cáo hay không dẫn tới vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Do vậy, để bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự cần quy định người đại diện theo ủy quyền của đương sự có quyền đứng đơn khởi kiện, kháng cáo vụ án dân sự nếu đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền. Từ lập luận này, chúng tôi kiến nghị có các văn bản hướng dẫn thi hành Điều 243 và Điều 161 BLTTDS năm 2015 như sau:

  • “Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người mà mình làm đại diện theo pháp luật”.

  • “Điều 271. Người có quyền kháng cáo

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.”

  • Sửa đổi bổ sung về quyền và nghĩa vụ của người đại diện

Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn nào quy định chính xác về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật, hầu hết các quy định đều hướng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Theo tôi cần có văn bản hướng dẫn hoặc có các điều khoản cơ bản quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự, tránh tình trạng mang tính hình thức, không thực hiện được, đồng thời cũng có cơ chế nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đại diện trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, tránh trường hợp làm việc thờ ơ, đối phó, không hết mình nhất là những trường hợp đại diện do Tòa án chỉ định. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

  • Hoàn thiện hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015

BLTTDS năm 2015 mới có hiệu lực trong thời gian gần đây nên đội ngũ cán bộ Tòa án cũng như người dân chưa thể nắm bắt được hết nội dung các quy định của BLTTDS năm 2015 về người đại diện theo pháp luật của đương sự. Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành những văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành chi tiết những quy định đó.

Điều 136, Điều 137, Điều 138 BLDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung quy định về đại diện theo pháp luật theo hướng:

  • Sửa đổi quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân gồm có “người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án” (thay cho quy định “người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” của BLDS năm 2005);
  • Quy định đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là đại diện theo ủy quyền (thay cho quy định đại diện đương nhiên “chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình; tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác” của BLDS năm 2005);
  • Pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và pháp nhân có thể là người đại diện theo ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác.

Tuy nhiên, một số VBQPPL hiện hành được ban hành trên cơ sở cụ thể hóa quy định của BLDS năm 2005 nên chưa bảo đảm tính thống nhất với BLDS năm 2015.

  • Ví dụ:

Khoản 6 Điều 4, khoản 2 Điều 74, khoản 2 Điều 120 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Thành viên của quỹ tín dụng nhân dân bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các pháp nhân góp vốn khác. Tổ chức tài chính vi mô phải duy trì tỷ lệ tổng dư nợ các khoản cấp tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ trong tổng dư nợ cấp tín dụng không thấp hơn tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định”.

  • Luật nhà ở năm 2014 và Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật nhà ở quy định “hộ gia đình” là đối tượng áp dụng của Luật và Nghị định và được tham gia vào các giao dịch mua, bán, cho thuê, tặng cho, thừa kế… nhưng chưa hướng dẫn về việc giao kết hợp đồng của hộ gia đình.
  • Khoản 3 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật…”.Cụm từ “người khác” chưa có hướng dẫn về cách hiểu có bao gồm pháp nhân hay không.
  • Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác, Thông tư số 04/2008/TT-BKH ngày 9/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 151/2007/NĐ-CP và nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã và đang ghi nhận tổ vay vốn với nền tảng là mô hình tổ hợp tác. Các văn bản quy phạm pháp luật này ghi nhận tổ trưởng tổ hợp tác là người đại diện cho tổ trong các giao dịch…

Vì vậy cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn cụ thể cơ chế đại diện của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân theo hướng bảo đảm phù hợp với quy định mới của BLDS năm 2015.

Ngoài ra để pháp luật tố tụng dân sự được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Không những nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Tòa án cũng như nâng cao nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân dân. Song song với đó cần không những tăng cường công tác quản lý, giáo dục về tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ Tòa án.

Một thực tế đáng buồn phải ghi nhận ở Việt Nam chúng ta đó là trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế.Có 90% nông dân Việt Nam không hiểu biết pháp luật.Điều này là một hạn chế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Chính vì vậy mà nâng cao nhận thức nói chung và nhận thức pháp luật nói riêng cho người dân phải được kiên trì thực hiện, và thực hiện một cách tích cực, thiết thực chứ không được mang tính hình thức, qua loa. Vì vậy cần tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục cho người dân nhằm giúp họ hiểu biết cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Trong thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đại diện theo pháp luật của đương sự tại các Toà án thời gian qua đã cho thấy bên cạnh những thành tựu đạt được thì tình trạng xác định sai tư cách tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự; không bảo đảm thực hiện các quy định về quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đại diện của đương sự vẫn còn tồn tại. Ngoài ra, bản thân người đại diện theo pháp luật của đương sự không thực hiện hoặc không thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, có những hành vi cản trở hoạt động tố tụng cũng là một hiện tượng cần có giải pháp khắc phục. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập từ chính những khiếm khuyết của pháp luật như quy định chưa rõ ràng, thiếu tính cụ thể, nhiều vấn đề về người đại diện theo pháp luật còn chưa được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên nhân của thực trạng trên, một mặt do các quy định pháp luật chưa đầy đủ, thiếu chi tiết cũng như chưa phù hợp, một phần do nhận thức những vấn đề lý luận về đại diện theo pháp luật của đương sự chưa thực sự đầy đủ, sâu sắc của một bộ phận Thẩm phán, cán bộ Toà án. Mặt khác, thực trạng này còn do sự thiếu hiểu biết hoặc thiếu ý thức khi tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự. Ngoài ra, việc kiểm tra, giám sát và tổng kết, rút kinh nghiệm tại các Toà án chưa được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả.

Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật, luận văn đã luận giải và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật được thuận lợi và thống nhất.

KẾT LUẬN CHUNG

Để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người dân cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật mà đặc biệt là chế định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự là điều hết sức cần thiết.Chế định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự không phải là vấn đề mới trong hệ thống pháp luật nước ta. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

Thông qua hai Bộ luật dân sự là Bộ Luật dân sự 2015 và BLTTDS năm 2015 quy định chi tiết về đại diện theo pháp luật của đương sự thì chúng ta có thể thấy được mối quan hệ đại diện cho nhau, và quyền nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật để thực hiện các hoạt động pháp lý trong đời sống xã hội được công nhận, tôn trọng và áp dụng một cách rộng rãi. Chế định đại diện là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất cho dù có gặp khó khăn hay trở ngại gì. Đặc biệt là đối với các chủ thể không đủ khả năng tự mình tham gia vào các hoạt động pháp lý của đời sống xã hội thì chế định đại diện theo pháp luật như là một liệu pháp hữu hiệu nhất giúp những chủ thể này hưởng được mọi lợi ích từ những giao dịch thông qua sự đại diện của người khác. Từ đó, chế định đại diện góp phần khẳng định thêm bản chất pháp lý của pháp luật nước ta là mọi cá nhân từ khi sinh ra điều có quyền được hưởng và thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình. Ngoài ra, quy định về đại diện theo pháp luật còn là giải pháp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những cá nhân trong một tập thể, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu trong lĩnh vực thương mại phát triển, bảo vệ tốt quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ tố tụng.

Nhưng cũng từ thực tế và qua nghiên cứu của đề tài này ta thấy rằng, khi mà có quá nhiều hoạt động pháp lý diễn ra hàng ngày, hàng giờ, nhiều vấn đề cần được điều chỉnh trong đời sống xã hội thì sự thiếu sót trong việc ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh về mối quan hệ đại diện là không thể tránh khỏi. Từ những thiếu sót này dẫn đến những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ pháp lý đại diện không kém phần phức tạp, rắc rối đến thực tiễn cuộc sống. Như việc gặp khó khăn trong việc xác định người đại diện theo pháp luật, quy định về quan hệ đại diện theo pháp luật trong Bộ luật dân sự 2015 và BLTTDS năm 2015 và chế định đại diện trong các ngành luật khác còn chưa đồng bộ.

Việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự hiện hành cho thấy pháp luật đã có những quy định khá đầy đủ chi tiết về người đại diện theo pháp luật của đương sự. Các quy định này là cơ sở pháp lý cho Toà án xác định điều kiện và tư cách của người đại diện, bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đại diện theo pháp luật của đương sự. Trên cơ sở những vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của đương sự được xây dựng, luận văn đã đối chiếu với luật thực định và phân tích làm sáng tỏ những hạn chế của pháp luật hiện hành như các quy định còn chưa đầy đủ, thiếu chi tiết, nhiều quy định còn chung chung, dẫn tới có nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng trong thực tiễn.

Việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định về đại diện theo pháp luật của đương sự đã cho chúng ta có nhận thức sâu sắc hơn về những vướng mắc, bất cập và hạn chế của luật thực định về vấn đề đại diện theo pháp luật của đương sự. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu luận văn đã luận giải và đề xuất những kiến nghị có giá trị cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự. Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Đại diện pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự

One thought on “Luận văn: Thực tiễn người đại diện của đương sự trong tố tụng

  1. Pingback: Luận văn: Người đại diện theo PL của đương sự trong tố tụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464