Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế- xã hội và giáo dục huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Huyện Phú Giáo nằm phía Đông Bắc của tỉnh Bình Dương, có phía Đông giáp huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp huyện Bàu Bàng, phía Nam giáp huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dương và phía Bắc giáp huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước. Huyện Phú Giáo có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Phước Vĩnh (huyện lỵ) và 10 xã: An Bình, An Linh, An Long, An Thái, Phước Hòa, Phước Sang, Tam Lập, Tân Hiệp, Tân Long, Vĩnh Hòa. Dưới thời Pháp thuộc, huyện Phú Giáo ngày nay là một phần quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của huyện đã được đầu tư đồng bộ và từng bước hoàn thiện. Thời kỳ đầu tái lập huyện, hệ thống quy mô giao thông có kết cấu kỹ thuật thấp, lạc hậu, nhỏ bé. Đến nay, mạng lưới giao thông được mở rộng, nâng cấp; 100% các tuyến đường từ trung tâm huyện đến 11 xã, thị trấn và kết nối với các huyện, thị, thành phố trong và ngoài tỉnh được nhựa hóa bảo đảm lưu thông thuận tiện. Huyện đang tích cực phối hợp với các ngành của tỉnh đẩy nhanh tiến bộ đầu tư tuyến đường tạo lực Bắc Tân Uyên – Phú Giáo – Bàu Bàng, tuyến giao thông quan trọng đi qua địa bàn huyện.

Lĩnh vực văn hoá – xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Quy mô trường, lớp tiếp tục được củng cố, phát triển ở tất cả các cấp, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Huyện hiện có 36/37 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 97,3%.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.2. Tổ chức nghiên cứu Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

2.2.1. Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục PCMT ở trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo: Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục PCMT ở Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo; thực trạng hoạt động giáo dục PCMT ở Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo với các nội dung như vai trò, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hiệu quả giáo dục.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giá dục PCMT ở Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo với những nội dung như: Vai trò, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên; sử dụng giáo viên; thực hiện kế hoạch; phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục PCMT.

2.2.2. Công cụ khảo sát

Để có cơ sở đánh giá tình hình quản lý hoạt động giáo dục PCMT ở Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo trong thời gian qua, chúng tôi đã xây dựng phiếu câu hỏi gồm cả hai đối tượng CBQL và GV với nội dung theo phiếu khảo sát phần phụ lục. Đây được xem là công cụ chính trong điều tra, khảo sát thực trạng. Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để hỗ trợ trong phân tích và xử lý các số liệu định lượng từ các bảng hỏi khảo sát. Ngoài ra, chúng tôi cũng phân tích các dữ liệu từ các bản kế hoạch, báo cáo, hồ sơ sổ sách của các trường trong địa bàn nghiên cứu.

2.2.3. Đối tượng khảo sát Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Đối tượng khảo sát chính của đề tài bao gồm 124 CBQL và GV đang công tác tại 4 trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương gồm: THCS Trần Quang Diệu (29 người, chiếm 23,4%), THCS Trần Hưng Đạo (35 người, chiếm 28,2%), THCS Phước Hòa (32 người, chiếm 25,8%) và THCS Nguyễn Trãi (28 người, chiếm 22,6%). Cụ thể được thể hiện qua bảng 2.1 như sau:

Bảng 2.1. Khái quát về đối tượng khảo sát

Về giới tính, do đặc trưng của hội đồng sư phạm của các trường học ở nước ta là nam CB-GV ít hơn nữ CB-GV nên đối tượng nghiên cứu hơi lệch về phía nữ CB-GV. Cụ thể, nữ chiếm 83,1% và nam 16,9%.

Về thâm niên công tác, CB-GV có kinh nghiệm công tác dưới 5 năm là 14 (chiếm 11,3%), từ 5 đến 10 năm là 43 người (chiếm 34,7%). Có 57 CB-GV có kinh nghiệm từ 10 đến 20 năm, chiếm 46,0%. Kinh nghiệm giảng dạy từ 15 trên năm có 10 người chiếm 8,1%. Tỷ lệ này đảm bảo các nguyên tác chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học.

Về vị trí công tác, CB-GV làm công tác chủ nhiệm chiếm 61 người (49,2%), có 49 CB-GV là GV bộ môn (chiếm 39,5%), Bí thư Đoàn trường là 03 CB-GV (chiếm tỉ lệ 2,4%) và 11 Tổ trưởng chuyển môn (chiếm 8,9%).

Về việc tham gia hoạt động PCMT, có 55 người đã từng thực hiện (chiếm 44,4%), đang thực hiện là 37 người (chiếm 29,8%) và 32 người chưa từng thực hiện (chiếm 25,8%).

Như vậy có thể thấy tỉ lệ mẫu được lựa chọn nghiên cứu đảm bảo tính khách quan cũng như các nguyên tắc chọn mẫu, đảm bao độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu.

2.2.4. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Trong quá trình xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục PCMT ở Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, chúng tôi đã sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để loại bỏ những câu hổi không đạt yêu cầu thông qua lệnh Cronbach’s Alpha, với độ tin cậy trong các thang đo Alpha=95%.

2.2.5. Tổ chức điều tra, khảo sát

Sau khi xây dựng được cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục PCMT ở Trường THCS và quản lý hoạt động giáo dục PCMT ở Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, nhóm nghiên cứu xây dựng công cụ khảo sát (bảng hỏi khảo sát và câu hỏi phỏng vấn). Sau khi chuẩn bị đầy đủ các công cụ khảo sát thực trạng, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tại 4 trường với 124 giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường THCS trên địa bàn theo danh sách. Trong đó, các phiếu hỏi được hướng dẫn, giải thích trực tiếp đến cán bộ quản lý, giáo viên trong buổi khảo sát. Đối tượng phỏng vấn được mã hóa lần lượt là CB1, CB2, CB3, GV1, GV2, GV3, GV4, GV5, GV6, GV7, GV8, GV9. Đối với các dữ liệu định lượng sau khi thu thập đầy đủ, nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS20.0 thực hiện thống kê và tạo bảng phân tích theo tỉ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn và điểm trung bình, trong đó điểm trung bình được qui ước cụ thể.

2.2.6. Quy ước thang đo

Trong công cụ khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục PCMT ở trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các thang đo định danh, thang đo thứ bậc và thang đo khoảng. Đồng thời, để tạo sự thống nhất trong phân tích từ các kết quả điểm trung bình tìm được 5 mức độ trong các câu hỏi, nhóm nghiên cứu tính khoảng cách giữa các mức theo công thức= (Maximum – Manimum)/n=(5-1)/5=0,8. Từ đó các giá trị trung bình trong thang đo được quy ước theo bảng 2.2 như sau:

Bảng 2.2. Quy ước thang đo các mức độ đánh giá

Bảng quy ước 2.2 sẽ được sử dụng để phân tích đánh giá trong suốt chương 2 của đề tài này.

2.3. Hoạt động giáo dục PCMT tại các Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

2.3.1. Mức độ cần thiết và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Bảng 2.3. Mức độ cần thiết và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo

Như đã phân tích trong chương một, giáo dục PCMT ở trường phổ thông là một trong các hoạt động giáo dục có vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 cho thấy hoạt động giáo dục PCMT đều được CB-GV tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đánh giá ở mức độ rất cần thiết và rất quan trọng với mức ĐTB rất cao (4,67 và 4,62).

Tuy nhiên, qua trao đổi trực tiếp với một số GV chủ nhiệm ở một số đơn vị về tầm quan trọng của công tác này, thì bản thân họ trao đổi: hiện nay có quá nhiều hoạt động được đưa vào nhà trường, nếu thêm hoạt động PCMT sẽ làm nặng nề thêm hoạt động quản lý của nhà trường. Từ thực tế trên ta thấy rằng, nhận thức về mức độ cần thiết và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục PCMT trong trường THCS hiện nay chưa được hiểu một cách thống nhất, còn một bộ phận nhỏ CBQL và GV cho rằng công tác này là ít quan trọng, là nặng nề. Vì vậy, cần phải làm cho đội ngũ CBQL và GV nhà trường có nhận thức đúng đắn và thống nhất về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục PCMT, vì có nhận thức đúng và thống nhất thì mới có thể quản lý và tổ chức hoạt động một cách có hiệu quả.

2.3.2. Mục tiêu của hoạt động giáo dục PCMT tại các Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Mục tiêu của hoạt động giáo dục PCMT ở các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo được thể hiện trong bảng 2.4 như sau:

Bảng 2.4. Mục tiêu của hoạt động giáo dục PCMT ở các Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo

Mục tiêu cụ thể của công tác giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường phổ thông được thể hiện ở cả ba mặt: Giáo dục về mặt tri thức; Giáo dục về kỹ năng, hành vi và giáo dục về mặt thái độ. Ba mặt này được người nghiên cứu cụ thể hóa thành 12 tiêu chí và yêu cầu các khách thể tham gia khảo sát đưa ra nhận định hoạt động giáo dục PCMT tại đơn vị công tác của mình có xây dựng các nội dung này hay không. Kết quả sau khi xử lý được thể hiện trong bảng 2.4.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các tiêu chí đều có sự lựa chọn “Có” với tỉ lệ trên 88%. Đây là tỉ lệ rất cao, chứng tỏ các Trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương đã xác định khá đầy đủ mục tiêu giáo dục PCMT cho HS. Đây là kết quả đáng mừng bởi mục tiêu chính là kim chỉ nam cho hoạt động dạy học và giáo dục, giúp cho GV thiết kế nội dung, phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá HS, giúp cho HS biết mình cần học cái gì, chủ động lập kế hoạch học tập. Đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả của hoạt động giáo dục của nhà trường. Do đó, việc xác định đầy đủ mục tiêu giáo dục chính là bước đầu để đánh giá hiệu quả của hoạt động giao dục PCMT. Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Mặc dù vậy, ở tất cả các nội dung đều vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định khách thể nghiên cứu cho rằng trường mình không xây dựng mục tiêu giáo dục PCMT ở các nội dung này (4,8% đến 11,3%) như: Giúp HS hiểu và nắm vững luật pháp Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy (11,3%); Giúp HS hiểu được những thủ đoạn lôi kéo, rủ rê các em vào con đường nghiện hút ma túy (10,5%); Giúp HS hiểu và biết cách phòng chống tệ nạn ma túy với đầy đủ trách nhiệm của mình (10,5%); Giúp HS biết giữ mình, không bị cám dỗ, lôi kéo vào tình trạng nghiện; không hút thuốc lá, uống rượu bia, không hút hít, tiêm chích ma túy (10,5%). Tỉ lệ này tuy không quá cao nhưng nó cũng chứng tỏ vẫn còn một số đơn vị chưa quán triệt đầy đủ các mục tiêu của hoạt động giáo dục PCMT, điều này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này ở các trường THCS.

2.3.3. Nội dung của hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Qua khảo sát, hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo được thể hiện qua bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5. Nội dung của hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo

Các mục tiêu đã xác định ở trên sẽ được cụ thể hóa thành các nội dung giáo dục, hay nói cách khác, nếu thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nội dung này sẽ đạt được mục tiêu giáo dục PCMT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 5 nội dung giáo dục PCMT được liệt kê, chỉ có 2 nội dung được các khách thể nghiên cứu đánh giá là được các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo thực hiện thường xuyên là: “Một số kỹ năng sống nhằm giúp HS có khả năng tự bảo vệ cho bản thân khỏi bị lôi cuốn vào tệ nạn ma túy” (ĐTB = 3,45) và “Một số nội dung khác nhằm hình thành ở HS thái độ và hành vi cần có trước những vấn đề liên quan đến ma túy, xây dựng lối sống lành mạnh” (ĐTB = 3,42). Như vậy, có thể thấy các trường THCS rất quan tâm đến việc hình thành thái độ và kỹ năng sống cho HS, từ đó giúp HS xây dựng lối sống lành mạnh, tránh xa tệ nạn ma túy. Mặc dù vậy, cả 2 nội dung này đều có mức ĐTB khá gần với mức độ đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”, do đó đây vẫn chưa phải là kết quả đáp ứng được sự mong đợi trong công tác giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo.

Ba nội dung còn lại với ĐTB từ 3,28 đến 3,33 chứng tỏ những nội dung này chỉ được các trường THCS quan tâm thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”. Cả nội dung này đều thuộc về lĩnh vực kiến thức, cho thấy các trường chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kiến thức cho HS. Mặc dù cái đích cuối cùng của hoạt động giáo dục PCMT là giáo dục hành vi cho HS, nhưng hành vi đúng đắn sẽ phải dựa trên nền tảng là nhận thức sâu sắc, do đó giáo dục HS những kiến thức về ma túy, hiện tượng nghiện ma túy cũng như háp luật Việt Nam với tội phạm ma túy vẫn là những nội dung quan trọng. Kết quả nghiên cứu này thực sự rất đáng được quan tâm để nâng cao hơn nữa hiệu quả GD PCMT trong nhà trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo.

Bên cạnh đó, xem xét kĩ tỉ lệ lựa chọn các mức độ đánh giá có thể nhận thấy cả 5 nội dung đều có tổng tỉ lệ lựa chọn mức độ thực hiện từ “thỉnh thoảng” đến “không thực hiện” khá cao, từ 42,7% đến 65,3% (tức là khoảng 50% mẫu khảo sát). Điều này một lần nữa khẳng định mặc dù các trường THCS đã xác định được khá đầy đủ các mục tiêu giáo dục PCMT nhưng lại chưa thực sự hiện thực hóa mục tiêu này thành các nội dung giáo dục một cách cụ thể.

2.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo được tổ chức qua các nội dung thể hiện ở bảng 2.6:

Bảng 2.6. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo

Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tổ chức quá trình dạy học chuyên nghiệp trong các cơ sở giáo dục chuyên trách, trong đó diễn ra sự liên kết một cách thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học và sự tương tác đa chiều giữa những chủ thể dạy và học. Mỗi hình thức tổ chức dạy học thực hiện một nội dung nhất định, được tổ chức theo một trình độ nhất định, với một chế độ học tập và trong một không gian, thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu dạy và học đã đặt ra. Vận dụng vào hoạt động giáo dục có thể nói hình thức tổ chức dạy học là cách sắp xếp, tổ chức các biện pháp sư phạm. Hình thức tổ chức dạy học thay đổi tùy theo mục đích, nhiệm vụ dạy học và tùy theo số lượng người học. Như vậy, với mục tiêu cũng như nội dung giáo dục PCMT đa dạng và phong phú như đã xác định ở trên, để đạt được hiệu quả đòi hỏi cần phải thực hiện đa dạng các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục.

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.6 cho thấy có 3/5 hình thức được các trường THCS thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với ĐTB từ 3,52 đến 3,69 là: “Thông qua dạy học các môn học” (ĐTB = 3,69); “Qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3,59) và “Qua sinh hoạt tập thể” (ĐTB = 3,52). Có thể nói đây là 3 hình thức dạy học và giáo dục cơ bản nhất thường xuyên được áp dụng trong các trường THCS không chỉ trong hoạt động GD PCMT mà còn trong tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Do đó, kết quả nghiên cứu này cũng không quá bất ngờ.

Hai hình thức tổ chức còn lại với ĐTB lần lượt là 3,33 và 3,31 được đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” bao gồm: “Qua các hoạt động xã hội” và “Qua hoạt động ngoại khóa”. Hai hình thức tổ chức dạy học và giáo dục này hiện đang được các nhà Giáo dục học khuyến khích sử dụng, đặc biệt là trong các hoạt động giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống cho HS, bởi những hiệu quả mà nó đem lại. Hình thức giáo dục này giúp HS được học qua những trải nghiệm thực tế. Việc trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin; việc học cũng trở nên thú vị hơn với học sinh và việc dạy trở nên thú vị hơn với giáo viên. Tuy nhiên, hai hình thức này lại chưa được các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo quan tâm thực hiện. Đây là điều khá đáng tiếc, nhưng cũng cần phải chú ý thêm rằng để tổ chức hiệu quả 2 hình thức này đòi hỏi cần có sự phối hợp của các tổ chức xã hội khác trong công tác giáo dục HS.

2.3.5. Biện pháp giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

Bảng 2.7. Biện pháp giáo dục PCMT tại các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.7 cho thấy, có 12/14 phương pháp tổ chức giáo dục PCMT cho HS đã được các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo tổ chức thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với ĐTB từ 2,69 đến 3,33. Xếp ở vị trí đầu tiên là: “Tuyên truyền thông qua các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, chào cờ, HĐGDNGLL” (ĐTB = 3,33). Công tác truyền thông – tuyên truyền là một phương pháp được thực hiện nhằm chuyển biến về nhận thức và ý thức trách nhiệm phòng, chống tệ nạn ma túy trong nhà trường. Có thể nói đây là phương pháp giáo dục PCMT cơ bản được thực hiện trong nhiều năm qua ở các trường phổ thông nói chung và các trường THCS nói riêng. Hàng năm, các trường đều phối hợp với các Sở ban ngành, Đoàn thể tổ chức tuyên truyền về tệ nạn ma túy cho HS thông qua các buổi sinh hoạt dưới cờ hoặc thông qua các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, các chủ đề sinh hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp.

“Tổ chức ký cam kết giữa HS và nhà trường, có chữ ký của CMHS” là phương pháp được thực hiện “thường xuyên” và xếp ở vị trí thứ 2 với ĐTB = 3,30. Thực tế, đây là phương pháp “truyền thống” được nhiều trường thực hiện vào đầu mỗi năm học. Mặc dù vậy, có thể nói việc ký cam kết này tuy được thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả của phương pháp này cũng cần phải xem xét một cách thấu đáo, bởi hiện nay việc tổ chức ký cam kết gần như được thực hiện một cách hình thức, chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu đặt ra của phương pháp.

Với ĐTB = 3,25, “Thi vẽ tranh về ma túy” là phương pháp được xếp ở vị trí thứ 3. Đây cũng là một cách thức tổ chức khá quen thuộc và hiệu quả được thực hiện ở các trường phổ thông trong công tác GD PCMT. Thông qua hoạt động vẽ tranh, HS được thể hiện khả năng sáng tạo phong phú thông qua các tác phẩm với nội dung tuyên truyền về sự nguy hiểm của ma túy, các hình thức sử dụng ma túy như: hút, tiêm chích heroin, sử dụng thuốc lắc, ma túy tổng hợp; nhận thức của người dân về việc tự bảo vệ bản thân, gia đình và xã hội trước tệ nạn ma túy; hậu quả của ma túy đối với sức khỏe, tính mạng con người; chống kỳ thị, phân biệt đối xử người cai nghiện ma túy…

Một số các biện pháp khác, tuy không có thứ hạng cao nhưng vẫn được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” tổ chức và có ĐTB khá gần với các biện pháp xếp ở những thứ hạng đầu tiên, có thể kể đến như: Tổ chức giảng dạy lồng ghép các nội dung phòng chống ma túy vào các môn học (ĐTB = 3,23); Thi viết bài tìm hiểu về ma túy, Luật phòng chống ma túy (ĐTB = 3,21); Tổ chức sưu tầm hình ảnh về vấn đề ma túy (ĐTB = 3,11),…

Hai nội dung xếp ở vị trí cuối cùng và cũng là hai nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” bao gồm: Tham quan thực tế các trung tâm cai nghiện ma túy (ĐTB = 2,56); Thành lập đội đặc nhiệm phòng chống ma túy trong trường học (ĐTB = 2,58). Tỉ lệ “không thực hiện” ở hai nội dung này cũng khá cao (lần lượt là 22,6% và 24,2%). Đều này chứng tỏ hai biện pháp này chưa thực sự được các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo quan tâm thực hiện. Việc tham quan các trung tâm cai nghiện ma túy sẽ giúp HS có những trải nghiệm thực tế từ đó có những nhận thức và thái độ đúng đắn với ma túy và hiện tượng nghiện ma túy, từ đó có những hành vi thích hợp. Việc ‘Thành lập đội đặc nhiệm phòng chống ma túy trong trường học” giúp công tác PCMT trở thành một phần trong hoạt động hàng ngày của nhà trường, thực sự đưa công tác PCMT trở nên thiết thực hơn. Luận văn: Khái quát giáo dục học sinh THCS huyện Phú Giáo

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục PCMT trên huyện Phú Giáo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464