Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh
2.1.1. Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự.
- Điều kiện để xác lập đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự.
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” [29, Điều 17].
Năng lực hành vi dân sự cùng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân tạo thành thuộc tính đầy đủ của năng lực chủ thể của cá nhân. Đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, cá nhân có quyền thực hiện những hành vi mà pháp luật không cấm.
- Năng lực hành vi dân sự của cá nhân có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, năng lực hành vi dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định. Việc quy định năng lực hành vi dân sự này dựa vào sự phát triển về độ tuổi và theo ý chí cũng như quan niệm của Nhà nước nhằm đảm bảo cho cá nhân khi có đủ năng lực hành vi dân sự ở từng giai đoạn khác nhau sẽ tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Ví dụ: Ở Việt Nam quy định về độ tuổi được kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đối với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Thứ hai, Mức độ năng lực hành vi dân sự được xác định theo độ tuổi. Vì vậy, ở mỗi độ tuổi khác nhau, cá nhân có những quyền năng khác nhau và khi đến một độ tuổi nhất định (tùy từng quốc gia) thì họ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nghĩa là cá nhân được thực hiện đầy đủ các hành vi mà pháp luật không cấm.
Việc quy định này không phải nhằm mục đích phân biệt quyền lợi của mỗi cá nhân mà nó phù hợp với quy luật phát triển tự nhiên về thể chất cũng như tâm sinh lý của mỗi người.
Ví dụ như trẻ em dưới 6 tuổi không thể tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa như một người đủ 18 tuổi được.
Thứ ba, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định và có thể bị mất hoặc bị hạn chế khi cá nhân còn sống [18, tr.66].
Nếu như năng lực pháp luật dân sự của mỗi cá nhân có từ khi sinh ra thì năng lực hành vi dân sự lại có từ khi cá nhân đạt một độ tuổi nhất định. Tuy nhiên trong quá trình sống họ có thể bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Nếu có căn cứ để khẳng định cá nhân không tự nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì những người có liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tuyên bố người đó bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự.
Khi bị mất năng lực hành vi dân sự thì các quyền năng thực hiện hành vi mà pháp luật cho phép bị gián đoạn và được thực hiện thông qua một người khác.
- Để xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự cần thỏa mãn đủ các điều kiện sau:
Theo quy định tại điều 22 BLDS 2005 thì người bị mất năng lực hành vi dân sự được hiểu là bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Việc không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình phải dựa trên kết luận của một tổ chức giám định. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Người có quyền, lợi ích liên quan sẽ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự dựa trên các kết luận của tổ chức giám định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi xem xét hồ sơ, Tòa án sẽ đưa ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của một cá nhân. Trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy sau khi tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự thì tình trạng pháp lý của họ sẽ giống như một người chưa đủ sáu tuổi.
Đối với trường hợp vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án thì người còn lại sẽ đương nhiên trở thành đại diện nếu đáp ứng đủ các điều kiện được quy định của BLDS 2005 (Điều 60 và Điều 62) và luật HN & GĐ 2014 (Khoản 3 Điều 2).
Theo quy định tại BLDS 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017 đối với điều kiện cá nhân được làm giám hộ (Điều 49) tách ra so với quy định tại Điều 60 BLDS 2005.
Để trở thành giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự thì trong trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015 thì vợ hoặc chồng sẽ trở thành người đại diện đương nhiên của người còn lại khi thỏa mãn điều kiện của cá nhân làm người giám hộ.
Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực” [34, khoản 2 Điều 48].
Như vậy BLDS 2015 đã có những điểm mới về việc lựa chọn người giám hộ là cá nhân. Đây là quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi của người được giám hộ dựa trên những giấy tờ pháp lý rõ ràng, tránh tình trạng mặc định áp dụng giám hộ đương nhiên khi người được giám hộ tại thời điểm mà có đầy đủ năng lực hành vi dân sự lựa chọn người giám hộ khác.
- Quyền và nghĩa vụ đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự.
Sau khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ “thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” [31, Khoản 1 Điều 19].
Với tư cách là người giám hộ thì vợ hoặc chồng sẽ là người đại diện đương nhiên cho người còn lại bị mất năng lực hành vi dân sự. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Ngoài các nghĩa vụ về chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ (khoản 1 điều 67 BLDS 2005) thì người giám hộ còn có nghĩa vụ “Quản lý tài sản của người được giám hộ”; “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ” [29, khoản 3 Điều 67].
Như vậy ở đây có thể thấy phạm vi đại diện trong quy định của BLDS 2005 và Luật HN &GĐ 2014 là thống nhất về quyền và nghĩa vụ.
Với tư cách là người giám hộ đương nhiên nên ngoài quyền và nghĩa vụ đối với các vấn đề khác thì vấn đề liên quan đến tài sản chung và tài sản riêng cũng thuộc trách nhiệm của người đại diện.
Luật HN & GĐ 2014 quy định: “1. Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.
- Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này” [31, Điều 25].
Luật HN &GĐ 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản” [31, Điều 36].
Khi nhắc đến quan hệ kinh doanh là nhắc đến việc xác lập một mối quan hệ mà ở đó các bên (ít nhất là hai bên) sử dụng tài sản hợp pháp để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Với việc loại trừ khoản 2 thì có thể hiểu rằng khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ xác định trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung ở đây là bằng tài sản riêng, còn khoản 2 là xác định vợ, chồng kinh doanh chung bằng tài sản chung. Là một quy định mới lần đầu tiên được đưa vào trong chế định luật HN& GĐ nên vẫn còn những vấn đề chưa làm rõ được bản chất. Quy định lại không đòi hỏi việc kinh doanh đó được xác lập dưới hình thức gì. Vô hình chung được hiểu rằng dù giao dịch đó được thực hiện bằng hành động, lời nói hoặc bằng văn bản đều được chấp thuận.
Sở hữu chung của vợ chồng đã được BLDS cũng như luật HN & GĐ quy định. Theo đó thì sở hữu chung gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. BLDS 2005 quy định sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Đến BLDS 2015 được quy định cụ thể hơn sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Đặc điểm của chế độ sở hữu chung vợ chồng là sự bình đẳng hoàn toàn đối với tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân, không phụ thuộc vào việc ai trực tiếp làm ra tài sản đó. Việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung mà pháp luật quy định phải tuân theo hình thức nhất định thì sự thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo.
Vợ chồng có quyền lựa chọn hình thức sở hữu tài sản theo luật định hoặc theo thỏa thuận, có thể có tài sản chung và tài sản riêng.
Đối với tài sản chung vợ chồng có quyền ngang nhau và có thể ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nó. Vì tài sản của vợ chồng là sở hữu chung theo phần có thể phân chia nên vợ chồng có quyền sử dụng tài sản chung đó vào kinh doanh bằng việc ủy quyền cho người còn lại đứng ra giao dịch hoặc tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đây đều là những quy định phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho cả vợ và chồng. Tuy nhiên việc lựa chọn chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân cũng dễ gặp phải những bất cập nhất định. Xã hội dù có văn minh, phát triển như thế nào, cho dù quan niệm về xã hội, kinh tế có đạt tầm cao văn minh như thế nào thì gia đình và quan hệ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng vẫn cần được củng cố và giữ gìn những giá trị mang tính đặc thù của nó, không nên phá vỡ, đó là sự hi sinh vì nhau và cùng chung lưng đấu cật trong việc xây dựng, quản lý và định đoạt tài sản chung, củng cố và nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, mà vợ chồng luôn luôn cố gắng để tạo nên sự bền chặt, gắn kết. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Hiện nay có rất nhiều quan hệ kinh doanh vợ chồng có thể cùng nhau thực hiện từ việc góp vốn kinh doanh nhỏ, góp vốn vào các doanh nghiệp để hưởng lợi tức, hoặc trực tiếp thành lập doanh nghiệp…. Mỗi loại hình lại có những quan hệ pháp luật chuyên ngành điều chỉnh khác nhau. Do đó không chỉ dựa vào quy định tại Luật HN&GĐ để áp đặt được lên các luật chuyên ngành khác.
Tuy nhiên các quy định về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh cũng phải dựa trên nguồn cơ bản là BLDS và Luật HN & GĐ để từ đó triển khai, áp dụng cho các luật chuyên ngành khác. Từ quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 thì có thể xác định những trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Vợ chồng sử dụng tài sản riêng của mình để kinh doanh chung nhưng việc kinh doanh đó không có văn bản xác nhận thì khi một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, người còn lại đương nhiên trở thành người giám hộ. Như vậy việc xác định tài sản riêng của người được giám hộ sẽ như thế nào nếu không bất cứ tài liệu gì chứng minh giá trị tài sản góp vốn của các bên.
Khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ thay mặt người quản lý và giải quyết các công việc phát sinh liên quan đến quan hệ kinh doanh chung đó.
Trong thực tiễn có rất ít trường hợp vợ chồng trước khi kinh doanh chung lập văn bản thỏa thuận về việc vợ hoặc chồng sẽ đại diện cho người còn lại khi xảy ra sự kiện ngoài ý muốn xảy ra. Do đó khi xảy ra sự kiện (mất năng lực hành vi dân sự) thì đương nhiên quyền giám hộ được giao cho người còn lại. Tuy nhiên giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh này sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người giám hộ. Luật cũng chưa dự liệu đối với trường hợp người đại diện lợi dụng quyền của mình để tẩu tán tài sản của người được giám hộ khi mà cơ chế giám sát việc giám hộ theo quy định của BLDS còn lỏng lẻo.
Thứ hai: Theo khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 trong trường hợp vợ hoặc chồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì người còn lại vẫn có quyền đại diện thực hiện các giao dịch liên quan đến quan hệ kinh doanh chung đó. Đây là một quy định mà còn có nhiều điểm chưa hợp lý. Người còn lại đương nhiên được đại diện thực hiện các giao dịch với bên thứ ba trong khi người vợ hoặc chồng vẫn còn đầy đủ năng lực hành vi dân sự mà không cần bất cứ văn bản ủy quyền nào. Vậy trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập giao dịch với bên thứ ba mà xảy ra hậu quả đối với bên thứ ba thì trách nhiệm thuộc về ai khi người còn lại không biết đến giao dịch này mặc dù luật cho phép. Bên thứ ba trong trường hợp này nếu ngay tình thì sẽ được giải quyết như thế nào. Vấn đề này hiện còn đang bỏ ngỏ và nếu xảy ra sẽ khó giải quyết cho bên thứ ba khi Luật HN&GĐ 2014 quy định vợ, chồng được đại diện cho nhau. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Luật HN & GĐ 2014 có quy định về việc đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp : “Vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi” [31, Khoản 2 Điều 26].
Như vậy có thể thấy điều khoản này mâu thuẫn với khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ về việc vợ chồng được đại diện cho nhau trong quan hệ kinh doanh.
Thứ ba, Trong trường hợp vợ chồng sử dụng tài sản để kinh doanh chung bằng việc góp vốn vào các doanh nghiệp và chỉ một người đứng tên đại diện để thực hiện các quyền năng có được từ việc góp vốn hoặc thành lập pháp nhân mới thì sẽ xảy ra nhiều quan hệ pháp lý mà Luật HN & GĐ 2014 chưa dự liệu được.
Vợ chồng dùng tài sản của mình để góp vốn vào doanh nghiệp và trở thành cổ đông trong công ty cổ phần, thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, thành viên hợp danh của công ty Hợp danh. Tài sản dùng để góp vốn trở thành tài sản của Công ty. Cái mà vợ chồng có là phần quyền năng đối với phần vốn góp đó. Các quyền đó bao gồm quyền được quản lý Công ty, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức cũng như chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp khi Công ty phá sản,….. Ở mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những quy định khác nhau. Do đó khi một thành viên của công ty rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì quy định áp dụng đối với từng trường hợp cũng sẽ khác nhau.
Đối với công ty cổ phần, trong Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định về đại diện trong trường hợp cổ đông bị mất năng lực hành vi dân sự mà chỉ có quy định là: “Trong trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó là cổ đông của công ty” [32, Khoản 3 Điều 126].
Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định: “Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của Công ty” [32, Khoản 5 Điều 13]. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Như vậy đối với trường hợp vợ hoặc chồng nắm giữ cổ phần trong công ty và không phải là thành viên của hội đồng quản trị thì có thể căn cứ vào BLDS 2005 và Luật HN& GĐ 2014 để xác định giám hộ đương nhiên quản lý phần quyền đối với số cổ phần đó.
Tuy nhiên trong trường hợp vợ hoặc chồng là người đại diện theo pháp luật của công ty Cổ phần mà bị mất năng lực hành vi dân sự thì theo quy định của Luật Doanh nghiệp Hội đồng quản trị có quyền cử người khác làm đại diện theo pháp luật. Như vậy người vợ hoặc chồng còn lại sẽ có quyền và nghĩa vụ gì đối với công ty mà trước khi bị mất năng lực hành vi dân sự vợ hoặc chồng đang là người đại diện theo pháp luật ngoài việc được hưởng cổ tức theo số cổ phần nắm giữ.
Đối với Công ty TNHH hai thành viên, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật bị mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty (khoản 6 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014). Nếu công ty TNHH hai thành viên chỉ có hai thành viên là vợ và chồng thì khi một người bị mất năng lực hành vi dân sự người còn lại đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật của Công ty đồng thời là người giám hộ đương nhiên của người bị mất năng lực hành vi dân sự để điều hành và quản lý Công ty.
- Đối với Công ty TNHH hai thành viên trở lên khi người đại diện theo pháp luật bị mất năng lực hành vi dân sự thì Hội đồng thành viên sẽ cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của Công ty.
- Đối với thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự quyền và nghĩa vụ của người đó được thực hiện thông qua người đại diện (khoản 2 Điều 54 Luật Doanh nghiệp 2014).
Như vậy có thể thấy vợ hoặc chồng khi thực hiện việc đại diện cho người còn lại bị mất năng lực hành vi dân sự trong quan hệ kinh doanh chỉ có trách nhiệm quản lý phần quyền phát sinh từ phần vốn góp chứ không có quyền quản lý công ty nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự trước đó là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Đối với Công ty TNHH MTV và Doanh nghiệp tư nhân: Có nhiều trường hợp vợ chồng cùng góp vốn riêng của mình và cho một người đứng tên để thành lập loại hình doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV hoặc Doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp này khi người đại diện theo pháp luật bị mất năng lực hành vi dân sự thì vợ hoặc chồng đương nhiên trở thành người giám hộ. Họ sẽ thay mặt người bị mất năng lực hành vi dân sự quản lý, giải quyết các công việc phát sinh liên quan đến quan hệ kinh doanh này.
Đối với Công ty Hợp danh: Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định về trường hợp thành viên Hợp danh bị mất năng lực hành vi dân sự thì sẽ giải quyết như thế nào. Do đó có thể áp dụng quy định của BLDS 2005 để vợ hoặc chồng đương nhiên trở thành giám hộ. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Như vậy có thể thấy, mặc dù BLDS đã quy định: “Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; Nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người dám hộ” [29, khoản 1 Điều 62] hay Luật HN&GĐ 2014 cũng quy định người còn lại đương nhiên là đại diện của chồng trong quan hệ kinh doanh nhưng đối với từng loại hình doanh nghiệp cụ thể lại có những quy định khác nhau, đảm bảo cho sự phát triển phù hợp của loại hình đó trong nền kinh tế thị trường chứ không thể chỉ dựa vào quyền lợi của một bên nào.
Thứ tư, Khi vợ chồng dùng tài sản của mình để ký kết giao dịch kinh tế với bên thứ ba thì giao dịch đó sẽ được coi là có hiệu lực kể từ thời điểm được quy định tại hợp đồng, nếu không quy định thì căn cứ theo quy định của pháp luật. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực quyền và nghĩa vụ của các Bên đã được phát sinh. Do đó khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự ,đương nhiên người còn lại trở thành người giám hộ, thay mặt thực hiện tất cả các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.
Ví dụ: A và B là vợ chồng cùng nhau góp 100.000.000 đồng để kinh doanh. Sau khi bàn bạn A và B đồng ý ký kết Hợp đồng mua bán 10 tấn thanh long của Công ty X để làm đầu mối phân phối cho các nhà buôn nhỏ lẻ trong địa phương. Theo nội dung Hợp đồng thì thời hạn của Hợp đồng là 05 tháng kể từ ngày Hợp đồng được ký kết và mỗi tháng công ty X phải giao đủ cho vợ chồng A và B 02 tấn thanh long đến địa chỉ nhà của A và B. Việc thanh toán sẽ thực hiện ngay sau khi giao hàng và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Vợ chồng A và B sẽ thanh toán 80% giá trị hàng hóa hóa đã nhận, 20% còn lại sẽ thanh toán vào thời điểm bàn giao hàng đợt cuối. Sau khi Hợp đồng có hiệu lực được 01 tháng thì anh B là chồng của A có những biểu hiện không bình thường trong nhận thức và hành vi. Thường xuyên đánh đập vợ con vô cớ, phá hoại tài sản, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình. Ngoài ra B còn thường xuyên đi lang thang không về nhà. Mặc dù hai vợ chồng làm ăn kinh doanh đã lâu nhưng không thành lập Công ty mà chỉ kinh doanh tại nhà và ký kết Hợp đồng với các đầu mối làm ăn để đảm bảo cung cấp đủ hàng hóa và bán ra thị trường. Do tình trạng của chồng như vậy các Công ty ký kết Hợp đồng mua bán với vợ chồng A và B đề nghị A phải thay mặt cho B trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với họ.
Để có thể chi các khoản tiền thanh toán cho Công ty đối tác, A đã phải xin giám định đối với chồng là B và đề nghị Tòa tuyên bố B bị mất năng lực hành vi dân sự.
Sau khi xem xét hồ sơ theo đúng trình tự tố tụng, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố B bị mất năng lực hành vi dân sự và A trở thành người giám hộ đương nhiên của B. Do đó sau khi có quyết định này của Tòa án, A được toàn quyền sử dụng số tiền mà hai vợ chồng đóng góp để kinh doanh là 100.000.000 đồng vào thanh toán các khoản nợ phải trả cho đối tác theo các Hợp đồng đã ký kết.
Theo quy định tại Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 sau khi có quyết định của Tòa án về tuyên bố B bị mất năng lực hành vi dân sự thì A có toàn quyền sử dụng tài sản mà vợ chồng kinh doanh chung để thực hiện các vấn đề liên quan đến giao dịch với đối tác. Tuy nhiên, theo quy định của BLDS 2005 thì đối với những giao dịch có giá trị tài sản lớn thì khi thực hiện phải được sự đồng ý của người giám sát giám hộ.
2.1.2. Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
- Điều kiện để xác lập đại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Theo quy định của BLDS 2005 thì: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”
Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 quy định: “Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này” [28, Khoản 11 Điều 2].
Việc lệ thuộc này bao gồm về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma túy để có được những hiệu ứng ma túy về mặt tâm thần của ma túy và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma túy (Theo tổ chức y tế thế giới WTO).
Sự lệ thuộc ma túy về tâm thần thường chỉ là sự khởi đầu của quá trình nghiện ma túy và tiếp theo sẽ là sự lệ thuộc ma túy về thể chất. Người sử dụng ma túy sẽ tìm mọi cách để có ma túy, vì vậy mà không tự chủ được bản thân, dễ dẫn đến các hành vi có hại cho chính họ, gia đình và cộng đồng.
Điều kiện để xác định một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự gồm:
- Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.
- Người có quyền, lợi ích liên quan sẽ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự dựa trên các kết luận của tổ chức giám định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi xem xét hồ sơ, Tòa án bằng quyết định của mình tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự của một cá nhân. Trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy sau khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì tình trạng pháp lý của họ sẽ giống như một người từ đủ sáu tuổi đến dưới mười lăm tuổi.
Trình tự thủ tục ra quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Có thể thấy chế độ pháp lý giữa trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có sự khác nhau.
Như vậy vợ hoặc chồng muốn trở thành người đại diện cho người còn lại bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải được sự đồng ý của Tòa án.
- Quyền và nghĩa vụ đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh khi vợ hoặc chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Trong trường hợp này vợ và chồng không còn được đại diện đương nhiên cho nhau nữa. Nếu muốn đại diện cho nhau thì vợ hoặc chồng phải được sự đồng ý của Cơ quan có thẩm quyền mà ở đây là Tòa án nhân dân, nơi ban hành ra quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Việc lựa chọn chủ thể là người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người bị mất năng lực hành vi dân sự đã có sự khác biệt.
Khi vợ hoặc chồng bị tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật, khi đó người đại diện sẽ là người giám hộ. Tuy nhiên khi vợ hoặc chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người còn lại trở thành người đại diện theo pháp luật khi có quyết định của Tòa án và chỉ được xác lập các giao dịch trong phạm vi đại diện.
Phạm vi đại diện được xác định theo quy định tại BLDS 2005: “Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày” [29, khoản 2 Điều 23].
Đối với trường hợp vợ chồng kinh doanh chung theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ và một trong hai vợ chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có thể thấy: Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
- Trong trường hợp Tòa án quyết định người còn lại là người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì đương nhiên trở thành người đại diện hợp pháp trong các quan hệ kinh doanh đó và được thực hiện các giao dịch có liên quan.
- Trong trường hợp Tòa án quyết định người đại diện là người khác không phải là vợ hoặc chồng của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc quyết định các vấn đề liên quan đến quan hệ kinh doanh chung của vợ chồng phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy trong trường hợp này, quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 không thể áp dụng một cách đầy đủ mà phải có điều kiện.
Tuy nhiên có một thực tế mà cần phải hiểu rõ là: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khác với người bị mất năng lực hành vi dân sự đó là tinh thần và tâm lý của họ không phải lúc nào cũng trong trạng thái mất kiểm soát hành vi. Lúc không sử dụng ma túy thì có thể coi tâm lý của họ hoàn toàn bình thường. Do vậy rất có thể xảy ra trường hợp người đang trong tình trạng bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 để giao dịch và trục lợi với bên thứ ba. Trong trường hợp người thứ ba ngay tình thì hậu quả xảy ra ai sẽ chịu trách nhiệm. Đây còn là một bỏ ngỏ trong quy định của pháp luật đối với việc được đương nhiên đại diện cho nhau trong kinh doanh chung mà Luật HN&GĐ 2014 quy định.
2.1.3. Đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi một bên gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Điều kiện để xác lập đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng khi một bên gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Đây là lần đầu tiên quy định về việc đại diện, giám hộ cho người gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được BLDS 2015 cụ thể hóa. Theo đó “ Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.” [34, Điều 23]. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi tuy nhiên chưa hoàn toàn mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có biểu hiện có lúc nhận thức được sự việc, làm chủ được hành vi nhưng có lúc lại không thể nhận thức được xung quanh cũng như không điều khiển được hành vi của mình.
Điều kiện để xác định một người là khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi khi:
- Không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự
- Có yêu cầu của bản thân người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Có cơ sở là kết luận giám định của pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định người này có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Quyền và nghĩa vụ đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh khi hoặc chồng gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tương tự người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi khi bị Tòa án ra quyết định tuyên bố khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người còn lại trở thành người đại diện theo pháp luật khi có quyết định của Tòa án và chỉ được xác lập các giao dịch trong phạm vi đại diện.
BLDS 2015 quy định: Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này [34, Điều 57].
Trong khoản 1 có quy định về việc người giám hộ có nghĩa vụ “Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự”.
Như vậy đại diện trong trường hợp này tương tự như trong như đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, tuy nhiên, phạm vi đại diện trong các giao dịch dân sự lại không bị hạn chế nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của người được đại diện.
2.2. Thực trạng đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
2.2.1. Căn cứ pháp lý của việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh.
- Chủ thể trong quan hệ đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Theo luật HN & GĐ 2014 thì: “Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này” [31, Khoản 2 Điều 25].
Luật HN & GĐ 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản” [31, Điều 36].
Như vậy có thể thấy vợ chồng khi sử dụng tài sản (chung hoặc riêng) để kinh doanh chung thì một người có quyền thực hiện các giao dịch đó, nhưng phải có thỏa thuận bằng văn bản giữa hai bên. Văn bản thỏa thuận ở đây có thể được hiểu là việc một bên ủy quyền cho bên còn lại được thực hiện các giao dịch liên quan đến phần tài sản của mình.
Luật HN & GĐ 2014 quy định: “Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng” [31, Khoản 2 Điều 24].
BLDS 2005 quy định: “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện” [29, Khoản 1 Điều 142]. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Chủ thể của quan hệ đại diện ở đây là cá nhân với cá nhân. Vợ hoặc chồng đại diện cho người còn lại trong quan hệ kinh doanh đối với tài sản chung của vợ chồng.
- Hình thức trong quan hệ đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh.
Bộ luật dân sự 2005 quy định “hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản” [29, khoản 2 Điều 142].
Hình thức đại diện theo ủy quyền quy định tại Luật HN & GĐ 2014 là bằng văn bản. Tuy nhiên quy định lại không yêu cầu rõ văn bản đó có cần công chứng hay không. Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều giao dịch yêu cầu việc ủy quyền (giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền) phải thực hiện qua tổ chức hành nghề công chứng, nhưng có những giao dịch lại không yêu cầu. Như vậy việc quy định hình thức đại diện theo ủy quyền phải lập thành văn bản tạo điều kiện cho vợ chồng được lựa chọn hình thức ủy quyền phù hợp với quan hệ kinh doanh dự kiến xác lập.
Hình thức của văn bản ủy quyền rất quan trọng trong các giao dịch kinh doanh, thương mại, đặc biệt là trong việc giao dịch đối với những tài sản có đăng ký quyền sở hữu như bất động sản, ô tô, xe máy,….. Khi vợ hoặc chồng đại diện cho nhau thực hiện quan hệ kinh doanh bằng việc sử dụng các tài sản có đăng ký quyền sở hữu đều phải lập văn bản ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền). Còn việc văn bản ủy quyền này có công chứng hay không lại phụ thuộc vào từng loại tài sản.
- Phạm vi đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Phạm vi đại diện đối với tài sản mà vợ chồng dùng để kinh doanh “Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền” [29, Khoản 2 Điều 144]. Theo Điều 36 Luật HN & GĐ 2014 sau khi thỏa thuận bằng văn bản người đại diện có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Như vậy toàn bộ quyền liên quan đến tài sản sử dụng để kinh doanh người đại diện sẽ thay mặt người còn lại để thực hiện. Tuy nhiên việc đại diện toàn bộ này chỉ có được thực hiện đối với những tài sản không phải đăng ký. Đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu như bất động sản khi muốn thực hiện các giao dịch có liên quan phải tuân thủ quy định của BLDS, Luật Đất đai, Luật Công chứng về việc ký hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của Luật Đất đai và Luật Công chứng.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
- Đại diện theo ủy quyền thực hiện các công việc liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng trong quan hệ kinh doanh.
Theo quy định của Luật HN & GĐ 2014 vợ chồng có quyền sử dụng tài sản riêng để kinh doanh chung. Vợ chồng có quyền đại diện cho nhau hợp pháp theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trước khi kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật HN& GĐ 2014.
Như vậy điều luật này đã hạn chế quyền của người có tài sản riêng. Đó là vợ chồng chỉ có quyền thỏa thuận khác trước khi kinh doanh hoặc luật liên quan có quy định khác. Khi đã tham gia kinh doanh chung thì không được phép có văn bản thỏa thuận mà đương nhiên vợ chồng được quyền đại diện cho nhau.
Quy định này hoàn toàn không phù hợp với thực tế cũng như làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người có tài sản. Trong trường hợp người đại diện đương nhiên lợi dụng quyền để trục lợi cho bản thân thì cũng chưa có hướng giải quyết quyền lợi cho người được đại diện nếu tài sản đã bị tẩu tán.
Việc không quy định về lập văn bản thỏa thuận sau khi đã tham gia quan hệ kinh doanh làm cho giao dịch không được an toàn, dễ gây thiệt hại có một bên cố ý.
Ví dụ: A và B là vợ chồng. Do có nhu cầu về kinh doanh sắt thép nên A góp 500.00.000 triệu đồng và B góp 500.000.000 triệu đồng. Đây đều là tài sản riêng có trước hôn nhân của A và B. Trước khi kinh doanh A và B không lập văn bản thỏa thuận về việc một người đại diện để ký kết hợp đồng mua bán với bên cung cấp thép. Trong quá trình kinh doanh nhiều lần do A bận chăm sóc con nhỏ nên B đã ký kết hợp đồng mua bán với bên cung cấp. Do nghiện lô đề nên số tiền để thanh toán cho nhà cung cấp B đã dùng để trả nợ lô đề. Khi nhà cung cấp yêu cầu vợ chồng A và B phải thanh toán số tiền đang nợ thì A mới biết. Nhà cung cấp đưa ra lý do rằng A và B là vợ chồng nên phải chịu trách nhiệm liên đới đối với số tiền đang nợ.
Như vậy trong trường hợp này A hoàn toàn không biết đến việc B đã ký kết hợp đồng với nhà cung cấp mà không thanh toán tiền. Nếu theo quy định của pháp luật thì A sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ cho nhà cung cấp, mặc dù A hoàn toàn không biết đến sự kiện giao dịch này. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Có thể thấy quyền lợi của các bên sẽ bị ảnh hưởng khi quan hệ đại diện thực hiện mà không có thỏa thuận bằng văn bản.
- Đại diện theo ủy quyền thực hiện các công việc liên quan đến tài sản chung của vợ chồng trong quan hệ kinh doanh.
Đối với tài sản chung được sử dụng để kinh doanh thì vợ hoặc chồng có quyền đại diện cho người còn lại thực hiện các giao dịch. Quy định này bắt buộc vợ chồng phải có văn bản thỏa thuận. Việc lập thỏa thuận là phù hợp với quy định của BLDS cũng như đảm bảo sự an toàn cho giao dịch.
Theo luật HN & GĐ 2014 thì: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này” [31, khoản 1 Điều 33].
Theo như quy định này thì những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đều là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy hoa lợi, lợi tức phát sinh từ việc kinh doanh chung của vợ chồng theo khoản 1 Điều 25 Luật HN & GĐ 2014 đều là tài sản chung.
Quy định về đại diện của vợ chồng khi sử dụng tài sản chung để kinh doanh đảm bảo được quyền lợi của các bên và thể hiện sự chặt chẽ trong quy định của pháp luật.
Lập văn bản thỏa thuận khi vợ hoặc chồng đại diện cho người còn lại tham gia vào quan hệ kinh doanh tránh việc người đại diện làm thất thoát tài sản vì mục đích riêng cũng như đảm bảo việc đại diện được thực hiện đúng theo phạm vi đã đại diện.
Ví dụ: Bà A đồng ý lập Hợp đồng ủy quyền cho ông B là chồng của mình đại diện ký kết các giấy tờ có liên quan đến tài sản chung của hai vợ chồng là quyền sử dụng đất có diện tích 190m2 với ngân hàng C để vay vốn, số tiền vay là 300.000.000 đồng. Như vậy ông B bằng giấy ủy quyền này chỉ được xác lập giao dịch với ngân hàng C để vay số tiền theo hợp đồng ủy quyền đã quy định. Bà A cũng chịu trách nhiệm trong phạm vi số tiền đã đồng ý ủy quyền cho ông B vay. Nếu bên ngân hàng C và ông B ký kết hợp đồng với số tiền vay cao hơn thì bà A có quyền không chịu trách nhiệm với phần vượt quá đó.
Việc lập văn bản thỏa thuận cũng đảm bảo bên được ủy quyền không trốn tránh trách nhiệm của mình đối với giao dịch mà người đại diện đã xác lập với bên thứ ba. Quyền lợi của bên thứ ba sẽ được đảm bảo hơn.
2.3. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng về vấn đề đại diện trong quan hệ kinh doanh. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Những rủi ro cho vợ hoặc chồng rất dễ xảy ra trong quan hệ đại diện, đặc biệt là đại diện trong quan hệ kinh doanh. Thực tế phát sinh những trường hợp, khi vợ chồng kinh doanh chung, người vợ hoặc chồng lợi dụng việc kinh doanh để vay mượn tiền từ người thứ ba với lý do kinh doanh nhưng thực chất chỉ sử dụng một phần nhỏ cho hoạt động kinh doanh chung, còn lại được sử dụng vào mục đích cá nhân nhưng người còn lại vẫn liên đới chịu trách nhiệm.
Trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong quan hệ kinh doanh không phải là một vấn đề mới. Mặc dù Luật HN & GĐ 2000 không quy định nhưng xuất phát từ thực tiễn cuộc sống cũng như giải quyết các tranh chấp, trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong quan hệ kinh doanh vẫn được đặt ra. Tại thời điểm Luật HN & GĐ chưa có quy định về trách nhiệm liên đới của vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh thì bản chất hay mục đích của việc kinh doanh là yếu tố để quyết định vợ chồng có phải chịu trách nhiệm liên đới hay không. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể nên việc giải quyết các trường hợp về trách nhiệm của vợ, chồng trong quan hệ kinh doanh còn mang tính chủ quan, suy diễn và cùng một vụ án nhưng lại có nhiều hướng giải quyết khác nhau.
Ví dụ: Từ ngày 02 -7-1997 đến 28-2-1997, bà Nguyễn Thị Nga có cho bà Đào Thị Nhâm vay 7 lần tổng cộng là 477.000.000 đồng. Việc vay nợ chỉ do một mình bà Nhâm ký giấy nhận nợ. Hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, bà Nhâm có giao cho bà Nga giấy tờ nhà 3 tầng do bà Nhâm đứng tên để thế chấp nợ. Do bà Nhâm không chịu trả nợ nên bà Nga đã khởi kiện đòi nợ. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 23/3/1999 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Phả và tại Bản án dân sự phúc thẩm số 32/DSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đều quyết định: Buộc bà Nhâm phải hoàn trả bà Nga 477.000.000 đồng tiền nợ gốc và 143.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 03-5-2002 Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã có quyết định số 54/KNDS kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên với nhận định: Cần xác định ông Hà Văn Hiên – chồng bà Nhâm liên đới chịu trách nhiệm trả nợ, vì việc kinh doanh của bà Nhâm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình và ông Hiên không thừa nhận nhưng ông Hiên đương nhiên phải biết việc kinh doanh đó của bà Nhâm. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 173/GĐT-DS ngày 22-8-2002 của Tòa án nhân dân tối cao đã hủy Bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm lại theo hướng kháng nghị của Phó chánh án. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 30-6-2003 và Bản án dân sự phúc thẩm số 131/DSPT ngày 19-6-2003 đều quyết định: Buộc bà Nhâm và ông Hiên phải trả nợ cho bà Nga 477.000.000 đồng nợ gốc và 391.000.000 đồng tiền lãi [21].
Nhận xét: Cách giải quyết trên nghe có vẻ hợp lý, tuy nhiên nếu theo cách lập luận như trường hợp trên thì hầu hết các trường hợp kinh doanh đều được quy về mục đích là nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và do đó, vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới. Nếu như giao dịch từ việc kinh doanh làm phát sinh nghĩa vụ như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thì vợ, chồng có phải chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ này không? Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Đến Luật HN & GĐ 2014 lần đầu tiên đã quy định: “1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24,25,26 của Luật này. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này” [31, Điều 27].
Vì vậy, để tránh những trường hợp trên, vợ chồng nên có thỏa thuận về việc một bên xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị từ bao nhiêu thì cần phải có sự đồng ý của hai vợ chồng.
Luật HN & GĐ 2014 chỉ quy định về việc vợ chồng phải có thỏa thuận trước khi tham gia quan hệ kinh doanh nhưng lại không quy định rõ về hình thức của thỏa thuận. Vì vậy, nếu vợ, chồng chỉ có thỏa thuận bằng miệng mà không bằng văn bản thì có giá trị pháp lý hay không, và nếu có tranh chấp xảy ra với người thứ ba thì cơ sở pháp lý nào để xác định rằng có sự thỏa thuận của vợ, chồng trước khi tham gia quan hệ kinh doanh. Bên cạnh đó, Luật HN & GĐ 2014 cũng chỉ quy định về thỏa thuận xác lập trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, trong khi có những vấn đề chỉ nảy sinh sau khi phát sinh quan hệ kinh doanh và vợ chồng muốn thỏa thuận thì có được chấp thuận hay không?
Một vấn đề nữa cũng chưa được quy định rõ ràng, đó là khái niệm “kinh doanh chung”. Thế nào là vợ chồng kinh doanh chung. Kinh doanh chung là vợ, chồng cùng trực tiếp kinh doanh bằng tài sản riêng hay chỉ cần vợ chồng đưa tài sản chung vào để kinh doanh và một bên trực tiếp kinh doanh.
Một thực tế hiện nay là nhiều trường hợp vợ chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh nhưng pháp luật về doanh nghiệp lại chưa có quy định về loại hình doanh nghiệp vợ chồng. Chẳng hạn đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân. Đây là loại hình doanh nghiệp thường được sử dụng tài sản chung của vợ chồng để thành lập. Nếu xét trên thực tế có thể thấy tài sản được dùng để thành lập doanh nghiệp tư nhân là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Như vậy, mặc dù tài sản chung được sử dụng để thành lập doanh nghiệp nhưng chỉ có người đăng ký là chủ sở hữu mới được xác định là chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân. Điều này là không phù hợp bởi tài sản doanh nghiệp là tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
Có ý kiến cho rằng, việc đưa tài sản chung vào thành lập doanh nghiệp đồng nhất với việc vợ, chồng thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và do đó tài sản của doanh nghiệp lúc này được xác định là tài sản riêng của chủ sở hữu doanh nghiệp. Nhưng cách lý giải này không hợp lý bởi vì Luật HN &GĐ 2014 quy định việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản. Như vậy, tài sản doanh nghiệp là tài sản chung của vợ chồng, lợi tức phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tài sản chung của vợ chồng, nếu vợ chồng không có thỏa thuận về chế độ tài sản trước khi kết hôn, nhưng trách nhiệm phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp lại chỉ quy về trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp. Điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể thứ ba giao dịch với doanh nghiệp tư nhân.
Bên cạnh đó, vấn đề đặt ra là khi vợ, chồng có tranh chấp về tài sản hoặc khi vợ chồng ly hôn thì vợ, chồng có được chia tài sản chung trong tài sản doanh nghiệp hay không? Và có những trường hợp cả hai vợ chồng cùng sử dụng tài sản chung để thành lập hai doanh nghiệp tư nhân khác nhau. Khi phát sinh trách nhiệm của một doanh nghiệp, bên vợ hoặc chồng là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Vậy tài sản của vợ hoặc chồng trong tài sản doanh nghiệp tư nhân còn lại có được lấy để thực hiện nghĩa vụ hay không? Luật HN & GĐ 2014 lần đầu tiên đã quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi đưa vào kinh doanh. Theo đó vợ chồng thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác. Như vậy người được tiếp tục quản lý phần tài sản mà vợ chồng kinh doanh chung phải có trách nhiệm thanh toán cho người còn lại một phần tiền tương ứng với giá trị mà họ được hưởng.
Ở đây có thể có một số cách hiểu, giá trị được hưởng là giá trị mà vợ hoặc chồng đã đóng góp vào khối tài sản chung sử dụng để kinh doanh hay được hiểu là giá trị được hưởng bao gồm phần giá trị mà vợ hoặc chồng đã đóng góp cộng với lợi nhuận phát sinh cũng như công sức đóng góp từ hoạt động kinh doanh này.
Trên thực tế, vợ chồng sử dụng tài sản chung để kinh doanh diễn ra rất nhiều và phần tài sản chung sử dụng để kinh doanh có thể tăng lên hoặc giảm đi dựa vào tình hình sản xuất kinh doanh. Đối với việc góp vốn vào doanh nghiệp thì tài sản chung đó trở thành tài sản của Công ty, người góp vốn có các quyền đối với phần tài sản đó. Vậy nếu doanh nghiệp hoạt động tốt và giá trị tăng lên thì khi chia tài sản này sẽ được tính như thế nào hay chỉ chia mỗi phần vốn góp. Thiết nghĩ ngoài phần vốn góp đã góp thì cần nên chia cho bên người còn lại một phần lợi tức tương ứng với giá trị vốn góp trong một khoảng thời gian nhất định, nó đảm bảo cho quyền lợi của hai bên được cân bằng.
Trong khi đó, theo pháp luật của Pháp thì họ thừa nhận hình thức doanh nghiệp tư nhân chung của vợ chồng. Trong một doanh nghiệp tư nhân của vợ chồng, một bên vợ hoặc chồng kia tham dự một cách ngang bằng hoặc thứ yếu và tùy từng trường hợp mà có thể chịu hoặc không chịu trách nhiệm liên đới.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trên cơ sở các quy định của luật HN & GĐ và các luật chuyên ngành về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh , trong khuôn khổ chương 2, tác giả nêu lên thực trạng pháp luật hiện hành. Nội dung chương 3 tiếp tục tập trung vào việc làm rõ các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh, chỉ ra những điểm mới, những điểm phù hợp với thực tế hiện nay và có sự liên hệ với các luật chuyên ngành. Đồng thời, phân tích những điểm chưa hợp lý, cần bổ sung và hoàn thiện trong các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh. Luận văn: Thực trạng đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp đại diện giữa vợ chồng trong kinh doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh