Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên là một trong những nội dung của chiến lược đào tạo con người, nhằm đào tạo ra những con người mới có đủ trình độ năng lực để thực hiện tốt hai nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩaGiỏo dục quốc phũng – an ninh cho học sinh, sinh viờn là một trong những nội dung của chiến lược đào tạo con người , nhằm đào tạo ra những con người mới xó hội chủ nghĩa cú đầy đủ trỡnh độ năng lực để thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chiến lược : xõy dựng thành cụng chủ nghĩa xó hội và bảo vệ vững chắsc Tổ quốc Việt Nam xó hội chủ nghĩa. Mụn học Giỏo dục quốc phũng – an ninh đó được xỏc định trong nhiều văn bản quy phạm phỏp luật của Nhà nước như chỉ thị số 62-CT/Tw ngày 12/2 năm 2001 và gần đõy nhất Bộ Chớnh trị đó cú Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 03-5-2007 về tăng cường sự lónh đạo của Đảng đối với cụng tỏc giỏo dục quốc phũng, an ninh trong tỡnh hỡnh mới, Chớnh phủ cũng cú Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10-7-2007 về Giỏo dục quốc phũng – an ninh. Do vậy, quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh trong nhà trường cần quán triệt sâu sắc nguyên lý giáo dục chung: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Việc nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên nói chung và tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chính là góp phần làm rõ hơn và hiện thực hóa lý luận quản lý giáo dục vào một vấn đề cụ thể, thiết thực là quản lý công tác giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên ở một địa bàn, đại học cụ thể có tính chiến lược – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; nhằm thống nhất nhận thức, hiện thực hóa những chủ trương về công tác quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên phù hợp với thực tiễn, mang lại hiệu quả của mặt công tác quan trọng này. Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Quán triệt Chỉ thị 62-CT/TƯ của Bộ Chính trị và Nghị định 15/2001/NĐ-CP của Chính phủ, công tác giáo dục quốc phòng – an ninh được triển khai sâu rộng, duy trì có nền nếp và chất lượng từng bước được nâng lên ở hầu hết các trường trong cả nước. Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận, thấy rằng, thực tế hiện nay, sự chuyển biến về nhận thức ở một số cán bộ quản lý và một bộ phận học sinh, sinh viên còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu môn học và nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới. Ở một số trường, một số trung tâm và một bộ phận học sinh, sinh viên còn xem nhẹ và tìm cách “thanh toán” cho xong môn học hoặc có những suy nghĩ đơn giản về môn học, đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh tùy tiện, tính toán hiệu quả kinh tế – chính trị – xã hội trong thực hiện thấp.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Tuy hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song do những mâu thuẫn gay gắt vốn có và những vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là sự lộng hành, tham vọng của các thế lực hiếu chiến nên nguy cơ đe dọa hòa bình, ổn định, chủ quyền quốc gia dân tộc vẫn tồn tại. Đối với nước ta, các thế lực thù địch cấu kết với bọn phản động trong và ngoài nước tiếp tục đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm. Chúng ra sức lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo”, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của một bộ phận tổ chức, cán bộ, Đảng viên để “khoét sâu”, “thổi phồng”, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng – an ninh cho các đối tượng, nhất là sinh viên đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng. Một vấn đầ cần quan tâm tiến hành để nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng – an ninh đó là phải tăng cường quản lý hoạt động này một chặt chẽ, hiệu quả.

Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2012 đạt lưu lượng 43.000 sinh viên/ năm. Công tác giáo dục quốc phòng – an ninh ở Trung tâm khá đặc thù, vừa phải theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo, vừa phải theo quy định của Bộ Quốc phòng. Giảng viên giảng dạy thường là các sĩ quan biệt phái còn sinh viên thường chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của môn học này. Chính vì vậy, hoạt động quản lý công tác giáo dục quốc phòng – an ninh ở Trung tâm khá phức tạp và còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Điều này đòi hỏi sớm được khắc phục trong thời gian tới.

Nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên trong thời kỳ mới đặt ra những yêu cầu cấp thiết cả về chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp, đặc biệt là quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng. Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn cao học của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới liên tục có những biến động phức tạp khó lường. điều đó khiến các quốc gia ngày càng chú trọng hơn đến sự nghiệp củng cố quốc phòng – an ninh nhằm bảo vệ vững chắc chế độ xã hội và sự toàn ven lãnh thổ của mình. Cùng với việc củng cố, tăng cường các tiềm lực quân sự quốc phòng, các nước rất quan tâm giáo dục quốc phòng – an ninh cho toàn dân; các quốc gia trên thế giới đã đưa ra nhiều mô hình, cách thức tổ chức khác nhau trong việc đào tạo, quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh sao cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể, trình độ phát triển  kinh tế – xã hội, tình hình chính trị trong nước, khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát chúng ta có thể khảo cứu việc quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng  ở trên các góc độ khác nhau. Có một thực tế là hiện nay trên thế giới có nhiều quốc gia đã đưa giáo dục quốc phòng – an ninh vào hệ thống giáo dục quốc dân, trong các nhà trường, các trung tâm giáo dục quốc phòng, theo các bậc học, và theo các lứa tuổi.

Các nước như Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Ôtxtrâylia, Thái Lan, Hàn Quốc… đều có những trung tâm quốc gia giáo dục quốc phòng – an ninh cho học sinh, sinh viên, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các nhà lãnh đạo, quản lý cán bộ cao cấp cả trong và ngoài quân đội. Trong mỗi học viện, trường đại học, các trung tâm, viện nghiên cứu,… công tác giáo dục quốc phòng – an ninh luôn được tổ chức, quản lý chặt chẽ theo từng trường, từng lớp với những đối tượng khác nhau. Dưới đây, xin điểm qua một số mô hình về việc quản lý và tổ chức công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trên thế giới:

Mỹ tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng theo các trường, các lớp khác nhau như: Trường cao đẳng Chiến tranh quốc gia, Trường cao đẳng Công nghiệp lực lượng vũ trang…

Ở Pháp tổ chức quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng theo từng khóa và các khóa đào tạo giành cho các khu vực, cho sinh viên ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trong hệ thống giáo dục, đối tượng học tập bao gồm toàn thể học sinh, sinh viên, các quan chức dân sự và quân sự.

Việt Nam, xuất phát từ điều kiện đặc thù của dân tộc là thường xuyên phải đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn, nên các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam rất coi trọng việc giáo dục kiến thức quốc phòng cho toàn dân nói chung và học sinh, sinh viên các trường trung học phổ thông, cao đẳng, đại học, vì thế việc quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng được coi trọng ngay từ thời đó. Các triều đại phong kiến Việt Nam chú trọng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng, giáo dục ý thức về nhiệm vụ giữ nước cho toàn dân và các quan lại, khơi dậy tinh thần cảnh giác để phòng chống giặc ngoai xâm,

Những nhà chính trị, quân sự lớn như Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi luôn yêu cầu cần phải tăng cường quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng chặt chẽ, nghiêm túc, để làm cho mọi người hiểu rằng, công cuộc phòng thủ đất nước của dân tộc là công cuộc chính nghĩa, vì lợi ích muôn đời của muôn dân Việt Nam. Vì vậy, phải tập hợp, phải huy động sức mạnh của cả nước; trách nhiệm quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng là của chính quyền các cấp.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, do yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhất quán thực hiện quan điểm, đường lối giáo dục quốc phòng – an ninh, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của cách mạng, nhất là từ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến nay. Những tư tưởng về giáo dục, quan điểm chỉ đạo, quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh thường xuyên được quán triệt, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn.

Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, tư duy lý luận của Đảng ta về giáo dục quốc phòng – an ninh ngày càng phát triển và hoàn thiện, đặc biệt, hiện nay, công tác giáo dục quốc phòng – an ninh được áp dụng cho toàn dân (trước kia cơ bản chỉ áp dụng cho đối tượng học sinh, sinh viên trong các nhà trường phổ thông, cao đẳng và đại học).

Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, năm 1991, chương trình huấn luyện quân sự phổ thông được đổi thành chương trình môn học giáo dục quốc phòng với mục tiêu rõ ràng, toàn diện và phù hợp. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa VII xác định: phải tăng cường công tác giáo dục quốc phòng cho toàn dân, trước hết là đối với cán bộ các cấp, các ngành của Đảng và Nhà nước, thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên.

Thực hiện Chỉ thị số 62 – CT/TW, ngày 1/5/2001 của Bộ Chính trị, Chính phủ ban hành các nghị định, đó là: Nghị định số 15/2001/NĐ/CP và Nghị định 116/2007/NĐ- CP về giáo dục quốc phòng – an ninh, trong đó xác định rõ đối tượng, nội dung, thời gian, chỉ đạo, quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh… đó là sự phát triển mới rất quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng ta về giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh trong thời kỳ mới.

Ngày 16 tháng 6 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Quốc phòng, trong Luật chỉ rõ: “Giáo dục Quốc phòng là môn học chính khóa trong nhà trường từ trung học phổ thông trở lên…” Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Giáo dục Quốc phòng – an ninh cho sinh viên trong các trường đại học cao đẳng là một vấn đề rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Giáo dục Quốc phòng – an ninh Trung ương, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng nhiều mô hình giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên, các trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh được hình thành và ngày càng phát triển vững mạnh. Trong đó, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện là một trung tâm có quy mô lớn, có chất lượng cao và được tổ chức chặt chẽ.

Trong những năm qua cũng có một số hội thảo khoa học nghiên cứu về quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh, đặc biệt là Hội thảo: “Những giải pháp nâng cao chất lượng môn học giáo dục quốc phòng – an ninh ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Hà Nội I”. Đồng thời cũng đã có một số đề tài, luận văn, luân án nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu là: đề tài “Những giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục Quốc phòng” của Nguyễn Văn Huận (năm 1998); Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: “Kiện toàn tổ chức biên chế cán bộ quản lý, giảng viên giáo dục Quốc phòng ngành giáo dục – đào tạo” của Hà Văn Công (năm 2004); đề tài “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao kết  quả giáo dục Quốc phòng cho sinh viên sinh viên tại các trung tâm giáo dục quốc phòng” của Hoàng Văn Tòng (năm 2007); đề tài cấp Bộ Quốc phòng: “Nghiên cứu nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng – An ninh cho cán bộ chủ chốt các cấp trong tình hình mới” của nhóm các tác giả thuộc Học viện Quốc phòng nghiên cứu (năm 2008); bài viết “Giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng – An ninh cho cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước”, của PGS, TS Nguyễn Giang Nam đăng trên Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam năm 2010,…

Nhìn chung các đề tài, các cuộc hội thảo khoa học, các bài nghiên cứu đều đánh giá một cách tổng quan thực trạng chất lượng và kết quả dạy học giáo dục quốc phòng – an ninh, vấn đề quản lý, chỉ đạo, giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh, trên cơ sở đó đưa ra mốt số biện pháp phát triển về đội ngũ, cải tiến phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục Quốc phòng trên cả nước. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu cơ bản và hệ thống vấn đề Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt giáo dục quốc phòng – an ninh, đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Làm rõ cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lực cao cho đất nước trong giai đoạn hiện nay.

4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức tập trung, thống nhât tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh. Do đó, nói đến quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực chất là nói đến quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, trong toàn bộ nội dung của luận văn, tác giả thống nhất sử dụng cụm từ “quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”.

Luận văn tập trung nghiên cứu việc quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Các số liệu điều tra, xử lý và tham khảo tính từ năm 2008 đến nay.

5. Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay phụ thuộc vào sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Nếu các chủ thể thực hiện quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo sát với thực tiễn, nhất là thực hiện tốt việc: tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên; tăng cường quản lý công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch dạy học; xây dựng động cơ học tập đúng đắn, kích thích tính chủ động sáng tạo của người học; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý; quản lý chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động thi, kiểm tra đánh giá kết quả học tập; đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trung tâm, thì chất lượng giáo dục, đặc biệt là hiệu quả quản lýồhạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay sẽ có những chuyển biến tích cực.

6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

6.1. Cơ sở phương pháp luận

Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và nhận thức luận mác-xít, đề tài nghiên cứu, luận giải các vấn đề quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống – cấu trúc, tiếp cận hoạt động nhân cách trong quá trình nghiên cứu. Xác định quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh là một nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết không thể coi nhẹ trong quá trình tổ chức giáo dục kiến thưc quốc phòng – an ninh cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cần phải xuất phát từ nguyên lý giáo dục, các quan điểm, cách thức quản lý giáo dục, từ bối cảnh xã hội, thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

6.2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, bao gồm các phương pháp chính sau:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lý luận về dạy học – giáo dục, quản lý giáo dục, vấn đề quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan để xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đề tài.

Khảo cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư,…), các văn bản, chỉ thị hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục & Đào tạo,… về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh; các sách chuyên khảo, các công trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học, các luận án, luận văn khoa học quản lý giáo dục, các bài viết, bài báo có liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên. Qua đó rút ra nhận định trong việc đánh giá các sự kiện và luận giải các quan điểm, tư tưởng có liên quan đến luận văn.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp trưng cầu ý kiến
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Điều tra, khảo sát nhằm xác định thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Dự kiến tiến hành phỏng vấn trực tiếp với một số giáo viên, cán bộ quản lý và sinh viên đã và đang theo học giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về công tác quản lý hoạt động này.

Phương pháp quan sát sư phạm

Bằng phương pháp này, học viên dự kiến tiến hành dự giờ một số buổi lên lớp lý thuyết, thực hành giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để thu thập thông tin phục vụ cho việc đánh giá và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động này tại Trung tâm cho có hiệu quả.

Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục:

Tiến hành nghiên cứu các bản đề án đổi mới giáo dục – đào tạo, tổng kết công tác giáo dục – đào tạo và quản lý hoạt động giáo dục của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 đến 2013.

Toạ đàm với giáo viên, cán bộ quản lý, sinh viên về công tác giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp chuyên gia

Dự kiến, học viên sẽ trực tiếp trao đổi và xin ý kiến của các chuyên gia (là các nhà quản lý giáo dục, các nhà sư phạm có uy tín và kinh nghiệm trong giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh,…) để lấy ý kiến tư vấn, góp ý trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và tổ chức khảo nghiệm sư phạm.

Phương pháp khảo nghiệm

Tổ chức khảo nghiệm nhằm mục đích kiểm chứng tính đúng đắn, tính khoa học, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã nêu.

Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng toán học thống kê để xử lý số liệu về kết quả điều tra, khảo sát và thử nghiệm sư phạm (sử dụng phần mềm SPSS). Qua đó rút ra những kết luận chính xác về kết quả thu được.

7. Giá trị và ý nghĩa của đề tài

Xây dựng khái niệm quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Cấu trúc của luận văn: gồm 3 phần:

Luận văn bao gồm: Mở đầu; 3 chương (8 tiết); Kết luận và kiến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

1.1. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

1.1.1. Quản lý giáo dục

Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.

Từ những cách tiếp cận trên có thể hiểu: Quản lý là những tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm bảo đảm cho quá trình quản lý diễn ra đúng yêu cầu, nội dung và đạt hiệu quả cao.

Hoạt động quản lý là bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục. Đó là quá trình diễn ra hệ thống những tác động nối tiếp nhau của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, bao gồm các nhân tố cơ bản: mục tiêu quản lý; chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; nội dung quản lý; phương pháp quản lý; kết quả quản lý.

Sự tác động này có sức mạnh nhất định, buộc các thành viên thuộc nhóm đối tượng phải hoạt động theo lệnh của chủ thể. Quản lý tiến hành trên cơ sở của tổ chức. Quản lý và tổ chức có mối quan hệ hữu cơ, trong đó tổ chức là điều kiện là nền tảng cho quản lý để hoạt động đạt mục tiêu của tổ chức. Trong một tổ chức có nhiều yếu tố: con người, công việc, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và dịch vụ. Tất cả các yếu tố này có mối quan hệ tương tác lập thành một hệ thống. Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống. C.Mark xem trọng quản lý như là kết quả tất yếu của sự chuyển hóa quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập thành một quá trình lao động xã hội được phối hợp có tổ chức: “tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo những hoạt động cá nhân nhằm điều hòa các hoạt động đó và thực hiện chức năng chung…”. Trong các đối tượng quản lý, quản lý con người có tầm quan trọng bật nhất vì  “hiền tài là nguyên khí của Quốc gia” và “dụng nhân như dụng mộc”.

Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Hoạt động quản lý được thực hiện trên cơ sở bốn chức năng đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

Lập kế hoạch (planning): Kế hoạch phải xác định được các vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của cả quá trình.

Tổ chức (Organizing): là quá trình chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng trong kế hoạch thành hiện thực. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.

Chỉ đạo (Leading): có nguồn gốc từ hai thuật ngữ lãnh đạo và điều hành. Chỉ đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị để điều hành, vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúng các quyền lực của người quản lý. Chỉ đạo là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến thành viên trong tổ chức để công việc của họ làm hướng tới các mục tiêu chung đề ra.

Kiểm tra (Controlling): là quá trình thiết lập và thực hiện cơ chế thích hợp để thu thập và xử lý thông tin đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức. Quy trình kiểm tra/ đánh giá là người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, sau đó đối chiếu, đo lường kết quả sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra.

1.1.2. Giáo dục quốc phòng – an ninh ở các trường đại học Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Giáo dục quốc phòng – an ninh là môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật quân sự và thuộc nhóm các môn học chung. Nội dung bao gồm kiến thức cơ bản về đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, công tác quản lý Nhà nước về quốc phòng – an ninh; về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, về nghệ thuật quân sự Việt Nam và kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, đồng thời, góp phần xây dựng, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong khoa học ngay khi sinh viên đang học tập trong nhà trường và khi ra công tác ngoài xã hội.

Giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên ở các trường đại học chịu sự chi phối của nhiều nhân tố, trong đó hai yếu tố mang tính quyết định ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động này chính là là người dạy (đội ngũ giảng viên) và người học (đội ngũ học viên)

Về người dạy

Từ ngàn xưa, cổ nhân đã viết “lương sư hưng quốc” và “Quân – Sư –  Phụ”,… nêu rõ tầm quan trọng của người thầy trong xã hội. Theo Luật giáo dục, nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục sinh viên trong các trường học và các cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân.

Nhà giáo có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trước hết họ là những người được xã hội giao trọng trách giáo dục nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội. Nhà giáo là nhân vật trung tâm và trung gian giữa các thế hệ. Theo Luật giáo dục, “giảng viên dạy ở các trường cao đẳng và đại học phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành và có chứng chỉ sư phạm”.

Phẩm chất nhà giáo, đặc biệt là nhà giáo quân đội rất cần thiết cho sự thành công của hoạt động sư phạm quân sự, nhà giáo quân đội cần có:

  • Là công dân mẫu mực, có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có thế giới quan khoa học và có ý thức pháp luật tốt.
  • Có tư tưởng đạo đức, có lối sống lành mạnh, gương mẫu, trung thực, công bằng, nhân ái với mọi người để sinh viên noi theo.
  • Cán bộ giảng dạy phải tốt nghiệp trường sĩ quan hay giảng viên giảng dạy giáo dục quốc phòng – an ninh.
  • Cán bộ giảng dạy tốt nhất trải qua kinh nghiệm trong quân đội.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên giáo dục quốc phòng – an ninh tại các trung tâm là người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và thực hiện hoạt động dạy học giáo dục quốc phòng  –  an ninh. Phần nhiều đội ngũ cán bộ giảng dạy là sĩ quan biệt phái, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ sư phạm, chưa được quan tâm đào tạo theo chuẩn quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như mặt bằng chung ở các nhà trường đại học. Công tác giáo dục quốc phòng – an ninh có liên quan và chịu sự chỉ đạo, quản lý của nhiều cấp, nhiều bộ, ngành, cơ quan và các tổ chức, các lực lượng khác nhau. Giáo dục quốc phòng – an ninh có tính đặc thù cả về tổ chức, nhân lực, quản lý và phát triển đội ngũ giảng viên đến nội dung chương trình, phương pháp tổ chức thực hiện.

Giáo dục quốc phòng – an ninh là chương trình học có những đòi hỏi rất riêng về cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị và các phương tiện, thiết bị dạy học khác. Mặc dù có nhiều cố gắng song hiện nay việc vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế do lưu lượng sinh viên quá đông, cường độ lao động của đội ngũ cán bộ giảng viên còn rất cao.

Về người học

Đối tượng học giáo dục quốc phòng – an ninh tại trung tâm rất phong phú và đa dạng (ngôn ngữ, vùng miền, sức khỏe,…) học ở các ngành học và bậc học khác nhau (hệ đại học và hệ cao đằng, sinh viên trong và ngoài đại học quốc gia). Ý thức, thái độ và phương pháp học tập và thuộc tính tâm lý của sinh viên hoàn toàn khác nhau. Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải biết thiết  kế chương trình kế hoạch giáo dục phù hợp từng đối tượng.

1.1.3. Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh thực chất là nắm giữ và điều khiển các quá trình, các lực lượng, các hoạt động giáo dục quốc phòng bằng những tác động có mục đích của các chủ thể quản lý. Căn cứ vào quy mô, tính chất của hệ thống quản lý người ta thường xem xét và giải quyết các vấn đề của hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh.

Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – chính trị, xã hội của quốc gia.

Nội dung quản lý chủ yếu là: mục tiêu chiến lược của hệ thống giáo dục; chủ trương xây dựng, tổ chức hệ thống giáo dục; xây dựng các công cụ quản lý (cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch; điều hành hoạt động của hệ thống giáo dục).

Quản lý hoạt động giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục – đào tạo của cơ sở đào tạo nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất nhân cách của người học theo mô hình, mục tiêu giáo dục – đào tạo.

Quản lý vi mô gắn liền với quản lý giáo dục trong nhà trường. Quản lý giáo dục trong nhà trường được thực hiện bằng sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý nhà trường đến những cá nhân và tập thể thuộc quyền, nhằm làm cho hoạt động của những đối tượng đó có định hướng, có tổ chức và được điều khiển, điều chỉnh kịp thời để nhà trường hoàn thành sứ mệnh xã hội, chức năng, nhiệm vụ và người học đạt tới mục tiêu giáo dục – đào tạo.

Điều 2 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về “Giáo dục quốc phòng – an ninh” chỉ rõ: “Giáo dục quốc phòng – an ninh là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục & đào tạo trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể…”

Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng là tổng thể các nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp tiến hành của đội ngũ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các cơ quan chức năng và đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng – an ninh của các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh nhằm trang bị, truyền thụ kiến thức, kỹ năng quân sự, quốc phòng – an ninh, nâng cao ý thức, trách nhiệm của sinh viên đối với sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mục đích hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên nhằm nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trang bị những kiến thức về quân sự, quốc phòng và rèn luyện một số kỹ năng quân sự.

Nội dung hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên gồm ba khối kiến thức lớn, đó là những vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng và một số kỹ năng hoạt động quân sự cơ bản.

Hình thức tổ chức giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên: nội dung giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên bao gồm cả lý thuyết và thực hành. Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Từ nghiên cứu trên, chúng ta có thể hiểu: Quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là những tác động có tổ chức, có mục đích, có kế họach của chủ thể quản lý đến toàn bộ quá trình giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên, nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả, góp phần hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam  xã hội chủ nghĩa.

Muốn thực hiện được việc quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi các chủ thể quản lý cần thực hiện nhiều công việc: từ xây dưng kế hoach, tổ chức thực hiện kế hoạch, điều hành hoạt động, thanh tra, kiểm soát giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm.

Kế hoạch hóa công tác quản lý hoạt động dạy học: Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động công việc được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất… để thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra. Khi ta lập được kế hoạch thì tư duy quản lý của ta sẽ có hệ thống hơn để có thể tiên liệu được các tình huống sắp xảy ra. Ta sẽ phối hợp được mọi nguồn lực của cá nhân, tổ chức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, có thể giữ vững “mũi tiến công” vào mục tiêu cuối cùng mình muốn hướng đến. Bên cạnh đó, ta cũng sẽ dễ dàng kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện dự án của mình. Mục đích của việc lập kế hoạch: thống nhất tổ chức quản lý đào tạo, tiến hành quá trình đào tạo chủ động, có kế hoạch, sử dụng hợp lý các nguồn lực cho đào tạo, cơ sở đánh giá quá trình đào tạo.

Kế hoạch hóa đào tạo phải thỏa các yêu cầu: Tính liên tục (các kế hoạch phải mang tính kế thừa, kế hoạch sau bổ sung cho kế hoạch trước); Tính nhất trí (kế hoạch đào tạo của Trung tâm phải phù hợp kế hoạch phát triển của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các trường liên kết); Tính thực tiễn (kế hoạch phải phù hợp điều kiện hiện hữu của Trung tâm trong xu hướng phát triển, liên hệ chặt chẽ các nguồn lực (giảng viên, ngân sách, cơ sở vật chất, khí tài…) và yêu cầu của địa phương, xã hội); Tính linh động (kế hoạch cần dự kiến các tình huống có thể xảy ra để kịp thời điều chỉnh, do đó cần dành thời gian dự trữ, ví dụ khi lập thời khóa biểu một kì đào tạo luôn có một tuần dự trữ).

Có các loại kế hoạch đào tạo là: kế hoạch tiến độ đào tạo và kế hoạch công tác phương pháp.

Kế hoạch tiến độ đào tạo phải: đảm bảo tính quy luật đào tạo, phù hợp qui trình đào tạo được xác định trong chương trình, tận dụng cơ sở vật chất khí tài cho quá trình đào tạo, kết hợp đào tạo chính khóa và ngoại khóa (giao lưu học tập ở các đơn vị quân đội), sử dụng tốt đa nguồn lực giảng viên (trừ hè và tết).

Kế hoạch công tác phương pháp: đây là một trong những kế hoạch trung tâm nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, công tác phương pháp thực hiện hai nhiệm vụ chinh là hướng dẫn giảng viên và cán bô quản lý đào tạo hoàn thiện quá trình đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt (tư tưởng, chuyên môn, nghiệp vụ) cho giảng viên.

Làm tốt công tác tổ chức trong quản lý hoạt động giáo dục: Tổ chức đào tạo hiểu với nghĩa là một cơ cấu tổ chức liên kết các đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo bao gồm giáo viên, công nhân viên và sinh viên… tổ chức điều hành luôn đổi mới và xây dựng Trung tâm vững mạnh:

Trước hết cần làm tốt công tác giáo dục và quản lý về chính trị tư tưởng; tạo điều kiện để toàn bộ cán bộ công nhân viên giảng viên ý thức quyền làm chủ tập thể trong Trung tâm, trau dồi phẩm chất đạo đức, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật.

Tổ chức  quản lý: Trước hết, xây dựng bộ máy tổ chức vững mạnh, mỗi đơn vị được phân công nhiệm vụ rõ rệt, không chồng chéo. Đội ngũ giảng viên phải có trình độ chuyên môn cao và nghệ thuật sư phạm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phát triển giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới. Hệ thống quản lý phải kín, gọn, chặt. Đảm bảo quản lý toàn diện của Đảng trong Trung tâm tạo sức mạnh tổng hợp đưa hoạt động của Trung tâm theo đường lối giáo dục của Đảng – đây là vấn đề có tính nguyên tắc.

Quản lý tốt cơ sở vật chất: duy tu, bảo dưỡng, xây dựng mới, cập nhật tài liệu, bảo quản và định kỳ bảo dưỡng khí tài.

Nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm: Hoạt động này phải thể hiện tính chủ động, tính kịp thời, hiệu quả. Tính chủ động đòi hỏi người quản lý luôn luôn nắm chắc tình hình diễn biến và dự kiến những nhu cầu có tính tất yếu của quá trình đào tạo, từ  đó xây dựng kế hoạch phù hợp thực tiễn. Tính chủ động thể hiện qua công tác đón trước sự việc, không để nước đến chân mới nhảy. Tính kịp thời đòi hỏi các hoạt động bảo đảm giải quyết sự việc đúng lúc, đúng kế hoạch. Tính hiệu quả thể hiện qua năng suất lao động.

Đổi mới công tác điều hành, lãnh đạo hoạt động giáo dục: Đổi mới quản lý tổ chức, đổi mới mô thức quản lý, đổi mới văn hóa quản lý.

Đổi mới quản lý tổ chức: phân cấp quản lý giáo dục, biểu hiện cụ thể nhất là quản lý dựa vào nhà trường (school-based management). Nhà quản lý học người Mỹ Peter M.Senger đưa ra kiểu tổ chức học tập (learning organization) có năm chức năng: suy tư có hệ thống, vượt qua chính mình, cải thiện định kiến, xây dựng viễn cảnh chung và học tập đội ngũ.

Đổi mới phương pháp quản lý: có nhiều phương pháp, ở đây xin đơn cử phương pháp tiếp cận mục tiêu. Phương pháp này được chia làm ba giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Chế định mục tiêu, giai đoạn này có năm bước. Bước thứ nhất là chuẩn bị (bao gồm chuẩn bị cho giáo viên, ví dụ nhận thức về đổi mới giáo dục và chuẩn bị nguồn lực phục vụ cho đổi mới); bước thứ hai là quản lý cấp cao chế định mục tiêu  chiến lược (ví dụ Sở Giáo dục & Đào tạo xác định mục tiêu đổi mới trong trường phổ thông); bước thứ ba là nhà trường xác định mục tiêu đổi mới giáo dục cho trường mình; bước thứ tư là cán bộ quản lý cấp trên và nhà trường thảo luận để sửa đổi và thống nhất mục tiêu đề ra; bước thứ năm là xác định các loại mục tiêu và tiêu chuẩn đánh giá.

Giai đoạn 2: là quá trình thực hiện mục tiêu, tức là tiến hành quản lý việc thực hiện đổi mới giáo dục trong nhà trường nhằm thực hiện và giám sát mục tiêu đề ra.

Giai đoạn thứ ba: là tiến hành kiểm tra đánh giá, đánh giá thành quả đổi mới so với mục tiêu đề ra. Ngoài ra cần rút ra những bài học cần thiết cho chu kì tiếp theo nhằm không ngừng nâng cao chất lượng công tác quản lý theo mục tiêu.

Tăng cường kiểm tra hoạt động giáo dục: Trong quá trình quản lý, kiểm tra không phải là truy tìm sai sót, lỗi lầm của nhân viên để trừng phạt.  Kiểm tra có mục đích nhận định tình hình, phát hiện những lệch hướng, thiếu sót để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa. Kiểm tra còn tác động cho đối tượng quản lý hoạt động tích cực hơn. Kiểm tra đánh giá là hai hoạt động tách rời nhau, có mối liên hệ hữu cơ. Hiện nay theo quan điểm quản lý, kiểm tra và đánh giá theo quan điểm CIPP: C (context) là hoàn cảnh nhân viên thực hiện công tác; I (input) nhập tố là trình độ nhân viên; P (process) quá trình lao động thực hiện công việc; P(product) sản phẩm, kết quả lao động.

Yêu cầu của việc kiểm tra đánh giá: Kiểm tra phải đảm bảo các yêu cầu sau: Xuyên suốt mọi khâu của quá trình đào tạo. Tiến hành kiểm tra có kế hoạch. Xác định mục tiêu kiểm tra cụ thể và đề ra yêu cầu cho từng hoạt động. Bảo đảm tính khách quan, công khai, dân chủ, và mang tính quần chúng. Mức độ hiệu của công tác kiểm tra phụ thuộc vào trình độ, năng lực của người quản lý.

Hình thức kiểm tra

Kiểm tra tổng quát (hay còn gọi là kiểm tra chung): thường được tiến hành vào đầu quá trình đào tạo để nắm tình hình giảng dạy của giảng viên, cơ sở vật chất cho đào tạo. Về đội ngũ giảng viên, cần quan tâm đến trình độ chuyên môn để có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm.

Kiểm tra chuyên đề: loại kiểm tra này nhằm giải quyết một nhiệm vụ hay một tồn tại có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đào tạo ví dụ như phân công biên soạn giáo trình giảng dạy, thực hiện giáo án lên lớp, sáng tác đồ dùng dạy học… kết quả kiểm tra chuyên đề phụ thuộc vào mức độ hưởng ứng tích cực của giảng viên. Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Kiểm tra cá nhân: nhằm giúp đỡ cá nhân nâng cao hiệu quả công tác. Kiểm tra cá nhân thường áp dụng cho giảng viên tập sự vào nghề hoặc vừa thuyên chuyển công tác từ đơn vị quân đội sang trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh. Kiểm tra cá nhân còn được tiến hành với bất cứ cá nhân nào đang có “vấn đề” do dư luận phản ánh về hoạt động giảng dạy, các vấn đề khác thuộc quản lý cán bộ.

Kiểm tra dự phòng: nhằm giúp giảng viên chuẩn bị tốt công tác sắp thực hiện để phát hiện những thiếu sót có thể xảy ra trong quá trình đào tạo.

Phương pháp kiểm tra

Phương pháp khảo cứu tài liệu: các tài liệu rất đa dạng gồm chương trình và kế hoạch đào tạo; lịch trình giảng dạy, giáo án của giáo viên; bài tập; bài thực hành; điểm số học tập; kết quả thi…

Phương pháp tọa đàm: trao đổi với giáo viên và sinh viên những vấn đề chủ yếu của đào tạo. Phương pháp tọa đàm sẽ có hiệu quả cao với nhóm nhỏ. Quản lý cần lên lịch hằng tuần tiếp xúc giảng viên, sinh viên đôi lúc không dùng lịch khi gặp việc cần thiết. Quản lý phải tôn trọng nhân cách của đối tượng, không thể xem mọi người là đồng loạt, giải quyết sự việc phải có lý, có tình. Phương pháp quan sát hiện trường: chủ yếu là dự giờ giảng.

Dự giờ là một dạng đặc biệt của quan sát, theo Water Liewald “dự giờ được tiến hành nhằm mục đích cải tiến công tác giáo dục và giáo dưỡng. Giá trị của dự giờ thể hiện đặc biệt ở sự hỗ trợ lẫn nhau nhằm cung cấp nhận thức mới cho cả người lên lớp và người dự giờ.

Kết quả kiểm tra chính là hiệu quả của quá trình đào tạo, kết quả này là sự chuyển biến nhân cách của sinh viên theo mục đích đào tạo. Kết quả này được đánh giá cụ thể qua đánh giá kết quả học tập và giáo dục trong thời gian huấn luyện. Đứng về mặt quản lý đào tạo, kết quả đánh giá đào tạo thông qua hiệu quả đào tạo, hiệu quả tốt nghiệp cuối khóa huấn luyện.

Hiệu quả đào tạo là tổng số học viên tốt nghiệp trên tổng số học viên tuyển vào đầu khóa học  Hđt = Ttn/Ttv (Hđt: hiệu quả đào tạo, Ttv: tổng số tuyển vào; Ttn : tổng số học viên tốt nghiệp), phản  ánh  kết quả về số lượng của quá trình đào tạo.

Hiệu quả tốt nghiệp là tổng số học viên tốt nghiệp trên tổng số học viên cuối khóa học Htn = Ttn/Tck  (Htn : hiệu quả tốt nghiệp; Ttn: tổng số tốt nghiệp; Tck: tổng số cuối khóa), phản ánh kết quả về số lượng của một khóa học ở giai đoạn cuối cùng thi tốt nghiệp.

Hiệu quả cuối khóa là tổng số học viên cuối khóa trên tổng số học viên tuyển vào Hck = Tck/Ttv (Hck: hiệu quả cuối khóa; Tck : Tổng số cuối khóa; Ttv: tổng số tuyển vào), phản ánh mức độ lựa chọn học viên từ khi tuyển sinh đến khi tốt nghiệp.

Ba loại hiệu quả này có mối quan hệ với nhau theo phương trình sau: Hđ = HtnxHck và bao giờ trị số này cũng là thấp nhất. Hiệu quả đào tạo còn được hiểu là mức độ phù hợp giữa phẩm chất và năng lực  học viên tốt nghiệp với yêu cầu của thị trường lao động. Nếu mức độ phù hợp cao thì hiệu quả đào tạo cao.

1.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Nội dung quan trọng của quản lý quá trình thực hiện mục tiêu đào tạo là quản lý quá trình thực hiện các tiêu chí chất lượng của mục tiêu.

Các tiêu chí mục tiêu đào tạo được thể hiện trong các văn bản giáo dục- đào tạo. Quản lý quá trình thực hiện mục tiêu đào tạo là quản lý quá trình thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục, đào tạo. Kế hoạch đào tạo toàn khoá là văn bản thể hiện các hoạt động đào tạo trong toàn bộ khoá học, phân chia thời gian từng môn học theo từng học kỳ và thể hiện lôgic các môn học trong toàn khoá. Trên cơ sở kế hoạch đào tạo toàn khoá, nhà trường triển khai lịch huấn luyện theo học kỳ, quý, tháng, tuần. Kế hoạch tổ chức toàn khoá do giám đốc, hiệu trưởng ký  chịu trách nhiệm, cấp quản lý trực tiếp phê chuẩn.

Kế hoạch đào tạo toàn khoá phải xác định rõ các nội dung về: khoá, ngành đào tạo; thời gian; số lượng học viên, lớp; mục tiêu đào tạo; yêu cầu đào tạo; tính toán thời gian chung; lịch huấn luyện toàn khoá; phân phối thời gian học; thực tập, diễn tập; chuyên đề, tiểu luận môn học; thi tốt nghiệp, đồ án, khoá luận; huấn luyện bổ sung

Quản lý mục tiêu, chương trình, nội dung. 

Quản lý mục tiêu, chương trình và kế hoạch giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên được xác định ngay từ đầu khóa học, thực hiện trên cơ sở các văn bản quy định, các cơ quan chức năng của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Việc quản lý mục tiêu, chương trình, kế hoạch, giáo dục thực hiện quản lý trong phạm vi cấp mình và cấp dưới.

Quản lý nội dung giáo dục quốc phòng – an ninh bao gồm toàn bộ hệ thống kiến thức quân sự, chính trị, kỹ thuật, điều lệnh…, các giá trị chuẩn mực, kỹ xão, kỹ năng cần trang bị cho sinh viên để góp phần hình thành các phẩm chất nhân cách cần thiết. Quản lý nội dung đặc biệt chú ý quản lý về chất lượng, số lượng thông tin trong dạy học, trên cơ sở đó nắm vững thực trạng để kịp thời điều chỉnh, bổ sung nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu thực tế.

Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên.  

Quản lý công tác chuẩn bị lên lớp: Việc chuẩn bị bài lên lớp có chất lượng cần chỉ đạo và hướng dẫn giáo viên cụ thể các yêu cầu về chuyên môn, nội dung, quy trình và các bước cần thiết của việc soạn giáo án nhằm hỗ trợ giáo viên chuẩn bị giờ lên lớp có hiệu quả, cần bố trí thời khóa biểu của từng lớp một cách khoa học, phù hợp chuyên môn và khung chương trình quy định. Việc sắp xếp thời khóa biểu hợp lý sẽ giúp giáo viên chủ động công việc và có thời gian chuẩn bị giáo án, bài giảng tốt nhất.

Thông qua tổ khoa, chỉ đạo giảng viên nghiên cứu và xác định yêu cầu trọng tâm của từng chương trình đào tạo; mục đích và nội dung chuyên môn của từng phân môn… nhằm giúp giảng viên chủ động lựa chọn phương pháp tổ chức dạy học phù hợp trong việc chuẩn bị, thiết kế bài giảng.

Quản lý giờ lên lớp: Chất lượng giờ lên lớp có ý nghĩa quan trọng, quyết định chất lượng dạy học. Giờ lên lớp phản ánh trình độ, khả năng, phương pháp và hiệu quả dạy học của mỗi giảng viên. Cần quan tâm chỉ đạo đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên thông qua việc nắm bắt tình hình dạy học, kiểm tra sổ đầu bài, dự giờ, lắng nghe ý kiến phản hồi của học viên thông qua các kênh thông tin khác nhau như đối thoại, gặp trực tiếp sinh viên, qua phiếu điều tra, thùng thư góp ý… từ đó tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời.

Quản lý công tác kiểm tra đánh giá: Chỉ đạo việc thực hiện nghiêm túc quy chế và các văn bản hướng dẫn về công tác kiểm tra, đánh giá của Bộ, Ngành và các cấp quản lý. Chỉ đạo từ khâu tổ chức xây dựng đến thực hiện các quy trình và tiêu chí kiểm tra, đánh giá bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ, khách quan.

Chỉ đạo khâu ra đề thi: Đề thi cần bám sát nội dung chương trình quy định, bảo đảm các yêu cầu và chất lượng chuyên môn của từng phân môn. Cơ cấu đề thi phải hợp lý về thời gian và mức độ khó dễ nhằm đánh giá đúng thực chất kiến thức và kỹ năng của sinh viên. Công tác coi thi, chấm thi cần thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế nhằm bảo đảm cho sinh viên độc lập làm bài và phát huy được những năng lực vốn có của bản thân. Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

Công tác kiểm tra đánh giá nếu được tổ chức chặt chẽ, chính xác sẽ giúp cho nhà quản lý nắm chắc được thực trạng tình hình dạy học để có các biện pháp quản lý kịp thời để nâng cao chất lượng giáo dục.

Quản lý hoạt động học của sinh viên.

Sinh viên học tập tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về đối tượng, thành phần. Hầu hết sinh viên tuổi đời còn rất trẻ từ 18 đến 23 tuổi, mang đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi thanh niên, đời sống tinh thần của sinh viên luôn nhạy cảm với cái mới nhưng còn nhiều hạn chế về vốn sống, kinh nghiệm và chưa được rèn luyện qua thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn hoạt động quân sự.

Những đặc điểm trên có ảnh hưởng sâu sắc đến việc quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh  cho sinh viên, các chủ thể quản lý cần nắm chắc số lượng, chất lượng và các mối quan hệ chính trị xã hội khác, tổ chức tốt các hoạt động nhằm xây dựng động cơ, thái độ học tập. Xây dựng nề nếp, kỷ cương trong hoạt động học tập của sinh viên theo quy trình thống nhất, đồng bộ; tăng cường giáo dục ý thức, động cơ và mục đích học tập đúng đắn cho sinh viên từ đó tạo cho các em sự hứng thú, say mê trong học tập. Thường xuyên quan tâm, chỉ đạo việc theo dõi tình hình học và mức độ tiến bộ của sinh viên trong suốt quá trình học tập như: tự học, chuẩn bị bài tập ở  nhà, xây dựng bài mới, kết qủa thực hiện các bài kiểm tra định kỳ. Quản lý việc giúp đỡ sinh viên yếu kém, bồi d­ưỡng sinh viên giỏi. Thường xuyên nắm bắt thông tin, ý kiến phản hồi của sinh viên về thuận lợi, khó khăn, về chất lượng dạy học.

Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học – giáo dục.

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, môi trường và các điều kiện hỗ trợ dạy học đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Theo quan điểm kinh tế đào tạo hiện đại, hàm sản xuất Cobb- Douglas được vận dụng trong lĩnh vực đào tạo:

Q = A.La.Kb

Trong đó A,a,b là những hằng số

L: lao động là trình độ học thuật của giảng viên

K: vốn đầu tư chính là cơ sở vật chất phù hợp với đào tạo quân sự

Cơ sở vật chất của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh bao gồm: các loại phòng, sân bãi tập, các thiết bị giảng dạy, các loại khí tài. Do vậy cần quản lý tốt cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có về mặt số lượng, chất lượng và chủng loại để có kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lý trong phục vụ dạy học. Kế hoạch hóa công tác bổ sung, nâng cấp, khai thác cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng lâu dài, gắn với yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục đào tạo, định hướng và chiến lược phát triển của Trung tâm. Thường xuyên tiến hành kiểm tra việc duy trì, bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để kịp thời sửa chữa, bổ sung, uốn nắn những bất cập trong quá trình sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đặc biệt là các loại khí tài nhằm bảo đảm phục vụ tốt nhất chất lượng dạy học. Triển khai các biện  pháp đồng bộ: tổ chức hình thức thi đua, khen thưởng nhằm động viên, khuyến khích các cá nhân, tập thể thường xuyên sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong nâng cao chất lượng dạy học. Đồng thời, xây dựng các biện pháp chế tài đa dạng, phù hợp với đặc điểm của Trung tâm như phương pháp tổ chức hành chính,phương pháp giáo dục như: phê bình, nhắc nhở, kỷ luật hoặc thưởng phạt…đối với các cá nhân, tập thể chưa có ý thức cao trong công tác giữ gìn và bảo vệ thiết bị dạy học đặc biệt là khí tài.

Giáo dục quốc phòng – an ninh là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, thường xuyên và mang tính cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng nước ta. Giáo dục Quốc phòng – an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học là một nội dung quan trọng của nền Giáo dục quốc gia, một nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện chiến lược xây dựng nền Quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học là một lực lượng hùng hậu, nguồn nhân lực chất lượng cao trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh việc trang bị kiến thức văn hoá, khoa học, công nghệ thiết thực phục vụ cho xây dựng và phát triển đất nước còn phải tiến hành giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên. Có như vậy, sinh viên mới đủ khả năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học nói chung, ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng mang tính đặc thù về cả nội dung chương trình, hình thức tổ chức, phương pháp giảng dạy lẫn đội ngũ cán bộ, giảng viên và cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Công tác quản lý hoạt động này bị chi phối bởi cơ chế, chính sách; trách nhiệm và năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, giảng viên và các mặt bảo đảm cho công tác giáo dục quốc phòng – an ninh của Trung tâm. Kết quả nghiên cứu những vấn đề cơ bản trên là những cơ sở sát thực để đánh giá đúng thực trạng, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trung tâm. Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Tổng quan về quốc phòng tại trường VNU-HCM

One thought on “Luận văn: Giáo dục quốc phòng an ninh tại Đại học VNU-HCM

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý quốc phòng tại VNU-HCM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464