Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Dựa vào các phân tích và kết luận ở Chương 3, Chương 4 sẽ nêu ra phương hướng đồng thời kiến nghị một số giải pháp tổng thể và cụ thể thông qua việc đúc rút các kinh nghiệm quốc tế có liên quan nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam.

4.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Phương hướng chung để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam trong thời gian tới là nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập và tăng cường nguồn lực cho việc phát triển KT-XH.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, TSTT đóng vai trò quan hơn bao giờ hết trong các giao dịch thương mại quốc tế. Như đã phân tích trong Chương 2, nguồn gốc tạo ra lợi nhuận của các doanh nghiệp và sự thịnh vượng của các quốc gia hiện nay là TSTT, mà đặc biệt là sáng chế. Đối với các doanh nghiệp, tài sản quan trọng nhất không còn là trang thiết bị nhà xưởng, nguồn nhân lực hay vốn nữa mà là TSVH, TSTT, đặc biệt là những tri thức mới nhất về công nghệ. Trước sức ép cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, sáng chế đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.

Đất nước ta đang trong giai đoạn tiếp tục chủ động chính sách mở cửa, đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH để phát triển KT-XH. Quá trình này một mặt giúp chúng ta có cơ hội tranh thủ tiếp cận các thành tựu KHCN tiến bộ của thế giới, mặt khác, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn trong quá trình phát triển KT-XH.

Ví dụ cụ thể sau đây có thể cho thấy rõ hơn phương hướng chung để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam trong thời gian tới là nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập và tăng cường nguồn lực cho việc phát triển KT-XH. Hiệp định TPP sau một thời gian dài đàm phán đã được các quốc gia thành viên ký kết ngày 4/2/2016. Các vấn đề về quyền SHTT, đặc biệt là vấn đề bảo hộ và khai thác sáng chế dược phẩm đã từng là một trong ba vấn đề bế tắc trong đàm phán. Các quốc gia công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc mong muốn được bảo hộ sáng chế càng rộng càng tốt để có thể khai thác tối đa sáng chế của mình. Cụ thể, các quốc gia này yêu cầu sáng chế dược phẩm không chỉ được bảo hộ dưới dạng viên nén mà còn cần được bảo hộ dưới dạng nước. Ngoài ra, họ còn yêu cầu kéo dài thời gian bảo hộ sáng chế dược phẩm để tăng thêm thời gian khai thác thương mại đối với sáng chế của mình đồng thời yêu cầu không cho chúng ta sử dụng thuốc generic hoặc không cho chúng ta sử dụng tự do sáng chế khi hết thời hạn bảo hộ 20 năm. Các yêu cầu như vậy sẽ làm giá thuốc tăng cao trong một thời gian dài do vậy sẽ không có lợi cho đa số người dân của chúng ta. Có thể thấy rằng cách tiếp cận vấn đề giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển là khác nhau. Do vậy, chúng ta cần có các quy định pháp lý về việc bảo hộ, khai thác thương mại sáng chế phù hợp, một mặt vừa để khuyến khích ĐTNN, đảm bảo việc hội nhập thành công nhưng mặt khác vẫn phải đảm bảo lợi ích của công chúng, tiếp tục phát triển KT-XH nước nhà.

Để thực hiện các mục tiêu này, chúng ta cần sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành để có các quy định pháp lý cụ thể hơn nữa về việc khai thác thương mại đối với sáng chế. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Liên quan đến hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế, các quyền căn bản của chủ sở hữu về việc sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế đã được ghi nhận phù hợp thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, chúng ta cần quy định cụ thể hóa hơn nữa một số quyền sử dụng sáng chế hoặc/và quy định mới một số quyền sử dụng sáng chế của chủ sở hữu theo kinh nghiệm quốc tế nhằm mở rộng quyền của chủ sở hữu và khuyến khích chủ sở hữu lựa chọn các hình thức tự mình khai thác thương mại sáng chế.

Liên quan đến việc khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, từ khi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa năm 1986 cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã luôn nhận thức được tầm quan trọng và chú trọng đưa ra các chủ trương, đường lối khuyến khích, thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, chuyển giao và TMH công nghệ. Nhà nước và Chính phủ cũng cho ban hành một số văn bản pháp luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng về khuyến khích, thúc đẩy chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế.

Tuy nhiên, các quy định về chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, TMH sáng chế trong các văn bản pháp quy nêu trên còn mang tính chất khung, nhiều quy định chưa phù hợp với cơ chế thị trường, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đối tượng tham gia hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế còn bị hạn chế, thiếu các chế tài cần thiết nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao này. Nhằm khắc phục các yếu kém nói trên và hoàn thiện pháp luật về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, các quy định hiện hành về CGCN nói chung và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng cần được xây dựng, soạn thảo theo phương hướng sau đây:

  • Thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng của Đảng, chính sách của Nhà nước về khuyến khích hoạt động hoạt động ứng dụng, đổi mới, CGCN phục vụ phát triển bền vững kinh tế-xã hội.
  • Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ nhập hiện đại, nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế; nâng cao tỷ trọng đóng góp yếu tố công nghệ vào năng lực cạnh tranh quốc gia để hội nhập và công nghiệp hóa thành công.
  • Đặc biệt, tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động CGCN, chuyển giao quyền SHCN trên cơ sở bảo đảm, tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự do cam kết, thỏa thuận giữa các bên tham gia hoạt động CGCN, chuyển giao quyền SHCN; nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ này nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng.

Liên quan đến việc khai thác thương mại dưới hình thức thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế với xu thế tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP, với sự phát triển của KHCN, việc thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN nói chung và đối với sáng chế nói riêng có thể trở thành một trong những hoạt động sôi nổi nhất trên thị trường công nghệ trong giai đoạn sắp tới. Xu hướng này đã và đang được thực hiện thành công tại một số quốc gia trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Malaixia.

Trong khoảng chục năm trở lại đây, nhiều văn bản của Nhà nước, Chính phủ đã được ban hành nhằm thúc đẩy việc phát triển thị trường công nghệ và khuyến khích việc mua bán sáng chế, công nghệ. Các chính sách và quy định này đã có tác động tích cực góp phần thúc đấy phát triển thị trường công nghệ. Song nhìn chung, nước ta chưa có một hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ thúc đẩy sự phát triển của các bên tham gia cũng như của các nguồn hàng hóa là sáng chế, công nghệ trên thị trường công nghệ. Có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật về SHCN của nước ta chủ yếu giải quyết vấn đề quản lý nhà nước về SHCN, tính thương mại của các đối tượng SHCN, trong đó có sáng chế, chưa được khai thác triệt để.

Đặc điểm nổi bật của thị trường công nghệ Việt Nam hiện nay là giao dịch mua bán công nghệ ở mức phát triển chưa cao: công nghệ được mua bán chủ yếu trên thị trường là trang thiết bị, máy móc và dây chuyền công nghệ toàn bộ. Vì vậy, cần có sự tác động mạnh của Nhà nước để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ theo hướng gia tăng tỷ trọng giao dịch các TSTT là sáng chế. Sáng chế cần phải được tiếp cận ở trạng thái “động”. Do vậy, phương hướng quan trọng nhất để hoàn thiện quy định hiện hành về việc khai thác thương mại dưới hình thức thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế là chúng ta cần hoàn thiện các quy định pháp lý về thủ tục thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế và phương pháp định giá sáng chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường công nghệ.

4.2 Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

4.2.1 Giải pháp tổng thể

Nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại sáng chế, chúng ta cần có một bộ luật riêng rẽ, chuyên biệt về sáng chế theo cách tiếp cận “động” chú trọng đến tính thương mại của sáng chế. Luật Sáng chế của Việt Nam sẽ là một luật riêng bao gồm các quy định pháp lý về các đối tượng, điều kiện bảo hộ sáng chế và giới hạn quyền khai thác thương mại sáng chế một cách hợp lý nhằm cân bằng lợi ích của chủ sở hữu sáng chế với lợi ích cộng đồng, cân bằng giữa xu thế bảo hộ độc quyền sáng chế với xu thế tự do hóa thương mại; các quy định pháp lý cụ thể về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế, chuyển giao và đổi mới công nghệ tại Việt Nam.

Thứ nhất, Luật Sáng chế cần đề ra được các quy định hợp lý nhằm cân bằng lợi ích các bên trong việc khai thác thương mại sáng chế. Đây là các quy định pháp lý rất quan trọng một mặt có thể khuyến khích chủ sở hữu sáng chế khai thác thương mại, thúc đẩy chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập đồng thời giúp cho chúng ta đảm bảo được lợi ích chung của người dân, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH.

Có thể lấy vụ việc tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Nam Phi về giá thuốc phòng chống HIV. Vụ việc cho thấy quy định pháp lý về khai thác sáng chế có tác dụng quan trọng trong việc khuyến khích CGCN và ĐTNN nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích người dân. Vụ việc cũng cho thấy các công ty dược phẩm tại các quốc gia phát triển không quan tâm nhiều đến các nhu cầu xã hội, sức khỏe của người dân các quốc gia đang phát triển. Do vậy, các quốc gia đang phát triển cần có chính sách hợp lý để tự cứu lấy mình. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Cụ thể, Nam Phi là một quốc gia có 3 triệu người bị nhiễm HIV muốn kêu gọi đầu tư, hợp tác với một số doanh nghiệp nước ngoài để sản xuất đồng thời sử dụng pháp luật về nhập khẩu song song để nhập khẩu dược phẩm phòng chống vi-rút HIV thông qua các thỏa thuận hợp tác với các quốc gia có giá thành dược phẩm thấp hơn giá thuốc tại Nam Phi nhờ vào hợp đồng li-xăng sáng chế được ký giữa các quốc gia này với chủ sở hữu sáng chế.

Mặt khác, Nam Phi cũng muốn sử dụng quy định về li-xăng cưỡng bức dựa theo Điều 31 của Hiệp định TRIPS nhằm sản xuất thuốc phòng chống HIV vì lợi ích công cộng. Tuy nhiên, Nam Phi ngay lập tức đã nhận được những phản ứng mạnh mẽ từ phía các công ty dược phẩm. Khoảng 40 hãng dược phẩm trên toàn thế giới đã phản đối quyết liệt pháp luật của Nam Phi với lý do vi phạm quyền SHCN đối với sáng chế vào năm 1998 nên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quan hệ thương mại giữa Nam Phi và các quốc gia công nghiệp phát triển. Tuy nhiên, nhờ vào công luận, đàm phán giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển tại Doha năm 2001 cũng như có sự sửa đổi Điều 31, Hiệp định TRIPS tại Hồng-Kông vào ngày 6/12/2005, các hãng dược phẩm này đã rút dần các đơn kiện chống lại Nam Phi. Hiện nay, theo Điều 31bis (sửa đổi, bổ sung Điều 31), Hiệp định TRIPS, các quốc gia thành viên được hưởng một ngoại lệ, có thể sử dụng các sáng chế dược phẩm để sản xuất các sản phẩm dược phẩm và thuốc generic với giá rẻ hơn cho người dân các quốc gia này.

Chính vì vậy, quy định của Luật Sáng chế Việt Nam về khai thác thương mại đối với sáng chế cần phải hợp lý, đảm bảo sự cân bằng giữa chính sách thúc đẩy cạnh tranh và giới hạn quyền khai thác thương mại sáng chế nhằm ngăn chặn sự lạm dụng quyền độc quyền của chủ sở hữu sáng chế nhưng không làm ảnh hưởng đến chính sách khuyến khích hoạt động sáng tạo.

Thứ hai, Luật Sáng chế của Việt Nam cần có các quy định pháp lý cụ thể về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế như: chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế; chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế; chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Đặc biệt, Luật này cần có các quy định cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế, chuyển giao và đổi mới công nghệ tại Việt Nam theo các quy định trong Luật Xúc tiến CGCN từ trường đại học đến các lĩnh vực công nghiệp (Luật TLO) của Nhật Bản năm 1998.

Tại Nhật Bản, Luật có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển và khai thác thương mại công nghệ nói chung và đối với sáng chế nói riêng là Luật TLO. Thông qua Luật TLO này, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các quy định về một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đồng thời áp dụng vào thực tiễn hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế mới, đặc biệt là các quy định về việc khuyến khích thành lập các văn phòng/bộ phận CGCN và quản lý TSTT trong trường đại học (gọi chung là các TLO). Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thông qua Luật TLO này, Chính phủ Nhật Bản cho phép chuyển nhượng quyền SHCN đối với sáng chế của trường đại học sở hữu cho các TLO. Các văn phòng này không chỉ chịu trách nhiệm đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế mà còn thực hiện việc khai thác, TMH sáng chế và li-xăng sáng chế cho doanh nghiệp.

Không những thế, nhằm thúc đẩy việc khai thác TSTT từ trường đại học, khuyến khích việc CGCN từ trường đại học cho các ngành công nghiệp, Luật TLO ra đời đã cho phép các giảng viên đại học được phép làm thêm cho các công ty tư nhân. Ngoài ra, Luật TLO này của Nhật Bản còn tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp tư nhân được sở hữu các sáng chế và các TSTT khác được tạo ra từ các hoạt động NCPT do nhà nước cấp kinh phí.

Luật TLO cũng đưa ra các quy định hỗ trợ, duy trì tổ chức các hội nghị cấp cao giữa các trường đại học và doanh nghiệp tại địa phương.

Luật TLO cũng đưa ra các quy định khuyến khích thành lập các doanh nghiệp khởi nghiệp. Hơn nữa, nhằm triển khai Luật này, Chính phủ Nhật Bản đã nỗ lực cố gắng đưa ra các biện pháp hỗ trợ rộng lớn nhằm thiết lập các doanh nghiệp khởi nghiệp, với mục tiêu tạo ra 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên việc TMH các sáng chế từ trường đại học bắt đầu từ năm tài chính 2002, thông qua 15 Đề xuất và Chính sách lớn để tạo ra các thị trường và công việc mới tại Nhật Bản. Cũng vào năm 2002 này, dựa vào Luật TLO, Chính phủ của Thủ tướng Koizumi đã ra một Đề cương và Chính sách về SHTT nhằm xây dựng Nhật Bản thành một quốc gia dựa trên SHTT.

Có thể thấy rằng, để đạt được mục tiêu hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác, TMH sáng chế, đặc biệt là các sáng chế từ trường đại học cho doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh và phát triển kinh tế, chúng ta nên học tập kinh nghiệm Nhật Bản bằng cách đưa ra trong Luật Sáng chế của Việt Nam các quy định pháp lý cụ thể về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; khuyến khích thành lập TLO; thúc đẩy việc thành lập các danh nghiệp khởi nghiệp từ trường đại học; khuyến khích các giảng viên, nghiên cứu viên làm việc cho các công ty tư nhân; trao quyền sở hữu sáng chế tạo ra từ ngân sách nhà nước cho các TLO và doanh nghiệp tư nhân; tổ chức, duy trì hội nghị cấp cao giữa trường đại học và doanh nghiệp cũng như đề ra các biện pháp cụ thể trong các văn bản pháp quy hướng dẫn áp dụng Luật này.

4.2.2 Các giải pháp cụ thể Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Nếu chúng ta chưa thể đưa ra một Luật riêng, tổng thể về sáng chế được quy định một cách phù hợp như đã nêu ở phần trên thì trước hết, nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, các giải pháp cụ thể theo ba nhóm dưới đây cần được thực hiện: hoàn thiện pháp luật về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế; hoàn thiện pháp luật về hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế và hoàn thiện pháp luật về hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

  • Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế

Một trong những biện pháp quan trọng khuyến khích chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế là việc bổ sung thêm những hình thức sử dụng hoặc ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của chủ sở hữu theo kinh nghiệm nước ngoài.

Để mở rộng quyền sử dụng của chủ sở hữu sáng chế, chúng ta có thể quy định về việc sử dụng hoặc ngăn cấm sử dụng sáng chế theo kinh nghiệm tại Điều L.613, Luật SHTT của Cộng hòa Pháp. Cụ thể, quyền sử dụng hoặc ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của chủ sở hữu bao gồm quyền thực hiện hoặc ngăn cấm thực hiện các hành vi sau đây:

  • sản xuất, chào bán, đưa vào kinh doanh, thương mại, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, trung chuyển hoặc chiếm giữ nhằm thực hiện các mục đích vừa nêu một sản phẩm chứa sáng chế được bảo hộ;
  • sử dụng một quy trình chứa sáng chế được bảo hộ và chào bán quy trình này hoặc sử dụng quy trình này trên lãnh thổ của Việt Nam; Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.
  • chào bán, đưa vào kinh doanh, thương mại, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, trung chuyển hoặc chiếm giữ nhằm thực hiện các mục đích vừa nêu sản phẩm có áp dụng, được tạo ra trực tiếp từ quy trình chứa sáng chế được bảo hộ;
  • phân phối hoặc mời phân phối trên lãnh thổ Việt Nam các phương tiện nhằm thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện sáng chế được bảo hộ (thậm chí dù chỉ là để thực hiện một thành phần chủ đạo của sáng chế) cho bất kỳ người thứ ba nào khác mà không phải người được phép khai thác sáng chế được bảo hộ.

Ngoài ra, liên quan đến sáng chế công nghệ sinh học, chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu, theo Điều 8.1 và Điều 9, Chỉ thị của Châu Âu ngày 06 tháng 07 năm 1998 về các sáng chế công nghệ sinh học, bằng cách quy định quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế còn bao gồm cả việc ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi đã nêu đối với bất kỳ chất liệu sinh học nào được nhân bản hoặc nhân rộng từ sáng chế là chất liệu sinh học đã được bảo hộ và với bất kỳ chất liệu nào được tích hợp từ sản phẩm chứa các thông tin về gen đã được bảo hộ hoặc chất liệu nào sử dụng sản phẩm chứa các thông tin về gen đã được bảo hộ để thực hiện chức năng khác.

Trong tương lai, khi Việt Nam là nước xuất khẩu sáng chế/công nghệ, chúng ta có thể đưa ra quy định về việc mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế dưới dạng sản phẩm theo quy định của Pháp và Liên minh Châu Âu đã làm. Tuy nhiên, trước mắt, chúng ta cần cân nhắc và chưa nên đưa ra quy định bảo hộ rộng sáng chế dưới dạng sản phẩm. Vì nếu bảo hộ sáng chế dạng sản phẩm rộng hơn theo cách thức áp dụng mới, cách sử dụng khác mặc dù thành phần tạo nên chất liệu hoặc cấu trúc của sản phẩm đã được bộc lộ và mất tính mới có thể dẫn đến việc bảo hộ thêm các loại thuốc có cùng thành phần từ dạng viên sang dạng nén, dạng lỏng. Điều này làm cho người dân chúng ta phải trả phí nhiều và cao hơn cho các loại thuốc của nước ngoài.

  • Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
  • Cụ thể hóa sự khác biệt giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

Pháp luật hiện hành về SHTT của Việt Nam đã cố gắng phân loại hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế để phân biệt hai loại hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và hợp đồng li-xăng sáng chế. Tuy nhiên, sự phân biệt này chưa đậm nét. Dù cả hai loại hợp đồng đều là hợp đồng dân sự nhưng hình thức và tính chất có sự khác nhau.

Theo Bộ Luật Dân sự và Luật SHTT của Cộng hòa Pháp, hợp đồng chuyển nhượng quyền SHCN có đặc điểm giống như hợp đồng mua bán hàng hóa trong khi hợp đồng li-xăng lại có đặc điểm giống như hợp đồng cho thuê tài sản. Cụ thể, Điều 1708, 1713 và một số điều khác trong Bộ Luật Dân sự của Pháp quy định rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu mang đầy đủ tính chất của hợp đồng mua bán hàng hóa còn hợp đồng li-xăng mang đầy đủ tính chất của hợp đồng thuê tài sản.

Do Phần VI quy định về Quyền SHTT và CGCN của Bộ Luật Dân sự 2005 đã được tách ra khỏi Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) năm 2015 nên tác giả luận án xin kiến nghị các nhà làm luật cần quy định cụ thể trong Luật SHTT và các văn bản pháp lý có liên quan rằng đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế, bên cạnh việc áp dụng các quy định pháp luật về SHCN còn có thể áp dụng các quy định pháp luật dân sự về mua bán hàng hóa nhưng đối với hợp đồng li-xăng sáng chế, bên cạnh việc áp dụng quy định pháp luật về SHCN còn có thể áp dụng các quy định pháp luật dân sự về hợp đồng cho thuê tài sản. Chính sự phối hợp này sẽ tạo ra mối liên hệ trong việc áp dụng các quy định pháp luật dân sự và các quy định pháp luật về SHCN. Nếu không quy định cụ thể điều này thì sẽ khó cho các bên trong việc hiểu bản chất để thực hiện các dạng hợp đồng khác nhau về chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế.  Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Sửa đổi và bổ sung khoản 2, Điều 138 và khoản 2, Điều 141, Luật SHTT

Quy định pháp lý về hình thức hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế cần phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng mềm dẻo như quy định đối với hợp đồng CGCN.

Chủ sở hữu sáng chế có thể khai thác thương mại đối với sáng chế thông qua các hình thức như chuyển nhượng quyền sở hữu (bán đứt) sáng chế hoặc chuyển giao quyền sử dụng (cho thuê) sáng chế tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và mục đích của từng chủ thể. Tuy nhiên, theo Điều 138 và Điều 141, Luật SHTT, dù chủ sở hữu khai thác thương mại đối với sáng chế của mình dưới hình thức nào đều phải thông qua hợp đồng bằng văn bản. Trong khi đó, ngoài hình thức hợp đồng được giao kết bằng văn bản ra, theo Điều 14, Luật CGCN, hợp đồng CGCN có thể được giao kết bằng nhiều hình thức khác nhau có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, cũng có thể thấy rằng, pháp luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng CGCN cũng rộng hơn pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển giao quyền SHCN. Hợp đồng CGCN không những được điều chỉnh bởi pháp luật riêng biệt về CGCN mà còn được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự và Luật Thương mại. Theo quy định tại Điều 14 của Luật CGCN hiện hành, hành vi CGCN đã được coi là hành vi thương mại theo quy định của pháp luật trong khi đó về bản chất hoạt động chuyển giao quyền SHCN nói chung và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng lại chưa được Luật Thương mại điều chỉnh. Đây là một sự bất cập trong quy định pháp luật của Việt Nam về SHCN và pháp luật thương mại.

Theo Ngô Huy Cương trong Giáo trình Luật Thương mại-Phần chung và Thương nhân, luật thương mại là một ngành luật tư điển hình trong hệ thống pháp luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa các thương nhân với các chủ thể khác hoặc giữa các chủ thể khác với nhau trong lĩnh vực thương mại, hoặc các hành vi thương mại. Do vậy, tất cả các hành vi nhằm mục đích sinh lợi giữa thương nhân với thương nhân hoặc giữa thương nhân với chủ thể khác đều bắt buộc hoặc có thể được điều chỉnh bằng luật thương mại. Nói chung, hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế nói chung và li-xăng sáng chế nói riêng đều là các hành vi nhằm mục đích sinh lời. Do đó, chúng cần được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Do vậy, tác giả xin kiến nghị sửa đổi khoản 2, Điều 138, Luật SHTT “Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp)” thành “Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp)” đồng thời bổ sung thêm khoản 3, Điều 138, Luật SHTT như sau: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự, Luật thương mại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tương tự, tác giả xin kiến nghị sửa đổi khoản 2, Điều 141, Luật SHTT “Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp)” thành “Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp)” đồng thời bổ sung thêm khoản 3, Điều 141, Luật SHTT như sau: “Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự, Luật thương mại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Nếu không thực hiện được sự sửa đổi, bổ sung này thì sẽ không xóa bỏ được sự khác biệt và cứng nhắc của Luật SHTT so với Luật CGCN đồng thời sẽ không thể hiện được tính thương mại của hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế.

  • Xóa bỏ yêu cầu đăng ký đối với hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế

Chúng ta cần xóa bỏ yêu cầu về thủ tục bắt buộc phải đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và bắt buộc phải đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mới có hiệu lực với bên thứ ba. Điều này là phù hợp nguyên tắc tự do hợp đồng. Việc bắt buộc đăng ký chỉ áp dụng đối với những sáng chế/công nghệ nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, môi trường, sức khỏe, dinh dưỡng của người dân. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Có thể thấy rằng điều kiện CGCN nói chung và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế vào Việt Nam vẫn còn khó khăn và phức tạp, trái hẳn với xu hướng luật pháp của nhiều nước ASEAN là ngày một đơn giản và thông thoáng hơn. Đúng là vào những năm 1970 và 1980 của thế kỷ trước, vì nhiều lý do khác nhau, một số quốc gia đang phát triển đã đưa ra các quy định pháp lý nhằm kiểm soát việc CGCN và li- xăng quyền SHCN đối với sáng chế.

Kinh nghiệm cho thấy việc áp đặt kiểm soát của Nhà nước đã làm giới hạn hoạt động CGCN vào các quốc gia này. Các nước áp dụng các giới hạn nghiêm ngặt nhất thông thường là những quốc gia kém phát triển nhất trong khi các nước không áp đặt nhiều sự kiểm soát và giới hạn đã thu hút nhiều hơn sự CGCN và li-xăng sáng chế từ các quốc gia công nghiệp phát triển vì đã đánh giá thấp giá trị của TSTT.

Vì vậy, từ hơn chục năm nay, hầu hết các nước đang phát triển, nhất là các nước ở Châu Á đã bãi bỏ các giới hạn pháp lý hoặc tự do hóa CGCN và li-xăng quyền SHCN. Tuy nhiên, một số nước vẫn yêu cầu việc xét duyệt nhưng chỉ đối với những trường hợp công nghệ nhạy cảm, ví dụ như công nghệ có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự, quốc phòng, môi trường hoặc sức khỏe.

Lấy ví dụ trường hợp của Trung Quốc. Nước này đã áp dụng những quy định pháp lý nhằm kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt hoạt động CGCN và li-xăng sáng chế từ những năm 1980 nhưng đã tự do hóa hệ thống của mình từ đầu những năm 2000. Điều 5 và Điều 17, Lệnh của Hội đồng Nhà nước Trung Quốc số 331, có hiệu lực ngày 1/1/2002, đã cho phép tự do li-xăng quyền SHCN và CGCN. Cụ thể, Điều 17 của văn bản nói trên quy định rằng hợp đồng li-xăng có hiệu lực kể từ ngày ký, không phải ngày đăng ký. Rõ ràng, thực tế cho thấy quyết định tự do hóa CGCN và chuyển giao quyền SHTT của Trung Quốc đã tạo ra những điều kiện thu hút ĐTNN tốt hơn Việt Nam. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Xu hướng phổ biến trên thị trường công nghệ quốc tế thiên về việc trao nhiều quyền tự quyết cho các bên giao kết hợp đồng, Nhà nước chỉ đóng vai trò xúc tiến, không phải là quy định áp đặt hoặc kiểm soát chặt chẽ hợp đồng. Do vậy, tác giả luận án xin kiến nghị bãi bỏ yêu cầu bắt buộc phải đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế để hợp đồng có hiệu lực.

Nếu các quy định pháp lý hiện hành về đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế không được sửa đổi, hoạt động CGCN và chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế sẽ tiếp tục kìm hãm nền kinh tế và làm giảm khả năng phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ của Việt Nam. Hơn thế nữa, nếu các quy định này không được cải thiện sẽ làm cho chúng ta thiếu sức hấp dẫn, không khuyến khích các nhà ĐTNN mang công nghệ cũng như quyền SHCN đối với sáng chế có giá trị vào Việt Nam do họ không nhận được giá trị công bằng từ công nghệ cũng như quyền SHTT của mình. Ngoài ra, Việt Nam còn thất thoát một khoản thuế giữ lại đối với phí chuyển giao.

  • Mở rộng thêm các hình thức li-xăng sáng chế

Theo quy định pháp lý của nhiều nước trên thế giới, các hình thức li-xăng sáng chế rất đa dạng. Ngoài li-xăng độc quyền, li-xăng không độc quyền và li-xăng thứ cấp theo như pháp luật về SHTT của chúng ta đã quy định thì còn một số loại hình li-xăng sáng chế khá phổ biến nữa là li-xăng đầy đủ, li-xăng một phần, li-xăng mở, li-xăng chéo, v.v.

Theo Điều L613-8, Bộ Luật SHTT của Pháp, việc li-xăng sáng chế có thể được thực hiện đầy đủ hoặc một phần. Cụ thể, đối với li-xăng đầy đủ, bên nhận li-xăng có thể khai thác sáng chế trong mọi lĩnh vực áp dụng có thể (ví dụ như y tế, nông nghiệp, v.v.) và bằng mọi cách thức khai thác (ví dụ như sản xuất, sử dụng, bán, v.v.).

Kinh nghiệm thế giới, đặc biệt là của Châu Âu, còn ghi nhận một loại hình li- xăng độc đáo là li-xăng trao đổi hay li-xăng chéo (cross-licensing) nhằm loại bỏ sự cạnh tranh giữa bên nhận và bên giao li-xăng. Theo Điều 101, Hiệp định về Chức năng của Liên minh Châu Âu, các hành vi, thỏa thuận làm ảnh hưởng đến tự do cạnh tranh và thương mại nội khối bị cấm bao gồm các thỏa thuận li-xăng chéo. Cụ thể hơn, bên nhận và bên giao li-xăng trao đổi chéo sáng chế của mình đang sở hữu cho nhau và một trong các bên chỉ phải thanh toán phần giá trị sáng chế được xác định là chênh lệch so với sáng chế còn lại nếu có. Pháp luật về SHTT tại một số quốc gia khác trên thế giới còn có các quy định pháp lý về li-xăng mở.

Hiện nay, chúng ta vẫn đang là nước chủ yếu nhập khẩu công nghệ nhưng trong tương lai Việt Nam có thể là nước xuất khẩu công nghệ. Hơn nữa, việc phân loại li- xăng là rất cần thiết và có ý nghĩa cho các bên khi giao kết hợp đồng li-xăng. Do vậy, tác giả luận án kiến nghị các nhà làm luật cần bổ sung thêm một số loại hình như li- xăng chéo, li-xăng đầy đủ hoặc một phần, li-xăng mở vào Luật SHTT và các văn bản dưới luật. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Bổ sung thêm đối tượng chuyển giao công nghệ là sáng chế, giải pháp hữu ích

Quy định pháp lý về SHTT và CGCN cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng coi sáng chế, giải pháp hữu ích phải là đối tượng chính yếu, quan trọng hàng đầu trong số các đối tượng CGCN đồng thời li-xăng sáng chế/giải pháp hữu ích phải được coi là hoạt động CGCN.

Do vậy, tác giả xin kiến nghị bổ sung vào khoản 1, Điều 7, Luật CGCN đối tượng công nghệ được chuyển giao là sáng chế, giải pháp hữu ích.

Nếu không thực hiện được việc sửa đổi, bổ sung này thì quy định pháp lý của Việt Nam về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đang có sự khác biệt căn bản trong cách tiếp cận vấn đề so với quy định có liên quan của pháp luật quốc tế. Điều này sẽ ngăn cản việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế của nước ngoài cũng như hoạt động ĐTNN vào nước ta, kìm hãm sự phát triển của công nghệ nội sinh, làm chậm quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của nước nhà.

  • Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
  • Cụ thể hóa các quy định về thủ tục thế chấp bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Mặc dù pháp luật về SHTT và GDBĐ đã có quy định khuyến khích chủ sở hữu sáng chế thế chấp bằng chính TSTT của mình. Tuy nhiên, việc khuyến khích các ngân hàng tài trợ, cho các chủ sở hữu, tác giả sáng chế vay tiền để kinh doanh thông qua thủ tục thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế vẫn còn bỏ ngỏ. Do vậy, tác giả luận án xin kiến nghị các nhà làm luật cần đưa ra các quy định cụ thể hơn về thủ tục thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế nhằm đảm bảo quyền lợi của bên cho vay, tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam trong việc cho vay cũng như tạo điều kiện cho chủ sở hữu sáng chế tiếp cận các khoản vay này.

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Pháp là những kinh nghiệm tốt cho chúng ta học tập. Khi sáng chế được đem đi thế chấp để vay vốn ở ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, chúng ta cần phải có quy định rõ ràng rằng quyền SHCN đối với sáng chế được thế chấp sẽ tự động dịch chuyển sang chủ thể khác là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khi đến hạn để chủ thể này có thể đem sáng chế đi phát mại. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

  • Ngoài ra, cũng cần có quy định pháp lý để đảm bảo quyền của bên nhận thế chấp.

Chúng ta cần có quy định cụ thể rằng chủ sở hữu sáng chế đã thế chấp tài sản là quyền SHCN đối với sáng chế thì không thể chuyển nhượng quyền SHCN đối với sáng chế cho một bên thứ ba bất kỳ nào khác. Để đảm bảo về mặt thông tin, chúng ta có thể yêu cầu các bên tham gia thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế phải đăng ký thỏa thuận thế chấp tại Cục SHTT.

Nếu không thực hiện việc này, chủ sở hữu sáng chế, doanh nghiệp sáng tạo, DNVVN sẽ không thể tiếp cận vốn từ ngân hàng để mở rộng kinh doanh và do đó không thể thuê lao động để tạo ra nhiều việc làm mới. Hơn nữa, nếu ngân hàng Việt Nam không cho vay vốn từ việc thế chấp bằng quyền SHCN đối với sáng chế thì sẽ mất đi cơ hội đầu tư sinh lợi nhuận của mình. Tại Hoa Kỳ và một số quốc gia khác đã có nhiều ngân hàng chuyên cho vay, cấp vốn cho việc thế chấp bằng TSTT. Ví dụ như Ngân hàng Sillicon Valley là nơi có nhiều doanh nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp KHCN ở Hoa Kỳ nhận được tài trợ vốn từ việc thế chấp quyền SHCN đối với sáng chế. Ngân hàng này có 40 năm tuổi đời nhưng có nhiều chi nhánh trên thế giới như tại Trung Quốc, Ấn Độ, Israel. Nếu các ngân hàng trong nước mà không cấp vốn thì sẽ mất cơ hội vào tay ngân hàng này.

  • Cụ thể hóa quy định về thủ tục góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế

Chúng ta cần đưa ra các quy định pháp lý phân biệt rõ hai trường hợp góp vốn: góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế và góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế. Cụ thể, cần đưa ra các quy định pháp lý điều chỉnh các hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu sáng chế và hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng sáng chế đồng thời phân biệt rõ các loại hợp đồng này với hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế.

Nếu không thực hiện được điều này sẽ không đảm bảo được quyền lợi cho chủ sở hữu sáng chế trong việc khai thác thương mại sáng chế và do đó không khuyến khích các bên thực hiện việc góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

  • Cụ thể hóa quy định pháp lý về hướng dẫn định giá sáng chế

Một trong những lý do chủ yếu các ngân hàng Việt Nam hiện nay ngần ngại trong việc cho vay vốn bằng hình thức thế chấp bằng sáng chế là do chúng ta chưa có quy định cụ thể về việc định giá sáng chế nên các ngân hàng này không biết định giá sáng chế như thế nào. Vấn đề quan trọng không phải là xác định giá cả làm ra sáng chế như thế nào mà cần phải xác định được giá trị sáng chế đưa vào khai thác, sử dụng như thế nào. Hơn nữa, càng quan trọng hơn khi cần phải xác định giá trị sáng chế khi góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Việc xác định giá trị TSVH nói chung và định giá sáng chế nói riêng đã được rất nhiều tổ chức, công ty và viện nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đầu tư nghiên cứu. Nhiều phương pháp định giá đã được áp dụng rộng rãi nhưng không phương pháp nào là hoàn hảo vì mỗi phương pháp lại có ưu và nhược điểm nhất định. Về mặt học thuật cũng như thực tiễn, trên thực tế, có ba nhóm phương pháp được thừa nhận trong giới chuyên môn nhằm định lượng giá trị của sáng chế là các phương pháp dựa trên chi phí, phương pháp dựa trên thị trường và phương pháp dựa trên thu nhập. Từ các phương pháp cơ bản này, đã xuất hiện các phương pháp biến thể khác, hiện đại và dễ áp dụng hơn cho việc định giá TSVH.

Theo thông lệ, sáng chế, giải pháp hữu ích có thể trở thành tài sản góp vốn. Định giá những tài sản này phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy luật pháp quy định thời hạn bảo hộ cho một sáng chế là 20 năm, nhưng trên thực tế, do nhiều lý do khác nhau trong đó có việc duy trì hiệu lực của một bằng sáng chế thường khá tốn kém nên thời gian duy trì hiệu lực chỉ được trả đủ cho chủ bằng sáng chế khai thác, sử dụng nhằm thu lại lợi nhuận bù đắp cho chi phí nghiên cứu tạo ra sáng chế. Vì vậy, chỉ có một số ít bằng độc quyền sáng chế được duy trì hiệu lực đến hết vòng đời của chúng. Số liệu thống kê cho thấy phần lớn các bằng sáng chế được duy trì hiệu lực trong khoảng 7-8 năm đầu, khoảng 50% bằng sáng chế còn duy trì hiệu lực ở thời điểm sau 10 năm; chỉ có khoảng 25% bằng sáng chế còn được duy trì hiệu lực sau 15 năm (trường hợp EPO và Hoa Kỳ) và chỉ có rất ít bằng sáng chế tại Nhật Bản còn duy trì hiệu lực đến thời gian này (<5%).

Theo cách phân tích ở trên thì giá trị của bằng độc quyền sáng chế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là khả năng khai thác thương mại nên giá trị có thể thay đổi trong suốt thời gian bảo hộ. Điều này phải được thể hiện trong các phương pháp tiếp cận định giá sáng chế. Việc thiếu các phương pháp tin cậy cho việc đánh giá sáng chế đã ngăn cản nhiều ngân hàng cho vay tiền khi coi sáng chế như là vật thế chấp cũng như sử dụng để các bên định giá sáng chế góp vốn để kinh doanh. Chính vì lý do đó, ngoài phương pháp định giá sáng chế theo chi phí đã tạo ra nó thì còn các phương pháp quan trọng khác phải tính đến trong thực tiễn. Đó là phương pháp định giá sáng chế theo giá trị thị trường và phương pháp định giá sáng chế tính theo khả năng thu nhập từ sáng chế trong tương lai.

Do vậy, nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế, tác giả luận án xin kiến nghị cần phải quy định cụ thể vào trong Luật SHTT và các văn bản pháp luật có liên quan các phương pháp định giá sáng chế căn bản, hiện đại, dễ áp dụng đang được phổ biến đi cùng với việc quy định cụ thể hơn nữa các yếu tố, đặc tính quan trọng liên quan đến việc định giá sáng chế.

Nếu không sớm đưa các quy định pháp lý cụ thể về việc định giá sáng chế nêu trên vào trong luật thì sẽ dẫn đến hậu quả là các quy định pháp lý hiện hành có thể gây ra nhiều khó khăn cho việc định giá do không đạt được sự thống nhất giữa các bên, vô hình chung làm cản trở việc khai thác thương mại đối với sáng chế. Do không có quy định cụ thể về việc định giá sáng chế nên quy định pháp lý của nước ta hiện vẫn không loại trừ khả năng người góp vốn bằng sáng chế được tham gia vào việc định giá tài sản đó nên TSTT đó khó có thể trở thành tài sản góp vốn chung vì không thể đạt được sự nhất trí về giá trị sáng chế.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Từ phần đề xuất phương hướng và kiến nghị các giải pháp trong Chương 4, có thể rút ra các kết luận dưới đây.

Thứ nhất, có hai phương hướng quan trọng để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế trong thời gian tới là đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và phát triển KT-XH.

Đối với hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác sáng chế, chúng ta cần bổ sung thêm theo hướng mở rộng quyền sử dụng sáng chế của chủ sở hữu.

Đối với việc khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, chúng ta cần xây dựng các quy định pháp lý có liên quan theo hướng: Thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối về khuyến khích hoạt động hoạt động ứng dụng, đổi mới, CGCN phục vụ phát triển bền vững kinh tế-xã hội; Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ nhập hiện đại, nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế, nâng cao tỷ trọng đóng góp yếu tố công nghệ vào năng lực cạnh tranh quốc gia để hội nhập và công nghiệp hóa thành công; Tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động CGCN, chuyển giao quyền SHCN trên cơ sở bảo đảm, tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự do cam kết, thỏa thuận giữa các bên tham gia hoạt động CGCN, chuyển giao quyền SHCN; nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ này nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng.

Đối với việc khai thác thương mại sáng chế dưới hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế, chúng ta cần có các quy định nhằm tạo thuận lợi cho việc phát triển thị trường công nghệ, tiếp cận sáng chế cần theo hướng “vận động”. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Thứ hai, tác giả kiến nghị một giải pháp tổng thể là chúng ta cần có một bộ luật riêng rẽ, chú trọng đến tính thương mại của sáng chế. Luật Sáng chế của Việt Nam sẽ là một luật riêng bao gồm đầy đủ các quy định pháp lý một cách hợp lý nhằm cân bằng lợi ích của chủ sở hữu, tác giả sáng chế với lợi ích cộng đồng đồng thời bao gồm các quy định pháp lý cụ thể về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế, chuyển giao và đổi mới công nghệ tại Việt Nam.

Thứ ba, các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế theo kinh nghiệm của Pháp và Châu Âu bao gồm việc mở rộng quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của chủ sở hữu tới bất kỳ hành vi nào nhằm TMH sản phẩm, quy trình chứa sáng chế được bảo hộ.

Thứ tư, các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế theo kinh nghiệm quốc tế bao gồm: cụ thể hóa sự khác biệt giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và hợp đồng li-xăng sáng chế; quy định hình thức giao kết hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế mềm dẻo như quy định đối với hợp đồng CGCN; quy định hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế phải do Luật Thương mại điều chỉnh; xóa bỏ yêu cầu phải đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có hiệu lực; quy định thêm một số loại hình li-xăng sáng chế khá phổ biến như li-xăng đầy đủ, li-xăng một phần, li-xăng mở, li-xăng chéo; coi sáng chế là đối tượng chính yếu, quan trọng hàng đầu trong số các đối tượng CGCN đồng thời coi chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế là hoạt động CGCN.

Thứ năm, các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế bao gồm: xây dựng các quy định cụ thể về thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế theo hướng đảm bảo quyền lợi cho bên nhận thế chấp, tách ra hai loại hình góp vốn bằng quyền sở hữu và quyền sử dụng sáng chế; xây dựng các quy định cụ thể hướng dẫn về việc định giá sáng chế.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Sáng chế là một dạng TSTT đặc biệt, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình đổi mới, phát triển và đang trở thành nhân tố then chốt, động lực để phát triển KHCN, kinh tế quốc gia. Khai thác thương mại hợp lý loại tài sản này sẽ làm gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm lớn việc bảo hộ và khai thác sáng chế, đặc biệt là hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế, đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH, hội nhập quốc tế và phát triển KT-XH.

Cùng với sự hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật theo các chuẩn mực của WTO, Luật SHTT, Luật CGCN, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, pháp luật về GDBĐ và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành đã có một số quy định về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm khuyến khích việc khai thác thương mại đối với sáng chế như hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế; hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế; hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế.

Tuy nhiên, vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế còn tương đối mới trong thực tiễn khai thác thương mại các loại TSTT của Việt Nam. Do vậy, pháp luật của nước ta, đặc biệt là pháp luật về SHTT, CGCN, thương mại, đầu tư, doanh nghiệp và GDBĐ vẫn còn có khá nhiều quy định bất cập trong việc cụ thể hóa các hình thức khai thác thương mại nhằm thúc đẩy hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế. Sáng chế trong các quy định pháp lý hiện hành vẫn đang được đề cập dưới dạng “tĩnh” mà không phải trạng thái “động”.

Những vấn đề bất cập chủ yếu hiện nay trong các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam bao gồm việc chưa phân biệt rõ ràng hai loại hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng sáng chế; việc kiểm soát chặt chẽ hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế; sự thiếu hụt một số quy định về hình thức li-xăng sáng chế; sự tách rời một cách bất hợp lý giữa sáng chế với đối tượng CGCN, không coi chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế là hoạt động CGCN dẫn đến sự khác biệt về pháp luật điều chỉnh và yêu cầu về hình thức của hai loại hợp đồng này; việc chưa có các quy định cụ thể hóa về thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế cũng như chưa có hướng dẫn cụ thể về việc định giá sáng chế. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

Các hạn chế, bất cập này đã dẫn đến những hậu quả: số lượng đơn đăng ký và bằng sáng chế tại Việt Nam trong thời gian qua rất khiêm tốn, không tương xứng với tiềm năng của chúng ta; số lượng sáng chế được khai thác thương mại ghi nhận chính thức còn khiêm tốn hơn nữa; các nhà ĐTNN đã không muốn CGCN vào Việt Nam; công nghệ nội sinh của chúng ta còn yếu kém; ảnh hưởng đến quá trình CNH-HĐH, hội nhập quốc tế và phát triển KT-XH.

Nhằm khắc phục các hạn chế và bất cập này, chúng ta cần nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành đồng thời xây dựng các quy định mới trong Luật SHTT, Luật CGCN và các văn bản pháp luật khác có liên quan để hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế. Để có được những giải pháp khả thi, cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế, phát triển KT-XH của Việt Nam, việc nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam cũng như các quy định có liên quan của một số quốc gia trên thế giới như của Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Ấn Độ, của pháp luật quốc tế như Công ước Paris, Hiệp định TRIPS là điều rất cần thiết.

Do vậy, luận án đã đề xuất các phương hướng đồng thời kiến nghị các giải pháp tổng thể và cụ thể theo kinh nghiệm quốc tế nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng và pháp luật về sáng chế nói chung như sau:

Về giải pháp tổng thể, chúng ta cần xây dựng một bộ luật riêng rẽ, chuyên biệt về sáng chế theo cách tiếp cận “động” của sáng chế, cân bằng lợi ích các bên có liên quan và quy định rõ các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế.

Về giải pháp cụ thể, thứ nhất, chúng ta cần có các quy định phù hợp mở rộng quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế theo hướng thúc đẩy khai thác thương mại sáng chế của chủ sở hữu đồng thời cân bằng lợi ích của chủ sở hữu, tác giả sáng chế và lợi ích cộng đồng. Thứ hai, chúng ta cần sửa đổi, bổ sung một số quy định hiện hành theo hướng hoàn thiện pháp luật về hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế bao gồm: cụ thể hóa sự khác biệt trong quy định pháp luật giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền SHCN và hợp đồng li-xăng sáng chế; quy định hoạt động chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế phải do Luật Thương mại điều chỉnh; xóa bỏ yêu cầu phải đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có hiệu lực; quy định thêm một số loại hình li-xăng sáng chế khá phổ biến; coi sáng chế là đối tượng quan trọng hàng đầu trong số các đối tượng công nghệ được chuyển giao đồng thời coi chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế là hoạt động CGCN; quy định hình thức giao kết hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế mềm dẻo như quy định đối với hợp đồng CGCN. Thứ ba, chúng ta cần xây dựng các quy định cụ thể về thủ tục thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế theo hướng đảm bảo quyền lợi cho bên nhận thế chấp và tách ra hai loại hình góp vốn bằng quyền sở hữu và quyền sử dụng sáng chế đồng thời cần có quy định cụ thể hướng dẫn về việc định giá sáng chế nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền SHCN đối với sáng chế. Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

One thought on “Luận văn: Giải pháp khai thác thương mại đối với sáng chế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464