Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hội nhập, tự do thương mại, kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ cùng với đó là sự gia tăng buôn lậu, vận chuyển trái phép các hàng hóa, tiền tệ qua biên giới,… Trong điều kiện đó, cơ quan Hải quan (CQHQ) có vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu (CBL) góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, thực thi chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách mặt hàng, thuế, đầu tư, du lịch, đảm bảo thu ngân sách nhà nước và đảm bảo lợi ích cộng đồng.

Thực tế cho thấy, thời gian qua hoạt động buôn lậu trên các tuyến và địa bàn cả nước liên tục có những diễn biến phức tạp, xuất hiện các đối tượng buôn lậu với nhiều phương thức thủ đoạn tinh vi, hoạt động có tổ chức, rất manh động, sẵn sàng đối phó, chống trả lực lượng chức năng khi bị phát hiện. Chúng lợi dụng kẽ hở trong chính sách pháp luật, lợi dụng các điều kiện ưu đãi, tạo thuận lợi thương mại để gian lận thuế, vi phạm pháp luật hải quan, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, đến sức khỏe, an ninh, an toàn cộng đồng. Cơ quan Hải quan đã có nhiều cố gắng trong việc phòng ngừa, chống buôn lậu và đã đạt được các kết quả cụ thể như: trong thời gian 5 năm từ 2011 đến 2015, lực lượng hải quan đã phát hiện bắt giữ 104.055 vụ, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính 2.586 tỷ đồng, trong đó thu giữ nhiều tang vật điển hình như 428 kg heroin, 153 kg và 258 nghìn viên ma túy tổng hợp, 1.588 khẩu súng 161.480 viên đạn, 245kg thuốc nổ, 41,4kg vàng, 2 triệu 026 nghìn USD, gần 2 triệu bao thuốc lá, 2,2 triệu lít xăng, gần 1 triệu lít dầu,… 18,6 tấn ngà voi, 215 kg sừng tê giác, 242 cổ vật, 3.435 tài liệu phản động,…[22]

Tuy nhiên, phòng, chống buôn lậu nói chung và điều tra các vụ án buôn lậu nói riêng của Cơ quan Hải quan còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, hạn chế nhưng chưa được tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm toàn diện. Mặt khác, về mặt lý luận điều tra các vụ án buôn lậu cho đến nay vẫn chưa có nhận thức thống nhất. Với những lý do trên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu để đánh giá thực trạng, phát hiện những bất cập, hạn chế trong công tác điều tra của Cơ quan Hải quan, tìm ra nguyên nhân, giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác này có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức như vậy, học viên đã chọn vấn đề: “Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn lậu luôn tập trung sự chú ý của các nhà khoa học, các cán bộ hoạt động thực tiễn; nhờ đó, đến nay đã có một số bài viết, sách, đề tài nghiên cứu về tình hình, giải pháp đấu tranh với tội phạm buôn lậu nói chung và của Cơ quan Hải quan nói riêng đã được công bố, cụ thể là:

  • “Chống buôn lậu và gian lận thương mại” của Lê Thanh Bình, NXB Chính trị quốc gia 1998;
  • “Đấu tranh phòng, chống buôn lậu, thực trạng ở nước ta và giải pháp” luận văn thạc sĩ Hoàng Anh Tuấn, đại học quốc gia Hà Nội (2013); Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.
  • Trần Đình Hòa (2001), Tổ chức hoạt động điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân đối với vụ án buôn lậu, luận án tiến sĩ luật học, Học viên Cảnh sát nhân dân;
  • Nguyễn Quốc Bình (2005), Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, luận án tiến sĩ luật học, đại học Luật, Hà Nội;
  • Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới trong tình hình mới, kết quả nghiên cứu Hội thảo khoa học (2015), Học viện Cảnh sát nhân dân – Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan…

Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, tuy đã quan tâm nghiên cứu, nhưng cho đến nay chưa có đề nào nghiên cứu chuyên sâu về điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án buôn lậu trong thời gian tới.

  • Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

Phân tích lý luận và pháp lý để xây dựng khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm buôn lậu; khái niệm, đặc điểm điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan;

Nghiên cứu dưới góc độ thực tiễn để làm rõ tình hình diễn biến của tội phạm buôn lậu và thực trạng hoạt động điều tra các vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan trong thời gian qua; qua đó đánh giá ưu, nhược điểm công tác điều tra và nguyên nhân của ưu, nhược điểm đó;

Dự báo tình hình, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.
  • Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hệ thống pháp luật hiện hành liên quan và thực tiễn điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan trên phạm vi cả nước, trong thời gian 5 năm gần đây (giai đoạn 2011 đến 2015).

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay liên quan đến tổ chức hoạt động điều tra hình sự nói chung và trên cơ sở thực tiễn tổ chức hoạt động điều tra của Hải quan Việt Nam nói riêng. Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn là phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp lịch sử; các phương pháp nghiên cứu của xã hội học như so sánh, đối chiếu, thống kê…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan nên kết quả rút ra qua nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Ở góc độ lý luận, luận văn góp phần từng bước hoàn thiện lý luận chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự. Ở góc độ thực tiễn, những đề xuất của luận văn có giá trị tham khảo để nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan. Với ý nghĩa như vậy, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi học tập, nghiên cứu, giảng dạy về chuyên ngành ở các cơ sở đào tạo về pháp luật; cũng để cán bộ thực tiễn có thể tham khảo, vận dụng vào công tác đấu tranh vụ án buôn lậu.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm ba chương:

  • Chương 1. Nhận thức chung về điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan.
  • Chương 2. Thực trạng điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan.
  • Chương 3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan trong thời gian tới.

Chương 1 Nhận thức chung về điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

1.1. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu

1.1.1. Khái niệm tội buôn lậu

Theo Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) tại Điều 153 qui định tội buôn lậu là buôn bán trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều 153 hoặc tại một trong các điều: Điều 154 Tội Vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới; Điều 155 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; Điều 156 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; Điều 159 Tội kinh doanh trái phép; Điều 160 Tội đầu cơ; Điều 161 Trốn thuế của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 193 Tội sản xuất trái phép chất ma túy; Điều 194 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy; Điều 195 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 196 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy; Điều 230 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện, kỹ thuật quân sự; Điều 232 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ;

Điều 233 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ; Điều 236 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ; Điều 238 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc; hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Buôn bán trái phép qua biên giới vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá; hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều 153 hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này. [11], [12]

Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật hình sự năm 2015, có hiệu lực thực hiện từ ngày 1/7/2016. Tuy nhiên, do một số sai sót về kỹ thuật, nên Quốc hội đã lùi thời hạn có hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 2015 đến khi Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực (Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 [20]).

So với Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì Bộ luật hình sự năm 2015 qui định thêm hành vi khách quan là buôn bán “từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại” trái với qui định của pháp luật; bổ sung đối tượng tác động của tội phạm là “di vật, cổ vật”. Bổ sung một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như “vật phạm pháp là bảo vật quốc gia”; bỏ đối tượng tác động của tội phạm là “hàng cấm”. Tăng hình phạt tiền, giảm hình phạt tù (hình phạt tù cao nhất chung thân xuống tù 20 năm). Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

BLHS 2015 có qui định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội buôn lậu (khoản 6, Điều 188) [13]. Theo đó, pháp nhân thương mại phạm tội buôn lậu, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm thì bị phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc bị đình chỉ vĩnh viễn.

Từ những trình bày ở trên, có thể nêu khái niệm của tội buôn lậu như sau: tội phạm buôn lậu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được qui định trong Bộ luật hình sự, do người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và phải chịu hình phạt.

1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội buôn lậu

  • Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý việc xuất, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ, kim khí đá quý, di vật, cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hóa, bảo vật quốc gia. Trong bối cảnh phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng, thì khách thể của tội buôn lậu có thể có thay đổi.

Đối tượng tác động của tội buôn lậu là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá, vật phạm pháp có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng và vật phạm pháp là bảo vật quốc gia. Khi xác định đối tượng tác động, nếu cần phải trưng cầu giám định của cơ quan chuyên môn thì các cơ quan tiến hành tố tụn+g phải trưng cầu giám định.

  • Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan: mặt khách quan của tội buôn lậu được thể hiện ở hành vi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định của pháp luật các loại hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá và bảo vật quốc gia. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Buôn bán trái với qui định của của pháp luật là các hành vi rất đa dạng, thủ đoạn tinh vi như: không khai báo hải quan, khai báo không đúng, giả mạo giấy tờ, vi phạm tiêu chuẩn, định mức hàng hóa miễn thuế, lợi dụng các hình thức ưu đãi đối với hàng hóa khu chế xuất, gia công đầu tư nước ngoài, khu kinh tế cửa khẩu, tạm nhập tái xuất,…

Thiệt hại do hành vi buôn lậu gây ra là để lọt những loại hàng cấm như vũ khí, ma túy, chất nổ, tài liệu phản động,… gây ảnh hưởng an ninh quốc gia; hàng hóa không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, vi phạm môi trường, ảnh hưởng an toàn cộng đồng; không thu đúng, thu đủ được thuế, ảnh hưởng ngân sách nhà nước; hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ, lợi dụng các chính sách ưu đãi, chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách đối với các mặt hàng vàng, ngoại tệ, xăng dầu, khoáng sản, lương thực, thủy sản, nhu yếu phẩm,… ảnh hưởng tới điều tiết kinh tế vĩ mô, phá hoại sản xuất trong nước.

Một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm như giá trị, số lượng hàng hóa vi phạm, địa điểm phạm tội.

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm buôn lậu khi hàng hóa, Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật hình sự.

Yếu tố qua biên giới hết sức quan trọng trong xác định dấu hiệu cấu thành tội buôn lậu. Trong quá trình điều tra, việc xác định địa điểm phạm tội được các cơ quan có thẩm quyền tập trung làm rõ. Biên giới là đường phân cách giữa quốc gia này với quốc gia khác. Biên giới bao gồm biên giới đường bộ, đường thuỷ, đường không. Tuy nhiên, việc xác định hành vi buôn bán trái phép đã qua biên giới chưa lại không phải cứ vào việc hàng hoá đã qua đường biên chưa, mà căn cứ vào địa điểm thuộc phạm vi địa bàn kiểm soát của các Cơ quan Hải quan, biên phòng, đường mòn, lối mở biên giới đất liền, khu vực biên giới trên biển, khu phi thuế quan,… Vì vậy, khi xác định hành vi buôn lậu thông thường cơ quan có thẩm quyền thường kết hợp xác định địa điểm thuộc khu vực biên giới, làm rõ các chứng cứ về hành vi giao dịch giữa đối tượng buôn lậu với đối tác nước ngoài, hành vi trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát cơ quan Nhà nước,… Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

  • Mặt chủ quan của tội phạm

Người thực hiện hành vi buôn lậu là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới, thấy trước được hậu quả nguy hiểm của hành vi buôn bán trái phép qua biên giới và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.

  • Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 thì người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể là pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.2. Thẩm quyền, khái niệm, đặc điểm về điều tra vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

1.2.1. Vài nét lịch sử về thẩm quyền điều tra vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan

  • Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu”. Đây là tổ chức bộ máy đầu tiên của Cơ quan Hải quan ngày nay. Hoạt động của sở Thuế quan chủ yếu là công tác chống buôn lậu, kiểm soát hàng hoá, tiền bạc của tư thương xuất, nhập giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm, thực hiện nhiệm vụ thu thuế xuất nhập cảng. Ngày 28/5/1948, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 189/SL quy định sự khám nhận và truy tố những việc trái với luật lệ ngoại thương, theo đó nhân viên thuế quan và thuế gián thu có quyền khám xét và tiến hành các hoạt động tố tụng để truy tố đối với các hành vi vi phạm pháp luật về ngoại thương.

Ngày 17/7/1951, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Nghị định số 63/NĐ ấn định hệ thống tổ chức sở thuế thuộc Bộ Tài chính. Sở Thuế quan và thuế gián thu bị giải thể, thay vào đó là phòng Thuế xuất nhập khẩu nằm trong sở Thuế trung ương. Theo Điều lệ tạm thời số 247-TTg ngày 10/4/1953 quy định tổ chức và nhiệm vụ của các cơ quan thuộc ban quản lý xuất nhập khẩu ở trung ương và các khu quản lý xuất nhập khẩu hay phân khu quản lý xuất nhập khẩu ở địa phương, thì phân sở Thuế xuất nhập khẩu có nhiệm vụ: “Tổ chức việc kiểm soát, truy nã và xử lý các vụ buôn lậu. Nếu tội nặng thì phải thỉnh thị khu quản lý xuất nhập khẩu”. Với nhiệm vụ này, trong năm 1953 ngành Thuế xuất nhập khẩu đã bắt 20.163 vụ, tịch thu hàng hoá trị giá 997 triệu đồng. [21]

Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Chính phủ đã có chủ trương mở rộng buôn bán với các nước. Để làm được điều này, cần có một lực lượng chức năng có khả năng hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm chính sách độc quyền ngoại thương của Nhà nước. Vì vậy, trong phiên họp thường kỳ tháng 10/1954, Chính phủ đã quyết định chuyển ngành thuế xuất nhập khẩu sang Bộ Công thương để thành lập ngành Hải quan. Ngày 14/12/1954, Bộ trưởng Bộ Công thương đã ký Nghị định số 136/BCT/KB/NĐ thành lập sở Hải quan thuộc Bộ Công thương. Tên gọi Hải quan được sử dụng chính thức từ đó đến nay.

Ngày 6/4/1955 Bộ Công thương đã ký Nghị định số 73-BCT/NĐ/KB quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của sở Hải quan, cho phép Hải quan có quyền khám xét hàng hoá, tiền tệ, vàng bạc, hành lý, công cụ vận tải, hành khách qua lại biên giới Việt Nam dân chủ cộng hoà; giữ lại để xử lý những hàng hoá trên nếu vi phạm vào thể lệ hải quan; giữ lại và giao Công an để điều tra và chuyển sang Toà án nhân dân để truy tố những gian thương chống lại hoặc phá hoại chính sách của Chính phủ.

Ngày 27/2/1960, Chính phủ đã ban hành Điều lệ Hải quan. Ngày 18/2/1961, Bộ Ngoại thương ban hành Thông tư số 16/BNT-VPCP giải thích và hướng dẫn Điều lệ Hải quan, quy định Cơ quan Hải quan có quyền khám người, công cụ vận tải, nhà ở; Cơ quan Hải quan có quyền tạm giữ hàng hoá phạm pháp, công cụ vận tải chuyên chở hàng hoá phạm pháp, tang vật che dấu hàng phạm pháp. Cơ quan Hải quan có quyền xử lý đối với hành vi buôn lậu, trường hợp cần thiết, Cơ quan Hải quan có quyền đề nghị cơ quan Công tố truy tố trước toà. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Ngày 30/8/1984, Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Hải quan, là cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 20/10/1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan. Điều 1 Nghị định 139/HĐBT quy định: “Tổng cục Hải quan, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng là công cụ chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước, có chức năng:

  • Kiểm tra và quản lý hàng hoá, hành lý, ngoại hối và các loại công cụ vận tải xuất nhập qua biên giới nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
  • Thi hành chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu;
  • Ngăn ngừa và chống các vi phạm luật lệ hải quan và các luật lệ khác liên quan đến việc xuất nhập khẩu;
  • Chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới”. [21]

Như vậy, việc quy định Hải quan có thẩm quyền khám xét, điều tra, xử lý các hành vi buôn lậu đã góp phần to lớn trong việc bảo vệ chính sách ngoại thương của Nhà nước trong những năm đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa, góp phần vào bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

  • Giai đoạn thực hiện Pháp lệnh Hải quan năm 1990, Luật Hải quan năm 2001 đến nay

Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, ngày 20/2/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua Pháp lệnh Hải quan, qui định chế độ quản lý nhà nước về Hải quan, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế; thực hiện dân chủ hóa và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh; tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi tích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Pháp lệnh qui định nguyên tắc tổ chức của Hải quan là: “Tập trung, thống nhất, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ trưởng”, với bộ máy tổ chức của ngành Hải quan bắt đầu được phân công thành 3 cấp như hiện nay (Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh hoặc liên tỉnh, thành phố và Hải quan cửa khẩu). Cuối năm 1989 toàn Ngành có 4.200 cán bộ nhân viên, 22 cục Hải quan tỉnh, thành phố và 100 đơn vị hải quan cửa khẩu và tương đương.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Hải quan đối với công tác chống buôn lậu đã được qui định cụ thể hơn tại Điều 46 của Pháp lệnh: Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

“1. Hải quan Việt Nam, khi tiến hành điều tra, giám sát, kiểm soát, có nhiệm vụ tổ chức đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới; áp dụng các biện pháp phát hiện, ngăn ngừa, điều tra, xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật”. [21]

Giai đoạn này, pháp luật hình sự, tố tụng hình sự cũng đã có những qui định chặt chẽ và một số thay đổi về thẩm quyền điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan. Tại Điều 93 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định: khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình, thì Cơ quan Hải quan có quyền có quyền:

“a) Đối với hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;

b) Đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng hoặc phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án”; [14]

Ngày 4/4/1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự. Theo Điều 28 của Pháp lệnh này thì Cơ quan Hải quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, tiến hành các hoạt động điều tra đối với tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới theo Điều 97 của Bộ luật hình sự năm 1985, cụ thể:

“a) Đối với hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền; khám xét người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan do Hội đồng Bộ trưởng quy định; khi cần thiết, trưng cầu giám định, khởi tố bị can; hoàn thành và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

b) Đối với hành vi thuộc loại tội nghiêm trọng, phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khi xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền; khám xét người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan do Hội đồng Bộ trưởng quy định; chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án”. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

  • BLHS năm 1985 qui định tại Điều 97 tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới:

“1- Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá, thì bị phạt tiền đến năm lần giá trị vật phạm pháp hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền đến mười lần giá trị vật phạm pháp hoặc bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

  1. Có tổ chức;
  2. Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn;
  3. Lợi dụng chiến tranh;
  4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội;
  5. Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nguy hiểm.

Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân” [10]

Ngày 28/12/1989, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, theo đó hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép ma tuý qua biên giới được quy định trong Điều 96a. Do vậy, kể từ thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực thì Cơ quan Hải quan không có quyền khởi tố vụ án, điều tra đối với hành vi mua bán, vận chuyển trái phép ma tuý qua biên giới.

Ngày 29/6/2001, Quốc hội khoá X thông qua Luật Hải quan, quy định Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. [17]

Năm 2003, Quốc hội ban hành Bộ luật tố tụng hình sự thì thẩm quyền điều tra của Hải quan được quy định cụ thể tại Điều 111. Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì Cơ quan Hải quan có thẩm quyền: đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án; đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành hoặc hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. [15] Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Ngày 20/8/2004, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBTVQH11 về tổ chức điều tra hình sự. Điều 20 của Pháp lệnh quy định, Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật hình sự thì Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu có quyền:

“a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can, tiến hành các biện pháp điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án”. [25]

Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2016). Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 qui định nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Hải quan được tiến hành hoạt động điều tra [16]. Ngày 26/11/2015, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016). Điều 33 qui định nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của Hải quan. [19]

Theo Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 33 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã qui định Cơ quan Hải quan có thẩm có quyền khởi tố vụ án và tiến hành các hoạt động điều tra đối với 03 tội danh: tội buôn lậu theo Điều 188, tội tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền vệ qua biên giới theo Điều 189 và tội sản xuất, buôn bán hàng cấm theo Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015. So với qui định trước đây, thẩm quyền điều tra của Cơ quan Hải quan đã được mở rộng hơn với 03 tội và về thời gian điều tra đối với các tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng cũng được tăng lên 01 tháng (trước đây là 20 ngày). Tuy nhiên, lại hạn chế đối với các hành vi khác như vận chuyển hàng cấm. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Như vậy, từ khi thành lập đến nay, Hải quan đều có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của ngành Hải quan cho thấy Cơ quan Hải quan có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra để đấu tranh với các tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan.

1.2.2. Khái niệm điều tra vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan

Do đặc thù tính chất công việc, nhiệm vụ quản lý nhà nước về Hải quan, Hải quan Việt Nam cũng như Hải quan các nước phải giải quyết, xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến hàng cấm, hàng giả, gian lận thương mại, trốn thuế, vi phạm tiêu chuẩn hàng hóa, môi trường, an ninh, an toàn cộng đồng,… Vì vậy, để hoàn thành nhiệm vụ, Cơ quan Hải quan được pháp luật qui định các điều kiện, cơ sở để thực hiện hoạt động điều tra đối với tội phạm trong lĩnh vực này như thẩm quyền, biện pháp nghiệp vụ, tổ chức lực lượng,…

Cho đến nay, còn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm điều tra nói chung và điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan, nhưng theo chúng tôi là: điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Cơ quan Hải quan áp dụng các biện pháp được pháp luật qui định nhằm xác định tội phạm buôn lậu và người thực hiện hành vi buôn lậu làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử.

Theo qui định tại Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 33 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thì Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm qui định tại các điều 188 (tội buôn lậu), điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền vệ qua biên giới) và điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm) của Bộ luật hình sự thì Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu có nhiệm vụ, quyền hạn:

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi cất giữ hàng hóa trong khu vực kiểm soát của hải quan, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can tiến hành các biện pháp điều tra theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự, kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng như phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi cất giữ hàng hóa trong khu vực kiểm soát của hải quan, chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan Điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Điều 11 Luật Hải quan qui định: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ… phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu…”. Từ sau sự kiện 11/9 và trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, thì nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia, phòng chống khủng bố, an toàn cộng đồng là nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt và lâu dài của Cơ quan Hải quan. Đây cũng là xu hướng chung của hải quan các nước trên thế giới khi nhiệm vụ bảo vệ an ninh ngày càng được chú trọng mà nếu không được trao thẩm quyền điều tra thì sẽ không thể hoàn thành được nhiệm vụ. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó “… Tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng … kết hợp chặt chẽ giữ công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng…”. Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Cơ quan Hải quan có tác dụng nâng cao tính chuyên môn hóa trong hoạt động điều tra đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu, thương mại quốc tế. Các vụ án Cơ quan Hải quan khởi tố điều tra và các hoạt động điều tra đã nâng cao tính răn đe, phòng ngừa buôn lậu, từng bước nâng cao trình độ nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm, tài liệu, hồ sơ của các đơn vị chuyên trách điều tra của Cơ quan Hải quan,…; đồng thời làm giảm tình trạng quá tải của Cơ quan điều tra Công an.

Hải quan Việt Nam là thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới, từ nhiều năm nay là thành viên của các hiệp định hợp tác hải quan thế giới trong hoạt động hỗ trợ, phối hợp đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia; thành viên của Hiệp định hải quan ASEAN trong thực thi tuân thủ pháp luật; thành viên của tổ chức tình báo hải quan khu vực châu Á – Thái bình dương… Đồng thời cũng ký kết thực hiện nhiều hiệp định song phương, biên bản ghi nhớ (MOU) song phương, đa phương với nhiều tổ chức hải quan các nước trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, tội phạm trong lĩnh vực hải quan.

Như vậy, việc Hải quan tiến hành điều tra các vụ án buôn lậu có tác dụng phòng ngừa tội phạm rất hiệu quả. Các vụ án đấu tranh không chỉ ngăn chặn được vi phạm, mà còn răn đe đối tượng phạm tội, khắc phục những bất cập về quản lý nhà nước, pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh, thuế,… qua đó góp phần đảm bảo tuân thủ pháp luật về Hải quan, quản lý mặt hàng, ưu đãi đầu tư, du lịch, góp phần tăng số thu ngân sách nhà nước.

1.2.3. Đặc điểm điều tra vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

  • Theo qui định của pháp luật hiện hành thì điều tra vụ án buôn lậu của CQHQ có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, Cơ quan Hải quan chỉ có quyền khởi tố và tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự đối với tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới và tội sản xuất, buôn bán hàng cấm.

Thứ hai, đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, Cơ quan Hải quan có quyền khởi tố vụ án, tiến hành điều tra vụ án cho đến khi kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố.

Tội phạm ít nghiêm trọng: những trường hợp phạm tội thuộc khoản 1 Điều 188, Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạm tội quả tang: đó là trường hợp người phạm tội đang thực hiện hành vi phạm tội (người đang thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, như: xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá không khai báo hải quan hoặc khai báo gian dối trong quá trình làm thủ tục hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu hàng cấm hoặc mang hàng hoá trái phép qua biên giới v.v…); hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện (người thực hiện hành vi tội phạm chưa kịp hoặc đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xoá dấu vết của tội phạm… thì bị phát hiện); hoặc đang bị đuổi bắt sau khi thực hiện tội phạm (ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị Hải quan phát hiện nên đã chạy trốn và bị Hải quan truy đuổi. Việc truy đuổi phải thực hiện ngay sau khi có hành vi chạy trốn thì mới được coi là phạm tội quả tang).

Chứng cứ rõ ràng: điều kiện chứng cứ rõ ràng được xác định khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát, Cơ quan Hải quan phát hiện hành vi vi phạm, thu giữ, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm. Qua những tang vật, phương tiện vi phạm chứng minh được hành vi vi phạm và đối tượng vi phạm thừa nhận hành vi vi phạm của mình.

Lai lịch người phạm tội rõ ràng: tại thời điểm phát hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Hải quan xác định được nơi cư trú của người phạm tội, nhân thân người phạm tội, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh kinh tế của người phạm tội.

Thứ ba, đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng nhưng phức tạp, Cơ quan Hải quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khám người, khám nơi oa trữ trong địa bàn hoạt động Hải quan, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng: những trường hợp phạm tội thuộc khoản 2, 3, 4 Điều 188, Bộ luật hình sự năm 2015. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Khi phát hiện các hành vi phạm tội thuộc các loại tội kể trên, Cơ quan Hải quan chỉ có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, được tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, mà không được quyền khởi tố bị can và sau đó phải chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra.

Đối với tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng phức tạp được hiểu là phạm tội buôn lậu thuộc khoản 1 Điều 188, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, việc tiến hành điều tra ban đầu có những khó khăn trong việc lấy lời khai, thu thập chứng cứ, cần phải có sự tham gia của Cơ quan điều tra chuyên trách.

Thứ tư, thẩm quyền điều tra của Hải quan được quy định cho cả 3 cấp từ Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Chi cục Hải quan cửa khẩu. Theo Điều 33 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự thì những người có quyền khởi tố vụ án và tiến hành các hoạt động điều tra gồm: Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu.

1.2.3. Một số hoạt động điều tra của cơ quan hải quan

Khám người, khám nơi oa trữ hàng hóa trong địa bàn hoạt động hải quan: là hoạt động tố tụng hình sự của Cơ quan Hải quan bằng cách tìm tòi, lục soát, kiểm tra, đối chiếu có định hướng nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Đây là một biện pháp rất quan trọng nhằm tìm kiếm dấu vết của tội phạm, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án. Việc khám xét chỉ được tiến hành khi có căn cứ nhận định trong người, nơi oa trữ trong địa bàn hoạt động hải quan có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên quan đến vụ án.

Khi khám xét, nếu phát hiện tang vật, phương tiện vi phạm thì Cơ quan Hải quan phải ra quyết định tạm giữ và bảo quản vật chứng để làm căn cứ xử lý vụ án. Các vật chứng là hàng hoá buôn lậu, ngoại tệ và các đồ vật khác liên quan đến vụ án; phương tiện vận chuyển hàng hoá vi phạm; tài liệu, chứng từ chứng minh nguồn gốc lô hàng. Người có thẩm quyền khởi tố vụ án ra quyết định tạm giữ vật chứng. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Lấy lời khai: sau khi phát hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, Cơ quan Hải quan tiến hành lấy lời khai người thực hiện hành vi vi phạm. Đây là một biện pháp nhằm cũng cố, thu thập tài liệu, chuyển hoá tài liệu trinh sát thành chứng cứ pháp lý để xác định tính chất, mức độ vi phạm làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Việc lấy lời khai ban đầu chủ yếu tập trung các vấn đề: lý lịch, nhân thân của người vi phạm; quá trình bốc xếp, vận chuyển hàng hoá qua biên giới; số lượng, chủng loại, nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá vi phạm; vị trí, vai trò của các đối tượng trong vụ án; động cơ, mục đích hoạt động của các đối tượng.

Khởi tố bị can: theo Điều 33 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thì Cơ quan Hải quan chỉ tiến hành khởi tố bị can đối với các đối tượng phạm tội trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, ít nghiêm trọng.

Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành đến nay, Cơ quan Hải quan chưa tiến hành khởi tố bị can với bất kỳ một đối tượng nào. Theo quy định của pháp luật thì thời hạn điều tra của Cơ quan Hải quan tối đa là 20 ngày, trong điều kiện Cơ quan Hải quan không có thẩm quyền tạm giữ người, tạm giam bị can, nên việc điều tra gặp rất nhiều khó khăn. Đó là một trong những nguyên nhân mà Cơ quan Hải quan không tiến hành khởi tố bị can, mà chỉ khởi tố vụ án và chuyển luôn cho Cơ quan điều tra. Khắc phục tình trạng này, tại khoản 1 Điều 33 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã qui định thời hạn điều tra là 01 tháng.

Trưng cầu giám định: trong các vụ án buôn lậu, kết quả trưng cầu giám định có ý nghĩa hết sức quan trọng tới kết quả điều tra, xử lý. Cơ quan Hải quan cần trưng cầu giám định các loại hàng hóa (về chủng loại, chất lượng, qui cách,…); giám định chữ ký, con dấu khi có nghi ngờ chứng từ, tài liệu có trong hồ sơ hải quan là giả như C/O, hợp đồng…

Ngoài các hoạt động điều tra nêu trên, Cơ quan Hải quan còn có quyền tiến hành các hoạt động điều tra như đối chất, nhận dạng, yêu cầu các cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu, chứng từ… liên quan đến vụ án.

Kết thúc điều tra, đối với tội phạm ít nghiêm trong trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì Cơ quan Hải quan phải ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Cơ quan Hải quan phải gửi bản kết luận điều tra cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét truy tố hoặc đình chỉ điều tra vụ án trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án. Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì phải có báo cáo kết quả điều tra, trong đó nêu rõ các biện pháp điều tra đã tiến hành, các giả thiết, các phương án điều tra đã thực hiện, kết quả điều tra, những vấn đề cần tiếp tục làm rõ và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án.

Như vậy, qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra của Hải quan cho thấy: thẩm quyền điều tra tội phạm mà pháp luật quy định cho Cơ quan Hải quan là rất hạn chế so với tình hình tội phạm xảy ra trong lĩnh vực hoạt động của hải quan. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đã bổ sung tương đối đầy đủ về thẩm quyền, thời hạn điều tra, nhưng công tác điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan vẫn rất khó khăn.

1.2.4. Mối quan hệ của cơ quan hải quan với Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra khác trong điều tra vụ án buôn lậu Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Theo quy định tại Điều 11 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm bảo đảm hoạt động điều tra của Cơ quan Hải quan tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu Cơ quan Hải quan khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra. Như vậy, mối quan hệ giữa Cơ quan Hải quan với Viện kiểm sát nhân dân là mối quan hệ giữa cơ quan kiểm sát và cơ quan chịu sự kiểm sát trong quá trình điều tra vụ án hình sự. Cơ quan Hải quan phải thực hiện những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [19, tr 10]

Theo quy định tại Điều 40 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra của Công an và Cơ quan Hải quan, giữa Cơ quan Hải quan và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khác như Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển là quan hệ phân công và phối hợp [19, tr 42]. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu phát hiện hành vi buôn lậu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì Cơ quan Hải quan tiến hành khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra, sau đó chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Còn Cơ quan điều tra, nếu phát hiện hành vi buôn lậu đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình có quyền khởi tố vụ án, tiến hành các hoạt động điều tra. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thể phối hợp với Cơ quan Hải quan để nghiên cứu hồ sơ, phân tích chứng cứ… Hiện nay các Cơ quan điều tra có mối quan hệ thường xuyên với Cơ quan Hải quan là Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu và một số cơ quan An ninh điều tra.

Đối với những trường hợp Cơ quan Hải quan phát hiện hành vi vi phạm đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mà vụ việc đó đang do Cơ quan điều tra thụ lý thì Cơ quan Hải quan chuyển các thông tin cho Cơ quan điều tra để củng cố chứng cứ, tiến hành hoạt động điều tra. Ngược lại, đối với những vụ việc mà Cơ quan Hải quan đang thụ lý (kể cả đang điều tra trinh sát) thì Cơ quan điều tra có thể chuyển giao các thông tin, hồ sơ… cho Cơ quan Hải quan và phối hợp làm rõ. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, Cơ quan điều tra có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển ngay hồ sơ vụ án để trực tiếp điều tra. Các yêu cầu của Cơ quan điều tra có giá trị bắt buộc thi hành đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển và Cơ quan Hải quan tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều hoạt động ở các khu vực cửa khẩu, biên giới và có một nhiệm vụ chung là phòng, chống buôn lậu. Để công tác phòng, chống buôn lậu đạt kết quả cao thì đòi hỏi các lực lượng này phải thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp trong công tác bắt giữ, xử lý.

Do vậy, trong hoạt động điều tra hình sự, ngoài mối quan hệ phối hợp với Cơ quan điều tra, với Viện kiểm sát nhân dân, Hải quan còn có mối quan hệ phối hợp với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, như Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển… trong việc tiếp nhận, trao đổi và xử lý thông tin; phối hợp trong hoạt động tuần tra, kiểm soát; phối hợp trong công tác phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý.

Kết luận Chương 1

Từ nhưng nghiên cứu dưới góc độ lý luận và cơ sở pháp lý, Chương 1 của luận văn đã làm rõ được khái niệm của tội buôn lậu theo pháp luật hình sự Việt Nam, các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội buôn lậu; khái niệm, đặc điểm về điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan. Trong đó, luận văn đã nghiên cứu lịch sử hình thành qui định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan Hải quan qua các thời kỳ trong 70 năm qua; phân tích, so sánh sự hình thành và phát triển các quy phạm về tội buôn lậu của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; nghiên cứu đặc điểm và một số hoạt động điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan, mối quan hệ giữa Cơ quan Hải quan với các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,…

Những vấn đề lý luận nêu trên là một bộ phận của luận văn, là cơ sở trong việc phân tích, đánh giá thực tiễn tình hình và kết quả tổ chức hoạt động điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan trong 05 năm gần đây tại Chương 2. Đồng thời là cơ sở đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan tại Chương 3. Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng điều tra vụ án buôn lậu ở cơ quan Hải quan

One thought on “Luận văn: Điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan hải quan

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp điều tra vụ án buôn lậu ở cơ quan Hải quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464