Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nhu cầu, định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Nhu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
3.1.1. Nhu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
- Hội nhập kinh tế quốc tế đi liền với sự phát triển ngày càng sâu rộng của các quan hệ xã hội
So với thời kỳ trước thì thế kỷ XXI là thế kỷ của hội nhập quốc tế và giao lưu thương mại. Quyền con người được bảo đảm và đưa lên một tầm cao mới. Đất nước hội nhập và giao lưu vào các Diễn đàn lớn trên thế giới như Cộng đồng kinh tế ASEAN, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do (FTA), Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM)…. Đó là điều kiện và cũng là thách thức cho cơ hội phát triển của nước ta. Điều kiện kinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó cần có sự hoàn thiện về khung pháp lý trong các quan hệ xã hội. Vợ chồng càng có nhiều điều kiện chăm sóc gia đình cũng như chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế gia đình phát triển dựa vào việc kinh doanh nhưng vẫn thực hiện được quyền và nghĩa vụ chăm sóc nhau và chăm sóc gia đình nói chung.
Theo quan niệm truyền thống của xã hội Việt Nam thường “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, do đó chủ thể đứng ra gánh vác kinh tế cho gia đình nhiều khi mặc định cho người chồng, còn vợ chỉ lo công việc nội trợ và chăm sóc gia đình. Mặc dù xã hội ngày càng phát triển và quan niệm đó vẫn còn tồn tại nhưng đã có những chuyển biến tích cực. Ngày nay vợ chồng đều bình đẳng trong việc tham gia vào hoạt động kinh doanh và mang lại những giá trị vật chất cho gia đình và xã hội. Nhưng để cân bằng lợi ích, vấn đề đại diện cũng được đặt lên cao trong việc vợ chồng sử dụng tài sản dù chung hay riêng để tham gia vào quan hệ kinh doanh. Đại diện không chỉ bảo đảm quyền lợi cho người có tài sản không trực tiếp tham gia được các quan hệ kinh doanh mà nó còn làm gia tăng thu nhập cho gia đình, đảm bảo cuộc sống được đầy đủ hơn và tạo điều kiện cho vợ chồng có điều kiện chăm lo cho gia đình. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Với yêu cầu, cơ sở hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh thì những quy định của pháp luật cần được xây dựng trên cơ sở: Quy định về đại diện giữa vợ và chồng nói chung và đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh nói riêng cần được thống nhất và đồng bộ, tránh sự chồng chéo. Luật chuyên ngành quy định chi tiết các nội dung liên quan đến ngành luật đang điều chỉnh nhưng phải phù hợp với luật chung cũng như các luật chuyên ngành khác.
- Đảm bảo và tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, tự do của cá nhân mà Nhà nước đã xây dựng và pháp luật quy định.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [30, Điều 3].
Luật HN & GĐ 2014 quy định: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” [31, Khoản 1 Điều 2].
Mỗi công dân đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, tự do trong việc tạo lập công việc và bảo đảm lợi ích của mỗi cá nhân khi không trực tiếp tham gia vào các quan hệ kinh doanh nhưng lại sử dụng tài sản của mình thông qua người đại diện. Do đó việc hoàn thiện chế định pháp luật về đại diện càng cần được quan tâm.
Hội nhập và xã hội phát triển thì vấn đề đại diện là một chế định rất quan trọng và không thể thiếu trong giao lưu kinh tế, thương mại, dân sự. Việc quy định càng cụ thể, chặt chẽ thì quyền lợi các bên được đảm bảo, tránh việc lợi dụng những kẻ hở của pháp luật để áp trục lợi. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Mỗi cá nhân là một thực thể tạo nên xã hội, có đầy đủ quyền năng mà pháp luật cho phép. Quan hệ vợ, chồng hình thành dựa trên tình cảm hai bên dành cho nhau và tạo lập bằng chế định kết hôn. Ngoài việc có trách nhiệm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc thì vợ hoặc chồng cũng là những chủ thể trong đời sống xã hội, họ được thực hiện những quyền năng mà pháp luật cho phép bằng những hình thức nhất định. Các lợi ích này cần được phải được cân bằng để vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế cho gia đình, vừa đảm bảo được việc chăm sóc gia đình đẩy đủ, ổn định sự phát triển chung của xã hội.
Đối với những tài sản chung, vợ chồng có quyền bình đẳng với nhau trong việc thực hiện quyền sở hữu với tài sản đó. Nó thể hiện ở ba quyền năng: Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt phù hợp với quy định của pháp luật. Vợ chồng có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu chung, được quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như có quyền định đoạt đối với tài sản đó. Vợ, chồng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận trong việc sử dụng tài sản chung nhằm đảm bảo sao cho việc sử dụng, định đoạt nó mang lại nhiều lợi ích nhất cho cuộc sống chung của vợ chồng, đảm bảo nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình.
Thực tế ở nước ta hiện nay vẫn tồn tại khá phổ biến những tàn dư tư tưởng mang nặng định kiến trọng nam, khinh nữ, đề cai vai trò của người chồng, nhất là khu vực miền núi, nông thôn, người chồng quyết định tất cả các vấn đề trong gia đình, trong đó có quyền định đoạt tài sản. Do vậy việc thỏa thuận, bàn bạc trước khi xác lập giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là điều cần thiết để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân. Quy định khẳng định vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, được tự do lên tiếng và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Đối với những nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng, trong đó có việc sử dụng để kinh doanh thì vợ chồng cũng phải có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ phát sinh.
Tài sản chung của vợ chồng được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Do vậy, trong việc duy trì, phát triển khối tài sản chung không cần căn cứ vào sự đóng góp của vợ, chồng.
- Thực trạng thiếu sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật hiện hành, gây những khó khăn trong việc áp dụng vào thực tế.
Nhận thức sâu sắc về vai trò của pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng cho Việt Nam hội nhập với thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. [5]
Luật HN & GĐ 2014 mới đi vào thi hành thời gian chưa lâu, BLDS 2015 cũng sắp có hiệu lực thi hành. Nhiều quy định mới đã được ban hành, tuy nhiên trong quá trình áp dụng thực tiễn hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người dân cũng như phản ánh những lỗ hổng pháp lý hiện nay. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Một là: Tính hệ thống của pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là quy định của pháp luật dân sự. Những mâu thuẫn, chồng chéo hay khả năng áp dụng vào trong thực tế là một thực trạng xảy ra phổ biến. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, “qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành của cấp bộ và địa phương trong năm 2007, phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Năm 2008, kiểm tra 1.968 văn bản thì phát hiện 490 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (trong đó có 93 văn bản cấp bộ và 397 văn bản của địa phương). Như vậy, khoảng từ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm” [16].
Luật Hôn nhân và gia đình được xem là luật chuyên ngành, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản trong quan hệ hôn nhân, gia đình.
Chế độ tài sản được quy định trong luật Hôn nhân và gia đình là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến vợ chồng cũng như những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Việc điều chỉnh chế độ tài sản chung, tài sản riêng vào các giao dịch dân sự trong đời sống hàng ngày còn có nhiều hạn chế và chưa rõ ràng. Vì vậy mà khi có tranh chấp xảy ra giữa vợ và chồng đối với các giao dịch dân sự, thương mại thì luật chuyên ngành không giải quyết được và cần phải sử dụng các luật khác để giải quyết.
Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có nhiều quy định mới phù hợp với xu thế phát triển chung, tuy nhiên về cơ bản những điểm mới này vẫn ở mức độ quy định “chung chung”, mang tính chất khung mà chưa quy định được cụ thể và dẫn đến việc có những điều luật người đọc sẽ có những cách hiểu khác nhau và như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc áp dụng vào trong thực tiễn.
Hai là: Đại diện là một chế định quan trọng trong BLDS, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng có quy định về vấn đề đại diện giữa vợ và chồng, trong đó có đại diện trong quan hệ kinh doanh. Tuy nhiên việc quy định chỉ mới dừng ở mức khái quát, còn để đi sâu vào áp dụng khi có phát sinh tranh chấp đối với vấn đề đại diện trong quan hệ kinh doanh giữa vợ chồng và bên thứ ba thì Luật HN & GĐ chưa giải quyết được. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Đây cũng là hạn chế lớn không chỉ riêng ở Luật HN & GĐ mà còn là tình trạng chung của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh cụ thể, chi tiết thì pháp luật lại là văn bản pháp luật “khung”. Phần lớn các văn bản luật như vậy được giao cho Chính phủ ban hành nghị định để cụ thể hoá. Nhiều nghị định của Chính phủ lại giao cho bộ, ngành, địa phương hướng dẫn thực hiện. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa luật và văn bản hướng dẫn thi hành.
Nếu như Luật HN & GĐ năm 2000 chưa có quy định về vấn đề đại diện giữa vợ trong quan hệ hôn nhân thì trong Luật HN & GĐ 2014 đã dự liệu được quy định đó. Tuy nhiên việc áp dụng văn bản để giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ này nếu có tranh chấp xảy ra lại là các luật chuyên ngành khác hoặc BLDS. Là quan hệ được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật HN&GĐ, tuy nhiên đại diện giữa vợ và chồng nói chung và đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh nói chung lại còn nằm rải rác trong quy định của một số luật chuyên ngành và thực tế là có những mâu thuẫn mà khi áp dụng vào thực tiễn thì không biết là sẽ áp dụng quy định nào cho phù hợp. Là quy định mới nên có thể các tranh chấp phát sinh chưa có hoặc còn ít, tuy nhiên nếu chỉ quy định khung và không có hướng dẫn cụ thể trong việc áp dụng thì quy định cũng chỉ mới ở ngưỡng “đẹp” chứ “thực chất” đi vào chiều sâu thì lại chưa có.
Ba là: Tính dự báo của pháp luật hiện hành còn hạn chế, chưa dự liệu được những phát sinh có thể xảy ra trong tương lai. Đây là một thực trạng đáng buồn và cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân khách quan đó là việc chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường dẫn tới việc các quan hệ xã hội thay đổi nhanh, và pháp luật bị tụt hậu so với thực tiễn.
Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ việc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong một số trường hợp, lợi ích ngành, lợi ích địa phương hay lợi ích nhóm,…. được đặt lên trên, dẫn đến hệ quả đau lòng là các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội. Ngoài ra một nguyên nhân quan trọng nữa đó là việc e ngại, né tránh những vấn đề mới, thiếu tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển chung của kinh tế xã hội đất nước cũng như hệ thống pháp luật của đất nước. Nó chính là những căn cơ dẫn đến tình trạng sửa đổi, thay đổi luật liên tục. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Ví dụ đơn cử đó là đối với Bộ luật dân sự. Bộ luật dân sự là một bộ luật quan trọng, điều chỉnh rất nhiều quan hệ xã hội, là nguồn của các luật chuyên ngành. Tuy nhiên trong một thời gian ngắn, Bộ luật dân sự liên tục bị thay đổi, bổ sung. Và mới đây nhất là BLDS 2015 đã được Quốc hội thứ 13 thông qua ngày 24/11/2015 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 và thay thế cho BLDS 2005. Một bộ luật quan trọng như vậy nhưng tuổi đời chưa quá 15 năm và đã được thay đổi. Đây cũng là một trong những lực cản cho sự phát triển của kinh tế – xã hội.
Trong khi đó nhìn rộng ra thế giới có thể thấy việc thay đổi các văn bản luật là không nhiều. Có chăng là việc sửa đổi một số điều luật cho phù hợp với từng thời kỳ. Ví dụ Bộ luật dân sự Pháp (hay còn gọi là Bộ luật Napoléon) ra đời từ năm 1804 và nhiều phần cơ bản của bộ luật này vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay.
Bốn là: Vợ chồng trong quan hệ hôn nhân ngoài những tài sản hữu hình mà có thể nhìn thấy được thì có những loại tài sản vô hình mà BLDS, Luật doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ đã thừa nhận đó là các sản phẩm về sở hữu trí tuệ như tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc, biểu tượng, hình ảnh, thiết kế dùng trong thương mại……lại chưa thấy được nhắc đến. Nên khi có tranh chấp đến tài sản này thì lại vướng trong việc áp dụng pháp luật.
3.1.2. Định hướng hoàn thiện và bảo đảm việc thực thi các quy định của pháp luật pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
Dựa trên những thực trạng của hệ thống pháp luật hiện hành cần có những phương hướng hoàn thiện cụ thể để giải quyết được vấn đề “áp dụng pháp luật vào thực tế”, tác giả đưa ra một số định hướng như sau:
Thứ nhất, cần đảm bảo sự hài hòa về vấn đề đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình đối với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác trong hệ thống pháp luật.
Hệ thống pháp luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định.
Mỗi ngành luật điều chỉnh những mối quan hệ khác nhau của đời sống xã hội nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Sự phối hợp đó chi phối đến hoạt động của nền kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành luật đó. Hiện tại có một thực trạng đang diễn ra là “mạnh ai nấy chạy” giữa các luật chuyên ngành, có những quy định còn mâu thuẫn nhau dẫn đến việc không biết áp dụng quy định nào thì mới hợp tình, hợp lý. Nếu đảm bảo luật HN & GĐ thì có thể sẽ trái với quy định của luật chuyên ngành khác, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả hoạt động công việc.
Hiện nay, Việt Nam có hệ thống pháp luật rất phức tạp. Hệ thống này được đặc trưng bởi sự đồ sộ, rườm rà, rắc rối nhưng lại có quá nhiều kẻ hở và lỗ hổng, một hệ thống quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ gây cản trở và đè nặng lên người dân, doanh nghiệp, một hệ thống pháp luật thiếu tính thực tiễn, không có tính khả thi, thiếu sự minh bạch và không đi vào cuộc sống do quá trình xây dựng pháp luật thiếu tư duy, tầm nhìn, đầy cục bộ, thiếu công bằng và thể hiện lợi ích nhóm.
Chế định đại diện quy định trong phần chung của BLDS, và tùy thuộc vào phạm vi điều chỉnh của từng luật chuyên ngành mà có quy định cụ thể hơn trong chuyên ngành đó. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh được điều chỉnh bởi Luật HN & GĐ. Khi vợ chồng đại diện cho nhau để tham gia vào quan hệ kinh doanh đồng nghĩa với việc phải thực thi đúng quy định của luật chuyên ngành về kinh doanh như luật Doanh nghiệp, luật Thương mại….. Mặc dù Luật HN & GĐ đã có những có những quy định phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội, tuy nhiên xét trên tổng thể thì vẫn chưa mang tính dự báo lâu dài, chưa theo kịp diễn biến của quan hệ xã hội đang xảy ra. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Các văn bản luật chuyên ngành, trong đó có quy định về đại diện cần có sự thống nhất để đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật nói chung, cũng như việc áp dụng quy định về đại diện của vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh được phù hợp.
Thứ hai, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa quyền lợi của vợ chồng cũng như người thứ ba trong pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh.
Mặc dù quy định về đại diện giữa vợ và chồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ổn định đời sống gia đình cũng như sự phát triển chung của xã hội, nhưng những quy định của pháp luật cũng cần chú ý đến bảo vệ quyền lợi của những người có liên quan. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ kinh doanh đều muốn đạt được những lợi ích cao nhất. Nhưng pháp luật lại luôn muốn đảm bảo được sự cân bằng là mục đích hướng tới nhằm tạo sự hài hòa giữa các nhóm lợi ích khác nhau.
Mỗi công dân đều có quyền bình đẳng trên mọi phương diện từ cuộc sống cho đến kinh doanh, trừ những trường hợp bị hạn chế theo quy định của pháp luật. Ai cũng có quyền kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm nhằm mang lại thu nhập cho mình cũng như đối tác trong kinh doanh. Quy định của pháp luật tạo điều kiện cho vợ chồng được đại diện cho nhau trong quan hệ kinh doanh tức là vừa phát triển được kinh tế, vừa tạo điều kiện chăm sóc gia đình. Nhưng không có nghĩa vì thế mà vợ chồng đại diện cho nhau được hưởng những quyền lợi cao hơn so với người giao dịch với mình. Cơ chế của pháp luật luôn là tạo điều kiện thuận lợi và tạo sự cân bằng cho tất cả các bên.
Thứ ba, cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, sửa đổi những điểm chưa hợp lý và bổ sung những điểm còn thiếu trong các quy định của pháp luật.
Các quy định mới của Luật HN & GĐ về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh đã phần nào đáp ứng được thực tiễn đời sống giao lưu dân sự ngày càng phong phú. Tuy nhiên, các chủ thể sẽ gặp không ít khó khăn để hiểu đúng nội dung cũng như để thực thi đúng các quy định của pháp luật. Vì vậy, việc có văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định mới của pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, cần có những sửa đổi chưa hợp lý, thiếu tính thuyết phục về mặt lý luận cũng như thực tiễn và bổ sung, dự liệu những trường hợp có thể xảy ra trong thực tế. Việc sửa đổi, bổ sung cần xem xét trong mối tương quan với các ngành luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, BLDS… và phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của các văn bản pháp luật.
Thứ tư, quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh cần đảm bảo tính khả thi trong quá trình hội nhập, xây dựng nền kinh tế thị trường. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Xu hướng phát triển hiện nay là toàn cầu hóa, hợp tác giữa các khu vực, quốc gia trên thế giới dựa trên những cam kết, quy định pháp luật quốc tế được các quốc gia thừa nhận. Việc hợp tác dựa trên sự tôn trọng, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau. Trong sân chơi toàn cầu, đòi hỏi mọi thứ phải được chuẩn bị kỹ càng. Có thể thấy rằng hiện nay những quy định của pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập rất lớn này. Nguyên nhân có thể thấy đó là do lượng văn bản quy phạm pháp luật quá nhiều, tính minh bạch bị “bỏ quên”, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật rườm rà, không hợp lý, trình tự thủ tục lấy ý kiến góp ý cho dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chỉ làm cho đủ thủ tục mà chưa mang lại hiệu quả, hiệu lực thi hành của văn bản quy phạm pháp luật còn yếu. Đây là rào cản lớn cho việc hội nhập của nước ta.
Ngay trong quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong kinh doanh cũng cần được quy định hoàn chỉnh và cụ thể hơn để có thể theo kịp sự vận động không ngừng của xã hội, của thế giới.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cũng như bảo đảm cho việc thực thi các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Việc quy định cũng như áp dụng các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ hôn nhân, cũng như góp phần vào việc xây dựng ổn định kinh tế cho gia đình, những tế bào của xã hội. Tuy nhiên qua thực tiễn cuộc sống cho thấy quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản pháp luật chuyên ngành khác về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh chưa thực sự được đảm bảo thực thi trên thực tế. Sở dĩ như vậy bởi vì nhiều nguyên nhân như sự thiếu hiểu biết của người dân, các quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong Luật HN&GĐ còn chưa rõ ràng, thiếu tính hợp lý, chồng chéo với các văn bản pháp luật khác dẫn đến việc có nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho người thực hiện, khi có tranh chấp pháp lý thì khó giải quyết cho hợp lý. Từ những hạn chế còn tồn tại trong quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh cũng như tìm ra nguyên nhân của việc áp dụng không thống nhất các quy định của pháp luật về vấn đề đại diện, tác giả xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, Lần đầu tiên Luật HN &GĐ 2014 đã đưa quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh vào quy định của pháp luật. Theo Khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác. Tuy nhiên luật không quy định cụ thể là thỏa thuận được lập dưới hình thức nào. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc đại diện của vợ, chồng trong kinh doanh. Vợ chồng được đại diện hợp pháp cho nhau tức là đại diện theo pháp luật đối với các giao dịch có liên quan đến tài sản mà vợ chồng dùng để kinh doanh chung. Tại Điều 36 Luật HN & GĐ 2014 cũng chỉ quy định trong trường hợp vợ chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì cần có sự thỏa thuận lập thành văn bản. Sự mập mờ trong quy định sẽ dẫn tới việc “loạn” cách hiểu và xử lý hậu quả thực sự là một bài toán khó. Do vậy tác giả đề xuất pháp luật nên quy định các vấn đề về thỏa thuận đại diện giữa vợ, chồng trong quan hệ kinh doanh được lập thành văn bản có công chứng (tại Phòng/Văn phòng Công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn) nhằm tránh các mâu thuẫn phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tố tụng trong việc giải quyết các hậu quả pháp lý nếu có phát sinh.
Thứ hai, Hiện nay theo quy định của BLDS 2005 thì việc xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đều dựa vào kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
Thực tiễn có thể thấy sau khi có kết luận của cơ quan chuyên môn thì người có quyền, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự. Việc xem xét hồ sơ của Tòa án được thực hiện theo thủ tục Tố tụng.
Tuy nhiên có nhiều trường hợp người bị giám định đã khiếu nại đối với kết quả giám định của cơ quan chuyên môn. Trong trường hợp nếu việc giám định xảy ra trước hoặc sau khi Tòa án ra quyết định thì hậu quả pháp lý sẽ rất khác nhau, ảnh hưởng quyền lợi của người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự nếu họ ngay tình.
Ví dụ sau có thể là một trong những thực tế có thể xảy ra hiện nay:
- Nội dung vụ việc: Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Bà Trần Thị A và ông Nguyễn Văn B đăng ký kết hôn năm 1998. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 và Nguyễn Văn D, sinh năm 2001.
Ngày 28/8/2013, bà A có Đơn gửi Toà án nhân dân yêu cầu “tuyên bố ông Nguyễn Văn B mất năng lực hành vi dân sự” vì cho rằng ông B bị bệnh tâm thần và đề nghị Toà án công nhận bà Trần Thị A là người giám hộ đương nhiên của ông Nguyễn Văn B (ông B được hưởng chế độ trợ cấp tâm thần hàng tháng từ năm 2008 và ông B là người trực tiếp nhận tiền trợ cấp tại UBND phường X).
Đồng thời bà A có lập Giấy uỷ quyền ngày 28/8/2013, uỷ quyền cho ông Đoàn Văn M được liên lạc và làm việc với Toà án để thực hiện thủ tục tuyên bố ông B mất năng lực hành vi dân sự.
- Ngày 06/9/2013 Toà án ra Thông báo thụ lý vụ việc.
Ngày 11/9/2013 Toà án ra Quyết định trưng cầu giám định số 17/2013/QĐ-TCGĐ về việc: “Trưng cầu Trung tâm giám định pháp y tâm thần Đà Nẵng thực hiện việc giám định: Tình trạng sức khoẻ tâm thần và khả năng nhận thức, thực hiện hành vi dân sự của ông B”.
Ngày 13/9/2013, Trung tâm giám định pháp y tâm thần Đà Nẵng đã có Bản giám định pháp y tâm thần số 93/BB-TTPYTT kết luận: Ông Nguyễn Văn B bị Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0).Vì vậy, hiện tại ông Nguyễn Văn B mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dân sự. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Ngày 23/9/2013 Toà án ra Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, ấn định thời gian mở phiên họp vào ngày 26/9/2013.
Đến ngày 25/9/2013 ông B có đơn khiếu nại (viết tay ) gửi Chánh án TAND, Thẩm phán giải quyết vụ việc và Viện trưởng VKSND cùng cấp về việc: Toà án không gửi Thông báo thụ lý, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định, Quyết định mở phiên họp cho ông B là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ông B còn cho rằng kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y tâm thần Đà Nẵng là không đúng sự thật và đề nghị Toà án ra Quyết định trưng cầu giám định lại đối với ông, đồng thời đề nghị Toà án bác đơn yêu cầu của bà VKS đã mời ông B lên làm việc để làm rõ nội dung khiếu nại, qua quá trình làm việc, tiếp xúc với ông B thì thấy ông B có khả năng nhận thức được các sự việc, có ý thức và điều khiển được hành vi của mình.Ngoài ra ông B còn trực tiếp khiếu nại vụ việc khác liên quan đến việc ông bị một người đàn ông đánh gây thương tích.
Do có đơn khiếu nại của ông B nên Toà án đã dời thời điểm mở phiên họp để giải quyết đơn khiếu nại của ông B.
Ngày 30/9/2013 Toà án ra Quyết định trưng cầu giám định lại, trưng cầu Trung tâm giám định pháp y tâm thần tỉnh Thừa Thiên Huế để giám định năng lực hành vi dân sự của ông B. Tuy nhiên ông B không chịu nộp tiền tạm ứng chi phí giám định lại bởi theo ông là do Toà án và Trung tâm giám định pháp y tâm thần Đà Nẵng đã làm sai, không tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng và đã ban hành kết luận giám định không đúng sự thật thì phải chịu trách nhiệm, ông không có trách nhiệm nộp tiền để giám định lại [20].
- Nhận xét vụ việc:
Khoan xét đến vấn đề ai đúng, ai sai trong vụ việc này. Vấn đề mà tác giả muốn đề cập đến trong vụ việc này đó chính là vấn đề giám định đối với người bị đề nghị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Luật giám định tư pháp 2012 cũng đã quy định về việc những cơ quan có thẩm quyền giám định tư pháp.
Thủ tục tố tụng sẽ căn cứ vào kết quả giám định của cơ quan chuyên môn cũng như yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan để tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Nếu khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người còn lại yêu cầu Tòa án tuyên bố để trở thành người giám hộ/ người đại diện cho vợ hoặc chồng mình để giải quyết các công việc phát sinh trong đời sống sinh hoạt của gia đình cũng như các giao dịch dân sự với bên thứ ba.
Tuy nhiên cũng có những trường hợp trong quan hệ vợ chồng có mâu thuẫn hoặc vì lợi ích cá nhân mà người còn lại sẽ có những hành vi không phù hợp với chuẩn mực. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Vì vậy trong phạm vi luận văn này xin đưa ra ý kiến là khi giám định vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thì ngoài các yêu cầu về chuyên môn (như dựa vào các kết quả xét nghiệm, thực nghiệm….) theo quy định của pháp luật thì cần tìm hiểu thêm ý kiến của cộng động dân cư, tổ chức xã hội nơi mà người cần giám định sinh sống. Nó là một yếu tố vô cùng cần thiết vì đây là những người sống gần gũi, thường xuyên với người cần giám định. Họ sẽ có nhận xét khách quan ngoài yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, giúp cho cơ quan có chuyên môn đưa ra kết luận đúng về người cần được giám định, tránh sai sót và đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên.
Thứ ba, Theo khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 thì vợ chồng là đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh. Quy định này thừa nhận vợ chồng có thể thay mặt nhau thực hiện mọi giao dịch liên quan đến khối tài sản mà vợ chồng kinh doanh chung. Tuy nhiên đây là một quy định khi áp dụng vào thực tế còn có nhiều bất cập.
Như đã phân tích ở Chương II, với việc loại trừ khoản 2 thì khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 xác định trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung ở đây là bằng tài sản riêng. Và vợ hoặc chồng là đại diện của nhau trong quan hệ kinh doanh đó. Đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nào làm rõ về vấn đề này.
Tuy nhiên có những quan hệ kinh doanh còn chịu ảnh hưởng của luật chuyên ngành khác mà trong đó việc đại diện đương nhiên này không phù hợp với bản chất của quan hệ.
Mặt khác, có những giao dịch mà vợ hoặc chồng vì lợi dụng quy định này mà đại diện cho người còn lại thực hiện các giao dịch vì mục đích cá nhân, ảnh hưởng đến quyền lợi của người còn lại cũng như ảnh hưởng đến người thứ ba ngay tình.
Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên cũng như đảm bảo quy định của pháp luật được chặt chẽ hơn, tác giả kiến nghị đối với khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ 2014 cần quy định vợ chồng phải lập thỏa thuận cam kết về việc đại diện hoàn toàn vì mục đích chung, không vì lợi ích riêng của bản thân. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Thứ tư, Như đã phân tích ở chương 2, kinh doanh chung của vợ chồng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Và điều này sẽ dẫn đến việc áp dụng và giải quyết vụ án khác nhau. Vì vậy, nên có hướng dẫn cụ thể và cách hiểu thống nhất về khái niệm “kinh doanh chung” của vợ chồng. Theo tác giả, có thể đưa khái niệm vợ chồng kinh doanh chung như sau: “Kinh doanh chung là việc vợ chồng cùng thực hiện hoạt động kinh doanh bằng tài sản riêng hoặc vợ chồng thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh và do một người trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh”.
Thứ năm, Quy định hiện hành cũng chỉ mới quy định về việc vợ chồng có quyền thỏa thuận trước khi tham gia quan hệ kinh doanh. Tuy nhiên có những vấn đề phát sinh trong quá trình sau khi tham gia vào quan hệ kinh doanh đó. Vì vậy tác giả kiến nghị cần có quy định về thỏa thuận sau khi kinh doanh chung, tuy nhiên cần quy định rõ “Trong quá trình kinh doanh, vợ chồng có quyền thỏa thuận bằng văn bản đối với giao dịch đang thực hiện nhằm đảm bảo quyền lợi của hai bên cũng như bên thứ ba” và “Trường hợp có thỏa thuận hoặc thỏa thuận mới sau khi tham gia quan hệ kinh doanh, các bên phải có trách nhiệm thông báo cho bên thứ ba biết về thỏa thuận hoặc thỏa thuận mới. Nếu không thông báo với bên thứ ba thì thỏa thuận đó không được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp xảy ra”.
Thứ sáu, nên có quy định về đại diện hiển nhiên, thẩm quyền đại diện hiển nhiên của người đại diện.
Vợ chồng có quyền đại diện cho nhau theo quy định của Luật HN & GĐ để xác lập quan hệ kinh doanh với bên thứ ba. Nếu việc đại diện hoàn toàn là ý chí của vợ chồng thì quyền lợi của hai bên sẽ được bảo đảm. Tuy nhiên vấn đề ở chỗ làm thế nào để bên thứ ba có thể biết được rằng, người mà mình đang giao dịch có thẩm quyền hay đã được ủy quyền hợp lệ hay chưa? Có những trường hợp vợ hoặc chồng lợi dụng quy định về đại diện đương nhiên để xác lập giao dịch với bên thứ ba và làm cho họ tin tưởng một cách hợp lý về thẩm quyền đại diện cho mình và thực hiện giao dịch. Trong trường hợp đó, người được đại diện không thể phủ nhận quan hệ đại diện và bị ràng buộc vào giao dịch mà người đại diện đã ký kết. Bên thứ ba có quyền suy luận một cách hợp lý rằng vợ hoặc chồng có quyền đại diện cho người còn lại để thực hiện giao dịch. Sẽ không công bằng với bên thứ ba nếu người được đại diện từ chối thực hiện giao dịch vì lý do vợ hoặc chồng của mình không có thẩm quyền đại diện.
Ở một số quốc gia trên thế giới, nhằm mục đích bảo vệ bên thứ ba ngay tình, hệ thống pháp luật nhiều nước đã thiết lập nên nguyên tắc đại diện hiển nhiên. Tại Nhật Bản, BLDS Nhật Bản đã quy định 03 Điều luật rất quan trọng đó là “Đại diện biểu kiến”, “Đại diện biểu kiến khi vượt quá thẩm quyền” và “Đại diện biểu kiến khi hết thẩm quyền đại diện”.
Theo đó thì Điều 109 BLDS Nhật Bản quy định“Người khiến cho bên thứ ba tin tưởng rằng mình đã trao quyền đại diện nhất định cho một người khác phải chịu trách nhiệm cho hành vi trong phạm vi được cho là ủy quyền của người này đối với bên thứ ba”. Như vậy dù có hay không có hành vi ủy quyền, nếu người được đại diện khiến cho bên thứ ba tin rằng đã trao quyền đại diện cho vợ hoặc chồng của mình – người đại diện thì người này sẽ bị ràng buộc bởi giao dịch xác lập giữa người đại diện cho mình và bên thứ ba trong phạm vi được cho là ủy quyền đại diện. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Thực tiễn pháp luật ở nước ta cũng đã có quy định về việc hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện bằng việc người được đại diện phải chịu trách nhiệm đối với phần vượt quá phạm vi đại diện nếu họ đồng ý hoặc biết mà không phản đối. Đây là quy định bảo vệ quyền lợi của bên ngay tình trong giao dịch. Tuy nhiên, cách tiếp cận lại không đủ và không hợp lý vì bảo vệ thái quá người được đại diện, coi nhẹ lợi ích của bên thứ ba ngay tình. Đó là việc yêu cầu bên thứ ba phải chứng minh rằng người được đại diện đã đồng ý hoặc biết mà không phản đối. Đây là việc hoàn toàn không dễ dàng và hoàn toàn không có tính khả thi vì quan hệ nội bộ của vợ chồng người bên ngoài rất khó xác minh. Đây là quy định khác với thông lệ của quốc tế khi xem xét vấn đề từ người được đại diện có lỗi hay không.
Vì vậy trong phạm vi luận văn này, tác giả đề nghị pháp luật Việt Nam nên có quy định về đại diện hiển nhiên, thẩm quyền đại diện hiển nhiên của người đại diện. Theo đó, khi người được đại diện đã có hành vi làm cho người thứ ba tin tưởng một cách hợp lý một chủ thể nào đó là có thẩm quyền đại diện thì người được đại diện không thể phủ nhận thẩm quyền đại diện của chủ thể đó, cũng như chịu sự ràng buộc với giao dịch hoặc công việc mà người đại diện có thẩm quyền đại diện hiển nhiên đã thực hiện. Quy định này không chỉ áp dụng trong các giao dịch vợ chồng đại diện cho nhau mà nên được quy định để áp dụng trong các giao dịch của các pháp nhân khi ủy quyền cho nhân viên thực hiện các giao dịch với bên thứ ba.
Thứ bảy, Về đại diện đương nhiên khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự.
Theo quy định của BLDS 2005 thì khi một người bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại đương nhiên trở thành người giám hộ chăm sóc, đại diện trong các giao dịch dân sự.
Tuy nhiên khi vợ chồng kinh doanh chung theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 nếu vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại trở thành người đại diện đương nhiên và được quyền quyết định các giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh đó. Nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị tẩu tán tài sản của người đại diện bằng việc kê khai kinh doanh thua lỗ,….. Mặc dù BLDS 2005 quy định về khi thực hiện các giao dịch có giá trị lớn thì phải được sự đồng ý của giám sát giám hộ. Như vậy giữa quy định của Luật HN & GĐ và BLDS đã có điểm mâu thuẫn. Vậy áp dụng quy định nào thì mới là hợp lý?
Trong phạm vi luận văn này, tác giả kiến nghị việc BLDS và Luật HN & GĐ nên quy định cụ thể hơn về các trường hợp khi vợ chồng kinh doanh chung và một trong hai người bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại không thể đương nhiên trở thành người đại diện đương nhiên mà sẽ là người được thực hiện các giao dịch khi giá trị không quá lớn. Đối với những giao dịch có giá trị lớn cần phải được sự đồng ý của những người giám sát giám hộ. Quy định này đảm bảo sự hài hòa giữa quy định của Luật chuyên ngành và luật chung
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong chương 3, tác giả nêu lên nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật từ phía các chủ thể cũng như cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật, chỉ ra nguyên nhân cũng như hạn chế trong việc thực thi các quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Từ đó, đề ra các định hướng nhằm đảm bảo việc thực thi các quy định của pháp luật về đại diện nói chung cũng như đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Bên cạnh đó, đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng, đảm bảo sự thống nhất trong việc thực thi cũng như sự hài hòa giữa các luật chuyên ngành.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Xã hội ngày càng phát triển thì các quan hệ kinh tế ngày càng phong phú, đa dạng. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh là một chế định pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng đối với tài sản của mình cũng như của các chủ thể thứ ba trong giao dịch với vợ, chồng.
Qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội thì các quy định về đại diện nói chung và đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh có sự thay đổi, kế thừa cho phù hợp với sự vận hành của xã hội. Trước khi được quy định trong Luật HN & GĐ 2014 thì quan hệ đại diện này cũng đã xuất hiện nhưng được thực hiện thông qua những quy phạm đạo đức.
Xu thế hội nhập quốc tế đã tạo cơ hội cũng như thách thức không chỉ cho mỗi quốc gia mà còn đối với mỗi chủ thể. Các giao dịch liên quan đến quan hệ đại diện giữa các chủ thể ngày càng phong phú, trong đó có cả việc đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh có thể thấy được những điểm tích cực cũng như những hạn chế, bất cập của đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Đồng thời đưa ra kiến nghị và một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp luật đối với đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Hy vọng các kiến nghị và giải pháp này sẽ là một kênh tham khảo hữu ích để các nhà làm luật định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.
Đặc biệt trong bối cảnh đất nước còn khó khăn thì việc tham gia của vợ, chồng và tài sản của họ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng được khuyến khích để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển hôn nhân bền vững góp phần xây dựng đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc. Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh