Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chính sách, pháp luật và giải pháp tăng cường đảm bảo kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới

Những năm gần đây, Việt Nam đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn liền với bảo vệ môi trường. Tại Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về. Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phần IX của Dự thảo Báo cáo về tăng cường quản lý tài nguyên; bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Phương hướng nhiệm vụ của Đảng về bảo vệ môi trường là hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường, tăng cường phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên; hạn chế tiến tới khắc phục căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, khu đô thị, làng nghề, các lưu vực sông, không để phát sinh thêm những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thêm nữa, việc đẩy mạnh xã hội hoá cùng với việc bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước đầu tư cho các công trình trọng điểm phục hồi môi trường dân sinh cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản được đặt ra trong Dự thảo [46]. Bên cạnh đó, nội dung Dự thảo Báo cáo này, còn nhấn mạnh việc ban hành bổ sung các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật điều mà trong các Dự thảo Báo cáo trước đây không đề cập đến trong khi thực tế, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa đủ các chế tài mạnh để chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, một trong những điểm mới của Dự tháo lần này là đề cập đến các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường như hạn chế tiến tới khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, khu đô thị, bởi hiện nay, dưới tác động của toàn cầu hóa và mở rộng phát triển kinh tế đã kéo theo sự xuất hiện các khu công nghiệp ngày càng nhiều, dẫn tới hệ lụy ô nhiễm môi trường sẽ gia tăng và cụ thể là gây nên ô nhiễm không khí. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Như vậy, so với Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thì Dự thảo Báo cáo tại Đại hội XII chú trọng hơn, tập trung hơn về bảo vệ môi trường. Cụ thể, tại Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI về tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, điểm 3 phần V của Báo cáo về vấn đề coi trọng bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Vấn đề bảo vệ môi trường được lồng ghép vào với biến đổi khí hậu như sau: “Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo vệ môi trường. Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng và tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi; xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường”.

Có thể thấy, trong thời điểm hiện nay, việc đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư là một hướng đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển bền vững, cụ thể:

  • Các dự án, công trình đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ môi trường.
  • Quản lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.
  • Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta; thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu; tích cực tham gia, phối hợp cùng cộng đồng quốc tế hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất.
  • Tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng hệ thống dự báo, cảnh báo thiên Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức phòng, chống thiên tai trong mỗi người dân, nhất là nhân dân vùng thường xảy ra thiên tai.
  • Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các ngành, các địa phương phải chú ý đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nơi neo đậu tàu thuyền tránh bão, hệ thống thoát lũ, phương tiện liên lạc, cứu hộ, cứu nạn ở vùng thường xuyên bị thiên tai, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
  • Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường [1]. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Vấn đề bảo vệ môi trường đã được thể chế hóa từ các chính sách, đường lối của Đảng vào trong nội dung các văn bản pháp luật, cụ thể tại Hiếp pháp sửa đổi năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Mọi người đều có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [22, Điều 43]. Đồng thời, Điều 63 Hiến pháp cũng quy định:

Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. 2. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. 3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại [22, Điều 63].

Khái quát lại, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thể hiện quan tâm hơn đến công cuộc bảo vệ môi trường, và đặt ra trách nhiệm rất rõ cho Nhà nước phải có các chính sách bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn.

3.2. Pháp luật và thực thi pháp luật về ô nhiễm không khí xuyên biên giới tại Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

3.2.1. Các Điều ước quốc tế trong lĩnh vực ô nhiễm không khí mà Việt Nam gia nhập

Việt Nam đã gia nhập chính thức vào các Điều ước Quốc tế liên quan đến kiểm soát ô nhiễm không khí sau:

Công ước Vienna 1985: Được thông qua vào ngày 22 tháng 03 năm 1985 tại Vienna sau nhiều nỗ lực xây dựng và Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) dưới sự điều hành của UNEP. Công ước này gồm 21 điều nêu ra những cam kết Quốc tế nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường khỏi những tác động tiêu cực do tầng Ozon bị suy giảm, hợp tác trong nghiên cứu, quan trắc và trao đổi thông tin trong lĩnh vực này. Việt Nam gia nhập Công ước này vào ngày 26 tháng 4 năm 1994 [44].

Nghị định thư Montreal: Nghị định thư được thông qua vào ngày 16 tháng 09 năm 1987 (sau này được công nhận là Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ozon) tại MontrealCanada) nhằm xác định những biện pháp cần thiết để các bên tham gia hạn chế và kiểm soát được việc sản xuất và tiêu thụ các hóa chất làm suy giảm tầng ozon, kêu gọi cắt giảm 50% các chất CFC trước năm Nghị định này gồm 20 điều và 5 phụ lục và cho đến ngày 31 tháng 01 năm 1998 đã có 165 Quốc gia phê chuẩn. Việt Nam gia nhập Nghị định thư này vào ngày 26 tháng 1 năm 1994 [16].

Nghị định thư Kyoto: Đây là văn bản pháp lý để thực hiện Công ước khí hậu, đã có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 02 năm 2005. Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra các chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện ―Cơ chế phát triển sạch‖ CDM. Dự án CDM được đầu tư vào các lĩnh vực như: năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý chất thải. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto nên được hưởng những quyền lợi dành cho các nước đang phát triển trong việc tiếp nhận hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ mới từ các nước phát triển thông qua dự án CDM. Việt Nam tham gia kí kết Nghị định thư này vào ngày 25 tháng 9 năm 2002 [18].

Hiệp định ASEAN về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới năm 2002: Nạn khói mù giai đoạn 1997-1998 thực sự nghiêm trọng đến mức Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc đã liệt vào là khốc liệt trong số những thảm họa lớn nhất được ghi nhận trong lịch sử. Giai đoạn có nạn khói mù đã gây lên những tác động khủng khiếp về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và đời sống của con người tại khu vực Đông Nam Á. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Trong khuôn khổ hợp tác khu vực ASEAN, Một nỗ lực lớn hơn nhằm thúc đẩy sự hợp tác ASEAN đó là việc ra đời Hiệp định chung ASEAN về ô nhiễm khói mù xuyên biên giới. Hiệp định này đã được các chính phủ của 10 nước thành viên ASEAN ký kết vào ngày 10/6/2002 trong hội nghị và triển lãm thế giới về nguy cơ cháy rừng và hỏa hoạn được diễn ra tại Kuala Lumpur, Malaysia từ ngày 10-12/6/2002. Hiệp định bao gồm các điều khoản về kiểm soát, đánh giá và ngăn chặn, hợp tác kỹ thuật và nghiên cứu khoa học cho hoạt động hợp tác, các luồng thông tin và đơn giản hóa các thủ tục và quan niệm về thảm họa. Hiệp định cũng đề xuất việc thành lập trung tâm hợp tác ASEAN về kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới. Hiệp định này đã bắt đầu có hiệu lực vào ngày 25/11/2003.

Có thể thấy, việc Việt Nam tham gia Hiệp định này không chỉ nhằm tăng cường sự hợp tác mang tính quốc tế và khu vực để ngăn chặn, giảm bớt và kiểm soát sự ô nhiễm do khói mù xuyên biên giới mà còn là sự đóng góp vào những nỗ lực hiện thời trong khu vực ASEAN bao gồm việc dự báo và kiểm soát điều kiện thời tiết, cháy rừng và đất; phát triển các thủ tục thực thi mang tính tiêu chuẩn, thúc đẩy sự liên kết và phương pháp trao đổi giữa các quốc gia thành viên ASEAN, phát triển các website để dễ dàng trao đổi và chia sẻ thông tin cùng với việc xuất bản, phổ biến đường lối để không xảy ra hỏa hoạn và thực hành kiểm soát các vụ cháy. Cam kết của các nước thành viên ASEAN nhằm giải quyết nạn ô nhiễm khói mù xuyên biên giới được phản ánh trong sự thống nhất và nỗ lực nhanh chóng nhằm thi hành Hiệp định ASEAN về khói mù xuyên biên giới cũng như nhiều hành động và chương trình kế tiếp để thực thi Hiệp định.

3.2.2. Pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực ô nhiễm không khí xuyên biên giới

Dưới đây là các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước Việt Nam ban hành để điều chỉnh lĩnh vực này:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
  • Quyết định số 249/2005/QĐ- TTg ngày 10 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;
  • Quyết định 2359/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 phê duyệt Hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính do Thủ tướng Chính phủ ban hành Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
  • Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
  • Thông tư 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
  • Thông tư 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
  • Thông tư 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
  • Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Pháp luật về công tác phòng chống, nghiên cứu, đánh giá các tác động tới ô nhiễm không khí

Đây là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức cá nhân nhằm phòng ngừa những tác động tiêu cực mà các hoạt động của con người có thể gây ra cho môi trường không khí và việc khắc phục các sự cố cho môi trường không khí để giảm thiểu những thiệt hại gây ra cho môi trường không khí từ các sự cố đó. Các hoạt động phòng chống, khắc phục ô nhiễm không khí bao gồm:

Thứ nhất, hoạt động quan trắc môi trường không khí được quy định từ Điều 121 đến Điều 127 của Luật BVMT năm 2014. Hoạt động quan trắc môi trường không khí thực hiện quan trắc thành phần môi trường không khí gồm có không khí trong nhà, không khí ngoài trời, khí thải. Được theo dõi thông qua các chương trình quan trắc môi trường bao gồm: Chương trình quan trắc môi trường quốc gia trong đó nổi bật điểm mới là quan trắc môi trường xuyên biên giới; chương trình quan trắc môi trường cấp tỉnh gồm các chương trình quan trắc thành phần môi trường trên địa bàn; chương trình quan trắc môi trường của khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm quan trắc chất phát thải và quan trắc các thành phần môi trường theo quy định pháp luật.

Thứ hai, hoạt động quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường được quy định từ Điều 8 đến Điều 34 của Luật BVMT năm 2014, và được quy định riêng trong Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường cùng với hai Thông tư 26/2015/TT-BTNMT ngày 28/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Thông tư 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Theo các văn bản này, nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường bao gồm: Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia gồm những nội dung chính sau diễn biến, mục tiêu quản lý môi trường rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; thực trạng môi trường biển, hải đảo, lưu vực song; mục tiêu và các giải pháp bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông; thực trạng phát thải khí và chất lượng môi trường không khí; mục tiêu và giải pháp quy hoạch đối với các hoạt động phát triển có nguồn phát thải khí lớn; thực trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường đất; mục tiêu và các giải pháp quản lý nước thải và bảo vệ môi trường nước; mục tiêu và các giải pháp quản lý nước thải và bảo vệ môi trường nước; thực trạng mạng lưới quan trắc và giám sát môi trường; mục tiêu, định hướng quy hoạch hệ thống quan trắc và giám sát môi trường; phân vùng môi trường theo các mục tiêu phát triển, bảo vệ, bảo tồn và ứng phó với biến đổi khí hậu; các chương trình, dự án bảo vệ môi trường ưu tiêu và chỉ tiêu môi trường; các bản đồ, sơ đồ liên quan đến vùng quy hoạch; nguồn lực thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường; trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường. Nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh được thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương bằng một quy hoạch riêng hoặc lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội.

Về nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược: Sự cần thiết, cơ sở pháp lý của nhiệm vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Phương pháp thực hiện đánh giá môi trường chiến lược; tóm tắt nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội của vùng chịu sự tác động bởi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; đánh giá sự phù hợp của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch với quan điểm, mục tiêu về bảo vệ môi trường; đánh giá, dự báo xu hướng tác động của biến đổi khí hậu trong việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá môi trường chiến lược; giải pháp duy trì xu hướng tích cực, phòng ngừa, giảm thiểu xu hướng tiêu cực của các vấn đề môi trường trong quá trình thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Những đối tượng cần phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược được quy định tại Phụ lục I của Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 [6]. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường: bao gồm xuất xứ của dự án, chủ dự án, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án; phương pháp đánh giá tác động môi trường; đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và các hoạt động của dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường; đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên, kinh tế – xã hội nơi thực hiện dự án, vùng lân cận và thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án; đánh giá, dự báo các nguồn thải và tác động của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; đánh giá, dự báo, xác định biện pháp quản lý rủi ro của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; biện pháp xử lý chất thải; các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; chương trình quản lý và giám sát môi trường; dự tán kinh phí xây dựng công trình bảo vệ môi trường và thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường. Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường quy định tại Phụ lục II của Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015.

Cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường có trách nhiệm sau đây: Thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường do mình phê duyệt cho UBND cấp tỉnh nơi thực hiện dự án; UBND cấp tỉnh thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường do mình hoặc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phê duyệt cho UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là UBND cấp huyện), UBND cấp xã nơi thực hiện dự án; Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.

Nội dung kế hoạch bảo vệ môi trường: bao gồm địa điểm thực hiện; loại hình, công nghệ quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng; dự báo các loại chất thải phát sinh, tác động khác đến môi trường; biện pháp xử lý chất thải và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Các đối tượng phải lập kế hoạch bảo vệ môi trường là các dự án đầu tư không thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể tại Điều 18 về Đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015.

Thứ ba, hoạt động thông tin về tình hình môi trường không khí được quy định từ Điều 128 đến Điều 131 của Luật BVMT năm 2014. Thông tin môi trường gồm số liệu, dữ liệu về thành phần môi trường, các tác động đối với môi trường, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường; cơ sở dữ liệu môi trường là tập hợp thông tin về môi trường được xây dựng, cập nhật và duy trì đáp ứng yêu cầu truy nhập, sử dụng thông tin cho công tác bảo vệ môi trường và phục vụ lợi ích công cộng. Các tổ chức, cá nhân quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, các Bộ, ngành có trách nhiệm cung cấp thông tin môi trường liên quan bao gồm các thông tin môi trường như Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; các báo cáo về môi trường.

Thứ tư, hoạt động khắc phục ô nhiễm không khí: trách nhiệm đầu ra, xác định khu vực bị ô nhiễm thuộc về UBND cấp tỉnh và bộ tài nguyên môi trường; các cá nhân tổ chức gây ô nhiễm không khí phải tiến hành các biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm để giảm đến mức tối đa những thiệt hại và chịu trách nhiệm pháp lý khác theo quy định pháp luật được quy định từ Điều 105 đến Điều 107 Luật BVMT năm 2014. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Việc điều tra, xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm bao gồm các nội dung sau đây: Phạm vi, giới hạn khu vực môi trường bị ô nhiễm; mức độ ô nhiễm; nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan; các công việc cần thực hiện để khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường; các thiệt hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu bên gây ô nhiễm, suy thoái phải bồi thường. Trường hợp môi trường bị ô nhiễm do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân thì các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường.

  • Pháp luật về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí

Pháp luật về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xả khí thải của các tổ chức, cá nhân vào môi trường xung quanh trong các hoạt động của họ.

Luật BVMT năm 2014 quy định một mục riêng về bảo vệ môi trường không khí. Điều 62 của Luật này quy định các nguồn phát thải khí vào môi trường phải được đánh giá và kiểm soát. Điều 63 quy định Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm theo dõi, đánh giá chất lượng môi trường không khí xung quanh và công bố công khai thông tin; trường hợp môi trường không khí xung quanh bị ô nhiễm phải cảnh báo, xử lý kịp thời. Điều 64 quy định rõ về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là nguồn phát thải phải được xác định về lưu lượng, tính chất và đặc điểm của khí thải; việc xem xét phê duyệt dự án và hoạt động có phát thải khí phải căn cứ vào sức chịu tải của môi trường không khí, bảo đảm không có tác động xấu đến con người và môi trường; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn phát thải khí công nghiệp lớn phải đăng ký nguồn gây ô nhiễm, đo đạc, thống kê, kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về lưu lượng, tính chất, đặc điểm khí thải; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn phát thải công nghiệp lưu lượng lớn phải lắp đặt thiết bị quan trắc khí thải tự động, liên tục và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép xả thải. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Luật giao cho Chính phủ quy định chi tiết Điều 64 này, tuy nhiên hiện nay Nghị định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đang được Chính phủ xây dựng và hoàn thiện các dự thảo.

Vấn đề quản lý khí thải cũng được quy định cụ thể trong Thông tư 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về bảo vệ môi trường khu kinh tế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Điều 10 quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu công nghiệp phát sinh khí thải, tiếng ồn phải đầu tư, lắp đặt hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu tiếng ồn bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường; Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khu công nghiệp phát sinh khí thải thuộc danh mục quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP phải thực hiện đăng ký chủ nguồn khí thải, quan trắc khí thải tự động, liên tục và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên môi trường địa phương.

  • Pháp luật xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí
  • Các hành vi vi phạm hành chính gây ô nhiễm không khí, hình thức xử phạt và mức phạt vi phạm về thải bụi, khí thải:

Theo quy định tại Điều 15 của Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2015 quy định xử phạt vi phạm hành chính về môi trường, vi phạm về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường không nguy hại vào môi trường thì phạt tiền nhẹ từ 1 triệu đến 3 triệu đối với hành vi thải mùi hôi thối vào môi trường, và mức xử phạt nặng nhất tùy thuộc vào lưu lượng khí thải thải ra môi trường. Ngoài hình thức xử phạt chính là phạt tiền còn áp dụng hình thức phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm tối thiểu là 03 tháng và tối đa là 12 tháng, cùng với đó là các biện pháp khắc phục hậu quả.

Ngoài ra, đối với vi phạm về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường thì tại Điều 16 của Nghị định 179/2013/NĐ- CP quy định phạt tiền từ 3 triệu đến 5 triệu đối với hành vi làm phát tán hóa chất, hơi dung môi hữu cơ trong khu sản xuất hoặc khu dân cư gây mùi đặc trưng của hóa chất, hơi dung môi hữu cơ đó. Nặng nhất là phạt tiền 1 tỷ đồng với hành vi thải khí, bụi có chứa chất phóng xạ nguy hiểm, cùng với đó là các hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Vi phạm về hành vi gây ô nhiễm không khí, tại Điều 19 của Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định phạt tăng 20% đến 30% của mức tiền phạt đối với các hành vi vi phạm quy định liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí vượt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường không khí xung quanh đến dưới 3 lần đối với thông số môi trường nguy hại hoặc dưới 05 lần đối với thông số môi trường không nguy hại.

  • Xử lý hình sự trong lĩnh vực vi phạm pháp luật gây ra ô nhiễm không khí

Xử lý hình sự trong lĩnh vực vi phạm pháp luật gây ra ô nhiễm không khí đã được quy định trong BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Một đặc điểm riêng biệt của hành vi phạm tội trong lĩnh vực gây ô nhiễm không khí đó là vấn đề xác định chủ thể phạm tội và mức độ nguy hiểm của hành vi. Bởi lẽ, nguồn gây ô nhiễm không khí rất đa dạng và môi trường không khí lại có đặc tính khuyếch tán rất rộng nên việc xác định chủ thể và mức độ nguy hiểm của hành vi là rất khó khăn. Tuy vậy, trong BLHS năm 1999 và BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng đã có quy định về tội gây ô nhiễm không khí. Tuy nhiên, trong BLHS năm 1999, Chương XVII – Các tội phạm về môi trường quy đinh riêng từng tội như sau: tội gây ô nhiễm không khí được qui định tại Điều 182, tội gây ô nhiễm nguồn nước quy định tại Điều 183, tội gây ô nhiễm đất quy định tại Điều 184. Trong BLHS sửa đổi năm 2009, Chương XVII – Các tội phạm về môi trường đã gộp chung tội gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất vào Điều 182 – Tội gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, có một điểm khác biệt trong quy định xử lý tội gây ô nhiễm không khí giữa BLHS năm 1999 và BLHS sửa đổi, bổ sung 2009 đó là việc gây ô nhiễm không khí chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 182, BLHS 1999). Nhưng theo Điều 182 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì tội gây ô nhiễm không khí sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi gây ô nhiễm ở mức độ nghiêm trọng. Quy định cụ thể về tội gây ô nhiễm môi trường như sau: Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

  1. Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
  3. Có tổ chức;
  4. Làm môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác.
  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm [21, Điều 128].

Tội phạm về môi trường nói chung và tội gây ô nhiễm không khí nói riêng được quy định trong luật hình sự đã chứng tỏ tính răn đe nghiêm khắc trong việc xử phạt những hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, việc xác định hậu quả nghiêm trọng của hành vi gây ô nhiễm không khí thường là rất khó khăn, có nhiều trường hợp không thể xác định được ngay mà phải sau một thời gian dài mới xác định được hậu quả.

3.3. Thực thi pháp luật trong việc kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới

3.3.1. Thực thi các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia

Việt Nam đã tham gia, ký kết các điều ước quốc tế (Công ước Vienna năm 1994, Nghị định thư Montreal và Nghị định thư Kyoto năm 1998 về giảm phát thải khí nhà kính). Tuy nhiên, việc thực hiện các cam kết quốc tế và đưa pháp luật vào cuộc sống lại chưa được tích cực. Ví dụ như Nghị định Kyoto đưa ra các mục tiêu mang tính bắt buộc đối với 37 nền công nghiệp trên thế giới và Liên minh Châu Âu về việc giảm lượng khí thải nhà kính. Theo đó, các nước này đến năm 2012 phải giảm lượng phát thải khí nhà kính, chủ yếu là carbon dioxide, tuy nhiên dù các nước phát triển này có cam kết đi đầu trong việc cắt giảm lượng khí thải nhà kính theo Nghị định thư, nhưng trên thực tế lại tìm nhiều cách lảng tránh vấn đề như trì hoãn phê chuẩn, thực hiện, đưa những dây chuyền công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm sang nước đang phát triển. Đặc biệt, Mỹ là quốc gia công nghiệp chiếm đến 25% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên thế giới nhưng lại không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vì cho rằng điều này sẽ gây thiệt hại đối với kinh tế Mỹ [26]. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Việt Nam đã là thành viên của Hiệp định AATHP, tuy nhiên đầu năm 2015 TP.HCM và các tỉnh phía Nam vừa trải qua một đợt ô nhiễm khói mù, với nguồn gốc là khói thải do cháy rừng ở Indonesia. Đây là vụ ô nhiễm khói mù tồi tệ nhất trong gần 10 năm trở lại đây, có nguy cơ vượt qua cả thảm họa cháy rừng năm 1997 từng gây thiệt hại cho nền kinh tế Indonesia tới 9 tỉ USD.

Ô nhiễm không khí lên tới mức nguy hiểm từ các vụ cháy khiến hơn 80.000 người Indonesia mắc bệnh hô hấp, buộc Singapore và Malaysia phải ban bố tình trạng khẩn cấp, đóng cửa hàng trăm trường học. Tình hình ngày càng tồi tệ khi khói mù tiếp tục lan về phía bắc, ảnh hưởng tới bảy tỉnh miền nam Thái Lan, gây ra tình trạng mù khô ở TP.HCM trong tuần qua [25]. Như vậy, cho thấy rằng Hiệp định AATHP không có hiệu lực đối với các nước, nhất là đối với Indonesia. Bởi vì tháng 1 năm 2015, Bộ Ngoại giao Indonesia mới trao văn kiện do Quốc hội Indonesia phê chuẩn Hiệp định AATHP cho ban thư ký Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), mặc dù AATHP đã được Chính phủ Indonesia ký kết cách đây 12 năm. Việc Quốc hội Indonesia trì hoãn phê chuẩn AATHP do chịu nhiều áp lực trái chiều từ trong và ngoài nước. Hiệp định đã được tất cả các nước thành viên ASEAN thông qua làm gia tăng hi vọng giúp khu vực tăng cường hợp tác phòng chống ô nhiễm khói mù xuyên biên giới. Tuy vậy, ngay cả khi đã phê chuẩn AATHP, mãi đến lúc nhiều nước trong khu vực ngạt thở, quy mô ô nhiễm vượt khỏi tầm kiểm soát thì Indonesia mới chấp nhận sự trợ giúp của quốc tế, mở ra cơ hội phối hợp quốc tế để giải quyết vì trước đó họ vẫn khăng khăng coi đây là vấn đề nội bộ. Điều đó cho thấy những lợi ích nội tại của một quốc gia có thể chi phối sự hợp tác quốc tế trong một vấn đề khẩn cấp liên quan người dân nhiều nước.

Ngoài ảnh hưởng của khói mù từ Indonesia ảnh hưởng tới miền Nam Việt Nam, trong năm 2015, Viện Khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên – môi trường) vừa công bố báo cáo khẳng định vào mùa đông, ô nhiễm không khí từ Trung Quốc ảnh hưởng đến Việt Nam có thể tới 55% đối với SO2, 48% đối với NO2 và 30% đối với CO [30]. Nghiên cứu này cho thấy Việt Nam còn hứng chịu cả những chất hữu cơ khó phân hủy với hàm lượng không thua kém SO2 mà nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện than ở phía nam và đông nam Trung Quốc. Năm 2013, Trung Quốc đã có 801 GW công suất lắp đặt các nhà máy nhiệt điện than, chiếm trên 64% tổng nguồn cung điện năng nước này. Để so sánh, năm 2015 Việt Nam có tổng công suất nhiệt điện than khoảng 14,5 GW, theo Quy hoạch điện VII thì đến năm 2030 sẽ đạt tổng công suất nhiệt điện than 75 GW. Chỉ tính năm 2013, công suất nhiệt điện than tại Trung Quốc đã gấp 55,2 lần so với công suất nhiệt điện than tại Việt Nam năm 2015 và gấp 10,7 lần so với công suất nhiệt điện than tại Việt Nam đến năm 2030. Đáng lo ngại là do nguồn ô nhiễm từ việc xây dựng và vận hành các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam, ước tính hiện nay đã có hậu quả bệnh tật làm chết khoảng 4.300 người/năm và dự báo con số này sẽ tăng lên khoảng 25.000 người/năm đến năm 2030 [29]. Những số liệu này đã cho thấy ngoài nguy cơ hiển hiện này, có mối nguy khác sẽ gia tăng với tải lượng ô nhiễm khổng lồ đang âm thầm xâm nhập Việt Nam từ Trung Quốc. Chắc chắn những con số thiệt hại nghiêm trọng mà GreenID vừa công bố sẽ còn cao hơn gấp rất nhiều lần với sự xâm nhập ô nhiễm không khí từ Trung Quốc.

Sự gia tăng nhiều vấn đề môi trường hệ trọng có tính chất xuyên quốc gia đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải huy động nội lực ứng phó đồng thời gia tăng các hoạt động hợp tác song phương và đa phương, đó là một thách thức không nhỏ cho Việt Nam. Làm thế nào để giảm thiểu ô nhiễm không khí xuyên biên giới đây không thể là việc làm một sớm một chiều mà cần phải có tầm nhìn dài hạn, thực hiện nghiêm túc và bền bỉ.

3.3.2. Thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về ô nhiễm không khí xuyên biên giới Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

  • Pháp luật về công tác phòng chống, nghiên cứu, dự đoán, đánh giá các tác động tới ô nhiễm không khí

Hoạt động quan trắc môi trường không khí: Hiện Việt Nam có 21 trạm quan trắc không khí. Theo số liệu quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, không khí ở hầu hết các khu vực dân cư nội đô đều bị ô nhiễm. Đặc biệt, các khu vực như đường Khuất Duy Tiến, Quốc lộ 32, đường Nguyễn Trãi… ô nhiễm bụi đang ở mức cao nhất Hà Nội và xu hướng ngày càng gia tăng. Các khu vực ngã tư có mật độ xe lưu thông cao, nồng độ bụi cũng vượt quy chuẩn cho phép.

Ô nhiễm không khí tại khu công nghiệp cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống. Khảo sát gần đây cho thấy, lĩnh vực công nghiệp chiếm 40% nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. 5 tỉnh, thành phố là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm không khí do các hoạt động công nghiệp.

Mức độ ô nhiễm ở các khu công nghiệp tăng cao là do các biện pháp xử lý khí thải còn khá đơn giản, nhiều doanh nghiệp không tự giác áp dụng các công nghệ vào xử lý khí thải hoặc cố ý xả thải không qua xử lý.

Bên cạnh đó, các khu công nghiệp chưa có các công cụ để tính toán lượng khí thải ô nhiễm, chưa thống nhất cách tính ô nhiễm từ nhiên liệu, loại hình công nghệ, trình độ công nghệ. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động quan trắc môi trường không khí còn một số hạn chế như: Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia chưa thực sự được triển khai nên hoạt động quan trắc môi trường không khí còn phân tán, chồng chéo, chưa theo một quy trình thống nhất, chưa bao quát được hết các yêu cầu cần quan trắc; Tình trạng thiết vị nhìn chung còn yếu kém và lạc hậu, chưa tự động hóa các khâu lưu trữ, xử lý và trao đổi số liệu; Số liệu về môi trường không khí thu thập chưa đồng bộ, ít được chia sẻ, khó khăn trong việc khai thác, sử dụng, chưa đủ tin cậy để đánh giá và dự báo môi trường phục vụ cho công tác hoạch định chính sách bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Hoạt động bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc còn yếu, làm giảm chất lượng và tính thống nhất của số liệu quan trắc; Kinh phí đầu tư cho quan trắc môi trường không khí còn hạn chế so với yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

Quan trắc môi trường và thông tin về môi trường được quy định trong 01 chương (Chương X) của Luật BVMT năm 2005. Với mục tiêu xây dựng một hệ thống quan trắc môi trường quốc gia thống nhất và toàn diện, Luật BVMT năm 2014 có một chương riêng về quan trắc môi trường, quy định các thành phần môi trường và chất phát thải cần được quan trắc, chương trình quan trắc, các loại tổ chức và hoạt động thuộc hệ thống quan trắc. Luật BVMT năm 2014 quy định trách nhiệm quan trắc của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh, khu công nghiệp, khu chế xuất, và phần nào đó khắc phục được các hạn chế nêu trên. Cùng với đó Nghị định 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường.

  • Hoạt động đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường:

Quy định ĐTM của Việt Nam lần đầu tiên được được đưa ra trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, và đến nay đã có những điều chỉnh đáng kể.

Các chế tài về ĐTM lần đầu tiên được quy định tại Điều 17 và 18 của Luật BVMT ban hành ngày 27/12/1993, và tiếp đó là Nghị định 175/CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật BVMT 1993. Các quy định này yêu cầu tất cả các dự án trong nước và đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đều là đối tượng phải thực hiện ĐTM. Các dự án đã đi vào hoạt động cũng cần lập báo cáo đánh giá tác động dưới dạng “kiểm toán môi trường”.

Luật BVMT sửa đổi ban hành ngày 29/11/2005 đã dành riêng một chương quy định về công tác đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Nếu như bước tiến hành báo cáo ĐTM sơ bộ được coi là bắt buộc đối với các dự án trước khi có Luật BVMT 2005, thì sau khi luật này có hiệu lực, bước này đã bị xoá bỏ. Giai đoạn từ năm 1994 đến trước khi Luật BVMT 2005 được ban hành là giai đoạn “vừa làm – vừa học – vừa rút kinh nghiệm” của Việt Nam. Đến năm 2008, một bảng danh mục các đối tượng gồm 162 loại dự án khác nhau phải lập báo cáo ĐTM đã được quy định tại Nghị định 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/2/2008. Các dự án thuộc danh mục này sẽ phải thực hiện báo cáo ĐTM chi tiết; nếu không chỉ cần thực hiện cam kết BVMT. Đối tượng của quy định “ĐTM bổ sung” là các dự án mở rộng hoặc thay đổi công nghệ của các cơ sở đang sản xuất. Khái niệm này đã thay thế cho dạng báo cáo ĐTM của các cơ sở đang hoạt động trước đây.

Số lượng những người tham gia lập báo cáo ĐTM đã tăng nhanh một cách tự phát, đáp ứng nhu cầu ―thị trường‖ trong bối cảnh các hoạt động đầu tư nở rộ trên toàn quốc. Đội ngũ chuyên gia, tổ chức và dịch vụ tư vấn ĐTM trong và ngoài nhà nước đều dễ dàng tiếp cận. Đến thời điểm hiện nay, rất nhiều cơ quan trong nước đã có thể đảm nhiệm được vai trò này và đưa ra nhiều báo cáo có chất lượng tốt. Tuy nhiên, yêu cầu về năng lực đảm bảo thực hiện ĐTM của lực lượng này vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có chế tài pháp lý nào ràng buộc. Cần có một chứng chỉ bắt buộc đối với những cán bộ thực hiện công tác ĐTM ở Việt Nam.

Việc đánh giá tác động Theo Luật BVMT, có 6 loại chiến lược, quy hoạch và kế hoạch cần lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là quy hoạch phát triển KT- XH cấp quốc gia; phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước; phát triển KT- XH cấp tỉnh, cấp vùng; quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ và phát triển rừng, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng; quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm và quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.

Quy định là vậy nhưng phần lớn những bản báo cáo này đều mang tính hình thức, làm cho có, chứ không phải là những đánh giá từ hiện trạng dự án và những giải pháp cần có để xử lý những vấn đề môi trường phát sinh. Họ thường coi yêu cầu lập báo cáo ĐTM như là một thủ tục trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện dự án. Thậm chí nhiều người còn ―đổ lỗi‖ cho ĐTM như một lực cản của hoạt động phát triển sản xuất và đầu tư. Vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM, họ chỉ làm lấy lệ, chú trọng làm cho đủ thủ tục để dự án được thông qua chứ không quan tâm đến những tác động và nguy cơ môi trường thực sự. Phong trào cấp phép ồ ạt cho các dự án xây dựng sân golf ở Việt Nam trong những năm qua là một minh chứng điển hình. Nếu các dự án này tuân thủ thực hiện ĐTM nghiêm túc và chất lượng thì sẽ không có những xung đột xảy ra giữa các chủ dự án và cộng đồng địa phương do tranh chấp quyền sở hữu, tiếp cận, sử dụng tài nguyên đất, rừng và nguồn nước. Vụ việc gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải của Công ty Vedan là một ví dụ điển hình cho việc làm hình thức này, bởi nếu có đánh giá trực tiếp sát sao và giám sát nghiêm túc thì không thể có chuyện suốt từ năm 1993 đến nay, nhà máy đã thải ra môi trường bao nhiêu tấn chất độc hại, hủy diệt nguồn nước, không khí, đất đai và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người dân. Nội dung các báo cáo ĐTM cho thấy phần đánh giá tác động xã hội thường quá ngắn gọn, rất chung chung, thiếu cơ sở khoa học, và ít thuyết phục.

Theo thông lệ quốc tế, chi phí để lập một báo cáo ĐTM thường chiếm từ 1 đến 3% so với tổng kinh phí của một dự án. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ở Việt Nam có những dự án đầu tư trị giá đến hàng chục tỷ đồng, nhưng chi phí thực hiện ĐTM thậm chí chỉ là vài chục triệu đồng. Đây là điều không hợp lý vì với mức chi như vậy khó có thể đáp ứng một loạt các yêu cầu khảo sát và đo đạc nghiêm túc và cập nhật các chỉ tiêu môi trường ở các khu vực dự án cụ thể. Chi phí không đủ nhưng báo cáo vẫn được lập xong là cơ sở để nghi vấn độ tin cậy về thông tin và chất lượng báo cáo. Bên cạnh đó, chủ đầu tư luôn đặt ra mục đích cao nhất là được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho thực hiện dự án, vì thế khó có thể nói rằng họ chi tiền thuê cá nhân hay tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM để dẫn tới quyết định dự án bị trì hoãn hoặc chấm dứt ngoài mong muốn của họ. Tồn tại nói trên là một sự thật khách quan do chính các quy định luật pháp ràng buộc (chủ đầu tư phải trực tiếp chi tiền lập báo cáo ĐTM).

Thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM được pháp luật phân cấp cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (cấp trung ương) và UBND. Theo các chuyên gia, những ưu tiên về dự án đầu tư và phát triển kinh tế của cả Chính phủ, ngành và đặc biệt là các tỉnh, thành đã đặt các cơ quan (và cá nhân) chịu trách nhiệm thẩm định báo cáo ĐTM vào thế ―không được làm trái ý cấp trên‖, nhất là các dự án đầu tư quy mô lớn của nước ngoài nhưng tiềm ẩn rủi ro cao về môi trường như xây dựng thủy điện, cảng biển, khai thác khoáng sản, sửa chữa tàu biển, tái chế rác thải… Có thể nói, tính độc lập, phản biện và chịu trách nhiệm trước pháp luật, thể hiện qua trách nhiệm và quyền hạn của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM chưa được quy định rõ ràng. Vì thế, có những ý kiến băn khoăn rằng quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM bị thiên lệch để phục vụ lợi ích của các nhà đầu tư hơn là lợi ích chung của cộng đồng và xã hội. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Các ý kiến đánh giá của hội đồng thẩm định hầu như chỉ mang tính chất tư vấn, tham khảo trong quá trình ra quyết định cuối cùng. Nghĩa là, quyết định thông qua báo cáo ĐTM được định đoạt bởi hội đồng phê duyệt chứ không thuộc thẩm quyền của hội đồng thẩm định. Như vậy, trong trường hợp dự án được thông qua và đi vào hoạt động gây ra những tác động và suy thoái môi trường sẽ khó quy trách nhiệm cho các bên liên quan. Bất cập này hiện cũng chưa được quy định rõ ràng trong hệ thống văn bản QPPL về ĐTM mà mới chỉ dừng lại ở việc quy định trách nhiệm kiểm tra giám sát thực hiện nội dung của báo cáo ĐTM.

Tuy nhiên, thực tế việc thực thi pháp luật còn rất lỏng lẻo. Đơn cử như việc tham vấn ý kiến cộng đồng trong quá trình đánh giá tác động môi trường. Theo quy định, chủ dự án gửi văn bản đến UBND và Ủy ban MTTQ cấp xã thông báo về những nội dung cơ bản của dự án, những tác động xấu về môi trường của dự án, những biện pháp giảm thiểu tác động xấu về môi trường sẽ áp dụng và đề nghị góp ý kiến bằng văn bản. Những ý kiến tán thành, không tán thành của UBND, Ủy ban MTTQ cấp xã, của đại biểu phải được thể hiện trong nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường. Quy định rõ ràng và rành mạch như thế, nhưng trong báo cáo của nhiều dự án đã mất hẳn phần này… Hay như quy định trong Luật Bảo vệ môi trường: “Chủ dự án có trách nhiệm niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án về các loại chất thải, công nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát” [20], nhưng thực tế đã mấy chủ dự án thực hiện nghiêm túc quy định này.

Để khắc phục tình trạng này Luật Bảo vệ môi trường 2014 ra đời và nội dung quy hoạch BVMT là nội dung hoàn toàn mới của Luật BVMT 2014. Nội dung này đã được bàn thảo rất nhiều và có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu cần có một tầm nhìn dài hạn và tổng thể về BVMT, gắn kết thực sự giữa BVMT với phát triển kinh tế – xã hội, Luật BVMT 2014 đã xây dựng nội dung Quy hoạch BVMT gồm 05 điều với những nội dung cơ bản, có tính nguyên tắc như cấp độ, kỳ quy hoạch, nội dung quy hoạch, trách nhiệm lập quy hoạch, tham vấn, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, rà soát và điều chỉnh quy hoạch. Quy hoạch BVMT phải được xây dựng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, vì vậy phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quy hoạch sử dụng đất. Với những nguyên tắc này, việc xây dựng quy hoạch BVMT không làm đảo lộn các quy hoạch cơ bản hiện có bởi vì nếu làm đảo lộn các quy hoạch cơ bản hiện có, quy hoạch BVMT sẽ không có tính thực thi. Quy hoạch BVMT phải dựa trên hiện trạng tự nhiên, kinh tế, xã hội để phân vùng môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý môi trường, quản lý chất thải, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật BVMT. Với các khoản quy định tại Điều 9, nội dung của quy hoạch BVMT đã được mở rộng ngoài phạm vi của các hoạt động BVMT và ở mức độ nào đó, quy hoạch BVMT đã đến gần với quy hoạch môi trường như một số nước đã sử dụng. Có một số ý kiến cho rằng, cần có quy hoạch BVMT vùng kinh tế – xã hội hoặc những vùng có tính đặc thù. Tuy nhiên, khi xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch, phải có cấp hành chính tương tự. Mặt khác, trong quy hoạch BVMT cấp quốc gia phải có nội dung quy hoạch BVMT cấp vùng và cấp xây dựng, tổ chức thực hiện là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vì vậy quy hoạch BVMT chỉ còn 2 cấp độ, quốc gia và cấp tỉnh. Yếu tố quyết định thực hiện thành công quy định về quy hoạch BVMT là khả năng tổ chức triển khai ngay việc xây dựng quy hoạch BVMT cấp quốc gia, bởi vì, quy hoạch BVMT cấp quốc gia là cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý để xây dựng quy hoạch BVMT cấp tỉnh. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Đối với các quy định về Đánh giá môi trường chiến lược, đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) về cơ bản giống đối tượng được quy định tại Luật BVMT 2005. Tuy nhiên, trong điều kiện mới có quy hoạch BVMT và bảo đảm tính cần thiết, thực thi của một số báo cáo ĐMC, Luật quy định giao Chính phủ quy định danh mục các đối tượng phải lập ĐMC. Luật BVMT 2014 quy định rõ, ngoài việc ĐMC phải được thực hiện đồng thời với quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, kết quả ĐMC phải được xem xét, tích hợp vào nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (Khoản 2 và 3, Điều 14). Điều 15 Luật BVMT 2014 quy định rõ 10 nội dung chính của ĐMC; trong khi đó, Điều 16 của Luật BVMT 2005 quy định có 05 nội dung chung. Có một số nội dung về tổ chức, trách nhiệm, phương thức hoạt động của hội đồng thẩm định ĐMC tại Điều 17 Luật BVMT 2005 đã được lược bỏ bởi vì trách nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt thuộc về cơ quan quản lý nhà nước; các hội đồng thẩm định chỉ giúp các cơ quan quản lý nhà nước thẩm định nên chỉ cần quy định cụ thể trong các văn bản dưới luật.

Với mục đích hạn chế lạm dụng yêu cầu phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và tính lý thuyết của một số ĐTM, Luật BVMT 2014 quy định chỉ có 3 nhóm đối tượng phải lập ĐTM, bao gồm: (1) các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (2) các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam đã được xếp hạng và (3) các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường [23].

Luật BVMT 2014 quy định rõ tại Điều 20 về lập lại báo cáo ĐTM, theo đó, chỉ những dự án không triển khai trong vòng 24 tháng, thay đổi địa điểm dự án, phải lập lại báo cáo ĐTM. Ngoài ra, đối với những dự án có thay đổi quy mô, công suất, công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường, Luật giao Chính phủ quy định cụ thể. Tại Khoản 4 Điều 19 Luật BVMT 2005 quy định, “trường hợp thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian triển khai, thực hiện, hoàn thành dự án thì chủ dự án có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết phải lập báo cáo ĐTM bổ sung” [20]. Quy định này đã dẫn đến sự lạm dụng yêu cầu báo cáo ĐTM lại hoặc ĐTM bổ sung, dẫn đến việc trốn tránh báo cáo ĐTM lại, ĐTM bổ sung hoặc báo cáo ĐTM mang tính đối phó. Nội dung của báo cáo ĐTM cũng được quy định cụ thể hơn tại Điều 22 Luật BVMT 2014. Những quy định về tổ chức, yêu cầu, trách nhiệm của hội đồng thẩm định cũng đã được lược bỏ vì cơ quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định và phê duyệt kết quả thẩm định là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Khoản 1, Điều 27); các hội đồng thẩm định chỉ có chức năng tư vấn cho cơ quan thẩm định và phê duyệt kết quả thẩm định.

  • Điều 23 Luật BVMT 2005 quy định chủ dự án có trách nhiệm: Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Thông báo cho cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM để kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM [20, Khoản 1]; Chỉ được đưa công trình vào sử dụng khi đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c của điều khoản này [20, Điều 23, Khoản 1].

Quy định này dẫn tới tính thiếu thực thi nên tỷ lệ kiểm tra xác nhận thực hiện báo cáo ĐTM (hậu thẩm định) trong thời gian vừa qua quá thấp, nhiều tỉnh chỉ dưới 10%, trong khi các dự án không thể không vận hành.

  • Để khắc phục khiếm khuyết này, Luật BVMT 2014 quy định:

Chủ đầu tư phải báo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kết quả thực hiện các công trình BVMT phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định. Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình BVMT [23, Điều 27, Khoản 2].

  • Đồng thời, để tránh việc gây khó dễ cho chủ dự án, Điều 28 Luật BVMT 2014 quy định:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo hoàn thành công trình BVMT quy định tại Khoản 2, Điều 27 của Luật này, cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM phải tổ chức kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT của dự án. Trường hợp phải phân tích các chỉ tiêu môi trường phức tạp thì thời gian cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT của dự án có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày [23, Điều 28].

Như vậy, chỉ có những dự án do Chính phủ quy định mới có hậu thẩm định và hậu thẩm định bị ràng buộc trong thời gian nhất định.

Liên quan đến công tác hậu thẩm định nói riêng và công tác quản lý môi trường nói chung, vì một số lý do có tính khách quan, chúng ta chưa đưa được quy định về giấy phép môi trường vào Luật BVMT 2014.

Luật BVMT 2005 có quy định về cam kết bảo vệ môi trường nhưng trên thực tế, việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường có nhiều khó khăn, thiếu thực thi, mang tính lý thuyết và trong nhiều trường hợp đã dẫn đến tiêu cực trong công tác quản lý, dù từ ―cam kết‖ cũng có ý nghĩa tích cực nhất định. Để khắc phục những hạn chế này, tạo điều kiện cho chủ dự án thực hiện trách nhiệm và chủ động trong bảo vệ môi trường, mặt khác sẽ thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ môi trường đối với các đối tượng không lập ĐTM, Luật BVMT năm 2014 quy định 06 điều mới về kế hoạch bảo vệ môi trường. Luật BVMT năm 2014 giao Chính phủ quy định cụ thể đối tượng phải lập kế hoạch bảo vệ môi trường, 06 nội dung của kế hoạch bảo vệ môi trường, trách nhiệm tổ chức xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường của cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh, UBND cấp huyện (và có thể ủy quyền cho UBND cấp xã với điều kiện cụ thể).

  • Hoạt động khắc phục ô nhiễm không khí: Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Điều 93 Luật BVMT năm 2005 quy định rõ trách nhiệm điều tra xác định khu vực bị ô nhiễm thuộc về UBND cấp tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường phải tiến hành ngay các biện pháp để ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường. Quy định này đảm bảo cho việc: Khắc phục sự cố môi trường một cách nhanh chóng, kịp thời và khoa học nhằm giảm tới mức tội đa những thiệt hại mà sự cố đó có thể gây ra cho môi trường không khí; Khắc phục kịp thời các sự cố gây suy thoái không khí sẽ ngăn ngừa được tình trạng lây lan bụi và khí thải độc hại vào không khí xung quanh. Điều đó cũng có nghĩa là tình trạng dây ô nhiễm không khí từ sự cố đó được kiểm soát.Tuy nhiên, trên thực tế, do ô nhiễm không khí có đặc thù là khuyến tán rộng, vì thế xác định trách nhiệm và yêu cầu khắc phục(như bồi thường thiệt hại) là rất khó khăn.

Hầu hết các kết quả nghiên cứu về tình hình ô nhiễm không khí ở Việt Nam đều cho thấy các nguồn gây ô nhiễm hiện nay chủ yếu là từ các hoạt động công nghiệp (ở các thành phố lớn) và tiểu thủ công nghiệp (ở các làng nghề), từ các hoạt động giao thông vận tải, do quá trình xây dựng đô thị, hạ tầng kỹ thuật, do sinh hoạt của nhân dân (đun than, dầu, củi) và do cháy hoặc ảnh hưởng từ các quốc gia lân cận.

Riêng tại Hà Nội, để khắc phục tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất đã được đưa ra như khuyến khích sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng (LPG) cho xe taxi, triển khai thực hiện các dự án tăng cường giao thông đô thị (cải tạo hệ thống mạng lưới giao thông lớn, tổ chức quản lý và phát triển giao thông công cộng), di dời các nhà máy gây ô nhiễm… nhưng hiệu quả đạt được còn rất thấp. Những chiếc xe chạy nhiên liệu khí hóa lỏng vẫn chỉ ở giai đoạn thí điểm và ngày càng teo tóp. Hệ thống đường vành đai và các dự án cầu vượt giao thông vẫn ở giai đoạn triển khai, chưa hoàn thiện. Mạng lưới giao thông công cộng, cụ thể là xe buýt có gia tăng nhưng chính số lượng xe buýt ngày càng lớn lại là một trong những nguyên nhân khiến tắc nghẽn giao thông nhiều hơn [2]. Vẫn còn các nhà máy gây ô nhiễm trong nội đô chưa được di dời (Công ty Thuốc lá Thăng Long).

Luật BVMT năm 2014 có Chương X về xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường thay thế Chương IX về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường của Luật BVMT năm 2005, bổ sung mục xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và quy định rõ hơn về phòng ngừa sự cố môi trường, ứng phó sự cố môi trường, xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường, xác định thiệt hại do sự cố môi trường và trách nhiệm ứng phó sự cố môi trường của tổ chức, cá nhân và các cơ quan quản lý có liên quan. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Với quy định tại Điều 104, Luật BVMT năm 2014 đã luật hóa một số nội dung quan trọng của Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và trách nhiệm của các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp tỉnh.

  • Pháp luật về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí

Luật BVMT năm 2014 chủ yếu tập chung điều chỉnh các hành vi của các tổ chức, cá nhân có phát sinh ra khí thải từ những hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Điều này được quy định cụ thể tại các quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau.

  • Nội dung chính của Luật BVMT năm 2014 quy định các cá nhân tổ chức phải tuân thủ những nghĩa vụ cơ bản như:

Thải khí trong giới hạn cho phép, mục đích chính của biện pháp này là kiểm soát các chất thải khí ngay từ nguồn phát sinh thông qua việc giới hạn lượng khí thải và giới hạn nồng độ các chất độc hại có trong khí thải của các cơ sở doanh nghiệp. Để đảm bảo thực hiện đúng nghĩa vụ này thì các cơ sở công nghiệp buộc phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (giấy phép môi trường), sau khi đã có giấy phép môi trường các cơ sở buộc phải tuân theo đúng tiêu chuẩn môi trường đã được ghi trong giấy phép, nếu xả khí thải quá giới hạn này thì sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý theo pháp luật quy định. Quy định này có tác dụng lớn trong việc buộc các chủ cơ sở doanh nghiệp có khí thải phải xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường.

Khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu du lịch và khu vui chơi giải trí tập chung phải có hệ thống xử lý rác thải đạt tiêu chuẩn môi trường và phải được vận hành thường xuyên.

Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải có bộ phận chuyên môn bảo vệ môi trường, bộ phận này có nhiệm vụ chính:

  • Quản lý hệ thông thu gom rác thải, tập chung xử lý khí thải.
  • Tổ chức quan trắc, đánh giá hiện trạng môi trường, tổng hợp, xây dựng báo cáo môi trường và định kỳ báo cáo với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Qua đó đánh giá những tác động, biến đổi sáu của môi trường không khí. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
  • Các cơ sở kinh doanh phải có biện pháp giảm thiểu và xử lý bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải ra mô trường đảm bảo không được rò rỉ phát tán khí thải, hơi khí độc hại ra môi trường.
  • Khi thi công xây dựng khu dân cư phải có biện pháp đảm bảo không phát tán bụi, tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

Các quy định nêu trên đã đặt ra cho các chủ thế trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc kiểm soát ô nhiễm không khí khi tác động đến môi trường, góp phần bảo vệ và kiểm soát nguồn khí thải vào môi trường khi phát triển kinh tế.

Ngoài ra đội ngũ cán bộ, công nhân có trình độ chuyên môn còn kém, cơ sở vật chất thiếu thốn và lạc hậu khiến cho công tác của các cơ quan còn gặp nhiều khó khăn. Đồng thời còn có sự chênh lệch về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ cán bộ, công nhân ở những vùng khác nhau, giữa các tĩnh, hoặc ngay trong một tỉnh.

Hoạt động áp dụng pháp luật về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí ở một số các cơ sở kinh doanh còn kém. Tình trạng cơ sở kinh doanh đi vào hoạt động sau đó rồi mới làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường sau còn là nhiều, điều này trái với các quy định của pháp luật về hoạt động kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí.

Ngoài ra do những nhận thức về hoạt động kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí còn kém nêu công tác đánh giá hiện trạng môi trường, tổng hợp, xây dựng báo cáo môi trường tại các cơ sở sản xuất kinh doanh còn kém, sơ xài và thiếu chính xác gây khó khăn cho các cơ quan trong việc đánh giá biến đổi môi trường không khi trong những thời gian tới gặp nhiều khó khăn.

Ở một số các cơ sở sản xuất việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn yếu, những máy móc nhằm đáp ứng cho công tác kiểm tra khí thải không được chú tâm đổi mới. áp dụng khoa học công nghệ vào công tác này dẫn đến tình trạng báo cáo nhầm gây ra tình cảnh đến các chất khí thải vượt quá giới hạn hoặc các chất khí thải độc hại phát tán ra môi trường xung quanh.

Đội ngũ chuyên môn bảo vệ môi trường ở các cơ sở sản xuất kinh doanh còn thiếu kinh nghiệm và trình độ khiến cho công tác kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí còn gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, các giai đoạn của việc quy định về kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí do nhà nước ban hành đã được các cơ sở sản xuất kinh doanh, chủ đầu tư tự giác tiếp nhận và tiến hành theo đúng quy định của nhà nước trong các giúp cho hạt động đánh giá tác động của nguồn gây ô nhiễm không khí được hiệu quả hơn và giúp cho các cơ quan nhà nước đánh giá tình hình không khí ngày được chính xác hơn. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn chưa nhận thức được rõ mục đính của việc kiểm soát nguồn gây ô nhiễm không khí dẫn đến tình trạng các công tác kiểm ra, đánh giá, giám sát được tiến hành một các qua loa làm ảnh hướng nghiêm trọng đến việc thực thi pháp luật vào hoạt động thực tế.

Luật BVMT 2005 có mục về quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ, trong đó có điều quy định về quản lý và kiểm soát bụi, khí thải (Điều 83); quản lý khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ô zôn (Điều 84). Chất lượng môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí không chỉ bao hàm bụi, khí thải, khí gây hiệu ứng nhà kính. Môi trường không khí ô nhiễm của các nước đang phát triển đã chứng minh rằng ô nhiễm không khí là nguyên nhân chính tác hại đến con người. Vì vậy, Luật BVMT 2014 đã có mục riêng về lĩnh vực này, bao gồm những quy định chung về bảo vệ môi trường không khí; quản lý chất lượng môi trường không khí xung quanh; kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Theo các quy định này, các nguồn phát thải khí vào môi trường phải được đánh giá và kiểm soát; tổ chức và cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát thải khí tác động xấu đến môi trường phải có trách nhiệm giảm thiểu và xử lý bảo đảm chất lượng môi trường không khí. Luật đã giao Chính phủ quy định chi tiết về nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, chủ yếu là quan trắc, thống kế, đánh giá, xả thải bảo đảm khả năng chịu tải của môi trường không khí. Tuy nhiên, Nghị định này vẫn đang được cơ quan soạn thảo xây dựng.

  • Hệ thống tiêu chuẩn môi trường không khí:

Dựa vào tiêu chuẩn môi trường không khí, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định chính xác chất lượng môi trường không khí. Từ đó có căn cứ để nhà nước có thể kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo tình hình môi trường, xác định trách nhiệm pháp lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường không khí. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn môi trường không khí còn là công cụ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Và dựa vào tiêu chuẩn môi trường không khí, người dân biết rằng họ được quyền sống trong điều kiện môi trường không khí như thế nào, được phép tác động đến môi trường ở mức độ nào, để các cơ sở sản xuất kinh doanh lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Số lượng tiêu chuẩn môi trường không khí còn chưa đầy đủ, như: thiếu quy chuẩn môi trường đối với không khí từng khu vực có những đặc trưng riêng, chưa có quy định tổng lượng thải, không quy định cụ thể về thời điểm xả thải cũng như không gian áp dụng…

  • Xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí

Một đặc điểm của lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm không khí là nguồn gây ô nhiễm không khí rất đa dạng và môi trường không khí lại có đặc tính khuyếch tán rất rộng nên việc xác định chủ thể và mức độ nguy hiểm của hành vi rất khó khăn. Tuy Bộ Luật Hình sự 1999 cũng đã có quy định về tội gây ô nhiễm không khí tại Điều 182 nhưng có nhiều trường hợp hậu quả của hành vi phạm tội này lại không xảy ra ngay, những khí thải độc hại lại có thể phát tác sau nhiều năm, vì thế rất nhiều trường hợp trong thực tế không thể áp dụng được loại trách nhiệm pháp lý này.

Hơn nữa mức xử phạt hành chính cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân gây ô nhiễm môi trường còn nhẹ. Có thể đưa ra một ví dụ là việc đầu tư hệ thống xử lý khói bụi để giảm thiểu ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp sản xuất xi măng, thép… cũng không được chú trọng nhiều. Số lượng nhà máy có hệ thống xử lý khói bụi mới rất ít.

Ở nước ta, các vi phạm về gây ô nhiễm không khí chưa vụ nào bị khởi tố. Việc chưa có vụ vi phạm nào bị xử lý hình sự khiến nhiều doanh nghiệp coi thường pháp luật. Tình trạng này là do chưa có những hướng dẫn cụ thể trong việc xử lý vi phạm. Mặc dù chương XVII BLHS năm 1999, các tội phạm về môi trường đã được sửa đổi nhưng mới chỉ có tội hủy hoại rừng và tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm là có hướng dẫn. Các tội còn lại, khái niệm ―ô nhiễm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng‖, ―gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng‖, ―số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn‖… chưa được giải thích cụ thể. Vì vậy, rất khó cho việc định tội danh và xét xử. Tuy nhiên, để khởi tố người gây ô nhiễm môi trường cũng không phải là vấn đề đơn giản vì chủ thể vi phạm thường là doanh nghiệp. Ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm môi trường không chỉ do các cá nhân mà còn do tổ chức thực hiện. Điều này đối với tội phạm môi trường mang tính phổ biến. Các hành vi xâm hại môi trường của các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam chỉ bị xử lý bằng các biện pháp khác (phạt tiền, di dời cơ sở sản xuất, khắc phục hậu quả) mà không thể xử lý bằng các biện pháp hình sự. Do đó, tính cưỡng chế không cao, việc giải quyết các vi phạm không triệt để.

3.4. Một số giải pháp tăng cường kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới ở Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thi hành Luật BVMT năm 2014, Luật BVMT năm 2014 xây dựng sau khi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013) được thông qua và có hiệu lực thi hành, trong tổng số 120 điều của Hiến pháp năm 2013, có 04 điều quy định các nội dung liên quan đến lĩnh vực môi trường, điều này khẳng định sự coi trọng vai trò của công tác bảo vệ môi trường bên cạnh sự phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biệt, Điều 43 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người dân với môi trường: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [22, Điều 43]. Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã kế thừa các nội dung của Luật BVMT năm 2005, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật BVMT năm 2005, luật hóa chủ trưởng của Đảng, bổ sung một số nội dung mới về bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới, đồng thời sắp xếp lại trật tự các chương, điều, câu chữ đảm bảo tính logic và khoa học, quy định cụ thể quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với môi trường. Ngay sau khi Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được thông qua, bên cạnh việc tích cực đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành, trình ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; để bảo đảm sự thống nhất, phù hợp giữa các quy định hiện hành với quy định của Luật, lĩnh vực môi trường đã hoàn thiện việc rà soát tổng thể các văn bản có liên quan để kiến nghị sửa đổi, bổ sung. Theo đó, các Bộ, ngành, địa phương cần hoàn thành đề xuất danh mục các văn bản quy phạm pháp luật cần tiếp tục xây dựng trong năm 2015, 2016 để các quy định của Luật nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Cụ thể, hiện nay Luật giao cho Chính phủ xây dựng nghị định về kiểm soát ô nhiễm không khí, do đó cơ quan soạn thảo cần phải tiến hành đẩy nhanh các quá trình vừa đảm bảo chất lượng và cũng đảm bảo tiến độ xây dựng văn bản.

Bên cạnh đó, các Bộ, UBND các tỉnh, thành phố đã tích cực tổ chức triển khai nhiều chương trình phổ biến, giáo dục nội dung của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 nhằm nâng cao nhận thức chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường cho cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; tích cực triển khai xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, theo dõi tình hình thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí nói riêng trên phạm vi cả nước [4].

Thứ hai, cần sớm xây dựng và ban hành pháp lệnh không khí sạch hoặc pháp lệnh kiểm soát ô nhiễm không khí. Mặc dù, Chính phủ đang tiến hành xây dựng Nghị định về kiểm soát ô nhiễm không khí nhưng nước ta cần một văn bản mang tính tổng thể, dài hạn, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Việc xác định mức độ ô nhiễm, kiểm soát nguồn phát thải khí hoàn toàn khác biệt và phức tạp hơn so với việc kiểm soát ô nhiễm khác. Trước đây, Việt Nam chưa có các văn bản bản quy phạm pháp luật đặc thù, chuyên biệt cho vấn đề quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Cùng với đó, cũng chưa có quy định về giám sát quá trình xử lý khí thải của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, chưa triển khai hệ thống giấy phép khí thải…, tất cả đều dựa vào các quy định trong đánh giá tác động môi trường và hậu đánh giá tác động môi trường. Theo quy định thực hiện ĐTM, các cơ sở sản xuất phải thực hiện quan trắc môi trường định kỳ nhưng hầu hết đều chưa thực hiện giám sát khí thải tại ống khói..

Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai, cần sớm xây dựng và triển khai kế hoạch quản lý chất lượng không khí quốc gia, tạo cơ sở để các địa phương xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng không khí tại địa phương. Vấn đề bức thiết hiện nay là tăng cường số lượng cũng như chất lượng đội ngũ nhân lực, thiết bị máy móc cho hoạt động quan trắc và kiểm kê nguồn ô nhiễm không khí. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới đang là thách thức lớn, là trách nhiệm chung của cả cộng đồng quốc tế, không chỉ riêng Việt Nam. Hiện nay, Luật Bảo vệ môi trường 2014 mới chỉ nhắc đến cụm từ ―xuyên biên giới‖ một các chung chung, và chỉ đề cập đến vấn đề kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới đối với môi trường nước lưu vực sông. Vì vậy, cần phải đưa vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí xuyên biên giới vào Luật để điều chỉnh, bởi vì Việt Nam đang phải hứng chịu ảnh hưởng từ các nguồn ô nhiễm xuyên biên giới trong đó đặc biệt là mức độ ô nhiễm vào các tháng mùa đông. Do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên toàn bộ miền Bắc và miền Trung Việt Nam đều bị tác động đáng kể từ nguồn thải từ các khu vực phía Đông, Đông Bắc, Đông Nam của Trung Quốc, Đài Loan đưa sang. Khi chịu ảnh hưởng ô nhiễm không khí không chỉ ngay ở nội tại đất nước mà còn của ảnh hưởng bên ngoài, sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường và cực kì nghiêm trọng về ô nhiễm không khí. Do vậy, vấn đề kiểm soát ô nhiễm không khí nói chung cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng, xây dựng các cơ chế cụ thể để thu hút sự ủng hộ, tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch và triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường không khí.

Cần thực hiện nội luật hóa các quy định của Hiệp định ASEAN về kiểm soát khói mù xuyên biên giới năm 2002, nước ta đã tham gia với tư cách thành viên hiệp định ngay từ ban đầu, dù Hiệp định này vẫn chưa có hiệu quả nhưng cũng cần đưa vào nội luật hóa các quy định của Hiệp định. Việt Nam cũng là nước có diện tích đất than bùn khá lớn và tình trạng cháy rừng diễn ra nhiều và mùa khô, nắng gây ảnh hưởng ô nhiễm không khí tới các vùng trên cả nước.

Thứ ba, cần xiết chặt khung pháp lý về xử phạt các hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường không khí, cần hình sự hóa hành vi vi phạm của pháp nhân. Hiện tại, Bộ luật Hình sự Việt Nam chưa thiết lập chế định xử lý hình sự đối với pháp nhân, nên các cơ quan chức năng không thể xử lý về mặt hình sự được. Theo một số chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, ở nhiều nước, khi phát hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cơ quan chức năng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với lãnh đạo doanh nghiệp mà chưa cần đề cập đến hậu quả, trong khi ở Việt Nam phải xem xét đến hậu quả của hành vi vi phạm mới có căn cứ đưa ra mức xử lý. Vì vậy, cần hình sự hóa hành vi vi phạm của chủ doanh nghiệp để đảm bảo tính răn đe. Cần phải thấy rằng, ưu điểm của pháp luật là được bảo đảm thực hiện bằng chế tài, nếu không pháp luật không còn là pháp luật. Tuy nhiên, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật còn mang tính hình thức, các biện pháp chế tài chưa đủ răn đe để ngăn chặn có hiệu quả. Để ngăn chặn có hiệu quả hành vi vi phạm pháp luật môi trường, chúng ta cần đưa ra và áp dụng các mức phạt nghiêm khắc để các chủ thể không dám vi phạm chứ không phải là tăng cường kiểm tra phát hiện hành vi vi phạm để rồi xử lý một cách nhẹ nhàng, linh động. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Thứ tư, Cần nâng cao hợp tác quốc về bảo vệ môi trường không khí xuyên biên giới, các nước Châu Á đang trong thời kỳ phát triển về kinh tế, công nghiệp mạnh nhé, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, khối ASEAN, trong đó các nước kém phát triển, và đang phát triển đang là nơi thu hút đầu tư tiềm năng của các Tập đoàn lớn từ nước ngoài. vì vậy, vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới bắt nguồn từ công cuộc phát triển công nghiệp là không thể tránh khỏi, ảnh hưởng rất rộng tới các nước lân cận và trong khu vực. Các nước Châu Á nếu không có sự kìm hãm, hạn chế, kiểm soát ô nhiễm không khí giữa các nước với nhau, sẽ đối mặt với các hậu quả vô cùng nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến ngoại giao, hợp tác giữa các nước láng giềng và trong khu vực với nhau. Do đó, cần phải có sự hợp tác toàn diện, một hiệp định toàn diện về ô nhiễm không khí xuyên biên giới ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương như các nước Châu Âu, Mỹ, Canada đã có Hiệp định về Hiệp định kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa năm 1979 được thành lập dựa trên UNECE, Ủy ban kinh tế châu Âu của Liên hợp quốc, một trong năm ủy ban khu vực thuộc Hội Đồng Kinh tế – xã hội của Liên hợp quốc. Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương cũng cần thể hiện vai trò của hình, học tập mô hình kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa, một mô hình kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới hiệu quả, nhưng để có được mô hình như vậy cần sự thiện chí hợp tác, và đề cao lợi ích chung về bảo vệ môi trường không khí của các nước.

Việt Nam cần khuyến khích các nước tham gia Công ước EIA đánh giá hiệu ứng tác động môi trường năm 1991 và Nghị định thư đánh giá môi trường chiến lược năm 2003, hai công ước này, sẽ giúp các nước kiểm soát được đánh giá tác động môi trường đối với các dự án của các nước láng giềng, đánh giá sự ảnh hưởng tới môi trường của nước láng giềng.

Việt Nam cần đề xuất các cơ chế thúc đẩy hợp tác quốc tế về môi trường, trong đó có hợp tác với ASEAN và Trung Quốc liên quan đến quản lý, kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Và đề xuất kí kết các điều ước song phương với Trung Quốc về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới, nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm đáng báo động cho Việt Nam.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Ô nhiễm không khí đang là vấn đề nổi cộm về môi trường không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều quốc gia khác trong những năm gần đây, vấn đề ONKKXBG đang có những diễn biến theo chiều hướng xấu đi và là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các quốc gia.

Có thể thấy hiện trạng ONKKXBG hiện nay rất đáng lo ngại, đặt ra cho các nước không chỉ có Việt Nam rất nhiều thách thức. Pháp luật về ô nhiễm không khí xuyên biên giới tại Việt Nam mới chỉ manh nha đề cập đến các khái niệm, chưa đề cập sâu rộng và đánh giá đúng thực trạng của ô nhiễm không khí. Việt Nam và các nước Đông Nam Á cũng đã có sự hợp tác với nhau trong kiểm soát ô nhiễm khói mù xuyên biên giới nhưng có sự hạn chế trong việc thực thi Hiệp định AATHP, mãi đến năm 2014, Quốc hội Indonesia mới phê chuẩn Hiệp định AATHP, trong khoảng thời gian từ năm 2002, các vụ cháy rừng ở Indonesia vẫn diễn ra nghiêm trọng, gây ô nhiễm khói mù ảnh hưởng rất lớn đến các nước láng giềng như Malaysia, Singapore và có cả Việt Nam. Các nước ASEAN cần phải đưa ra những chế tài đủ mạnh để hạn chế tình trạng ô nhiễm khói mù một cách triệt để, các nước ASEAN có thể học hỏi kinh nghiệm từ UNECE về tính hiệu quả của việc thực hiện Công ước CLTAP năm 1979 và Công ước EIA năm 1991, hai Công ước này là hình mẫu cho các nước hợp tác với nhau cùng vì mục đích bảo vệ môi trường không khí trong lành. Tại Việt Nam, vấn đề ô nhiễm không khí do bụi và các chất gây ô nhiễm không khí từ hoạt động phát triển công nghiệp luôn duy trì ở mức cao, ngay cả ô nhiễm không khí từ Trung Quốc và Đài Loan thường theo gió mùa đông Bắc ở những tháng mùa đông sang, làm tình hình ô nhiễm của nước ta ngày càng đáng báo động. Thách thức cho Việt Nam trong việc vừa giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí ở nội tại đất nước và giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí ở cấp độ quốc gia là rất nặng nề. Việt Nam cần có chính sách hợp tác quốc tế với Trung Quốc trong vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới trong tương lai, cho dù điều này rất khó khăn có thể xảy ra. Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới

One thought on “Luận văn: Giải pháp PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới

  1. Pingback: Luận văn: Thực thi PL vấn đề ô nhiễm không khí xuyên biên giới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464