Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường CNKT ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát tình hình nền kinh tế xã hội và giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1. Tình hình nền kinh tế – xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh được bao quanh bởi các khu công nghiệp liên hoàn trải dài từ Bà Rịa – Vũng Tàu dọc theo Quốc lộ 51 đến Biên Hòa – Nam Bình Dương – khu chế xuất Linh Trung – khu chế xuất Tân Thuận – khu đô thị mới Nam Sài Gòn – khu công nghiệp Tân Tạo, Lê Minh Xuân (Bình Chánh) nối liền với khu công nghiệp Đức Hòa I, Đức Hòa II (Long An). Thành phố có sự gắn kết phát triển với vùng nông sản hàng hóa Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cây công nghiệp Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Có thể nói, đây là lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng của kinh tế Tp. Hồ Chí Minh trong phát triển.

2.1.1.1. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất nước 

Từ những năm 1992 của thế kỷ XX, trong Nghị quyết 01/NQ/TW ngày 14/9/1982, Bộ Chính trị đã đánh giá một cách khách quan và trân trọng vai trò, vị trí của Tp.Hồ Chí Minh trong sự nghiệp chung của cả nước “Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta. Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội, … .

Riêng về kinh tế, thành phố là một trung tâm công nghiệp lớn, có năng lực sản xuất công nghiệp khá phát triển, nhất là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất phong phú, đội ngũ công nhân và thợ thủ công tay nghề khá; lực lượng khoa học kỹ thuật đông đảo, có tài năng, có cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp, xuất nhập khẩu và du lịch.

Điều đặc biệt quan trọng là kinh tế thành phố gắn liền với một vùng nông lâm ngư nghiệp trù phú có một nền sản xuất hàng hóa phát triển, có những khả năng lớn về lao động, đất đai, bảo đảm cho thành phố một hậu cần phong phú về lương thực, thực phẩm, nông sản, nguyên liệu, … . Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

Với những điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi mà không một tỉnh, thành phố khác ở nước ta quy tụ nhiều ưu thế như vậy, thành phố Hồ Chí Minh có triển vọng rất tốt đẹp về phát triển công nghiệp, phát triển về xuất khẩu, du lịch và dịch vụ quốc tế”.

Nghị quyết 20/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 18/11/2002 tiếp tục khẳng định lại vị trí trên và nhấn mạnh Tp.Hồ Chí Minh phải tiếp tục nổ lực phấn đấu, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy tính năng động, sáng tạo để đi đầu cả nước về kinh tế, nhất là phát triển các ngành công nghiệp du lịch có hàm lượng khoa học công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi trường…, đi đầu trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả phát triển kinh tế, trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế với thế giới”.

Hoạt động thương mại dịch vụ Tp.Hồ Chí Minh có quy mô tăng trưởng nhất nước. Doanh số thương nghiệp năm 1980 chiếm 29.9% cả nước, năm 1985: 32.7%; năm 1990 là 32.9%. Từ năm 1995 đến nay, tỷ trọng GDP ngành dịch vụ của Tp.Hồ Chí Minh so với cả nước tăng từ 23.3% năm 1995 lên 26.5% năm 2003. tốc độ tăng trưởng giai đoạn 1991 – 1995 tăng bình quân 12.5% cao hơn cả nước 2%, giai đoạn 1996 – 2003 tăng trưởng bình quân 8.4%/năm cao hơn cả nước 2,4%. Dân số thành phố chiếm hơn 7% dân số cả nước nhưng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn thành phố bằng 25% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả nước.

Về xuất nhập khẩu, năm 1990 thành phố chiếm 40.4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước (xuất khẩu chiếm 45.9%, nhập khẩu 35.7%); năm 1995 chiếm 40.5% (xuất khẩu 36.7%, nhập khẩu 19.1%). Lĩnh vực du lịch – nhà hàng – khách sạn, Tp.Hồ Chí Minh có tỷ trọng từ 60 – 70% so với cả nước.

Về lĩnh vực bưu chính viễn thông, trong năm 2003, Tp.Hồ Chí Minh chiếm trên 22% số máy điện thoại cả nước, 25% tổng doanh thu bưu điện của cả nước.

Tp.Hồ Chí Minh là nơi thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước lớn nhất nước. Năm 1976, vốn đầu tư phát triển của thành phố chiếm 5.03% của cả nước, năm 1980 là 7.89%, năm 2004 là 21% với 43.000 tỷ đồng.

Về thu ngân sách, năm 1980 tổng thu ngân sách của cả nước, năm 1985 là 25.5%, năm 1990 là 26.4%, năm 1999 là 36.46%, năm 2003 là 31%.(các số liệu nêu trên theo cục Thống kê Tp.Hồ Chí Minh)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.1.2. Tp.Hồ Chí Minh là hạt nhân phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – vùng có kinh tế thị trường phát triển nhất nước; liên kết hình thành cơ cấu công – nông nghiệp với vùng nông sản hàng hóa lớn nhất nước – vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Là hạt nhân phát triển của vùng, Tp.Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ các chỉ tiêu của vùng, trung bình từ 60% trở lên. Mức đóng góp GDP vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm 58.3%. Tỷ trọng bình quân GDP của thành phố so với vùng thời kỳ 1991 – 1998 là 81.6%; thời kỳ 2000 – 2003 là 65%. Giá trị sản lượng công nghiệp chiếm trên 57.1% giai đoạn 1990 – 1994 và 53.4% giai đoạn 1996 – 1999. Hiện nay so với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tp.Hồ Chí Minh chiếm hơn 80% giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ, 46.9% giá trị tăng khu vực công nghiệp, chiếm 69.4% giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến, 66% giá trị tăng ngành xây dựng.

Tp.Hồ Chí Minh là ngòi nổ khơi nguồn cho sự phát triển khu công nghiệp vùng và cả nước. Khu chế xuất Tân Thuận vừa là đứa con đầu lòng và cũng là con chim đầu đàn cho loại hình kinh tế mới mang đậm tính cạnh tranh của thị trường. Năm 2002, Tp.Hồ Chí Minh có 14 khu, chiếm 37.5% của vùng và 18.1% của cả nước. Thành phố có 1400 văn phòng đại diện nước ngoài thuộc 46 quốc gia, chiếm 70% của cả nước. Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

Về khu vực thương mại dịch vụ: Tp.Hồ Chí Minh suốt thời kỳ 1996 – 2002 tổng mức hàng hóa bán ra trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh chiếm gần 90% của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, riêng tổng mức bán lẻ chiếm 80%. Về kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 1992 – 2002, thành phố chiếm 55.3% của vùng và nhập khẩu chiếm 65.4%. Đối với lĩnh vực du lịch – khách sạn – nhà hàng, năm 1996 số lượt khách du lịch đến thành phố chiếm 35.9% của vùng; năm 2002 chiếm 62.3%. tỷ trọng lượt du khách quốc tế đến thành phố chiếm tỷ số áp đảo đối với vùng. Doanh thu du lịch hiện nay của Tp.Hồ Chí Minh chiếm trên 80% của vùng. Đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng thì GDP chiếm trung bình khoảng 70% của vùng, năm 2002 chiếm 71.8%.

Với lợi thế về hạ tầng đô thị và là trung tâm tài chính, ngân hàng, Tp.Hồ Chí Minh đã làm tốt vai trò cung ứng các sản phẩm dịch vụ vùng, bao gồm vốn đầu tư cho sản xuất, dịch vụ xuất nhập khẩu, dịch vụ luân chuyển các dòng luân kim để cả các loại ngoại tệ, dịch vụ giao thông vận tải, thông tin liên lạc, du lịch khách sạn, vui chơi giải trí. Quan hệ giữa thành phố với vùng đã hình thành dòng chảy hai chiều về lao động, tiền tệ, xuất nhập khẩu, đầu tư giữa thành phố với các tỉnh trong vùng.

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cung ứng nguồn tài chính, chuyển giao công nghệ mới, đầu tư mới cho đồng bằng sông Cửu Long. Lượng hàng hóa (chủ yếu là hàng công nghệ phẩm, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, hàng nhập khẩu qua cảng Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất) mà thành phố cung ứng cho các tỉnh trong vùng chiếm từ 60 – 75% tổng giá trị hàng hóa lưu thông trong khu vực.

Tóm lại, là hạt nhân phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, lại có quan hệ khách quan hình thành cơ cấu công – nông nghiệp với vùng đồng bằng sông Cửu Long, tạo cho thành phố Hồ Chí Minh thế và lực trong cạnh tranh và phát triển ở mức cao trong nền kinh tế thị trường đi vào thế kỷ thứ XXI.

2.1.2. Về giáo dục Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

Giáo dục đào tạo là nhu cầu, quyền lợi cơ bản của mọi thành viên trong xã hội, do đó chính sách quản lý phải đảm bảo sự công bằng và tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người trong giáo dục.

Sau thời kỳ đổi mới, trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay, thành phố ngày càng khẳng định vai trò trung tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của mình. Về công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo chiều hướng ngày càng gia tăng, số lượng đào tạo thường năm sau cao hơn năm trước; loại hình đào tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư. Số lượng trường đại học cao đẳng trên địa bàn tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế. Hiện nay thành phố có 41 trường đại học, cao đẳng và phân hiệu với nhiều ngành đào tạo (năm 1990 trở về trước chỉ có 21 trường), chiếm gần 1/3 tổng số các trường Đại học và Cao đẳng trong cả nước với hình thái tổ chức khá đa dạng: công lập, dân lập và bán công. Các trường đều có thư viện, phòng thí nghiệm, phòng Lab và hàng ngàn máy vi tính cho sinh viên học tập, thực tập. Tổng số cán bộ giảng dạy Đại học và Cao đẳng trên địa bàn thành phố là 6.627 người; tỷ lệ có trình độ trên Đại học tính chung là 28,6%. Đào tạo hệ trung học chuyên nghiệp (THCN) và công nhân kỹ thuật (CNKT) cũng rất được chú trọng. Trên địa bàn thành phố có 27 trường THCN, hiện có 62.019 học sinh đang theo học với số lượng cán bộ giảng dạy là 1.330 giáo viên và 7 trường CNKT. Riêng hệ thống dạy nghề, thành phố có khoảng 122 trường tập trung chủ yếu ở các quận nội thành. Số ngành đào tạo bao gồm nhiều lĩnh vực: văn hóa – xã hội, thương mại – dịch vụ – du lịch và phần lớn tập trung ở các ngành kỹ thuật phục vụ cho công nghiệp, nông – lâm nghiệp – thủy sản, xây dựng, giao thông vận tải. Số lượng học sinh tốt nghiệp của các trường dạy nghề mỗi khóa trung bình 100.000 – 120.000 người, đào tạo ngắn hạn.

Nếu năm 1976, số học sinh trên một vạn dân thành phố chỉ bằng 99,86% mức của cả nước thì năm 1980 đã bằng 197,8%. Năm 1982, thành phố chiếm 6,5% tổng số học sinh phổ thông cả nước và có số sinh viên đang theo học bằng 11,3% số sinh viên đang theo học trên toàn quốc. Từ năm 1995, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ và phổ cập tiểu học; 100% số xã có trường tiểu học và 80% số xã có trường trung học cơ sở. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao. Sở GDĐT thành phố đã đón nhận cờ lưu niệm và quyết định công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục THCS do Bộ GDĐT trao tặng và trở thành địa phương đầu tiên trong cả nước đạt được chuẩn này. Những con số cụ thể về thành tích phổ cập giáo dục THCS của thành phố là: 303/303 đơn vị phường xã đạt chuẩn; 22/22 đơn vị quận huyện đạt chuẩn. Tỷ lệ phổ cập giáo dục THCS là 98,08% , tỷ lệ đối tượng có bằng tốt nghiệp THCS đúng theo độ tuổi quy định là 85.99%. tính đến cuối năm 1999, thành phố có 725 trường phổ thông, chiếm 3,06% so với cả nước trong đó có 81 trường PTTH, chiếm 4,95% so với cả nước. Năm 2001 đã tăng lên đến 754 trường với tổng số học sinh là 870.825 người, tổng số giáo viên là 31.412 người. Trong hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, so với cả nước, thành phố chiếm 14,7% về số giáo viên và 10,2% số lượng học sinh chuyên nghiệp hệ dài hạn, 7,8% số giáo viên và 11,9% số học sinh, công nhân kỹ thuật. Riêng hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng công lập, trong năm học 1998 – 1999, số sinh viên đang theo học là 216.876 người, chiếm 22,4% số sinh viên và 18,8% lực lượng giáo viên đại học và cao đẳng của cả nước (năm học 2000 – 2001 là 278.443 người). Đào tạo sau đại học (tiến sĩ, thạc sĩ) những năm gần đây, mỗi năm khoảng 1.200 – 1.300 người. Như vậy, trong khi số giáo viên và học sinh phổ thông của thành phố chỉ chiếm một tỷ lệ vừa phải của cả nước thì số giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng, THCN, CNKT của thành phố ngày càng chiếm một tỷ lệ rất cao, điều này chứng tỏ thành phố là một Trung tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của cả nước và đã thu hút được một số lượng lớn sinh viên từ mọi miền đất nước về học mỗi năm.

Thành phố Hồ Chí Minh có 65 viện và phân viện khoa học kỹ thuật, 36 trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học. Phát triển các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng của thành phố đã được chú trọng, góp phần làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, .. . Các lĩnh vực nghiên cứu phong phú đa dạng, chủ yếu nghiên cứu ứng dụng và đang hướng vào các trọng tâm công nghệ chế biến tài nguyên; nghiên cứu vật liệu mới; vật liệu xúc tác cho các quá trình chế biến dầu mỏ, dầu thực vật; các công nghệ chống ô nhiễm, chống ăn mòn, chống rỉ; công nghệ chế tạo máy móc thiết bị; công nghệ điện tử – tin học – viễn thông ứng dụng vào các quá trình tự động hóa sản xuất ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành. Là cơ sở – tiền đề cho sự ra đời các khu công nghệ – kỹ thuật cao trên địa bàn thành phố vừa đông về số lượng (hàng chục ngàn người) vừa được đào tạo rất đa dạng từ các nguồn khác nhau, có đủ trình độ để tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới. Tổng số cán bộ khoa học đang làm việc nghiên cứu trong các lĩnh vực có khoảng 8.300 người, với hàng trăm phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm – sản xuất thử. Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư 240 tỷ đồng cho dự án: “Tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh” và bước đầu xây dựng thành công Chính phủ điện tử. Hiện nay, thành phố đã xây dựng xong chương trình phát triển nguồn nhân lực, đã khởi động từ năm 2002, trong năm 2003 (năm bản lề thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ IX của Đảng, kế hoạch 5 năm (2001 – 2005) và Nghị quyết VII của Đảng bộ Thành phố) sẽ đẩy mạnh hơn nữa, nhất là đào tạo nguồn nhân lực quản lý doanh nghiệp, chương trình đào tạo 300 thạc sĩ, tiến sĩ, … . Với những thành tựu đạt được, cùng với thế mạnh về nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật, Thành phố đã trở thành Trung tâm đào tạo khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của vùng và cả nước trong quá trình hiện đại hóa.

2.2. Một số nét chính về hoạt động dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

Với vị trí là một trung tâm kinh tế trọng điểm, với thế mạnh số 1 về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại khu vực phía Nam và nhất là nằm cạnh khu công nghiệp Biên Hòa, từ rất lâu trước ngày giải phóng (khoảng đầu thập niên 60), tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhu cầu học nghề và đã xuất hiện nhiều trường dạy nghề công lập cũng như của tư nhân. Nhu cầu học nghề ngày càng nhiều, do đó mạng lưới cơ sở dạy nghề vẫn tiếp tục phát triển đến sau ngày giải phóng. Đặc biệt, vào những năm đầu bước vào giai đoạn đổi mới, xuất phát từ nhu cầu khách quan, bên cạnh hệ thống cơ sở dạy nghề đang có, thành phố đã quyết định mở thêm loại hình mới: Trung tâm Dạy nghề (TTDN) các quận huyện, các trường công nhân kỹ thuật, các trường Trung học nghề, Trung học chuyên nghiệp, … , đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động cũng như phục vụ đường lối đổi mới của Đảng về phát triển các thành phần kinh tế.

Theo đà đi lên của thành phố, hệ thống dạy nghề tiếp tục phát triển, số người học và cơ sở dạy nghề đều tăng hàng năm; tuy có giai đoạn Luật Giáo dục ra đời, tất cả các trường Trung học nghề đều chuyển thành trường Trung học chuyên nghiệp, nhưng các trường này đều có hệ thống dạy nghề và tiếp tục nhiệm vụ dạy nghề bên cạnh nhiệm vụ đào tạo trung cấp với số lượng đào tạo rất đáng kể (khoảng 50% số đào tạo). Nhiều trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) cũng tham gia dạy nghề. Số cơ sở dạy nghề ngoài công lập phát triển nhanh và đa dạng. Nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề ở nhiều quy mô và trình độ đào tạo; khuynh hướng xã hội hóa ngày càng mạnh, kể cả đầu tư nước ngoài.

Đến cuối năm 2004, toàn thành phố có 267 cơ sở dạy nghề chính thức đăng ký hoạt động, phân bố khắp 24 quận huyện.

Qui mô tuyển sinh đào tạo hàng năm trên 25.000 học sinh hệ dài hạn và 270.000 học viên hệ ngắn hạn.

Số tuyển mới hệ dài hạn (công nhân kỹ thuật): năm 2001:18.774 học sinh, năm 2002: 23.203 học sinh, năm 2003: 25.863 học sinh, năm 2004: 27.000 học sinh, ước thực hiện năm 2005: 29.000 học sinh, ước thực hiện năm 2006: 31.000 học sinh.

Số tuyển mới hệ ngắn hạn: năm 2001: 177.162 lượt học viên, năm 2002: 198.162 lượt học viên, năm 2003: 211.295 lượt học viên, năm 2004: 270.000 lượt học viên, ước thực hiện năm 2005: 290.000 lượt học viên, ước thực hiện năm 2006: 310.000 lượt học viên.

Với kết quả trên, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của thành phố tăng dần hàng năm 2001: 27,35%; năm 2002: 32%; năm 2003: 35%; năm 2004: 38%; ước thực hiện năm 2005: 40%, ước thực hiện năm 2006: 42,78%.

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ học viên khu vực lân cận và các tỉnh (có cả học sinh các tỉnh phía Bắc). Do đó nguồn tuyển sinh của các trường tại thành phố khá rộng:

Theo địa lý:

  • Hệ dài hạn: khoảng 45% là học sinh thành phố, 55% là học sinh ở các tỉ
  • Hệ ngắn hạn: gần 70% là học viên thành phố, 30% là học viên các tỉ Theo đối tượng:
  • Hệ dài hạn: phần đông là học sinh phổ thông từ trình độ tốt nghiệp THCS trở lên.
  • Hệ ngắn hạn: gồm người lao động đủ mọi trình độ cần có nghề để tìm việc làm hoặc tự tổ chức việc làm, cần chuyển đổi nghề nghiệp; có cả sinh viên tốt nghiệp đại học cần học thêm một số kỹ năng thực hành: công nhân cần bồi dưỡng nâng bậc thợ; chuyển giao công nghệ; bộ đội xuất ngũ chưa có nghề.

Ngành nghề đào tạo phong phú. Ngoài những nghề thuộc các lĩnh vực đào tạo như lâu nay, do nhu cầu xã hội, do yêu cầu mới của nghề, người hành nghề phải được đào tạo, gần đây đã xuất hiện nhu cầu đào tạo ở một số ngành nghề mới: người mẫu, kỹ thuật máy tính (phần cứng, lập trình), thiết kế đồ họa trên máy vi tính (CADD), điều khiển tự động, kiểm tra chất lượng máy tính, … . Điều này thể hiện tính năng động của thị trường lao động và lĩnh vực đào tạo nghề tại thành phố.

Hình thức đào tạo ngày càng được đa dạng hóa. Bên cạnh đào tạo theo trường lớp, việc đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, bồi dưỡng chuyên đề, lớp tối cho công nhân, cán bộ, lớp bồi dưỡng nâng bậc thợ, … được tổ chức rộng rãi hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của người lao động cũng như thực tế sản xuất kinh doanh:

Đào tạo tập trung theo kế hoạch: đào tạo tại trường theo chương trình chính quy, chủ yếu đối với hệ dài hạn chính quy và lao động chưa có việc làm, cần học nghề để tìm việc hoặc tổ chức việc làm.

Đào tạo tại chức đối với công nhân, viên chức đang làm việc, muốn nâng cao tay nghề, người lao động khác muốn học thêm nghề hoặc nâng cao khả năng nghề ngiệp; chuyển giao công nghệ.

Đào tạo tại xí nghiệp: đối với công nhân do xí nghiệp tuyển vào, tổ chức đào tạo và sử dụng.

Đào tạo có địa chỉ: cơ sở dạy nghề tuyển sinh đào tạo và cung cấp lao động theo “đơn đặt hàng” của các doanh nghiệp.

Bồi dưỡng nâng bậc thợ (các cơ sở dạy nghề phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng chương trình, tổ chức các lớp bồi dưỡng và tổ chức thi nâng bậc thợ cho công nhân).

Đang nghiên cứu để kiến nghị bổ sung: đào tạo bên cạnh xí nghiệp; đào tạo theo chế độ mođun (môđun hóa chương trình đào tạo dài hạn) và liên thông giữa đào tạo ngắn hạn và dài hạn.

Đội ngũ giáo viên: rất đa dạng, phong phú cả về quy mô lẫn số lượng. Ngoài việc tham gia giảng dạy chính trong các trung tâm dạy nghề và các trường trung cấp, cao đẳng nghề, họ còn tham gia giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung tâm kỹ thuật – tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở giáo dục khác có dạy nghề.

Do tính đặc thù, đội ngũ giáo viên dạy nghề được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau (tốt nghiệp từ các trường sư phạm kỹ thuật, các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề được giữ lại làm giáo viên, được tuyển chọn từ công nhân có tay nghề cao, nghệ nhân…) nên trình độ, năng lực cũng rất khác nhau.

Trong những năm qua, do làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nên trình độ, năng lực của đội ngũ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển toàn diện sự nghiệp dạy nghề trong giai đoạn mới, nhất là đào tạo nghề theo ba cấp trình độ trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng thì đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện còn nhiều bất cập.

Về số lượng, so với tốc độ tăng quy mô đào tạo nghề thì tốc độ tăng số giáo viên dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu. Tỷ lệ học sinh học nghề dài hạn/giáo viên ở các trường dạy nghề năm học 2004 – 2005 bình quân là 28 học sinh/giáo viên. Để tỷ lệ này đạt 20 học sinh/giáo viên thì đội ngũ giáo viên trong các trường nghề mới chỉ bảo đảm được khoảng 70%.

Về chất lượng, kỹ năng sư phạm của một bộ phận giáo viên dạy nghề còn hạn chế, nhất là ở khối các trường địa phương, các trường mới thành lập, các trung tâm dạy nghề và các trường ngoài công lập.

Trước đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới, giai đoạn chuyển từ dạy nghề theo chương trình dài hạn và ngắn hạn sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trình độ, đội ngũ giáo viên dạy nghề phải được chuẩn hóa, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu.

Cơ sở vật chất kĩ thuật: Huy động mọi nguồn lực để nâng cấp các cơ sở dạy nghề hiện có và thành lập các trường mới; từng bước chuẩn hoá và hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề; tập trung đầu tư cho các trường chất lượng cao và một số trường dạy nghề của các Bộ ngành, địa phương.

Các yếu tố chất lượng đào tạo được quan tâm thông qua hoạt động bồi dưỡng, hội thảo chuyên đề, hướng dẫn nghiệp vụ, … đối với cán bộ quản lý các cơ sở dạy nghề, cán bộ phụ trách quản lý dạy nghề các phòng Lao động – TBXH; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, chuyên môn giảng dạy, kỹ thuật công nghệ mới cho giáo viên dạy nghề (cả công lập và ngoài công lập); tập huấn phương pháp “dạy nghề theo kỹ năng”; phương pháp soạn giáo án theo mẫu “4D”, … . Nhiều cơ sở dạy nghề còn mời các chuyên gia sư phạm hướng dẫn trực tiếp giáo viên trong nghiệp vụ soạn giảng; tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm áp dụng các phương pháp mới trong giảng dạy.

Tổ chức các hoạt động mang tính thi đua để động viên phong trào dạy tốt – học tốt; hội thi giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở, cấp thành phố, tham gia hội giảng cấp quốc gia; hội thi tay nghề học viên cấp cơ sở, cấp thành phố, tham gia hội thi cấp quốc gia và khu vực ASEAN; làm thiết bị dạy học; hội thi “Hành trang người thợ tương lai”; ngày hội việc làm, … .

Các cơ sở dạy nghề đã chú trọng hơn đến tính thích ứng thực tế của chương trình đào tạo, bám sát yêu cầu thực tế sản xuất kinh doanh để đào tạo: từ việc khảo sát, nghiên cứu các dây chuyền sản xuất kinh doanh, nghiên cứu công nghệ mới của các doanh nghiệp, nhiều trường đã điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo; tổ chức học viên thực tập tại cơ sở sản xuất kinh doanh; sau một thời gian giảng dạy, giáo viên nhà trường đều cùng lắng nghe ý kiến của học viên, nhận xét của người sử dụng lao động cũng như đối chiếu với tình hình sản xuất thực tế của doanh nghiệp để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoặc cập nhật nội dung mới. Để đáp ứng yêu cầu chất lượng cao trong đào tạo, ngoài việc cập nhật những nội dung chuyên môn mới, kỹ năng thực hành của học viên cũng được chú trọng bằng cách đổi mới thiết bị dạy nghề, tăng cường thiết bị phục vụ cho việc huấn luyện những công nghệ mới, nâng cao trình độ tay nghề cho học viên khi ra trường. Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

Bước đầu nghiên cứu xây dựng chương trình liên thông trong nội bộ chương trình dạy nghề để tạo cơ hội hoàn thiện và cập nhật kết quả, hiệu quả đào tạo. Tổng cục Dạy nghề đã chấp thuận cho thành phố đào tạo bổ sung kỹ năng thực hành cho học sinh có trình độ trung cấp để hoàn thiện tay nghề và cấp Bằng nghề (trong 2 năm 2003, 2004 đã cấp 580 bằng nghề cho 3 trường), nhiều trường đang có kế hoạch thực hiện hình thức này vì nó tỏ ra thu hút học sinh. Thành phố cũng đang triển khai đề án liên kết với các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề của Trung ương đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề. Bên cạnh đó, Dự án “Tăng cường các Trung tâm Dạy nghề” (SVTC) đã cấp 14 bộ chương trình nghề theo môđun để các cơ sở dạy nghề có thể tham khảo, áp dụng. Hiện nay, chương trình dạy nghề ngắn hạn đang được một số trung tâm từng bước xây dựng theo phương pháp học phần (môđun); học viên có thể chọn bất cứ học phần nào để có thể đáp ứng được nội dung tuyển dụng lao động của các công ty, xí nghiệp đang cần hoặc tự bản thân người lao động có thể hoạt động kinh tế gia đình.

Theo nhận định của các trường, nhìn chung chất lượng đào tạo nghề ở hệ công nhân kỹ thuật cơ bản đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật tại các cơ sở sản xuất nói riêng và nhu cầu lao động nói chung; hầu hết số học sinh tốt nghiệp tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp; một số nghề như kỹ nghệ sắt, nguội sửa chữa, in, … học viên nhận được việc làm ngay trong thời gian thực tập tốt nghiệp hoặc số nghề trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng (dệt, sợi, nhuộm, giầy, may mặc) hay ngành chế biến lương thực thực phẩm, học sinh qua đào tạo của các trường được các doanh nghiệp sử dụng 100% và nhiều khi cung không đủ cầu. Riêng đối với hệ ngắn hạn, các nghề đào tạo đã đáp ứng được nhu cầu học nghề, phổ cập nghề của xã hội cũng như tạo điều kiện để người lao động chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương hoặc có thể tìm việc làm, tự tạo việc làm cho bản thân. Do lợi thế về thời gian đào tạo (không kéo dài), chương trình linh hoạt đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, gần đây, dạy nghề ngắn hạn tham gia đào tạo kỹ năng chuyên sâu ở một số ngành nghề có yêu cầu phân công lao động cao, người học có thể hoàn thiện một kỹ năng nhất định, do đó ngày càng thu hút đông học viên theo học.

Khó khăn – tồn tại: do nhiều nguyên nhân, học nghề vẫn chưa vượt qua tâm lý xã hội về khoa cử, bằng cấp, danh vị xã hội, … nên số lượng tuyển sinh và tốt nghiệp hàng năm tuy có tăng nhưng còn chậm; thông tin đại chúng chưa thường xuyên, chưa phong phú, chưa có tác động xã hội quan tâm; học nghề chưa được các tổ chức chính trị – xã hội quan tâm tuyên truyền vận động thường xuyên, đúng mức.

Cơ cấu hệ thống dạy nghề chưa hợp lý với yêu cầu phát triển là một nguyên nhân cơ bản khiến cho học nghề thiếu tính hấp dẫn, người học nghề không thấy rõ hướng tăng tiến nếu vẫn đeo bám lĩnh vực này, do đó khuynh hướng của học là chọn con đường Đại học – nhiều người vào học nghề chỉ là sự miễn cưỡng, thụ động.

Việc đào tạo bên cạnh xí nghiệp chưa được chính thức đặt ra, và “Hiệu quả sử dụng tay nghề qua đào tạo – sự chấp nhận của thị trường lao động” chưa được cấu thành tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo.

Cán bộ, giáo viên: do hoạt động từ nhiều nguồn và thường xuyên biến động, nhiều đơn vị chủ quản, nên khó có thể quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đúng năng lực sở trường.

Hệ thống pháp lý chậm được hoàn thiện và chưa thể hiện tính hệ thống; nhiều thực tiễn phát sinh được cơ sở đề xuất nhưng chậm được cơ quan có quyền giải đáp và nghiên cứu để pháp quy hóa.

Cơ chế phân cấp, phân công quản lý, qui định về tổ chức bộ máy không phù hợp nhiệm vụ ngày càng nặng nề của hoạt động dạy nghề. Cơ chế đầu tư, cấp phát kinh phí hoạt động chưa thể hiện đúng vị trí và tầm quan trọng của dạy nghề.

Hệ thống thông tin nhu cầu lao động kỹ thuật chưa hỗ trợ hiệu quả xây dựng kế hoạch dạy nghề. Luận văn: Khái quát tình hình giáo dục tại trường CNKT

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng đội ngũ giá viên tại các trường CNKT

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464