Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam đã coi sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN). Sáng chế là một dạng tài sản trí tuệ (TSTT) đặc biệt, thuộc loại tài sản vô hình (TSVH) và đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển. Bằng sáng chế không những tạo động lực cho nghiên cứu khoa học (NCKH) và đổi mới sáng tạo mà còn góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư và thúc đẩy chuyển giao công nghệ (CGCN). Sử dụng và khai thác thương mại hợp lý loại tài sản này sẽ làm gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHTT theo các chuẩn mực của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm lớn việc khai thác thương mại đối với sáng chế.

Cụ thể, pháp luật về SHTT, CGCN, thương mại, đầu tư, doanh nghiệp và giao dịch bảo đảm (GDBĐ) đã có những quy định tích cực như: khuyến khích chủ sở hữu khai thác thương mại đối với sáng chế; khuyến khích chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế từ trường đại học, viện nghiên cứu cho doanh nghiệp; khuyến khích các tổ chức, cá nhân thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KHCN); tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đổi mới công nghệ, v.v.

Tuy nhiên, vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế còn tương đối mới trong thực tiễn khai thác thương mại các loại TSTT của Việt Nam. Hơn nữa, theo truyền thống và thực tiễn đời sống pháp lý Việt Nam, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng hiện nay chủ yếu được đề cập dưới góc độ dân sự. Sáng chế mới chỉ được đề cập trong các văn bản pháp luật của Việt Nam chủ yếu nghiêng về hướng bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế, tức là mới chỉ đề cập đến sáng chế ở trạng thái “tĩnh” hơn là các quy định về khai thác, thương mại hóa (TMH) sáng chế – đề cập đến sáng chế ở trạng thái “động”. Do vậy, pháp luật của nước ta vẫn còn khá nhiều hạn chế và bất cập trong việc cụ thể hóa các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm thúc đẩy hoạt động này.

Xác định được tầm quan trọng của việc khai thác TSTT, đặc biệt là sáng chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, coi đó là điều kiện sống còn đối với sự phát triển của nước nhà trong thời gian tới, Việt Nam đang nhanh chóng tiến hành hoàn tất các thủ tục, sửa đổi hệ thống pháp lý có liên quan, đặc biệt là pháp luật về SHTT để sớm đưa Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực và tiếp tục thực hiện các cam kết đã ký đồng thời đảm bảo phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Cụ thể, chúng ta cần tiến hành sửa đổi Luật SHTT, Luật CGCN và các văn bản pháp quy có liên quan theo hướng tăng cường bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế hơn nữa nhằm đáp ứng các cam kết của Việt Nam khi gia nhập TPP đồng thời cần đưa ra các quy định pháp lý phù hợp để tăng khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học và công nghệ (KHCN) của người dân nhằm đảm bảo sự phát triển KT-XH của nước nhà.Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Nhằm đáp ứng các mục tiêu trên, chúng ta cần hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, qua đó khuyến khích việc khai thác thương mại đối với sáng chế. Do vậy, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia khác cũng là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Đề tài luận án tiến sĩ “Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam” được thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cầu trên.

2 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu

Luận án sẽ nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại mang tính tự nguyện của chủ sở hữu sáng chế tại Việt Nam. Trên thực tế, các hình thức khai thác thương mại mang tính tự nguyện của chủ sở hữu sáng chế bao gồm nhiều hình thức khác nhau như chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế, chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế bao gồm chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và li-xăng sáng chế, chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

Do vậy, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích và so sánh lần lượt pháp luật về các hình thức khai thác thương mại tự nguyện nói trên nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

  • Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm rõ về mặt cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn pháp luật của Việt Nam về các hình thức khai thác thương mại mang tính tự nguyện đối với sáng chế. Từ đó đề xuất các phương hướng, tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận, kiến nghị những giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế trong phạm vi những vấn đề nghiên cứu đã được xác định. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra và giải quyết cụ thể là:

Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ hai, nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế (trong đó có pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới).

Thứ ba, nghiên cứu thực trạng các quy định hiện hành về khai thác thương mại đối với sáng chế theo pháp luật của Việt Nam và thực tiễn áp dụng.

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận áp dụng chủ yếu cho việc nghiên cứu luận án là phân tích, giải thích, so sánh, tổng hợp các quy định pháp lý có liên quan đến các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng như các giới hạn quyền khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam, của pháp luật quốc tế, của một số nước trên thế giới để chỉ rõ những điểm giống nhau, khác nhau và những điểm cần khắc phục trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Phương pháp so sánh còn được sử dụng để so sánh các điều kiện ra đời của các quy định trong nước và quốc tế này. Từ đó có thể rút ra giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam về khai thác thương mại đối với sáng chế nói chung và hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng.

Để thực hiện tốt các phương pháp trên, tác giả sẽ sử dụng các tài liệu pháp luật, văn bản pháp quy, bài báo khoa học, công trình nghiên cứu chuyên khảo, tài liệu chuyên môn từ quá trình tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học cũng như các số liệu thống kê của các cơ quan chức năng trong và ngoài nước có liên quan.

Phương pháp phân tích, tổng hợp, giải thích pháp luật chủ yếu được sử dụng để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề mang tính lý luận về sáng chế, các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Hơn nữa, phương pháp thống kê, dự báo cũng sẽ được sử dụng trong luận án khi xử lý các số liệu từ các báo cáo tổng hợp về hoạt động khai thác sáng chế trong và ngoài nước để cho thấy vai trò của khai thác thương mại đối với sáng chế, đưa ra thực trạng pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

Ngoài ra, tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích pháp lý để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và quốc tế cũng như để phân tích các tài liệu chuyên khảo, các bài viết trong các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước.

4 Những đóng góp mới của luận án Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Tình hình nghiên cứu về khai thác thương mại đối với sáng chế nói chung và các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng tại Việt Nam còn rất khiêm tốn. Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào của Việt Nam hoặc trên thế giới nghiên cứu về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Do vậy, luận án tiến sĩ “Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam” là một đề tài hoàn toàn mới.

Luận án cũng là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ, toàn diện, có hệ thống các quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở so sánh, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn trong các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng như của pháp luật quốc tế.

Dù đã có một vài nghiên cứu đề cập một cách rải rác về khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam nhưng luận án đã có những phát hiện, phương pháp nghiên cứu, cách sắp xếp mới mở ra hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với các đối tượng quyền SHTT khác.

Một điểm mới của Luận án là phương pháp so sánh được sử dụng trong luận án không chỉ được áp dụng để so sánh các quy định pháp luật hiện hành về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam với pháp luật quốc tế cũng như quy định của một số quốc gia khác có liên quan mà còn được áp dụng để so sánh điều kiện ra đời của các quy định trong nước và quốc tế này.

Nội dung nghiên cứu của luận án còn có một số đóng góp mới trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam, cụ thể như:

Thứ nhất, nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam từ đó chỉ ra những nguyên nhân hạn chế trong lĩnh vực này ở Việt Nam.

Thứ hai, so sánh, đối chiếu các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam với các quy định pháp lý có liên quan trong một số công ước quốc tế quan trọng, trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ ba, nêu ra những kiến nghị, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm thúc đẩy việc khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận án có ý nghĩa quan trọng, góp phần nhất định vào việc bổ sung, phát triển cơ sở lý luận, hoàn thiện các quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam nói chung nhằm đáp ứng các yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Những kết quả nghiên cứu và phân tích của luận án có thể được dùng để tham khảo, bổ sung, sửa đổi cho các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo hộ sáng chế cũng như những quy định pháp lý về giới hạn quyền đối với sáng chế tại Việt Nam.

Luận án này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực SHTT, CGCN trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về SHTT và CGCN trong thời gian tới.

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án, tài liệu tham khảo, Luận án được cấu trúc bao gồm 4 chương như sau:

  • Chương 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
  • Chương 2 – Cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế
  • Chương 3 – Thực trạng pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam
  • Chương 4 – Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, khái niệm SHTT nói chung và sáng chế nói riêng không phải là những khái niệm còn quá mới mẻ ở Việt Nam. Nhận thức chung của các giới về vai trò của SHTT và sáng chế đã ngày càng được cải thiện, số lượng đơn đăng ký xác lập quyền đã tăng hơn so với trước. Tuy nhiên, mức độ nhận thức này vẫn chưa cao. Đã có một số công trình chuyên khảo, bài báo khoa học tại Việt Nam đề cập về sáng chế dưới nhiều góc độ khác nhau như pháp luật, kinh tế, kỹ thuật nhưng chủ yếu các tài liệu này mới chỉ đề cập đến các khái niệm cơ bản về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế. Khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế và hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã được nhắc đến ở một vài tài liệu nhưng hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và hệ thống về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế dưới góc độ pháp lý. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Hơn nữa, trên thế giới, khái niệm và pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã được đề cập trong khá nhiều công trình, tài liệu nhưng chủ yếu các tài liệu này chỉ đề cập cụ thể đến pháp luật riêng rẽ của một số quốc gia hoặc những quy định pháp lý của một số điều ước quốc tế có liên quan mà chưa hề có một tài liệu nào đề cập toàn diện, sâu sắc đến pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Do vậy, luận án một mặt sẽ kế thừa các nghiên cứu đã có đồng thời sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu và rộng hơn pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế theo hướng tập trung vào giải quyết các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn.

Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án hiện đang tập trung vào ba nhóm chính:

  • Nhóm công trình nghiên cứu mang tính lý luận chung về sáng chế.
  • Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế.
  • Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu mang tính lý luận chung về sáng chế

Sáng chế là một đối tượng quan trọng của quyền SHTT. Do vậy, trong hầu hết các tài liệu nói chung về SHTT ở trong và ngoài nước, đối tượng sáng chế đều được nhắc đến. Tuy nhiên, do tầm quan trọng đặc biệt của sáng chế, có một số công trình, tài liệu trên thế giới đã đề cập riêng đến sáng chế.

Qua tìm hiểu một số công trình, tài liệu theo các kênh hiện có, việc nghiên cứu lý luận chung về sáng chế dưới góc độ pháp lý luôn được các tác giả, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý nhất là các công trình: “Patents and Development” (Sáng chế và Phát triển) của TS. Patricia Kameri-Mbote (1994); “Brevets et sous-développement-La protection des inventions dans le Tiers-monde” (Sáng chế và sự kém phát triển-Bảo hộ sáng chế tại Thế giới thứ ba) của các tác giả Martine Hiance và Yves Plasseraud (1972), Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Sở hữu Công nghiệp, Khoa Luật và Khoa học Kinh tế-Chính trị Strasbourg; “Industrial Property Rights Standard Textbook-Patents” (Sách Chuẩn về Quyền Sở hữu công nghiệp-Sáng chế), Viện Sáng chế và Đổi mới Sáng tạo của Nhật Bản (2003); “Brevet, innovation et intérêt général-Le Brevet: pourquoi et pourquoi faire?” (Sáng chế, đổi mới sáng tạo và lợi ích chung-Sáng chế: tại sao và tại sao phải có?), Nhà xuất bản (NXB) Larcier, 2007. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra được các góc nhìn khác nhau trả lời cho câu hỏi Sáng chế là gì?; Bản chất pháp lý của sáng chế; Sáng chế có những đặc điểm giống và khác biệt như thế nào so với các loại TSTT khác?; Các nội dung quyền tài sản đối với sáng chế; Các học thuyết đối với sáng chế; Một số loại hình sáng chế, đối tượng và điều kiện bảo hộ sáng chế; Ý nghĩa của việc bảo hộ và khai thác sáng chế; Vai trò, tầm quan trọng của sáng chế đối với việc tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như hỗ trợ sự phát triển KHCN và KT-XH của quốc gia; Hệ thống sáng chế quốc tế, khu vực và của một số quốc gia trên thế giới; Quan điểm của quốc gia đang phát triển về hệ thống sáng chế; các điều khoản chính về sáng chế trong Công ước Paris, trong Hiệp định Khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia đang phát triển.

Ngoài ra, một số cuốn sách chuyên khảo còn đi sâu hơn vào một vài khía cạnh quan trọng liên quan đến sáng chế. Cuốn sách “Brevets et sous-développement-La protection des inventions dans le Tiers-monde” của các tác giả Martine Hiance và Yves Plasseraud đã đề cập đến lợi ích của sáng chế đối với các quốc gia kém phát triển, cái giá phải trả cho vấn đề phát triển sáng chế tại các quốc gia này, định hướng mới về pháp lý và thể chế liên quan đến sáng chế, cách thức tận dụng lợi thế sáng chế của các nước kém phát triển. Cuốn “Industrial Property Rights Standard Textbook- Patents” của Viện Sáng chế và Đổi mới Sáng tạo của Nhật Bản lại nghiên cứu một cách chuyên sâu sự khác biệt giữa sáng chế và các đối tượng SHCN khác.

Tại Việt Nam, nhất là vào những năm cuối của quá trình đàm phán gia nhập WTO trở lại đây, vấn đề SHTT nói chung và sáng chế nói riêng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu về sáng chế đề cập đến các khía cạnh khác nhau và dưới nhiều góc độ khác nhau về sáng chế. Tuy nhiên, phần lớn các công trình, tài liệu nghiên cứu về SHTT đều đề cập đến vấn đề tổng quan về quyền SHTT, bảo hộ và thực thi quyền SHTT.

Có thể kể đến một số bài báo tiêu biểu như: “Tổng quan về pháp luật sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam” của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa (2001), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; “Pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam” của PGS. TS. Đinh Văn Thanh (2004), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; “Pháp luật về Sở hữu công nghiệp trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” của TS. Nguyễn Thanh Tâm (2007), Tạp chí Luật học, số 1/2007; “Quyền sở hữu trí tuệ trong Hiến pháp Việt Nam” của TS. Lê Mai Thanh (2012), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, v.v.

Một số cuốn sách chuyên khảo tiêu biểu về SHTT có thể kể đến là: “Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ” của PGS. TS. Phùng Trung Tập (2004); “Quyền sở hữu trí tuệ” của TS. Lê Nết (2006), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; “Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ” của TS. Phạm Văn Tuyết và ThS. Lê Kim Giang (2008), NXB Tư pháp; “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS. TS. Nguyễn Bá Diến (2010), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của TS. Kiều Thị Thanh (2013), NXB Chính trị-Hành chính.

Liên quan đến các luận án tiến sĩ luật học về sáng chế, điển hình có thể kể đến là “How to Comply with the TRIPS and WTO Law: The New Challenges to Vietnam’s Patent Legislation from WTO Dispute Settlement Practice” (Làm thế nào để tương thích với Hiệp định TRIPS và quy định của WTO: Những thách thức mới đối với pháp luật về sáng chế từ thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO), Trường Đại học Nagoya, Nhật Bản của nghiên cứu sinh Phạm Hồng Quất (2007).

Từ các công trình đã dẫn ở trên, có thể thấy rằng có nhiều công trình nghiên cứu về SHTT dưới góc độ pháp lý đã đi sâu vào nghiên cứu một số đối tượng SHCN nhưng lại tập trung chủ yếu vào nhãn hiệu. Rất ít công trình đề cập chuyên sâu về sáng chế.

Hơn nữa, sáng chế là sự sáng tạo mang tính chất kỹ thuật, nên có một số bài viết chuyên sâu về sáng chế được đăng trên các tạp chí của Bộ KHCN hơn là được đăng trên các tạp chí luật học. Phần lớn các đề tài chuyên sâu nghiên cứu về lĩnh vực này đều do Bộ KHCN chứ không do Bộ Tư pháp cấp kinh phí thực hiện. Trong số các công trình đề cập chuyên về sáng chế đăng trên tạp chí của Bộ KHCN có thể kể đến bài viết “Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”, “sáng chế” của PGS. TS. Trần Văn Hải (2007), Tạp chí Hoạt động khoa học, số 6/2007 (577). Bài báo đã giải thích được khái niệm sáng chế là giải pháp mang tính kỹ thuật và được cấp văn bằng bảo hộ (VBBH) nếu đáp ứng các điều kiện bảo hộ sáng chế đồng thời phân biệt được sáng chế với một số đối tượng khác như “phát hiện” và “phát minh”.

Tóm lại, các công trình nghiên cứu mang tính cơ sở lý luận về sáng chế đã thành công trong việc nghiên cứu lý luận, đưa ra được một số góc nhìn khác nhau trả lời cho câu hỏi Sáng chế là gì?; Đặc điểm, vai trò của sáng chế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; Điều kiện và đối tượng bảo hộ sáng chế; Phân biệt sáng chế với các đối tượng khác có liên quan; Khái quát các quyền đối với sáng chế; Thực thi bảo hộ quyền SHTT trong đó có bảo hộ sáng chế. Tuy nhiên, các công trình này vẫn chưa đề cập nhiều về vấn đề bản chất thương mại của sáng chế cũng như về việc khai thác, sử dụng sáng chế, đặc biệt là các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế. Nếu vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế có được đề cập trong các tài liệu này thì vẫn thiếu tính hệ thống.

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Trước những yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn của việc bảo hộ quyền SHTT, ngoài những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về sáng chế nói trên, qua tìm hiểu một số tài liệu hiện có, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến lý luận về bảo hộ sáng chế. Có thể nói rằng vấn đề bảo hộ sáng chế là vấn đề trọng tâm được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.

  • Nhóm công trình nghiên cứu về tiêu chí và vai trò của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Trong số các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận chung về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế của nước ngoài có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau: “How Does Patent Protection Help Developing Countries?” (Bảo hộ sáng chế có lợi ích gì cho các quốc gia đang phát triển?) của Ali M. Imam (2006); “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use” (Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, Pháp luật và Sử dụng) của WIPO (2001). Các công trình này đã đề cập đến vai trò và tác động của việc bảo hộ sáng chế trong việc hỗ trợ các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, thúc đẩy công nghệ nội sinh, phát triển KT-XH. Có thể nói rằng, cuốn cẩm nang “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use” của WIPO (2001) là công trình nghiên cứu tổng quan, căn bản nhất về pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế trong số các công trình nghiên cứu chuyên khảo của nước ngoài. Tác phẩm đã đề cập một cách tổng quát pháp luật quốc tế về bảo hộ sáng chế, ví dụ như các điều kiện cấp bằng, việc soạn thảo và nộp đơn xin cấp bằng, quy trình thẩm định đơn đăng ký sáng chế.

Ở Việt Nam, cần phải kể đến một số công trình tiêu biểu có liên quan như các bài báo: “Tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền của Việt Nam” của PGS. TS. Trần Văn Hải (2013) và “Thị trường độc quyền sáng chế và sự can thiệp của Nhà nước” của Th.S Nguyễn Hữu Cẩn (2013). Bài báo “Tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền của Việt Nam” của PGS. TS. Trần Văn Hải (2013) đã nghiên cứu điều kiện bảo hộ sáng chế trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật của Việt Nam, đồng thời đề cập kinh nghiệm của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Mê-hi-cô về bảo hộ quyền SHTT đối với y học cổ truyền cũng như đề xuất ra một số giải pháp bảo hộ bài thuốc y học cổ truyền của Việt Nam. Bài báo “Thị trường độc quyền sáng chế và sự can thiệp của Nhà nước” của ThS. Nguyễn Hữu Cẩn (2013) đã thừa nhận cơ chế bảo hộ độc quyền đối với sáng chế có thể đem lại lợi ích nhất định. nhưng việc lạm dụng độc quyền một cách thái quá cũng tạo ra những khuyết tật của thị trường và gây nên những tác động tiêu cực với xã hội ví dụ như chủ sở hữu có thể ngăn chặn việc gia nhập thị trường của đối thủ, ngăn chặn sự đổi mới, cải tiến của đối thủ, cấp li-xăng một cách thiên vị để tạo nên độc quyền nhóm, v.v. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Ngoài ra, cũng có thể kể đến một số công trình chuyên khảo, luận án tiến sĩ luật học, luận văn thạc sĩ luật học đề cập về vai trò của bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế và điều kiện cấp bằng sáng chế như “Cẩm nang pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ” của TS. Đinh Thị Mai Phương (chủ biên) (2004), NXB Chính trị Quốc gia; “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, của GS. TS. Lê Hồng Hạnh (chủ biên) (2005), NXB Chính trị Quốc gia; “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Lê Xuân Thảo (1996), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp” của học viên cao học Điêu Ngọc Tuấn (2004), Trường Đại học Luật Hà Nội; “Điều kiện về bảo hộ sáng chế trong pháp luật Việt Nam” của học viên cao học Trần Trung Kiên (2007), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế” của học viên cao học Nguyễn Văn Bảy (2012), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

  • Nhóm công trình nghiên cứu về đối tượng và hình thức bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Khác với các quốc gia đang phát triển, trình độ nhận thức cũng như mức độ nghiên cứu về SHTT nói chung và sáng chế nói riêng tại các quốc gia phát triển tiến bộ hơn rất nhiều. Trong nhiều năm trở lại đây, các công tŕnh nghiên cứu pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại các quốc gia phát triển không chỉ đề cập đến cơ sở lý luận chung về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế mà đã gắn kết, nghiên cứu chuyên sâu pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế trong một số lĩnh vực nhất định. Trong đó nổi bật có thể kể đến là bài báo: “American Patent Policy, Biotechnology, and African Agriculture: the Case for Policy Change” (Chính sách bảo hộ sáng chế của Hoa Kỳ, Công nghệ sinh học và Nông nghiệp Châu Phi: Vụ việc làm thay đổi chính sách) của Michael R. Taylor và Jerry Cayford (2004). Công trình này đã đề cập đến ảnh hưởng của chính sách và pháp luật về bảo hộ sáng chế trong việc giải quyết các vấn đề về an ninh lương thực, đổi mới nền nông nghiệp, bảo hộ sáng chế liên quan đến phần mềm máy tính và công nghệ sinh học. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Cũng có một số công trình chuyên khảo khác đề cập một cách hệ thống, toàn diện về các đối tượng và hình thức bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại một số vùng và quốc gia trên thế giới. Tại các quốc gia Châu Âu, có thể kể đến một số cuốn sách nổi bật như “Intellectual Property Law in Europe” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Châu Âu), Guy Tritton (chủ biên) (2002), NXB London Sweet & Maxwell và “A concise guide to European Patents: Law and Practice” (Hướng dẫn cụ thể về sáng chế Châu Âu: Pháp luật và Thực tiễn) của Gerald Paterson M.A. (1995), NXB London Sweet&Maxwell. Các công trình này đã thành công trong việc phân tích các quy định pháp lý về bảo hộ sáng chế trong các công ước quốc tế và khu vực như Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, Hiệp ước PCT và đặc biệt là Công ước Sáng chế Châu Âu nói chung cũng như của nhiều nước trong khu vực nói riêng. Ngoài ra, có một số công trình khác cần kể đến như “Droit des Brevets d’Invention et protection du savoir- faire” (Luật Sáng chế và bảo vệ bí quyết công nghệ) của Mireille Buydens (1999); “Droit de la Propriété Industrielle” (Quyền Sở hữu công nghiệp) của Frédéric Pollaud-Dulian (1999) và “Droit de la Propriété Industrielle” (Quyền Sở hữu công nghiệp) của Jacques Azéma và Jean-Christophe Galloux (2006). Các cuốn sách chuyên khảo này còn đề cập đến các nguồn luật của Pháp cũng như quốc tế về sáng chế, một số đối tượng và hình thức sáng chế được bảo hộ như giống cây trồng, giống động vật, sáng chế công vụ.

Tại khu vực Châu Á, cùng cách tiếp cận như một số cuốn sách đã nêu ở trên, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như “Intellectual Property Law in Asia” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Châu Á), Christopher Heath (chủ biên) (2003); “Intellectual Property Law in China” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc), Christopher Heath (Biên tập) (2005); “Intellectual Property Law in Korea” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Hàn Quốc), Christopher Heath (Biên tập) (2003). Các tài liệu này cũng thành công trong việc đề cập một cách tổng quát đến pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế của nhiều quốc gia Châu Á trong đó có Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam.

Tại Hoa Kỳ, có thể kể đến cuốn sách chuyên khảo “Le Brevet Américain – Protéger et Valoriser l’Innovation aux États-Unis” (Sáng chế Hoa Kỳ-Bảo vệ và Gia tăng giá trị của Đổi mới sáng tạo tại Hoa Kỳ) của André Bouju (1988). Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại Hoa Kỳ.

Các công trình kể trên cho thấy pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại các quốc gia này khá đồng nhất với quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, khác với Châu Âu, các quốc gia Châu Á vẫn chưa có một hiệp ước chung mang tính khu vực về SHTT nói chung và sáng chế nói riêng.

Tại Việt Nam, có thể kể đến một số công trình đề cập đến các đối tượng và hình thức bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế, ví dụ như “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ sinh học-Pháp luật và thực tiễn của Châu Âu và Hoa Kỳ” của TS. Nguyễn Như Quỳnh (2006). Bài báo này đã đề cập đến vấn đề pháp lý cơ bản về bảo hộ quyền SHTT đối với công nghệ sinh học bao gồm cơ sở pháp lý và thực tiễn bảo hộ công nghệ sinh học dựa trên quy định pháp lý cũng như án lệ của Châu Âu, Hoa Kỳ. Bài báo cũng đề cập đến các sáng chế công nghệ sinh học và việc bảo hộ các sáng chế này tại Châu Âu và Hoa Kỳ.

Tóm lại, đã có nhiều công trình chuyên khảo khái quát những vấn đề lý luận về pháp luật bảo hộ quyền SHCN nói chung và pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ tập trung vào phân tích vai trò, các điều kiện, đối tượng, hình thức bảo hộ sáng chế; quy trình nộp đơn, xử lý, thẩm định đơn đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế. Hơn nữa, các nghiên cứu này chưa gắn vấn đề bảo hộ sáng chế với hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế.

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Nhóm đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về khai thác thương mại sáng chế

Khai thác thương mại đối sáng chế là các đề tài đã được nghiên cứu từ lâu, dưới nhiều góc độ khác nhau tại các quốc gia phát triển. Số lượng các công trình, tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực này bắt đầu tăng lên từ những năm 1970 của thế kỷ trước do luồng CGCN từ các quốc gia công nghiệp phát triển sang các quốc gia đang phát triển bắt đầu rộ lên.

Trong lĩnh vực pháp lý, có thể kể đến một số công trình như: “Licensing and exploitation of patents” (Li-xăng và khai thác sáng chế) của Holloway. H (1968); “Emerging restriction on the transfer of technology” (Hạn chế nổi cộm về chuyển giao công nghệ) của John C. Green (1971); “Patents and the Transfer of Technology to Developing Countries”(Sáng chế và Chuyển giao Công nghệ tới các Quốc gia đang phát triển) của GS. John Barton (George E. Osborne Professor of Law, Emeritus), Đại học Luật Stanford trình bày tại Hội thảo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về Quyền Sở hữu trí tuệ, Đổi mới Sáng tạo và Phát triển Kinh tế, Paris, 29/08/2003. Ngoài ra, có thể kể đến các cuốn sách chuyên khảo của GS. Michael Blackeney: “Legal Aspects of the Transfer of Technology to Developing Countries” (Các khía cạnh pháp lý của Chuyển giao công nghệ đối với các quốc gia đang phát triển), NXB Oxford: ESC Publishing, 1989; “Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights: A Concise Guide to the TRIPS Agreement”(Các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ: Hướng dẫn cụ thể đối với Hiệp định TRIPS), NXB Sweet&Maxwell, London, 1996. Các công trình nói trên đã đề cập nhiều đến khía cạnh thương mại của sáng chế, khái quát được tầm quan trọng của việc khai thác sáng chế đối với việc CGCN, phát triển kinh tế của quốc gia và doanh nghiệp.

Khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, các công trình nghiên cứu về sáng chế nói chung và khai thác sáng chế nói riêng đã được nghiên cứu một cách chuyên sâu, gắn liền với hoạt động đổi mới sáng tạo. Có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này nhưng phần lớn đều dưới góc độ kinh tế, quản lý. Trong số các bài viết chuyên sâu về việc khai thác thương mại sáng chế dưới góc độ pháp lý hoặc chính sách, có thể kể đến một số công trình quan trọng như “. “How Do Patent Laws Influence Innovation: Evidence from Nineteenth Century World Fairs” (Pháp luật về sáng chế ảnh hưởng như thế nào đến Đổi mới Sáng tạo: Bằng chứng từ các hội chợ thế giới từ thế kỷ 19) của Moser, P (2003); “Patent Scope and Innovation in the Software Industry” (Phạm vi sáng chế và Đổi mới sáng tạo trong nền Công nghiệp phần mềm) của Cohen, J. and Lemley, M. (2001). Các bài viết này đã cho thấy đổi mới sáng tạo cần được hiểu là việc khai thác, TMH sáng chế một cách thành công trên thị trường. Sáng chế không những cần được đăng ký để được bảo hộ dưới dạng quyền tài sản là VBBH độc quyền mà quan trọng hơn chúng còn cần phải được khai thác, ứng dụng vào sản xuất kinh doanh để đem lại lợi nhuận cho chủ sở hữu. Do vậy, việc khai thác thành công về mặt thương mại đối với sáng chế là điều rất cần thiết.

Tại Việt Nam, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về khai thác sáng chế như: “Khai thác sáng chế của Việt Nam từ thuốc cai nghiện ma túy Cedemex” của Nguyễn Kim Na (2006), Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo, Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam, số 55 (tháng 4/2006); “Kinh nghiệm khai thác các sáng chế nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản” của ThS. Nguyễn Trần Tuyên (2006), Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo, Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam, số 56&57 (tháng 5-6/2006); “Thương mại hóa sản phẩm KH&CN trong trường đại học: nên chọn mô hình nào?” của PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện (2013), Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 8 năm 2013. Các bài viết ở góc độ rộng này đã nêu được khái quát cơ sở lý luận, kinh nghiệm và thực trạng TMH kết quả nghiên cứu trong đó có sáng chế tại một số quốc gia như Nhật Bản và Việt Nam.

  • Nhóm đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về giới hạn quyền khai thác thương mại đối với sáng chế

Để cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế và lợi ích chung của xã hội, cộng đồng, pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới về sáng chế đều ghi nhận những ngoại lệ nhất định nhằm giới hạn quyền của chủ sở hữu trong việc khai thác thương mại đối với sáng chế ví dụ như quyền sử dụng sáng chế phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập; quyền sử dụng sáng chế phục vụ lợi ích công cộng, an ninh- quốc phòng, sức khỏe người dân mà không cần phải xin phép chủ sở hữu, v.v. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Liên quan đến vấn đề này có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu dưới góc độ pháp lý như “Patents and the Progress of Science: Exclusive Rights and Experimental Use” (Sáng chế và sự tiến bộ của khoa học: Quyền độc quyền và Sử dụng thí nghiệm) của Eisenberg, R. (1989); “Toward a Doctrine of Fair Use in Patent Law” (Hướng tới một Học thuyết về Sử dụng Công bằng trong Pháp luật về Sáng chế) của O’Rourke, (2000); “Compulsory Licensing: How to Gain Access to Patented Technology” (Li-xăng cưỡng bức: Tiếp cận với công nghệ được bảo hộ sáng chế như thế nào) của Carlos Maria Correa (2007), Khoa Luật, Đại học Buenos Aires, Ác-hen-ti-na, trích từ Tuyển tập Intellectual Property Management in Health and Agricultural Innovation: a hand book for best practices, MIHR and PIPRA (2007). Các bài viết đã đưa ra quan điểm, chính sách và quy định pháp luật quốc tế cũng như của hầu hết các quốc gia trên thế giới về một số ngoại lệ quan trọng trong việc sử dụng các sáng chế mà không phải xin phép hoặc trả tiền cho chủ sở hữu sáng chế như li-xăng cưỡng bức, khai thác hết quyền, nhập khẩu song song. Các giới hạn quyền này đã ảnh hưởng phần nào đến việc khai thác thương mại đối với sáng chế của chủ sở hữu.

Tại Việt Nam, liên quan đến giới hạn quyền khai thác sáng chế, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ pháp lý như “Pháp luật về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song ở một số quốc gia ASEAN” của TS. Nguyễn Như Quỳnh (2009); “Pháp luật quốc tế về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế” của TS. Lê Thị Nam Giang (2011); “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong điều kiện hội nhập quốc tế” luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Lê Thị Nam Giang (2011), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; “Quyền sử dụng sáng chế và những giới hạn của quyền sử dụng sáng chế theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2014), Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Bài báo của TS. Nguyễn Như Quỳnh đã khái quát cơ sở lý luận về thuyết hết quyền và nhập khẩu song song, theo đó thuyết hết quyền là cơ sở pháp lý cho nhập khẩu song song. Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và thương mại sản phẩm. Nhập khẩu song song là việc nhập khẩu những hàng hóa chính hiệu đã được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác đưa ra thị trường nước ngoài với sự đồng ý của chủ sở hữu. Bài báo còn nêu điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định pháp luật của 04 quốc gia trong khu vực ASEAN (Singapore, Malaixia, Philipin và Việt Nam) về nhập khẩu song song đối với sáng chế trong đó nhấn mạnh nhập khẩu song song là giải pháp hữu hiệu để làm giảm giá bình quân các mặt hàng tại thị trường nội địa, nhất là giá thuốc.

Còn bài báo của TS. Lê Thị Nam Giang đã khái quát cơ sở lý luận về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng (li-xăng bắt buộc, li-xăng không tự nguyện hoặc li-xăng cưỡng bức) sáng chế và đề cập đến các quy định của pháp luật quốc tế trong Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, Tuyên bố Doha điều chỉnh hoạt động này. Theo bài báo, li- xăng cưỡng bức là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép một bên không phải là người nắm độc quyền sáng chế được phép sử dụng sáng chế mà không cần sự cho phép của người nắm độc quyền sáng chế. giới hạn quyền trong khai thác thương mại đối với sáng chế. Bài báo đã cho thấy hầu hết các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển coi li-xăng cưỡng bức là một công cụ quan trọng để cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế và lợi ích của cộng động. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ gặp phải cả cơ hội lẫn thách thức khi vận dụng các quy định của pháp luật quốc tế về li-xăng cưỡng bức. Các cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi áp dụng quy định quốc tế về li- xăng cưỡng bức cũng như các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này đã được trình bày sâu hơn trong luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong điều kiện hội nhập quốc tế” của nghiên cứu sinh Lê Thị Nam Giang (2011), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Nhóm đề tài nghiên cứu cơ sở pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Liên quan đến các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và pháp luật điều chỉnh các hình thức này, có một số công trình đã nhấn mạnh đến các hình thức khai thác thương mại được sử dụng chủ yếu tại hầu hết các quốc gia trong thời gian qua. Trong nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về các hình thức khai thác thương mại sáng chế, có một số công trình tiêu biểu dưới góc độ pháp lý cần phải kể đến ví dụ như: “Licensing as a means of penetrating foreign markets” (Li-xăng là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài) của Zenoff David B. (1970); “Le Brevet Américain – Protéger et Valoriser l’Innovation aux États-Unis” (Sáng chế Hoa Kỳ-Bảo hộ và gia tăng giá trị của đổi mới sáng tạo tại Hoa Kỳ) của André Boujou (1988), NXB Jupiter Précis; “Intellectual Property in Europe” (Sở hữu trí tuệ ở Châu Âu), Guy Tritton (chủ biên) (2002), NXB London Sweet & Maxwell; “Legal rules of Technology transfer in Asia” (Các quy định pháp lý về chuyển giao công nghệ ở Châu Á), Christopher Heath and Kung-Chung Liu (chủ biên) (2002), NXB Kluwer Law International.

Các công trình nói trên đã ghi nhận các hình thức khai thác thương mại căn bản, chính yếu của chủ sở hữu sáng chế tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Á (trong đó có Việt Nam) là chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, đặc biệt là li-xăng sáng chế. Thực tiễn cho thấy chủ sở hữu ít có khả năng tự mình khai thác hoàn toàn sáng chế của mình do thiếu các nguồn lực cần thiết nên việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế được coi là hình thức chủ yếu để khai thác thương mại đối với sáng chế trong thời gian qua. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Ngoài các hình thức trên, cuốn sách “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use” (Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: Chính sách, Pháp luật và Sử dụng), WIPO (2001) còn đề cập đến một hình thức khai thác thương mại khác đối với sáng chế cũng như một hình thức CGCN khác, đó là việc góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh và thành lập doanh nghiệp. Công trình này còn đề cập đến vấn đề định giá sáng chế.

Hơn nữa, tuyển tập “International Technology Transfer-The Origins and Aftermath of the United Nations Negotiations on a Draft Code of Conduct” (Chuyển giao công nghệ quốc tế-Nguồn gốc và kết quả các cuộc đàm phán của Liên hợp quốc về Dự thảo bộ luật hành xử trong hoạt động chuyển giao công nghệ), của các tác giả Surendra J Patel, Pedro Roffe và Abdulqawi Yusuf (2001), NXB Kluwer Law International, đã đề cập đến loại hình li-xăng chéo sáng chế và coi các hợp đồng li- xăng chéo sáng chế là tác nhân thúc đẩy hoạt động CGCN.

Bên cạnh các bài báo đã nêu ở trên, có nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác sáng chế tại một số quốc gia và khu vực trên thế giới. Có những công trình nghiên cứu chuyên sâu lĩnh vực này từ rất sớm cùng thời gian xuất hiện các luồng CGCN từ các quốc gia công nghiệp phát triển sang các quốc gia đang phát triển như “Breveté et licencié-Leurs rapports juridiques dans le contrat de licence” (Người chuyển giao và người nhận chuyển giao li-xăng sáng chế-Mối quan hệ pháp lý trong hợp đồng li-xăng), Jean-Jacques Burst (1970), Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Sở hữu Công nghiệp, Khoa Luật và Khoa học Kinh tế-Chính trị Strasbourg; “Patent and Know-how Licensing in Japan and the United States” (Li-xăng sáng chế và bí quyết kỹ thuật tại Nhật Bản và Hoa Kỳ), Teruo Doi và Warren L. Shattuck (chủ biên) (1977), NXB Đại học Washington; “Licensing Guide for developing countries” (Hướng dẫn li-xăng cho các quốc gia đang phát triển), WIPO (1977); “Les contrats de licence en Droit Socialiste” (Hợp đồng li-xăng trong pháp luật xã hội chủ nghĩa) của Alexandre VIDA (1978), Librairies Techniques; “Le Brevet Américain – Protéger et Valoriser l’Innovation aux États-Unis” (Sáng chế Hoa Kỳ-Bảo hộ và gia tăng giá trị của đổi mới sáng tạo tại Hoa Kỳ) của André Boujou (1988), NXB JUPITER PRÉCIS; “Contrats Internationaux et Pays en Développement” (Các hợp đồng quốc tế và các quốc gia đang phát triển) của Hervé Cassan (1989), NXB Economica; “Droit Européen des Licences Exclusives de Brevets” (Pháp luật Châu Âu về li-xăng độc quyền sáng chế) của Isabelle Roudard (1989), NXB Novelles Editions Fiduciaires. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Các cuốn sách trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận và một số vấn đề cơ bản về chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế như: Tầm quan trọng của các hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, đặc biệt là li-xăng sáng chế, đối với hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế; Một số loại hình li-xăng sáng chế; Các vấn đề pháp lý căn bản liên quan hợp đồng li-xăng sáng chế theo pháp luật của Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, các nước phe xã hội chủ nghĩa, một số quốc gia đang phát triển; Nội dung quyền và nghĩa vụ của bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao li- xăng trong hợp đồng li-xăng sáng chế theo quan điểm một số quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới; Thủ tục, quy trình xét xử tranh chấp về li-xăng sáng chế tại Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản; Thanh toán phí li-xăng và thuế li-xăng sáng chế tại các quốc gia phát triển này.

Một số công trình nghiên cứu khác lại chỉ đề cập đến những vấn đề chuyên biệt có liên quan đến các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế. Cuốn sách “Le contrôle administratif des contrats de licence et de transfert de technologie” (Kiểm soát hành chính các hợp đồng li-xăng và chuyển giao công nghệ) của Bernard Dutoit et Peter Mock (1993), Librairie Droz SA, Genève chỉ tập trụng đề cập đến các vấn đề về kiểm soát hành chính, thủ tục đăng ký các hợp đồng li-xăng sáng chế và hợp đồng CGCN tại các cơ quan có thẩm quyền của nhiều quốc gia trên thế giới. Cuốn sách “The Transfer Pricing of Intangibles” (Chuyển giá các tài sản vô hình) của Michelle Markham (2005), NXB Kluwer Law International lại chủ yếu đề cập đến vấn đề chuyển giá, thuế chuyển giá và định giá sáng chế. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Cũng có một vài bài báo trên các tạp chí quốc tế chuyên sâu về vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế hoặc rộng hơn là CGCN đề cập đến pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Bài báo “Industrial Property Protection in Vietnam” (Bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam) của Christopher Heath (1999), đã phác họa lịch sử hệ thống SHTT của Việt Nam, điểm qua tình hình đăng ký một số đối tượng SHCN như sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, tên gọi xuất xứ (tính đến năm 1997), đề cập đến pháp luật về li-xăng sáng chế và CGCN tại Việt Nam. Bài viết cũng nhấn mạnh đến thủ tục hành chính trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế/công nghệ, việc phê duyệt hợp đồng li-xăng sáng chế, hợp đồng CGCN, các điều khoản chống cạnh tranh trong hợp đồng li-xăng sáng chế, hợp đồng CGCN. Tuy nhiên, hạn chế của bài viết là mới chỉ đề cập đến vấn đề pháp lý trong hoạt động li-xăng sáng chế, CGCN trước khi có luật SHTT, luật CGCN ra đời.

Bài viết “Echoes of Bay-Dole? A survey of IP and Technology Transfer Policies in Emerging and Developing Economies” (Tác động của đạo luật Bay-Dole? Một cuộc điều tra về chính sách sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tại các quốc gia đang phát triển và mới nổi) của Gregory D. Graff, trích từ Tuyển tập Intellectual Property Management in Health and Agricultural Innovation: a hand book for best practices, MIHR and PIPRA (2007), đã đề cập khái quát đến hệ thống pháp luật SHTT và CGCN của Việt Nam trong giai đoạn gia nhập WTO. Bài viết cho rằng các quy định pháp lý về SHTT của Việt Nam tương thích với các tiêu chuẩn, quy định của pháp luật quốc tế ghi nhận trong Hiệp định TRIPS. Bài viết cũng nêu qua thực trạng yếu kém trong việc đăng ký sáng chế tại Việt Nam, chỉ ra được những điểm yếu trong cơ chế thực thi quyền SHTT, những bất cập trong các quy định pháp lý về quyền sở hữu đối với sáng chế, đặc biệt với các tổ chức NCPT. Tuy nhiên, bài viết cũng chưa nêu được các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và pháp luật điều chỉnh các hình thức này.

Tại Việt Nam, đã có một số bài báo, sách chuyên khảo, giáo trình, đề tài, dự án, luận văn đề cập ít nhiều đến việc khai thác thương mại đối với sáng chế dưới góc độ pháp lý nhưng có thể khẳng định rằng hiện chưa có luận án tiến sĩ luật nào đề cập đến pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

Trước tiên, liên quan đến đề tài này dưới góc độ pháp lý, có thể kể đến bài viết “Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh” của TS. Hồ Thúy Ngọc (2014). Bài viết đã so sánh một cách tổng quan pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền SHCN nói chung của Việt Nam và Hoa Kỳ theo các khía cạnh như hình thức, đối tượng, nội dung, xử lý hậu quả khi chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, việc so sánh này chỉ mang tính khái quát chung chung về các đối tượng của quyền SHCN và mới chỉ nhấn mạnh một vài điểm khác biệt nổi cộm về hợp đồng chuyển giao quyền SHCN chứ chưa tập trung phân tích chuyên sâu cũng như chưa so sánh một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế giữa hai quốc gia. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Một số công trình chuyên khảo cũng đã đề cập đến hình thức khai thác sáng chế dưới dạng hợp đồng li-xăng sáng chế như các luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng li- xăng trong pháp luật dân sự Việt Nam” của học viên Phạm Văn Khánh (2005), Trường Đại học Luật Hà Nội; “Contrat de Licence de Brevet en droit Francais et en Vietnamien” (Hợp đồng li-xăng sáng chế theo pháp luật của Pháp và Việt Nam) của học viên Nguyễn Xuân Bách (2009), chương trình đào tạo thạc sĩ liên kết giữa Trường Đại học Ngoại thương và Đại học Tours, Cộng hòa Pháp, v.v. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến một số loại hình li-xăng và so sánh các điều kiện về hình thức, nội dung của hợp đồng li-xăng theo pháp luật của Việt Nam với pháp luật có liên quan của Cộng hòa Pháp mà không khái quát được pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Liên quan đến hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế thông qua việc góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế, đã có một số luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về vấn đề này trong đó có thể kể đến luận văn “Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của học viên Đoàn Thu Hồng (2012), Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình này đã làm nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học pháp lý đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT qua đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT ở Việt Nam. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này cũng chưa tập trung vào đối tượng sáng chế và không khái quát được pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Công trình nghiên cứu một cách toàn diện nhất về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và pháp luật điều chỉnh các hình thức này của Việt Nam so sánh với quy định của một số quốc gia trên thế giới từ trước đến nay phải kể đến cuốn sách chuyên khảo “Quyền SHCN trong hoạt động thương mại” của TS. Nguyễn Thanh Tâm (2006), NXB Tư pháp. Công trình thành công ở chỗ đã đề cập đến các đối tượng quyền SHCN (sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bí mật thương mại) trong trạng thái “động” với tư cách là quan hệ hàng hóa-tiền tệ như là một yếu tố lợi thế trong thương mại. Hơn nữa, công trình đã nêu được khái quát về pháp luật điều chỉnh một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế như chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Tuy nhiên, do cuốn sách chuyên khảo này đề cập ở một phổ rộng các đối tượng của quyền SHCN nên không đề cập được một cách tập trung, chuyên sâu về đối tượng sáng chế. Ngoài ra, cuốn sách mới chỉ nói qua một số hình thức khai thác sáng chế một cách chung chung nhưng vẫn chưa khái quát hóa được nền tảng cơ sở lý luận cũng như chưa nghiên cứu một cách có hệ thống, chưa phân tích một cách sâu sắc nội dung pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

Tóm lại, các công trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan đã tập trung nêu được khái niệm về khai thác thương mại đối với sáng chế; một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế như chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp; pháp luật điều chỉnh một số hình thức này; quyền, nghĩa vụ của bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao li-xăng sáng chế cũng như một số giới hạn quyền đối với khai thác thương mại sáng chế. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ nêu được các nội dung cơ bản về khai thác thương mại đối với sáng chế một cách rời rạc, thiếu hệ thống, thiếu tập trung mà chưa khái quát hóa cao cơ sở lý luận, chưa nêu được một cách có hệ thống pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

1.2 Những vấn đề kế thừa, nghiên cứu sâu hơn, nghiên cứu mới trong luận án và các câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về bảo hộ quyền SHTT nói chung, vai trò của sáng chế, khai thác và bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng đối với sự phát triển KT-XH của quốc gia đã được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.

Vấn đề pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học, chủ yếu là các nhà khoa học nước ngoài đến từ các quốc gia phát triển dưới nhiều cấp độ khác nhau. Có thể thấy rằng, đa số các bài viết, công trình nghiên cứu về sáng chế của các tác giả nước ngoài đã phần nào đề cập đến khía cạnh thương mại của sáng chế, một số công trình đã đi chuyên sâu vào một hoặc một vài hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhưng chưa công trình nào hệ thống hóa các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế dưới góc độ pháp lý.

Khai thác thương mại đối với sáng chế cũng đã bắt đầu được nghiên cứu và đề cập tại nước ta từ chục năm trở lại đây nhưng nghiên cứu cơ sở pháp lý về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế vẫn còn chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học nước nhà trong khi vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn phát triển KHCN, KT-XH, CNH-HĐH và hội nhập quốc tế như hiện nay. Phần lớn các công trình nghiên cứu về sáng chế của các tác giả nước ta trong thời gian qua đã thành công trong việc đề cập đến hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với sáng chế. Có một số tác giả đã thành công trong việc nghiên cứu dưới góc độ so sánh pháp luật về bảo hộ quyền SHCN và khai thác thương mại đối với sáng chế với một số quốc gia trên thế giới, các điều ước quốc tế có liên quan thông qua việc phân tích, đánh giá mức độ phù hợp, tương thích cũng như khác biệt trong quy định pháp luật của nước nhà so với pháp luật của một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, ASEAN, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, v.v. Do vậy, các kết quả nghiên cứu nêu trên là cơ sở lý luận và kinh nghiệm quý báu để tác giả tham khảo, kế thừa, nối tiếp và học hỏi trong quá trình hoàn thành luận án của mình.

Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu các công trình của tác giả nước nhà có thể thấy rằng mặc dù các nhà khoa học của chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về khai thác thương mại đối với sáng chế nhưng phần lớn các công trình này vẫn chưa đề cập một cách hệ thống, toàn diện các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng như chưa kiến nghị được các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế. Hầu hết các công trình này vẫn thiên về nghiên cứu sáng chế ở trạng thái “tĩnh” mà chưa nghiên cứu sáng chế ở trạng thái “động”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, sâu sắc các quy định pháp lý về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế ở Việt Nam là rất cần thiết cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong giai đoạn hiện nay. Có thể khẳng định rằng, công trình luận án là một đề tài độc lập và không trùng lặp các đề tài trên. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

1.2.1 Những vấn đề Luận án cần kế thừa

Trên cơ sở khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực của đề tài luận án nêu ở phần trên, có thể thấy các công trình nghiên cứu dừng lại ở một số hướng chính. Một là nghiên cứu tổng quan về một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế thường được sử dụng như chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế. Hai là nghiên cứu các quy định chung của pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế ở một số quốc gia nhất định. Từ các kết quả nghiên cứu của các công trình đã nêu, Luận án có thể kế thừa các nội dung sau:

  • Thứ nhất, khái niệm và vai trò của sáng chế.
  • Thứ hai, nội dung quyền SHCN đối với sáng chế.
  • Thứ ba, các quyền và cơ sở lý luận của giới hạn quyền trong việc khai thác thương mại đối với sáng chế.
  • Thứ tư, một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế căn bản.
  • Thứ năm, thực trạng pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.
  • Thứ sáu, pháp luật quốc tế và quy định pháp lý của một số quốc gia về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

1.2.2 Những vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn và nghiên cứu mới trong Luận án Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Ngoài những vấn đề cần được kế thừa ở trên, Luận án cũng sẽ nghiên cứu mới, một cách chuyên sâu hơn, có hệ thống và toàn diện các vấn đề sau:

Thứ nhất, cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ hai, một số hình thức khai thác thương mại tự nguyện đối với sáng chế.

Thứ ba, khái niệm pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Khái niệm này cần được nhận diện một cách rõ ràng.

Thứ tư, xu thế phát triển của các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế. Sự nghiên cứu mới này là rất cần thiết để có những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong các quy định pháp lý hiện hành về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ năm, thực trạng các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

Thứ sáu, các nguyên nhân, tồn tại cũng như những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành.

Thứ bảy, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật quốc tế có liên quan. Việc so sánh mới, đối chiếu pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia khác và pháp luật quốc tế có liên quan để chỉ ra các điểm tương thích, ưu điểm trong pháp luật nước nhà đồng thời tìm ra các nhược điểm, nguyên nhân yếu kém, bất cập.

Thứ tám, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

Thứ chín, phương hướng phát triển và các giải pháp mới nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

1.2.3 Các câu hỏi nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh: lý luận, thực tiễn pháp lý và đề xuất giải pháp.

Câu hỏi nghiên cứu chung được đặt ra là pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam là gì và cần thiết phải có các nội dung nào, các giải pháp nào cần thực hiện để hoàn thiện pháp luật này?

Về lý luận, các câu hỏi nghiên cứu cần đặt ra: Cơ sở lý luận về quyền và giới hạn quyền khai thác thương mại đối với sáng chế? Các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế chủ yếu? Khái niệm pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam?

Về thực tiễn pháp lý, các câu hỏi nghiên cứu cần đặt ra: Các quy định pháp lý hiện hành về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam? Các quy định này có tác động như thế nào đối với việc khai thác thương mại sáng chế tại Việt Nam? Quy định của pháp luật quốc tế và Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này như thế nào?

Về giải pháp, các câu hỏi nghiên cứu cần đặt ra: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế? Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một đạo luật riêng về sáng chế hay chưa? Nếu có thì các nội dung chủ đạo cần phải có trong bộ luật riêng rẽ này là gì? Các giải pháp cụ thể nào cần phải có để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam? Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ nội dung nghiên cứu ở trên, có thể rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, Chương 1 đã thể hiện được tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước về sáng chế, bảo hộ sáng chế và khai thác thương mại đối với sáng chế. Có thể thấy rằng, các khía cạnh pháp lý về sáng chế, bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế và khai thác sáng chế đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.

Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tìm được và dựa vào việc tổng hợp các công trình nghiên cứu này, có thể kết luận rằng có một số công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế ở những cấp độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, sâu sắc pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

Thứ ba, Chương 1 cũng xác định được những vấn đề cần kế thừa, cần tiếp tục nghiên cứu cũng như cần nghiên cứu mới về cả lý luận và thực tiễn trong Luận án đồng thời đưa ra được các câu hỏi nghiên cứu. Những vấn đề đó bao gồm việc thống nhất nhận thức về tính chất thương mại, tầm quan trọng của việc khai thác thương mại sáng chế; cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; xu thế phát triển của các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; nhận diện khái niệm pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; thực trạng quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này có so sánh với các quy định có liên quan của pháp luật quốc tế; đề xuất, kiến nghị các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam.

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ

Sáng chế đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới, phát triển và ngày càng quan trọng trong nền kinh tế có tính cạnh tranh cao. Theo cách hiểu của hầu hết các nước trên thế giới, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN bao gồm cả quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng đương nhiên mang bản chất thương mại. Do vậy, sử dụng và khai thác thương mại hợp lý loại tài sản này không những tạo động lực cho việc NCKH, đổi mới công nghệ mà còn làm gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp, thu hút nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy CGCN, góp phần tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, bằng sáng chế là một khế ước xã hội. Để đền bù xứng đáng cho việc đầu tư tài chính, công sức tạo ra sáng chế, đáp ứng nhu cầu làm lợi từ sáng chế của chủ sở hữu và cân bằng lợi ích của xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp quy định của pháp luật quốc tế về sáng chế, việc xác định các hình thức khai thác thương mại hợp lý đối với sáng chế đang được bảo hộ quyền SHCN cũng như khung pháp lý có liên quan là rất quan trọng.

Theo cách tiếp cận này, Chương 2 của Luận án trước hết sẽ nghiên cứu khái niệm sáng chế đồng thời phân tích tầm quan trọng của sáng chế và khai thác thương mại đối với sáng chế. Tiếp theo, Chương 2 sẽ phân tích nội dung quyền SHCN đối với sáng chế. Phần cuối của Chương 2 sẽ đề cập đến khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế, rút ra các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế theo quan điểm của luận án, nhận diện khung pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

2.1 Khái quát về sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

2.1.1 Khái niệm sáng chế

Sáng chế không phải là một khái niệm mới ở Việt Nam. Theo từ điển tiếng Việt, sáng chế là nghĩ và chế tạo ra cái trước đó chưa từng có. Hiện nay đa số mọi người đều nghĩ sáng chế là cái gì đó rất to lớn, rất khó để có thể được cấp VBBH. Tuy nhiên, VBBH độc quyền sáng chế có thể được cấp cho một công nghệ cực kỳ tân tiến nhưng cũng có thể được cấp một dụng cụ rất thông thường như một cái nút chai, v.v. Vậy sáng chế là gì?

Thực tế, không có một định nghĩa chuẩn nào về sáng chế và rất khó có thể định nghĩa chính xác về sáng chế. Do vậy, trong quy định pháp lý của nhiều nước không trực tiếp định nghĩa sáng chế trừ một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Liên Xô cũ và Việt Nam. Ví dụ, Luật Sáng chế của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ20, thay vì định nghĩa trực tiếp sáng chế, Điều 101 lại quy định là bất kỳ người nào sáng chế ra bất kỳ quy trình, máy móc, phương thức sản xuất, hợp chất, v.v mới và hữu dụng hoặc bất kỳ sự cải tiến nào mới và hữu dụng đối với quy trình, máy móc, phương thức sản xuất, hợp chất đó đều có thể được cấp bằng sáng chế hữu ích tùy theo các điều kiện và yêu cầu cụ thể của Điều này. Tương tự quan điểm của Hoa Kỳ, nhiều nước châu Âu cũng không định nghĩa trực tiếp sáng chế. Ví dụ, Luật SHTT của Cộng hòa Pháp cũng không định nghĩa sáng chế mà chỉ quy định rằng một giải pháp kỹ thuật có thể được cấp VBBH độc quyền sáng chế bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chủ sở hữu sáng chế một quyền độc quyền khai thác tạm thời đối với sáng chế đó.

Khác với một số quốc gia công nghiệp phát triển phương Tây kể trên, Nhật Bản lại định nghĩa trực tiếp khái niệm sáng chế. Theo Điều 2, Luật Sáng chế của Vương quốc Nhật Bản, sáng chế là sự sáng tạo vượt bậc của những ý tưởng kĩ thuật dựa trên việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Luật Sáng chế của Trung Quốc, Điều 2 cũng định nghĩa trực tiếp sáng chế là các giải pháp kỹ thuật mới dưới dạng một sản phẩm, một quy trình hoặc việc cải tiến sản phẩm và quy trình đó. Theo Luật SHTT Việt Nam,

Điều 4.12 định nghĩa sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết như Công ước Paris, Công ước thành lập WIPO, Hiệp ước Hợp tác Sáng chế (PCT) và Hiệp định TRIPS đều không định nghĩa sáng chế.

Từ các quy định pháp lý nói trên, có thể rút ra rằng sáng chế là sản phẩm hay quy trình do con người tạo ra chứ không phải là những gì đã tồn tại trong thiên nhiên được con người phát hiện ra. Khác với một số đối tượng quyền SHCN quan trọng khác như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, chủ yếu mang tính chất chỉ dẫn thương mại hay thẩm mỹ, thuộc tính cơ bản của sáng chế là đặc tính kỹ thuật bởi vì sáng chế là giải pháp kỹ thuật, biện pháp kỹ thuật để giải quyết một vấn đề.

Có thể thấy rằng, sáng chế không nhất thiết phải là cái gì đó rất cao siêu, trừu tượng mà có thể là những giải pháp kỹ thuật rất đời thường và gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Lý do tại sao những người thợ, người nông dân lại có nhiều sáng chế hơn những nhà nghiên cứu chỉ ngồi trong phòng thí nghiệm là vì những người này được tiếp xúc trực tiếp hàng ngày với những vấn đề của cuộc sống và chính họ sẽ sáng tạo ra những giải pháp kỹ thuật mới để cải tiến các công cụ hiện có cũng như để cải thiện điều kiện làm việc cho chính mình. Sáng chế là các giải pháp kỹ thuật nhằm để phục vụ cuộc sống và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Sáng chế có thể được thể hiện dưới năm (05) dạng sau đây: cơ cấu, chất, phương pháp, vật liệu sinh học và sử dụng một cơ cấu (hoặc một chất, một phương pháp, một vật liệu sinh học) đã biết theo chức năng mới. Do vậy, theo tác giả luận án, sáng chế là giải pháp kỹ thuật mới, mang tính sáng tạo nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó trong cuộc sống.

2.1.2 Tầm quan trọng của sáng chế và khai thác thương mại đối với sáng chế

Khai thác thương mại các đối tượng của quyền SHTT trong đó có sáng chế là một trong các quy định quan trọng trong pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về SHTT nói riêng của nhiều quốc gia do sáng chế, đặc biệt là việc khai thác thương mại đối với sáng chế có tầm quan trọng không nhỏ đối với sự phát triển của quốc gia cũng như của các doanh nghiệp, chủ sở hữu sáng chế và đối với toàn xã hội. Những nghiên cứu, phân tích sau đây sẽ chứng minh điều đó, cho thấy lý do cần thiết của việc ra đời các chính sách, quy định pháp luật về vấn đề này.

Như đã nói ở trên, sáng chế có khả năng được khai thác thương mại thông qua các hình thức: chủ sở hữu tự mình khai thác sáng chế; chủ sở hữu cho phép người khác khai thác thương mại qua các hợp đồng mua bán sáng chế (hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc hợp đồng li-xăng sáng chế (hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế); chủ sở hữu sử dụng quyền SHCN đối với sáng chế nhằm mục đích góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc thế chấp phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại. Trên thực tế, hoạt động khai thác thương mại sáng chế khá sôi động thời gian qua là li-xăng sáng chế. Đây cũng là xu hướng khai thác thương mại đối với sáng chế được nhiều doanh nghiệp thực hiện trong một vài thập kỷ vừa qua. Việc khai thác thương mại đối với sáng chế nói chung và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng đóng một vai trò quan trọng đối với chủ sở hữu, bên nhận chuyển giao và toàn xã hội.

  • Đối với bên nhận chuyển giao Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ nhất, bằng cách nhận chuyển giao quyền sở hữu, nhận li-xăng sáng chế, bên nhận chuyển giao – người có nhu cầu đổi mới công nghệ, có thể có được công nghệ từ bên chuyển giao đang sở hữu hoặc có quyền sử dụng sáng chế để sản xuất và đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ mới mà chủ sở hữu sáng chế đã tạo dựng được sau nhiều năm NCPT, quảng bá, tiếp thị sản phẩm và dịch vụ. Do vậy, bên nhận chuyển giao, đặc biệt là các công ty nhỏ, có thể tiết kiệm được nhiều nguồn lực mà vẫn có thể tiếp cận được thị trường một cách nhanh chóng.

Thứ hai, doanh nghiệp nhận chuyển giao có thể có được các công nghệ mà các công nghệ này không dễ dàng có được trên thị trường bằng các hình thức khác đồng thời có thể cải tiến công nghệ để có được những sáng chế ưu việt hơn.

Thứ ba, khai thác thương mại đối với sáng chế không những tạo động lực cho NCKH và đổi mới sáng tạo mà còn góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư và thúc đẩy CGCN. Thông qua con đường CGCN, các nước đi sau có thể tiết kiệm được các nguồn lực và rút ngắn thời gian trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Có thể thấy rằng, trong vài chục năm trở lại đây, CGCN, trong đó chủ yếu là chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng (li-xăng) sáng chế, đã trở thành một bộ phận quan trọng của hoạt động thương mại.

  • Đối với chủ sở hữu-bên chuyển giao

Thứ nhất, việc khai thác thương mại đối với sáng chế giúp cho chủ sở hữu sáng chế (tự mình khai thác hoặc chuyển giao hoặc góp vốn, thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế) tăng thêm doanh thu, lợi nhuận tái đầu tư cho hoạt động NCPT và uy tín trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ví dụ, sáng chế vi mạch điện tử của Jack S. Kilby thuộc hãng Texas Instruments Inc. (Hoa Kỳ) không chỉ làm cho hãng này trở thành hãng dẫn đầu trên thị trường vi mạch thế giới mà còn tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt về NCPT trong ngành công nghiệp máy tính ở Hoa Kỳ và góp phần tạo ra nền tảng phát triển ngành công nghệ thông tin hiện nay của thế giới; sáng chế máy dệt tự động của Sakichi Toyota (Nhật Bản) đã được chuyển giao cho Platt Brothers&Co. với giá tương đương 25 triệu USD; sáng chế thuốc kháng sinh azythromycin (tên biệt dược: Zithromax) của Công ty Pliva (Croatia) được chuyển giao cho hãng Pfizer (Hoa Kỳ) và trở thành thuốc kháng sinh bán chạy nhất thế giới hiện nay với doanh số trên 1 tỷUSD/năm; sáng chế kỹ thuật tái kết hợp ADN của Cohen-Boyer (Hoa Kỳ) là đối tượng chuyển giao của hơn 300 thỏa thuận li-xăng với tổng lợi nhuận hàng trăm triệu USD. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ hai, việc chuyển giao sáng chế cho người khác khai thác thương mại giúp cho chủ sở hữu sáng chế có thời gian tập trung vào tạo ra các sáng chế khác.

Thứ ba, việc chuyển giao sáng chế cho người khác khai thác cũng nhằm nhận được thông tin phản hồi của người tiêu dùng về tính năng, công dụng của sáng chế mới qua đó có thể tiếp tục khắc phục được các nhược điểm của sáng chế, thúc đẩy đổi mới công nghệ và hoạt động sáng tạo.

Thứ tư, việc khai thác thương mại đối với sáng chế có khả năng mang lại lợi ích kinh tế to lớn không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cả nền kinh tế quốc gia. Ví dụ, sáng chế vắc-xin viêm màng não B của Viện Nghiên cứu Finlay (Cu Ba) được chuyển giao cho hãng SmithKlineBeecham (Anh) để lưu thông trên toàn thế giới với mức phí li-xăng hàng năm góp phần giúp Cu Ba từng bước trang trải được các khoản nợ nước ngoài của mình.

  • Đối với toàn xã hội

Thứ nhất, việc khai thác, ứng dụng sáng chế có vai trò cực kỳ to lớn trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong sự phát triển nền văn minh của xã hội loài người. Có thể liệt kê một số sáng chế đã được ứng dụng có tác động rất to lớn đến cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội như Máy in (Đức, 1440), Bút chì (Thụy Sỹ, 1560), Dụng cụ thiên văn (Ấn Độ, 1728), Mã Điện tín (Hoa Kỳ, 1840), Điện thoại (Anh, 1876), Phát thanh (I-ta-li-a, 1886), Máy bay (Hoa Kỳ, 1903), Truyền hình điện từ (Nga, 1929), Bút bi (Ác-hen-ti-na, Hung-ga-ri, 1938), Máy tính (Đức, 1941), Dược phẩm chống ung thư và AIDS (Hoa Kỳ, 1998), Đĩa Compact (Hoa Kỳ, 1965), v.v. Nhờ có các sáng chế như ô tô, máy điều hòa nhiệt độ và các thiết bị âm thanh mà cuộc sống của chúng ta đã trở nên tiện nghi và dễ chịu hơn.

Thứ hai, khai thác thương mại đối với sáng chế làm tăng sức cạnh tranh và thúc đẩy sự đổi mới mang tính cạnh tranh. Nhà bác học Thomas Edison đã có một câu nói nổi tiếng “Tôi bắt đầu ở nơi mà người cuối cùng kết thúc”. Tính chất độc quyền của sáng chế chỉ đem lại lợi thế thị trường cho chủ sở hữu sáng chế trong một thời gian nhất định vì không có gì ngăn cản các đối thủ cạnh tranh phát triển sáng chế đó theo hướng mới. Chính sáng chế mới ra đời sẽ khuyến khích người khác tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo và cải tiến sáng chế đó một cách tốt hơn. Cứ tuần hoàn như vậy, sáng chế có sau sẽ phủ định và hoàn thiện hơn sáng chế có trước, làm nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc tạo ra các sản phẩm mới với giá cả phù hợp hơn nhằm phục vụ người dân, người tiêu dùng. Do vậy, khai thác thương mại đối với sáng chế còn tạo ra sự đổi mới mang tính cạnh tranh lành mạnh và làm cho số lượng sáng chế được tạo ra ngày một nhiều.

Thứ ba, khai thác thương mại sáng chế đã trở thành xu thế chung trong chính sách phát triển của các quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức. Công nghệ đang có xu hướng trở thành nhân tố quyết định cho sự gia tăng giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Việc đầu tư cho sáng tạo và đổi mới, phát triển công nghệ đang trở thành xu hướng của các quốc gia. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Đối với nhiều quốc gia, bằng độc quyền sáng chế được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá thực lực công nghệ và sức mạnh kinh tế của một quốc gia, ví dụ như Trung Quốc. Theo số liệu thống kê của WIPO, các quốc gia nắm giữ nhiều đơn sáng chế nhất (Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc…) đang là các quốc gia đứng đầu về tiềm lực công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt là Trung Quốc đang nổi lên như một cường quốc về kinh tế.

Theo thống kê Cơ quan Sáng chế Trung Quốc công bố, số lượng đơn đăng ký sáng chế của Trung Quốc tăng trung bình 16,7% hàng năm, từ 171.000 năm 2006 lên đến gần 314.000 năm 2010, vượt Hàn Quốc và Châu Âu nhưng vẫn xếp sau Nhật Bản (337.497) và Mỹ (326.945). Từ nãm 2011 trở lại đây, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản và Hoa Kỳ để trở thành quốc gia có số lượng đăng ký sáng chế lớn nhất thế giới. Nhờ số lượng đơn đăng ký sáng chế tăng mạnh, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới. Số lượng đơn đăng ký bằng sáng chế ở Trung Quốc dự kiến sẽ lên đến gần 500.000 vào năm 2015, tiếp theo là Mỹ với gần 400.000 và Nhật Bản gần 300.000.

Tóm lại, thúc đẩy khai thác thương mại đối với sáng chế đã trở thành mục tiêu quan trọng chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư của nhiều quốc gia phát triển cũng như đang phát triển. Do vậy, các quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề khai thác thương mại sáng chế, đặc biệt là pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đóng vai trò rất quan trọng trong việc cân bằng lợi ích các bên có liên quan như chủ sở hữu-bên chuyển giao, bên nhận chuyển giao, toàn bộ xã hội nói chung, qua đó phát triển kinh tế quốc gia.

2.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Sáng chế là một tài sản, quyền SHCN đối với sáng chế là một quyền tài sản chỉ phát sinh và được hình thành đầy đủ khi sáng chế được bảo hộ (được cấp VBBH độc quyền bởi một cơ quan có thẩm quyền). Quyền SHCN đối với sáng chế là quyền thụ đắc theo pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, chủ sở hữu sáng chế không thể thực hiện đầy đủ quyền tài sản của mình, đặc biệt là quyền khai thác thương mại đối với sáng chế khi sáng chế chưa được cấp VBBH.

Tuy nhiên, không phải mọi sáng chế đều được Nhà nước bảo hộ thông qua việc cấp VBBH sáng chế. Để được cấp VBBH độc quyền, sáng chế phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bảo hộ. Hơn nữa, VBBH sáng chế hay còn gọi là bằng độc quyền sáng chế là một khế ước xã hội. Theo đó, Nhà nước cấp cho chủ sở hữu sáng chế một quyền độc quyền khai thác sáng chế trong thời hạn hiệu lực của VBBH sáng chế (thông thường thời hạn bảo hộ sáng chế tối đa là 20 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký xác lập quyền) để chủ sở hữu sáng chế có thể thu hồi vốn đầu tư làm ra sáng chế và làm lợi từ sáng chế. Nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, hết thời hạn bảo hộ theo quy định, bất cứ ai cũng có thể sử dụng sáng chế mà không phải xin phép hoặc trả tiền.

Trong thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu có các quyền SHCN đối với sáng chế. Bản chất của quyền sở hữu là độc quyền hay quyền loại trừ những người khác. Quyền loại trừ được xem là xương sống của quyền sở hữu ở tất cả các truyền thống pháp luật dù là Civil Law hay Common Law. Quyền loại trừ này thường được làm nổi bật lên trong quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng. Theo quan điểm của tác giả, quyền tài sản quan trọng nhất đối với sáng chế là quyền loại trừ. Do vậy, để hiểu rõ các quyền SHCN, quyền tài sản của chủ sở hữu sáng chế phục vụ việc khai thác thương mại sáng chế, việc nghiên cứu các nội dung quyền SHCN đối với sáng chế là rất cần thiết.

2.2.1 Xác định chủ sở hữu sáng chế

Theo Điều 121, Luật SHTT, chủ sở hữu đối tượng SHCN là cá nhân, tổ chức, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp VBBH đối tượng SHCN hoặc được thừa nhận là đang sử dụng hợp pháp hoặc được nhận chuyển giao VBBH nhằm sử dụng trong hoạt động kinh doanh thương mại. Theo quy định này, chủ sở hữu sáng chế là cá nhân, tổ chức, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp VBBH độc quyền sáng chế hoặc được thừa nhận là đang sử dụng hợp pháp VBBH độc quyền sáng chế hoặc được chuyển giao hợp pháp quyền SHCN đối với sáng chế có liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

2.2.2 Quyền của chủ sở hữu sáng chế

Trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế đồng thời là tác giả thì họ có các quyền nhân thân (với tư cách là tác giả sáng chế) và các quyền tài sản (với tư cách là chủ sở hữu sáng chế). Quyền nhân thân của tác giả sáng chế được quy định theo pháp luật là quyền ghi danh. Đây là những quyền bất khả xâm phạm, chỉ thuộc về riêng cá nhân tác giả sáng chế và không thể chuyển giao cho bất kỳ người nào khác dưới bất kỳ hình thức nào khác thậm chí ngay cả trong trường hợp tác giả sáng chế đó chết. Nếu chủ sở hữu sáng chế không đồng thời là tác giả sáng chế thì họ chỉ có các quyền tài sản đối với sáng chế.

Các quyền tài sản căn bản của chủ sở hữu sáng chế được quy định theo pháp luật bao gồm: quyền độc quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế; quyền cho phép người khác sử dụng sáng chế; quyền định đoạt đối với sáng chế bao gồm quyền chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế; quyền để lại thừa kế, trao tặng, từ bỏ sáng chế, dịch chuyển quyền SHCN đối với sáng chế theo sự sáp nhập, hợp nhất, chia, tách pháp nhân; quyền góp vốn, thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế; quyền tạm thời đối với sáng chế. Phần dưới đây sẽ đề cập một cách khái quát các quyền tài sản này của chủ sở hữu sáng chế.

Thứ nhất, chủ sở hữu có quyền sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế. Theo nội dung này, chủ sở hữu có toàn quyền trực tiếp áp dụng sáng chế vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại. Việc đưa sáng chế vào khai thác, sản xuất này có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau ví dụ như sản xuất ra sản phẩm chứa sáng chế được bảo hộ hoặc sản xuất theo quy trình được bảo hộ, áp dụng quy trình chứa sáng chế được bảo hộ vào sản xuất; sản xuất sản phẩm áp dụng quy trình chứa sáng chế được bảo hộ; lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm và nhập khẩu các sản phẩm được bảo hộ theo sáng chế.

Ngoài quyền tự mình sử dụng, chủ sở hữu sáng chế đồng thời cũng có quyền ngăn cấm bất kỳ ai sử dụng sáng chế đó mà không có sự đồng ý của mình. Nói cách khác, một khi sáng chế đã được cấp VBBH độc quyền, bất kỳ ai muốn khai thác và sử dụng sáng chế (dù người khai thác và sử dụng sau là người tạo ra sáng chế một cách độc lập, không hề sao chép) vẫn phải xin phép chủ sở hữu sáng chế. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Chủ sở hữu có quyền độc quyền khai thác và sử dụng sáng chế của mình một cách hợp pháp. Nếu không xin phép chủ sở hữu sáng chế thì bất kỳ hành vi khai thác và sử dụng nào khi chưa được phép sẽ bị coi là một hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế và bên vi phạm sẽ có thể bị áp dụng những biện pháp xử lý hành chính, dân sự, hình sự.

Thứ hai, chủ sở hữu sáng chế không những có quyền độc quyền sử dụng mà còn có quyền cho phép người khác sử dụng sáng chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh để khai thác thu lợi nhuận trong thời hạn bảo hộ sáng chế. Xuất phát từ quyền năng của chủ sở hữu cho phép người khác sử dụng sáng chế, chủ sở hữu có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế của mình cho người khác để thu một khoản tiền chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Hoạt động “cho phép” hoặc ủy quyền cho người khác khai thác thương mại đối với sáng chế này của chủ sở hữu thường được gọi là li-xăng sáng chế. Khởi nguồn, li-xăng là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng latinh (Licentia) có nghĩa là sự cho phép, sự ủy quyền và hiện đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngôn ngữ thông dụng trên thế giới như tiếng Anh, tiếp Pháp, tiếng Đức. Văn bản pháp quy hiện hành của Việt Nam về SHCN cũng thừa nhận khái niệm li-xăng vì hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN cũng được gọi là hợp đồng li-xăng SHCN theo Điều 47, khoản 2 của Thông tư số 01/2007/TT–BKHCN.

Theo nội dung này thì chủ sở hữu có quyền chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác (một hoặc nhiều người cùng một lúc) khai thác, sử dụng theo thỏa thuận bằng văn bản trong thời hạn bảo hộ của sáng chế. Chủ sở hữu có thể thực hiện việc chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng (chuyển giao độc quyền) hoặc chuyển giao một phần quyền sử dụng (chuyển giao không độc quyền) sáng chế đó cho người khác thông qua các hợp đồng cụ thể theo quy định tại Mục 2, Chương X, Luật SHTT hiện hành. Thông qua các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng, chủ sở hữu sáng chế có thể cho phép hoặc không cho phép bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế được ký kết hợp đồng chuyển giao thứ cấp cho người thứ ba.

Thứ ba, chủ sở hữu sáng chế có quyền định đoạt đối với sáng chế. Theo nội dung này, định đoạt quyền SHCN đối với sáng chế được hiểu là việc dịch chuyển quyền SHCN từ một (hoặc nhiều) chủ thể này sang một (hoặc nhiều) chủ thể khác hoặc làm mất đi quyền SHCN đối với sáng chế đang được bảo hộ của chủ sở hữu sáng chế, ví dụ như việc chuyển nhượng quyền sở hữu (bán đứt) sáng chế; để lại thừa kế, trao tặng, từ bỏ quyền SHCN đối với sáng chế, dịch chuyển quyền SHCN đối với sáng chế theo sự sáp nhập, hợp nhất, chia, tách pháp nhân.

Chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế là việc chủ sở hữu sáng chế chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu đối với sáng chế đang trong thời hạn bảo hộ cho chủ thể khác. Đây là hình thức bán đứt sáng chế để lấy một khoản tiền nhất định một lần. Sau khi bán đứt sáng chế, chủ sở hữu không còn quyền sở hữu đối với sáng chế. Quyền sở hữu sáng chế sẽ thuộc về người được chuyển nhượng sáng chế một cách hợp pháp thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế.

Chủ sở hữu sáng chế là cá nhân có thể để lại thừa kế cho chủ thể khác (theo di chúc hoặc theo pháp luật) sau khi chết.

Chủ sở hữu cũng có quyền trao tặng hoặc từ bỏ quyền SHCN đối với sáng chế của mình nếu không còn nhu cầu sở hữu nữa. Tuy nhiên, chủ sở hữu sáng chế không được từ bỏ quyền sở hữu đối với sáng chế của mình đang trong thời hạn hiệu lực và đang là đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mà bên nhận chuyển giao không đồng ý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Hơn nữa, trong trường hợp quyền SHCN đối với sáng chế là sản nghiệp của pháp nhân thì chủ sở hữu sáng chế có toàn quyền dịch chuyển quyền SHCN đối với sáng chế trong hoạt động cải tổ pháp nhân.

Thứ tư, chủ sở hữu sáng chế có quyền thế chấp, sử dụng quyền SHCN đối với sáng chế để góp vốn kinh doanh, thành lập doanh nghiệp. Với tư cách là một loại tài sản đặc biệt, đôi khi mang ý nghĩa quyết định đến việc thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, quyền SHCN đối với sáng chế có thể được sử dụng để góp vốn liên doanh, thành lập doanh nghiệp giống như các loại tài sản khác. Hơn nữa, sáng chế là một loại tài sản có giá trị, có thể được định giá và quy đổi giá trị sử dụng ra bằng tiền nên chủ sở hữu sáng chế có thể thế chấp loại tài sản quan trọng này để lấy tiền phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.

Thứ năm, người nộp đơn đăng ký sáng chế có quyền tạm thời đối với sáng chế. Quyền này được phát sinh từ ngày đơn đăng ký sáng chế được nộp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được công bố công khai đến ngày sáng chế được cấp VBBH độc quyền. Quyền tạm thời này chính là quyền được nhận thù lao của chủ sở hữu sáng chế. Hơn nữa, đây cũng là công cụ pháp lý để người nộp đơn cảnh báo người khác, đe dọa, uy hiếp đối thủ cạnh tranh không cho các đối thủ cạnh tranh hoặc người nào khác sử dụng sáng chế. Pháp luật về SHTT đưa ra quy định về quyền tạm thời nhằm bảo vệ triệt để quyền của chủ sở hữu sáng chế vì sáng chế là kết quả của hoạt động sáng tạo chứ không nảy sinh một cách hiển nhiên hoặc không dễ dàng có được nhưng lại rất dễ bị người khác xâm phạm, bị người khác sử dụng mà không phải trả thù lao trong quá trình xác lập quyền do nội dung sáng chế cần được mô tả cụ thể, rõ ràng và phải được đăng trên Công báo SHCN. Tuy nhiên, quyền tạm thời chỉ được phát sinh theo các điều kiện như sau:

  • sáng chế được một người khác (không phải là người nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc không phải là người có quyền sử dụng trước sáng chế) sử dụng nhằm khai thác giá trị thương mại trong thời gian đơn đăng ký sáng chế đã được nộp nhưng chưa được cấp VBBH độc quyền;
  • người nộp đơn đã có thông báo bằng văn bản cho người sử dụng về việc mình đã nộp đơn đăng ký và đơn đã được công bố trên Công báo SHCN;
  • người sử dụng sáng chế vẫn tiếp tục sử dụng khi đã nhận được thông báo bằng văn bản nói trên của người nộp đơn;
  • người nộp đơn được cấp VBBH độc quyền sáng chế.

Khi sáng chế đã được cấp VBBH, chủ sở hữu có quyền yêu cầu người sử dụng bất hợp pháp phải trả một khoản tiền đền bù tương đương với giá chuyển giao sáng chế trong phạm vi và thời gian sử dụng tương ứng.

2.2.3 Nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Bên cạnh việc ghi nhận và bảo hộ các quyền tài sản của chủ sở hữu sáng chế, pháp luật về SHTT cũng quy định các nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng chế như sau:

Thứ nhất, chủ sở hữu có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật trong trường hợp chủ sở hữu không đồng thời là tác giả sáng chế.

Thứ hai, chủ sở hữu có nghĩa vụ sử dụng sáng chế để sản xuất ra sản phẩm hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ nhằm đáp ứng các nhu cầu về quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho người dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Trong trường hợp chủ sở hữu không sử dụng sáng chế mà người khác lại có nhu cầu sử dụng để đáp các nhu cầu ở trên thì Nhà nước có thể bắt buộc chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đó cho người khác theo một số điều kiện nhất định.

Thứ ba, chủ sở hữu có nghĩa vụ cho phép người khác sử dụng sáng chế cơ bản của mình nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc với một số điều kiện nhất định. Các điều kiện này bao gồm việc chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc đã chứng minh được sự sử dụng sáng chế cơ bản nhằm phục vụ sáng chế phụ thuộc sẽ tạo ra một bước tiến quan trọng về mặt kỹ thuật so với sáng chế cơ bản đồng thời sự sử dụng đó cũng đem lại một ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế và chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc đã thỏa thuận, yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả, điều kiện thương mại hợp lý. Nếu chủ sở hữu sáng chế cơ bản từ chối yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyết định chuyển giao bắt buộc quyền sử dụng sáng chế đó cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc.

2.2.4 Giới hạn quyền của chủ sở hữu sáng chế

Các quy định pháp luật về giới hạn quyền của chủ sở hữu sáng chế được coi là biện pháp để hài hòa lợi ích của chủ sở hữu sáng chế với lợi ích của xã hội. Đây cũng được coi là ranh giới phân định quyền của chủ sở hữu sáng chế với quyền của các chủ thể khác trong quá trình sử dụng, khai thác sáng chế. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Theo quy định của pháp luật, các quyền của chủ sở hữu sáng chế được bảo hộ một cách tuyệt đối trong thời gian còn hiệu lực của sáng chế. Chủ sở hữu có quyền độc quyền sử dụng, khai thác sáng chế của mình nên nếu có bất kỳ người nào khác muốn có được quyền sử dụng, khai thác sáng chế đều phải được sự đồng ý của chủ sở hữu và phải trả thù lao thông qua hợp đồng. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, trong một số trường hợp nhất định, việc sử dụng sáng chế không cần phải được sự đồng ý của chủ sở hữu và/hoặc không cần phải trả thù lao cho chủ sở hữu. Luật pháp của các quốc gia đưa ra các giới hạn quyền sau đây đối với việc sử dụng một sáng chế đã được cấp VBBH độc quyền:

Thứ nhất, sử dụng sáng chế ngoài lãnh thổ được bảo hộ và hết thời hạn hiệu lực bảo hộ. Như đã nói ở trên, quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế bị giới hạn theo lãnh thổ và theo thời gian. Sáng chế mang tính chất lãnh thổ, có nghĩa là sáng chế chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia cấp VBBH độc quyền. Do vậy, bất kỳ người nào khác có thể sử dụng và khai thác thương mại đối với sáng chế tại các quốc gia không cấp VBBH độc quyền mà không cần phải xin phép hay trả tiền thù lao cho chủ sở hữu sáng chế. VBBH độc quyền sáng chế có hiệu lực theo thời gian. Điều này có nghĩa là thời gian bảo hộ có giới hạn nhất định, thông thường thời hạn bảo hộ sáng chế tối đa là 20 năm tính từ ngày nộp đơn. Trong thời hạn này, VBBH độc quyền sáng chế chỉ có thể được duy trì hiệu lực khi chủ sở hữu nộp đúng hạn và đầy đủ lệ phí duy trì hiệu lực. Do vậy, việc khai thác thương mại đối với sáng chế chỉ có thể được thực hiện khi sáng chế đang còn hiệu lực. Khi sáng chế đã hết thời hạn bảo hộ hoặc vẫn còn thời hạn bảo hộ nhưng chủ sở hữu không nộp phí duy trì hiệu lực thì bất kỳ người nào khác cũng có quyền sử dụng sáng chế mà không cần xin phép hoặc trả tiền cho chủ sở hữu sáng chế.

Thứ hai, sử dụng sáng chế phục vụ nhu cầu cá nhân và không nhằm mục đích kinh doanh. Việc sử dụng sáng chế nhằm phục vụ nhu cầu của cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, NCKH, thí nghiệm, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc nhằm mục đích thu thập thông tin và giảng dạy đều không phải xin phép và trả thù lao cho chủ sở hữu sáng chế. Trên thực tế, pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền độc quyền sử dụng một cách hợp pháp của chủ sở hữu sáng chế nếu quyền này được áp dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại. Đây là điểm đặc biệt của quyền SHTT nói chung và của quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng. Do vậy, nếu việc sử dụng đối tượng quyền SHTT nói chung và sáng chế nói riêng không nhằm mục đích kinh doanh, thương mại thì không phải xin phép và trả thù lao cho chủ sở hữu vì không xâm phạm quyền của chủ sở hữu. Khác với việc sử dụng TSVH, người nào muốn sử dụng TSHH, dù vào mục đích cá nhân, phi thương mại hay thương mại đều phải xin phép và phải trả tiền thuê cho chủ sở hữu tài sản đó.

Thứ ba, sử dụng sáng chế do chính chủ sở hữu sáng chế đưa ra thị trường. Cụ thể, các sản phẩm, hàng hóa mang sáng chế (đã được cấp VBBH độc quyền sáng chế) do chính chủ sở hữu sáng chế đưa ra thị trường, dù trong nước hay ngoài nước, thì chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm các hành vi nhập khẩu, lưu thông các sản phẩm, hàng hóa đó. Hành vi đưa ra thị trường ở đây có thể hiểu là việc trực tiếp bán, phân phối hàng hóa, sản phẩm đó theo các kênh thương mại hoặc là việc ký kết các hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế cho chủ thể khác. Quy định này bắt nguồn từ nội dung cơ bản của học thuyết hết quyền hoặc học thuyết cạn quyền, theo đó khi chủ sở hữu đối tượng SHCN đã đưa hàng hóa, dịch vụ chứa đối tượng SHCN ra thị trường một cách hợp pháp thì không còn quyền đối với hàng hóa, dịch vụ đó. Trên thực tế, việc nhập khẩu hợp pháp các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ chứa quyền SHCN của chủ sở hữu đối tượng SHCN đó đã đưa ra thị trường tại bất cứ đâu thường được gọi là nhập khẩu song song. Các quốc gia thường có quy định về vấn đề nhập khẩu song song, được thực hiện ở các cấp độ khác nhau. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ tư, sử dụng sáng chế chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc ở tạm thời tại một quốc gia khác. Theo nội dung này, việc sử dụng sản phẩm, hàng hóa chứa sáng chế trên các phương tiện giao thông quá cảnh, lưu trú tạm thời của nước ngoài chỉ nhằm mục đích duy trì sự hoạt động của các phương tiện đó thì không phải xin phép và trả thù lao cho chủ sở hữu sáng chế.

Thứ năm, sử dụng sáng chế do bên thứ ba có đặc quyền được tiếp tục tạo ra sản phẩm. Cụ thể, trong một số trường hợp nhất định, cần thiết, Nhà nước có quyền yêu cầu và bắt buộc chủ sở hữu sáng chế chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế cho bên thứ ba bất kỳ nhằm tiếp tục tạo ra sản phẩm cho xã hội, ví dụ như người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản (hoặc sáng chế chi phối) nhằm nghiên cứu, áp dụng và phát triển sáng chế phụ thuộc do Nhà nước hoặc người thay mặt Nhà nước thực hiện vì lợi ích công cộng. Tuy nhiên, việc chuyển giao này không phải là li- xăng độc quyền và bên nhận li-xăng sáng chế vẫn phải trả một khoản phí chuyển giao nhất định cho bên bị bắt buộc chuyển giao.

Thứ sáu, sử dụng sáng chế vì lợi ích chung của cộng đồng. Trong trường hợp cần thiết, ví dụ như nhằm đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh quốc gia, y tế, dinh dưỡng, v.v., Nhà nước hoặc người thay mặt cho Nhà nước có thể thực hiện li-xăng sáng chế một cách không tự nguyện (li-xăng cưỡng bức hoặc li-xăng bắt buộc) bằng cách bắt buộc chủ sở hữu sáng chế chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho bên thứ ba hoặc cho Nhà nước với một số điều kiện nhất định. Tương tự như trường hợp sử dụng sáng chế do bên thứ ba có đặc quyền được tiếp tục tạo ra sản phẩm, việc chuyển giao này không phải là li-xăng độc quyền và bên nhận li-xăng sáng chế vẫn phải trả một khoản phí chuyển giao nhất định cho bên bị bắt buộc chuyển giao.

Thứ bảy, sử dụng sáng chế theo “Quyền sử dụng trước”. Theo nội dung này, người có quyền sử dụng trước là bất kỳ người nào đã tạo ra và sử dụng sáng chế được cấp VBBH một cách độc lập trước ngày chủ sở hữu sáng chế nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền đối với sáng chế. Quyền sử dụng trước nhằm để giải quyết một tình huống có thể xảy ra trong thực tiễn cuộc sống là có nhiều người cùng bắt tay vào nghiên cứu một vấn đề nào đó và những người này đều tìm ra các giải pháp mang tính kỹ thuật giải quyết được vấn đề nhưng vì nhiều lý do không phải ai cũng nộp đơn đăng ký xác lập quyền đối với sáng chế cho giải pháp kỹ thuật của mình. Quyền sử dụng trước được pháp luật ghi nhận cho những chủ thể khác với chủ sở hữu sáng chế với điều kiện phải hội đủ các yếu tố sau đây: Đầu tiên, phải có hành vi sử dụng trước trên thực tế thông qua việc trực tiếp sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện để sử dụng sáng chế đồng nhất sáng chế đã được cấp VBBH độc quyền. Tiếp theo, thời điểm sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế đồng nhất phải xảy ra trước ngày công bố đơn đăng ký sáng chế. Hơn nữa, sáng chế đồng nhất phải được người sử dụng trước tạo ra một cách độc lập với sáng chế được bảo hộ. Theo quy định của pháp luật, người sử dụng trước vẫn có quyền sử dụng, khai thác sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép cũng như không phải trả tiền cho chủ sở hữu sáng chế. Tuy nhiên, người có quyền sử dụng trước không được mở rộng phạm vi và khối lượng sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng nếu không được phép của chủ sở hữu sáng chế đồng thời không được chuyển giao quyền đó cho người khác trừ trường hợp phải chuyển giao toàn bộ quyền đó kèm theo việc chuyển giao toàn bộ cơ sở sản xuất, kinh doanh tiến hành việc sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng trước đó.

2.3 Các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thương mại là khái niệm rộng và ngày càng được mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Theo cách  hiểu về khái niệm thương mại ở trên, thì bất cứ hành vi trao đổi quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng phát sinh ra lợi nhuận cho một trong các bên tham gia đều là hoạt động thương mại. Khai thác là một hành vi mang tính chủ định, tự nguyện. Từ cách hiểu trên, khai thác thương mại được hiểu là một hành vi có chủ đích, tự nguyện mang bản chất thương mại là kiếm lời. Bất cứ hoạt động khai thác quyền SHCN nào bao gồm cả khai thác quyền SHCN đối với sáng chế mang tính chất tự nguyện và đem lại lợi nhuận đều được coi là khai thác thương mại quyền SHCN. Do đó, khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế hoặc TMH sáng chế theo cách tiếp cận của luận án là việc tạo ra lợi nhuận từ việc sử dụng các khả năng, công dụng, giá trị tiềm tàng của sáng chế đang được bảo hộ quyền SHTT một cách tự nguyện và có chủ định.

Bàn thêm một chút về cách hiểu khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế, “khai thác thương mại đối với sáng chế” không chỉ được hiểu theo cách giải thích khái niệm pháp lý, lắp ghép cơ học hai thuật ngữ “thương mại” và “khai thác” như trên mà cần xuất phát từ giá trị lợi ích thương mại của việc khai thác sáng chế để hiểu lý do tại sao lại có khái niệm này. Khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế cần được kế thừa, giải thích trên cả phương diện kinh tế và pháp lý.

Theo quan điểm của tác giả, quyền SHCN đối với sáng chế mang bản chất thương mại. Trên thực tế, theo quy định pháp lý của nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia phát triển, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng mang đậm bản chất thương mại. Tại Hoa Kỳ, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng đương nhiên mang bản chất thương mại vì mục tiêu của pháp luật về SHTT là nhằm bảo đảm một thị trường thịnh vượng, phong phú và cạnh tranh. Do đó, hệ thống pháp luật về sáng chế của Hoa Kỳ tạo điều kiện mạnh mẽ việc chuyển giao quyền SHCN của tác giả sáng chế cho những người hoặc doanh nghiệp, tổ chức có khả năng khai thác thương mại những sáng chế này. Hơn bất kỳ quốc gia nào khác, việc khai thác thương mại quyền SHTT đã đem lại cho Hoa Kỳ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ. Đơn cử trường hợp của Bang Texas, Hoa Kỳ. Năm 1985, thu nhập từ hoạt động li-xăng sáng chế của Texas mới chỉ là 400.000 đô la thì con số này đã đạt gấp từ 2,5 đến 5 lần trong những năm 1990 trong đó Châu Âu và Viễn Đông là những khách hàng nhận chuyển giao quan trọng nhất. Tại Liên minh Châu Âu, những vấn đề liên quan đến quyền SHCN được Tòa án Châu Âu xem xét dưới góc độ những quy định pháp luật điều chỉnh sự tự do dịch chuyển hàng hoá và tự do cạnh tranh. Theo quan điểm của Toà án Châu Âu, quyền SHCN cũng đương nhiên mang bản chất thương mại. Việc khai thác thương mại và chuyển giao quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng sẽ không được phép thực hiện nếu việc khai thác thương mại và chuyển giao đó được phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc thực hiện dưới dạng một rào cản thương mại trá hình. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thực tiễn cho thấy có rất nhiều cách chủ sở hữu có thể thu được tiền từ việc khai thác công dụng, giá trị tiềm tàng của sáng chế chưa được bảo hộ (dưới dạng ý tưởng, sáng kiến hoặc bí quyết kỹ thuật) hoặc đang được bảo hộ quyền SHCN (bằng sáng chế). Tuy nhiên, luận án chỉ nghiên cứu việc khai thác thương mại các sáng chế đã được cấp VBBH. Có thể liệt kê ra một số hình thức khai thác thương mại chính yếu được quy định hoặc thừa nhận trong pháp luật của hầu hết các quốc gia như sau:

  • chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế bằng cách đầu tư kinh phí áp dụng sáng chế vào sản xuất, phân phối và bán sản phẩm để thu lợi nhuận;
  • chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế: chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng (li-xăng) sáng chế của mình cho người khác khai thác, sản xuất ra sản phẩm và thu về khoản tiền chuyển giao tương ứng;
  • chủ sở hữu góp vốn vào việc thành lập doanh nghiệp, liên doanh, v.v. bằng giá trị quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh hoặc chủ sở hữu thế chấp tài sản là quyền SHCN đối với sáng chế với ngân hàng, quỹ đầu tư, v.v. để vay tiền thực hiện việc kinh doanh (sau đây gọi chung là việc chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế) nhằm thu lợi nhuận;
  • chủ sở hữu thu được tiền đền bù từ việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế của mình cho Nhà nước hoặc một tổ chức, cá nhân khác do Nhà nước, cơ quan thay mặt Nhà nước bắt buộc thực hiện (chuyển giao không tự nguyện) trong trường hợp chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản (hoặc sáng chế chi phối) nhằm nghiên cứu, áp dụng và phát triển sáng chế phụ thuộc vì lợi ích công cộng hoặc nhằm tránh tình trạng lạm dụng bằng độc quyền sáng chế của chủ sở hữu sáng chế; Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.
  • chủ sở hữu thu được tiền đền bù từ việc bị Nhà nước hoặc người thay mặt cho Nhà nước thực hiện li-xăng cưỡng bức quyền sử dụng sáng chế của chủ sở hữu cho Nhà nước hoặc cho bất cứ người nào khác mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu (chuyển giao không tự nguyện) nhằm mục đích công cộng (ví dụ như phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh quốc gia, y tế và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội, v.).

Cần lưu ý rằng, về mặt tính chất, các hình thức khai thác thương mại ở trên khác nhau ở chỗ có một số hình thức khai thác do chủ sở hữu chủ định thực hiện, ví dụ như hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác sáng chế, chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế hoặc chủ sở hữu góp vốn, thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Một số hình thức còn lại là do chủ sở hữu bị bắt buộc thực hiện theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ví dụ như chủ sở hữu bị bắt buộc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế cơ bản phục vụ cho việc phát triển sáng chế phụ thuộc hoặc chủ sở hữu bị li-xăng bắt buộc sáng chế của mình phục vụ nhu cầu an ninh, sức khỏe của người dân.

Theo quan điểm của luận án đã phân tích về khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế ở trên, không phải bất kỳ việc khai thác công dụng và giá trị tiềm tàng nào của sáng chế đang được bảo hộ quyền SHCN mà tạo ra lợi nhuận hoặc để thu được tiền nào cũng được coi là hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế. Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế phải là các hình thức mang tính chất tự nguyện, có chủ đích của chủ sở hữu. Từ quan điểm trên, có thể thấy rằng các trường hợp chủ sở hữu bị Nhà nước cưỡng bức chuyển giao (chuyển giao không tự nguyện) quyền sử dụng sáng chế của mình cho Nhà nước hoặc cho người khác, ví dụ như các trường hợp chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản nhằm nghiên cứu, áp dụng và phát triển sáng chế phụ thuộc hoặc li-xăng cưỡng bức không phải là các hình thức khai thác thương mại tự nguyện đối với sáng chế và sẽ không được nghiên cứu trong luận án này.

Bắt nguồn từ cách tiếp cận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã đề cập ở phần trên, hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế sẽ được nghiên cứu trong luận án bao gồm các hình thức như sau:

  • chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế;
  • chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế bao gồm chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và li-xăng sáng chế;
  • chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

2.4 Khung pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

2.4.1 Pháp luật Việt Nam có liên quan Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Khai thác thương mại quyền SHCN nói chung và khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng đã được đề cập đến lần đầu tiên ở Việt Nam trong Bộ Luật Dân sự năm 2005 và phần nào đã được cụ thể hóa sau đó trong Luật SHTT, Luật CGCN. Ngoài ra, khai thác thương mại đối với sáng chế còn được ghi nhận rải rác trong các văn bản pháp luật khác như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp lý về GDBĐ.

Trước đây, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng mới chỉ được đề cập và cụ thể hóa dưới góc độ dân sự trong Bộ luật dân sự năm 1995. Cụ thể, Điều 804, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định rằng người nào sử dụng các đối tượng SHCN của người khác trong thời hạn bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu … thì bị coi là xâm phạm quyền SHCN. Theo cách tiếp cận này, quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng được coi tương tự như quyền sở hữu tài sản. Tiến bộ hơn, tại Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng đã được khai thác từ một cách tiếp cận mới là khía cạnh thương mại. Cụ thể, đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005, ngoài các quan hệ dân sự còn bao gồm cả các quan hệ kinh doanh, thương mại. Điều 1, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật này là “địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý, quyền và nghĩa vụ của chủ thể… trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động”.

Một trong những lý do chính mà Bộ Luật Dân sự năm 2005, Luật SHTT, Luật CGCN, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và pháp luật về GDBĐ đã có các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động khai thác thương mại các đối tượng quyền SHTT là vì các đối tượng quyền này, bao gồm cả sáng chế, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển KT-XH. Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng là một trong những yếu tố cấu thành giá trị hàng hoá, dịch vụ. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ hai, các đối tượng của quyền SHTT, đặc biệt là sáng chế hay nói rộng hơn là công nghệ, đã được ứng dụng nhiều trong hoạt động kinh doanh – sản xuất nhằm tăng sức cạnh tranh.

Thứ ba, quyền SHCN đối với sáng chế, bí mật thương mại, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã trở thành một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh cho người nắm giữ nó trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

Thứ tư, TSTT, đặc biệt là sáng chế đã trở thành một loại “tài sản-hàng hoá đặc biệt” có giá trị kinh tế lớn và được khai thác, sử dụng để góp vốn kinh doanh, để làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng, để thu lợi nhuận từ việc cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu, v.v.

Thứ năm, các đối tượng của quyền SHCN, trong đó có sáng chế có thể bị lạm dụng để cản trở hoạt động thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, ví dụ như việc một số quốc gia phát triển quy định quyền chống nhập khẩu song song hoặc đặt ra các rào cản về quyền SHTT (rào cản phi quan thuế) ngày càng tinh vi, việc các công ty đăng ký xác lập quyền SHCN để bảo hộ sáng chế và nhãn hiệu chỉ nhằm mục đích “phòng ngừa”, v.v có thể dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc tự do cạnh tranh.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của Việt Nam đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm hình thành từng bước vững chắc thị trường KHCN và các loại thị trường khác của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh chính sách bảo hộ thích đáng quyền SHTT, coi lao động trí tuệ và sáng tạo là một loại “hàng hoá đặc biệt” trong nền kinh tế thị trường cần phải được trả giá tương xứng.

Từ việc phân tích các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và các văn bản pháp lý có liên quan ở trên, có thể thấy rằng, yếu tố cấu thành khung pháp luật điều chỉnh các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế rất đa dạng bao gồm các quy định pháp luật về dân sự, SHTT, CGCN, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư, GDBĐ, v.v.

Cụ thể, yếu tố cấu thành khung pháp luật của Việt Nam hiện hành điều chỉnh hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế bao gồm pháp luật về SHTT và dân sự. Đối với hình thức chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, yếu tố cấu thành các quy định pháp lý điều chỉnh hình thức này sẽ bao gồm pháp luật về SHTT, CGCN, thương mại. Liên quan đến hình thức chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế, yếu tố cấu thành các quy định pháp lý điều chỉnh hình thức này sẽ bao gồm pháp luật dân sự, SHTT, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, trong thời gian tới, pháp luật về dân sự sẽ chỉ ghi nhận hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế (nếu có) vì phần VI về quyền SHTT và CGCN của Bộ Luật Dân sự năm 2005 đã được tách ra khỏi Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) năm 2015. Do vậy, khung pháp luật điều chỉnh các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế thời gian tới chủ yếu sẽ bao gồm các quy định pháp luật về SHTT, CGCN, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ.

Tóm lại, khung pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế theo quan điểm của luận án rất đa dạng bao gồm các quy định pháp luật trong nhiều lĩnh vực như dân sự, SHTT, CGCN, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ. Do vậy, khái niệm pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế là một khái niệm rộng, là tổng thể các quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực dân sự, SHTT, CGCN, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ nhằm điều chỉnh các quan hệ về việc chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế, có liên quan đến việc chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và việc chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

2.4.2 Các điều ước quốc tế có liên quan Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Khung pháp luật điều chỉnh các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam sẽ là pháp luật cụ thể của quốc gia nhưng tất nhiên, pháp luật quốc tế có liên quan bao gồm các quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng sẽ điều chỉnh các hình thức này. Như trên đã nói, Bộ luật Dân sự năm 2005 là một bước tiến so với Bộ luật dân sự năm 1995 trong các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động khai thác thương mại quyền SHCN nhằm đảm bảo các cam kết của Việt Nam khi gia nhập các công ước quốc tế có liên quan về SHTT, phù hợp với xu thế của pháp luật quốc tế về SHTT.

Khai thác thương mại quyền SHCN nói chung và khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng đã được quy định từ lâu trong pháp luật quốc tế về SHTT. Có thể kể đến một số công ước quốc tế quan trọng liên quan đến sáng chế mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập như Công ước Paris, Hiệp ước PCT, Hiệp định TRIPS. Tuy nhiên, chỉ có Công ước Paris và Hiệp định TRIPS điều chỉnh hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế còn Hiệp ước PCT chỉ quy định về thủ tục hành chính “một cửa” trong việc đăng ký quốc tế sáng chế. Do vậy, phần này của Luận án sẽ chỉ đề cập, nghiên cứu những điều khoản chính liên quan trực tiếp đến việc bảo hộ và khai thác thương mại đối với sáng chế từ Công ước Paris và Hiệp định TRIPS.

  • Công ước Paris

Trong nửa cuối thế kỷ 19, sự phát triển của công nghệ theo xu hướng quốc tế hoá và sự tăng trưởng của thương mại quốc tế khiến cho việc hài hoà hoá pháp luật về SHCN trở nên cấp thiết. Khi Chính phủ hai nước Áo-Hungary mời các quốc gia khác tham dự một triển lãm quốc tế về sáng chế được tổ chức tại Viên năm 1873 thì một vấn đề đã nảy sinh làm cản trở sự tham dự của các quốc gia khác là nhiều người nước ngoài không muốn trưng bày các sáng chế của họ tại triển lãm do chưa có hệ thống pháp lý bảo hộ phù hợp đối với các sáng chế mang đi triển lãm. Chính khó khăn này dẫn đến hai xu hướng: thứ nhất, cần có một đạo luật đặc biệt của Áo nhằm bảo đảm và bảo hộ tạm thời quyền SHCN đối với sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp cho những sản phẩm trưng bày của tất cả những người nước ngoài tham gia triển lãm đó. Thứ hai, xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất trong lĩnh vực SHCN. Kết quả là Công ước Paris về bảo hộ SHCN ra đời với 11 quốc gia tham gia và được sửa đổi nhiều lần từ sau khi ký kết, bao gồm những quy định căn bản liên quan đến nội dung quyền SHCN của chủ sở hữu sáng chế, tác động đến các quy định pháp lý của Việt Nam về việc bảo hộ và khai thác thương mại đối với sáng chế như sau:

  • Nhập khẩu các vật phẩm chứa sáng chế Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Theo Điều 5A của Công ước, việc nhập khẩu các vật phẩm chứa sáng chế (đã được cấp bằng độc quyền sáng chế tại một số quốc gia thành viên của Công ước và được sản xuất từ các quốc gia thành viên này) từ người được cấp bằng sáng chế (hoặc người đại diện cho người được cấp bằng sáng chế) vào những quốc gia thành viên nơi sáng chế được cấp bằng sẽ không làm sáng chế bị thu hồi.

Trường hợp “không thu hồi bằng sáng chế” sẽ không áp dụng nếu ban đầu vật phẩm chứa sáng chế được sản xuất từ quốc gia thành viên, sau đó được lưu thông giữa các nước khác nhau và cuối cùng được nhập khẩu vào các quốc gia không phải thành viên Công ước. Đây là tiền đề cho lý thuyết cạn quyền và quy định hiện hành về nhập khẩu song song. Tuy nhiên, Công ước Paris lại quy định giới hạn việc nhập khẩu này chỉ dành cho việc sản xuất và nhập khẩu từ các quốc gia thành viên Công ước.

  • Li-xăng cưỡng bức

Theo Điều 5A (2), mỗi quốc gia thành viên có thể có các quy định về li-xăng bắt buộc nhằm ngăn chặn việc lạm dụng quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế chỉ với một số lý do là người này không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả sáng chế hoặc vì lý do lợi ích công cộng hoặc vì lợi ích của sáng chế phụ thuộc phục vụ sự tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, theo Điều 5A (4), li-xăng cưỡng bức có thể không được yêu cầu thực hiện trước một thời hạn nhất định thông thường là 04 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc 03 năm kể từ ngày cấp bằng. Đây là mức thời gian tối thiểu các quốc gia có thể quy định và chủ sở hữu có thể viện các lý do hợp pháp về việc không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả sáng chế để thời hạn yêu cầu thực hiện li-xăng cưỡng bức có thể được kéo dài hơn.

Ngoài ra, để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu trong việc khai thác thương mại sáng chế, Công ước quy định li-xăng cưỡng bức được cấp do không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả sáng chế phải là một li-xăng không độc quyền và chỉ có thể được chuyển giao cùng với một phần doanh nghiệp được lợi từ li-xăng bắt buộc đó. Đây là một quy định nhằm ngăn cản bên nhận li-xăng cưỡng bức trục lợi để có được một vị thế mạnh mẽ hơn thị trường hơn là nhận li-xăng để bảo đảm nguyên tắc sử dụng hiệu quả sáng chế đó trong nước. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Điều 5A (3) lại quy định về việc tước hoặc hủy bỏ hiệu lực một bằng độc quyền sáng chế nếu việc cấp li-xăng cưỡng bức tỏ ra không hiệu quả. Tuy nhiên, không được tiến hành thủ tục nhằm tước hoặc hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế trước khi hết thời hạn 02 năm kể từ ngày cấp li-xăng cưỡng bức đầu tiên.

  • Hiệp định TRIPS

Do nhận thức về ảnh hưởng của quyền SHTT ngày càng cao đến việc phát triển thương mại quốc tế, nhằm giảm bớt những lệch lạc, trở ngại cho hoạt động thương mại quốc tế, thúc đẩy việc bảo hộ, khai thác một cách có hiệu quả, thỏa đáng quyền SHTT, Hiệp định TRIPS được ký kết vào ngày 15/4/1994, chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/1995 cùng với sự ra đời của WTO đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong pháp luật quốc tế về quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng. Hiệp định đã có những quy định căn bản về các điều kiện bảo h ộ tối thiểu cũng như các biện pháp thực thi quyền SHCN đối với sáng chế liên quan trực tiếp đến các quy định pháp lý của Việt Nam về việc bảo hộ và khai thác thương mại đối với sáng chế như sau:

  • Các tiêu chuẩn tối thiểu

Hiệp định TRIPS được xây dựng dựa trên những nguyên tắc đã có trong Công ước Paris. Hiệp định TRIPS buộc các quốc gia thành viên phải ban hành pháp luật về SHTT và tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu được quy định trong Hiệp định. Cụ thể, theo Điều 27 của Hiệp định TRIPS, bằng độc quyền sáng chế có thể được cấp cho bất kỳ sáng chế nào dù là dưới dạng sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó đáp ứng các tiêu chuẩn về tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.

Hiệp định TRIPS cũng giải thích khái niệm, điều kiện bảo hộ thứ ba của sáng chế – “khả năng áp dụng công nghiệp” đồng nghĩa với thuật ngữ “tính hữu ích” Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Thúc đẩy cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ

Liên quan đến việc bảo hộ, khai thác và phát triển công nghệ là sáng chế, Điều 7 của Hiệp định này thừa nhận sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả các đối tượng SHTT nhằm “thúc đẩy cải tiến công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, bảo đảm quyền lợi của các nhà sản xuất và người sử dụng kiến thức công nghệ, phục vụ lợi ích kinh tế, xã hội và bảo đảm sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”.

Tuy nhiên, Điều 8 của Hiệp định lại đưa ra các nguyên tắc cho phép các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết trong việc giới hạn quyền của chủ sở hữu sáng chế để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giải quyết vấn đề về dinh dưỡng cũng như đáp ứng lợi chung thiết yếu cho sự phát triển công nghệ và KT-XH. Hơn nữa, Điều 8.2 của Hiệp định thừa nhận một số biện pháp cần thiết của các quốc gia thành viên để tránh sự lạm dụng quyền SHTT gây hạn chế hoặc có hại cho thương mại cũng như CGCN quốc tế.

Điều 67 của Hiệp định TRIPS cũng quy định rằng theo các điều kiện đã được chấp thuận, các quốc gia thành viên phát triển phải dành sự hợp tác tài chính và kỹ thuật có lợi cho các nước thành viên khác là quốc gia đang phát triển, kém phát triển, kể cả sự hỗ trợ trong việc chuẩn bị luật cũng như hỗ trợ liên quan đến việc thành lập hoặc củng cố các cơ quan, đại diện trong nước, việc đào tạo nhân lực.

  • Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Theo Điều 28.2, Hiệp định TRIPS, bằng độc quyền sáng chế có thể được chuyển giao bao gồm việc chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng, đáp ứng nhu cầu khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Kiểm soát hoạt động chống cạnh tranh trong các li-xăng theo hợp đồng

Điều 39.1 của Hiệp định TRIPS nêu lên nhận thức rằng trong một số thông lệ cấp li-xăng hoặc các điều kiện cấp li-xăng quyền SHTT nhằm ngăn chặn sự cạnh tranh có thể có những tác động có hại đối với thương mại tự do cũng như cản trở việc chuyển giao và phổ biến công nghệ. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Quan điểm này cũng được ghi nhận cụ thể tại Điều 40 của Hiệp định. Điều 40.2 của Hiệp định ghi nhận rằng các quốc gia thành viên có thể cụ thể hóa trong pháp luật quốc gia về các thực tiễn, thông lệ hoặc các điều kiện cấp li-xăng quyền SHTT mà trong một số trường hợp cụ thể các quy định pháp lý này có thể tạo ra việc lạm dụng quyền SHTT, gây ảnh hưởng xấu cho hoạt động cạnh tranh trên thị trường tương ứng. Mặt khác, Điều 40.2 cũng quy định rằng các quốc gia thành viên có thể đưa ra các biện pháp thích hợp, phù hợp với các điều khoản khác của Hiệp định, để ngăn ngừa và kiểm soát những thông lệ có hại đó. Các biện pháp này có thể bao gồm các điều kiện buộc bên nhận li-xăng cấp li-xăng ngược lại cho bên chuyển giao li-xăng quyền độc quyền đối với các cải tiến do bên nhận có được, các điều kiện hạn chế bên nhận li-xăng khiếu kiện về hiệu lực của quyền SHTT và các điều kiện bắt bên nhận li-xăng cả gói mang tính cưỡng bức.

  • Nhập khẩu song song

Điều 6 của Hiệp định không đòi hỏi một quốc gia thành viên nào phải cho phép hoặc ngăn cấm nhập khẩu song song. Do vậy, mỗi quốc gia thành viên có thể đưa ra các quy tắc khác nhau về vấn đề này.

  • Li-xăng cưỡng bức

Điều 31 của Hiệp định cho phép các quốc gia thành viên có quyền cho bên thứ ba khai thác một sáng chế đã được cấp bằng độc quyền. Thậm chí, bên thứ ba được hành động ngược lại ý chí của chủ sở hữu sáng chế, trừ khi có những điều kiện nào đó cần được tôn trọng. Tuy nhiên, li-xăng cưỡng bức chỉ được thực hiện với những điều kiện nhất định và bên nhận li-xăng cưỡng bức vẫn phải trả cho chủ sở hữu sáng chế một khoản phí li-xăng nhất định.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Từ nghiên cứu và phân tích trong các phần trên của Chương 2, có thể rút ra một số kết luận cho Chương 2.

Thứ nhất, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình, được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích/mẫu hữu ích. Bản chất pháp lý của sáng chế là một TSTT thụ đắc theo pháp luật, quyền SHCN đối với sáng chế là một quyền tài sản. VBBH độc quyền sáng chế đem lại cho chủ sở hữu sáng chế một quyền năng rất quan trọng là quyền loại trừ. Sáng chế có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của KHCN và KT-XH.

Thứ hai, khai thác thương mại đối với sáng chế có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu-bên chuyển giao cũng như bên nhận chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và toàn bộ xã hội. Khai thác thương mại đối với sáng chế đã trở thành một nội dung chủ đạo trong chính sách phát triển kinh tế, pháp luật thương mại, đầu tư của mỗi quốc gia hiện nay. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ ba, chủ sở hữu có quyền độc quyền khai thác và sử dụng sáng chế của mình một cách hợp pháp. Nếu không xin phép chủ sở hữu sáng chế thì bất kỳ hành vi khai thác và sử dụng nào khi chưa được phép sẽ bị coi là một hành vi xâm phạm sáng chế và người xâm phạm sẽ phải chịu các trách nhiệm về dân sự, hình sự và hành chính. Tuy nhiên, pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia quy định một số giới hạn quyền của chủ sở hữu đối với việc khai thác thương mại sáng chế, ví dụ như việc sử dụng sáng chế vì mục đích công cộng như li-xăng cưỡng bức, sử dụng sáng chế cơ bản nhằm phát triển sáng chế phụ thuộc; việc sử dụng sáng chế với mục đích phi thương mại như NCKH, đào tạo, thử nghiệm, duy trì phương tiện vận chuyển quá cảnh; việc sử dụng sáng chế do chủ sở hữu sáng chế đã đưa ra thị trường; việc sử dụng sáng chế theo “quyền sử dụng trước”. Hơn nữa, sự bảo hộ độc quyền của sáng chế bị giới hạn theo lãnh thổ và theo thời gian.

Thứ tư, quyền SHCN nói chung và quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng mang bản chất thương mại. Khai thác thương mại đối với sáng chế có thể được hiểu là việc khai thác sáng chế nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, TMH sáng chế đang được bảo hộ quyền SHCN một cách tự nguyện. Do vậy, theo quan điểm luận án, các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế sẽ bao gồm việc chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế, chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và li-xăng sáng chế) và chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

Thứ năm, từ việc nhận diện các hình thức khai thác thương mại ở trên, khung pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam là một khái niệm rộng, là tổng thể các quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực dân sự, SHTT, CGCN, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư và GDBĐ nhằm điều chỉnh các quan hệ về việc chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế, có liên quan đến việc chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và việc chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Ngoài ra, có hai công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia (Công ước Paris và Hiệp định TRIPS) quy định các nguyên tắc chung điều chỉnh hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam. Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng khai thác thương mại đối với sáng chế

One thought on “Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464