Luận văn: Thực trạng điều tra vụ án buôn lậu ở cơ quan Hải quan

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng điều tra vụ án buôn lậu ở cơ quan Hải quan hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tình hình, đặc điểm của tội phạm buôn lậu hiện nay

2.1.1. Diễn biến tình hình tội phạm buôn lậu

  • Tình hình tội phạm buôn lậu diễn ra phức tạp, nghiêm trọng trên tất cả các các tuyến, địa bàn của nước, trọng điểm là:

Tuyến biên giới đường bộ tập trung ở khu vực cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh, đường biên từ Km1 đến Km3 phường Ka Long, thành phố Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh); cửa khẩu Tân Thanh, Cốc Nam, Hữu Nghị, Chi Ma, Ga đường sắt liên vận quốc tế (tỉnh Lạng Sơn); cửa khẩu Tà Lùng, Trà Lĩnh (tỉnh Cao Bằng); cửa khẩu quốc tế Lào Cai; cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (tỉnh Nghệ An); cửa khẩu Cha Lo (tỉnh Quảng Bình); cửa khẩu Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh); cửa khẩu Lao Bảo, Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị); cửa khẩu Thường Phước (tỉnh Đồng Tháp); khu vực xã Vĩnh Ngươn, thị xã Châu Đốc giáp Gò Tà Mâu – Campuchia, thị trấn Tịnh Biên, khu vực cửa khẩu Vĩnh Xương, huyện Tân Châu (tỉnh An Giang); cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát thuộc tỉnh Tây Ninh; cửa khẩu Bình Hiệp, Mỹ Quý Tây (tỉnh Long An); cửa khẩu Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang);…

Tuyến đường biển là khu vực cảng Chùa Vẽ, Đoạn Xá, Green Port, Đình Vũ (thành phố Hải phòng); cảng Cái Lân, Vạn Gia (tỉnh Quảng Ninh), cảng Cửa Lò (tỉnh Nghệ an), cảng Kỳ Hà (tỉnh Quảng Nam), cảng Tiên Sa (thành phố Đà Nẵng), các cảng thuộc các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Bà Rịa -Vũng Tàu; bãi tập kết container, kho tập kết hàng hoá xuất nhập khẩu, kho CFS, kho ngoại quan, nơi tàu thuyền neo đậu và xếp dỡ hàng hoá trên sông từ ICD Phước Long đến ngã 3 Bình Khánh – Nhà Bè , tuyến đường vận chuyển nội bộ từ Cát Lái về Tân cảng, từ cảng Hiệp Phước đến các cảng đích (thành phố Hồ Chí Minh)… Vùng biển Đông Bắc bộ, Bắc Miền trung và Tây Nam.

Trên tuyến hàng không, tội phạm buôn lậu xảy ra tại các cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Nội Bài, chuyển phát nhanh Fedex, DHL, Bưu điện trung tâm thành phố Hồ Chí Minh; trạm trả hàng Fedex – Hà Nội, ICD Mỹ Đình, các chuyến bay trọng điểm đi Úc, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, các tuyến bay nhập cảnh từ Thái Lan, Lào, Campuchia, Hồng Kông, Pháp, Mỹ, Nhật, Singapore, Ấn Độ, Pakistan, Malaysia, các nước châu Phi,…

Phương thức, thủ đoạn hoạt động của đối tượng buôn lậu chủ yếu là vận chuyển hàng hóa lén lút qua các đường mòn, lối mở, kênh, rạch, sông biên giới; thuê, mướn, gắn trách nhiệm vật chất đối với các đối tượng vận chuyển hàng lậu. Sử dụng phương tiện vận tải là ô tô, xe máy hoán cải, gia cố vách ngăn, hầm hàng bí mật để ngụy trang. Các đối tượng buôn lậu cũng lợi dụng chính sách ưu đãi tại các khu kinh tế cửa khẩu, định mức miễn thuế của hàng hóa trao đổi cư dân biên giới, lợi dụng tạm nhập tái xuất, trung chuyển, chuyển khẩu.

Tại các cửa khẩu, các thủ đoạn phổ biến của đối tượng buôn lậu là gian lận trong khai báo hải quan, quản lý về tiêu chuẩn chất lượng, xuất xứ hàng hóa,… cất giấu hàng hoá trong người, trong hành lý không khai báo khi xuất cảnh, nhập cảnh; tách bill, chia nhỏ số lượng hàng hóa, gửi về nhiều địa chỉ khác nhau nhưng thực chất chỉ có một người nhận; lợi dụng định mức miễn thuế, hàng quà biếu, quà tặng để vận chuyển trái phép hàng lậu; sử dụng hồ sơ, chứng từ giả như hợp đồng, vận đơn, CO,…

2.1.2. Đặc điểm tội phạm buôn lậu

Qua nghiên cứu các vụ buôn lậu do cơ quan hải quan phát hiện, bắt giữ, có thể rút ra một số đặc điểm về tội phạm buôn lậu như sau:

  • Về đối tượng phạm tội:

Các đối tượng buôn lậu là cư dân biên giới, thạo ngôn ngữ, địa bàn, có quan hệ với các đối tượng buôn bán là người nước ngoài; lao động tự do, “cửu vạn”, thanh niên không có việc làm ổn định, có tiền án, tiền sự, người nghiện ma túy; tiểu thương thường xuyên có hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa ở khu vực biên giới; lái xe hoặc chủ xe tải, xe khách thường xuyên qua lại các cửa khẩu; người nước ngoài, người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài thường xuyên qua lại biên giới.

Nhiều đối tượng vi phạm là cán bộ, nhân viên thuộc các doanh nghiệp kinh doanh loại hình kho ngoại quan, doanh nghiệp thường xuyên xuất nhập hàng hóa qua kho ngoại quan, doanh nghiệp kinh doanh loại hình tạm nhập tái xuất, chuyển cửa khẩu; doanh nghiệp gia công, lắp ráp, sản xuất hàng xuất khẩu; doanh nghiệp thường xuyên đăng ký kiểm tra vào giờ cao điểm, thường xuyên hủy tờ khai xuất khẩu đã được phê duyệt kiểm tra; cá nhân, doanh nghiệp từng bị phát hiện sử dụng thủ đoạn gian lận để buôn lậu, trốn thuế,…

Tại các cảng Hàng không quốc tế, đối tượng buôn lậu tập trung vào nhóm phi công, tiếp viên hàng không, nhân viên làm việc trên chuyến bay; hướng dẫn viên du lịch, đối tượng lợi dụng mang hộ chiếu ngoại giao; hành khách xuất nhập cảnh nhiều lần trên cùng tuyến bay với mục đích không rõ ràng; đối tượng thường xuyên gửi, nhận hàng hóa qua đường hàng không, bưu điện.

Các đối tượng đầu nậu buôn lậu, những tên cầm đầu, tổ chức điều hành những đường dây buôn lậu có quy mô lớn, phân công vai trò chặt chẽ ở các khâu (đưa hàng qua biên giới, làm thủ tục hải quan, vận chuyển trên đường, kho bãi tập kết,…); có sự móc nối với cán bộ cơ quan chức năng. Ví dụ: như một số vụ liên quan đến hoàn thuế VAT ở An Giang năm 2015,… Một số trường hợp, đầu nậu còn móc nối với các đối người nước ngoài để hợp thức hóa hóa đơn chứng từ (chủ yếu giả chứng từ để vi phạm về giá, mã hàng, xuất xứ, phẩm cấp, chất lượng, qui cách,…), thu gom hàng lậu.

Một số đối tượng là người nước ngoài, việt kiều, du học sinh, khách du lịch, xuất khẩu lao động,… Số đối tượng này thường hoạt động buôn lậu, vận chuyển ma tuý, tài liệu phản động, đồ điện tử, hàng xa xỉ cao cấp, ngoại tệ, vàng,…

  • Về tính chất, thủ đoạn, qui mô, mặt hàng buôn lậu

Nhiều vụ buôn lậu ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, an toàn công cộng; có qui mô, tính chất vi phạm nghiêm trọng hơn. Trong 5 năm phát hiện, bắt giữ 5.634 vụ liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trị giá hàng hóa vi phạm ước 1.347 tỷ đồng; thu giữ 428kg heroin, 153 kg và 258 nghìn viên ma túy tổng hợp, 1.588 khẩu súng 161.480 viên đạn, 245kg thuốc nổ, 18,6 tấn ngà voi, 215 kg sừng tê giác, 242 cổ vật, 3.435 tài liệu phản động,.. [22]

Nhiều vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép các mặt hàng trọng điểm ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế vĩ mô, sự cạnh tranh lành mạnh của thị trường trong nước như: rượu, thuốc lá, xăng dầu, vàng, ngoại tệ, tiền giả,… cũng bị chặn đứng hiệu quả. Một số vụ buôn lậu nghiêm trọng, qua điều tra đã thu giữ gồm: 41,4kg vàng, 2 triệu 026 nghìn USD, gần 2 triệu bao thuốc lá, 2,2 triệu lít xăng, gần 1 triệu lít dầu,… [22]

Thời gian gần đây, nổi lên hiện tượng buôn lậu, vận chuyển trái phép các chất thải, sản phẩm thực phẩm độc hại, gây ô nhiễm môi trường, sức khoẻ cộng đồng. Kết quả từ các chuyên đề, kế hoạch tăng cường kiểm soát đã bắt giữ được 14.646,66 tấn phế liệu, 2.312 tấn ắc quy chì, 777.300,8 kg thực phẩm đông lạnh và 106.299 kg thịt gia cầm thải loại,… [22]

Buôn lậu tập trung lợi dụng bất cập, sơ hở của chính sách và hạn chế trong công tác quản lý nhà nước, gây hậu quả lớn, nổi lên là: hiện tượng lợi dụng ưu đãi định mức hàng miễn thuế đối với cư dân biên giới; quay vòng hàng hóa xuất nhập khẩu vào khu kinh tế cửa khẩu để hưởng ưu đãi thuế; sử dụng xe ô tô đăng ký khu kinh tế cửa khẩu, nhưng lưu hành nội địa; kinh doanh tạm nhập tái xuất; chính sách khai thác, quản lý than, quặng bị lợi dụng để buôn lậu diễn ra phức tạp. Điển hình như các vụ buôn lậu xăng dầu tạm nhập tái xuất 1,6 triệu lít Do tại Thanh Hóa năm 2012; vụ 130 triệu lít A95 tại Bình Thuận năm 2016; vụ gian lận xuất xứ Việt Nam (C/O) nhằm hưởng thuế suất ưu đãi của Công ty Tiahua tại Đồng Nai. [22]

  • Nguyên nhân, điều kiện phát sinh buôn lậu

Một là, lợi nhuận từ việc trốn được tiền thuế phải nộp. Theo qui luật cung cầu của thị trường, với cùng một mặt hàng, thì hàng có giá thấp sẽ được tiêu thụ nhanh và lợi nhuận lớn. Các mặt hàng buôn lậu thường là hàng có thuế suất thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.

Do chính sách quản lý mặt hàng của quốc gia. Có những hàng hoá Nhà nước cấm nhập hoặc quản lý chặt chẽ không cho xuất/nhập khẩu hoặc xuất/nhập khẩu có điều kiện như thuốc lá, tân dược, xăng dầu… hay một số mặt hàng không được phép xuất khẩu mà có thể mang lại siêu lợi nhuận như than, xăng dầu, quặng… Với mỗi quốc gia, những chính sách về xuất, nhập khẩu hàng hoá là khác nhau. Chính vì vậy, hoạt động buôn lậu ra đời và phát triển như một bộ phận tất yếu, dù là một bộ phận phi pháp của nền kinh tế quốc dân.

Hai là, hoạt động buôn lậu phát sinh khi luôn có sự chênh lệch về lợi thế so sánh (về nhân công, vị trí địa lý, ưu đãi thuế, đầu tư, du lịch, tập quán tiêu dùng hàng ngoại,…). Tại Việt Nam, các mặt hàng Việt Nam không sản xuất, đã bị buôn lậu như hàng điện tử cao cấp, điện thoại di động, quần áo, hàng thời trang xa xỉ, mỹ phẩm, thuốc lá, rượu ngoại, điện thoại,…

Ba là, do trình độ phát triển kinh tế xã hội ở các vùng miền, khu vực biên giới thường rất thấp, đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp, dẫn đến người dân bị các đối tượng buôn lậu lôi kéo tiếp tay.

Bốn là, cơ chế chính sách, pháp luật, công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, dễ bị các đối tượng buôn lậu lợi dụng để trục lợi. Bên cạnh đó là một bộ phận cán bộ quản lý không đủ trình độ, phẩm chất, thoái hóa cũng vì lợi nhuận và lợi ích cá nhân mà tiếp tay thêm cho hành vi vi phạm này.

2.2. Kết quả điều tra các vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan

2.2.1. Kết quả

Trong 5 năm vừa qua, từ năm 2011 đến năm 2015 kết quả phát hiện, bắt giữ, xử lý như sau:

  • Tổng số vụ vi phạm bị phát hiện bắt giữ: 104.055 vụ; Trị giá hàng hóa vi phạm ước tính: 2.586 tỷ đồng;
  • Trong đó xử lý khởi tố hình sự: 444 vụ

Bảng 2.1. Thống kê về kết quả điều tra, xử lý các vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan từ năm 2011 đến năm 2015:

Bảng 2. 2. Chi tiết theo từng địa phương:

2.2.2. Đánh giá kết quả

Qua tổng hợp, thống kê, nghiên cứu về kết quả điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Hải quan trong những năm vừa qua, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Từ năm 2011 đến năm 2015, các Cơ quan Hải quan đã phát hiện, bắt giữ, khởi tố 115 vụ án hình sự, chuyển cơ quan khác khởi tố 329 vụ án hình sự. Trong đó có nhiều vụ nghiêm trọng như buôn lậu xe vũ khí, ô tô, vắc xin phòng dịch, khoáng sản, gỗ, động vật hoang dã,… ngoài ra, hàng năm đều bắt giữ, thực hiện một số hoạt động điều tra ban đầu và chuyển cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng hàng trăm vụ án về ma tuý, chất nổ, tài liệu có nội dung phản động.

Tuy nhiên, số vụ khởi tố còn rất ít (trung bình khoảng 0,5 % tổng số vụ vi phạm trong lĩnh vực hải quan bị phát hiện, bắt giữ hàng năm); không có vụ án nào có khởi tố bị can. Có nhiều đơn vị trong 5 năm chưa tiến hành khởi tố vụ án nào, trong đó có những đơn vị quản lý địa bàn phức tạp như Hà Nội, Đồng Nai, Bà rịa – Vũng Tầu, Bình Dương,…

Hoạt động điều tra của Cơ quan Hải quan đã được tổ chức trên tất cả các mặt từ kiện toàn lực lượng chuyên trách từ trung ương đến cơ sở, đến xây dựng cơ sở pháp lý, hệ thống các biện pháp nghiệp vụ, đầu tư trang thiết bị chuyên dụng,… cụ thể là:

Đã hình thành tổ chức hệ thống các đơn vị chuyên trách thực hiện công tác điều tra ở các cấp. Bên cạnh đó, còn có các đơn vị nghiệp vụ tham mưu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động điều tra (tại Tổng cục Hải quan là cục Điều tra chống buôn lậu, tại cục Hải quan tỉnh, thành phố là đội Kiểm soát hải quan, phòng Tham mưu chống buôn lậu). Lực lượng chuyên trách này với hơn 2000 cán bộ, được kế thừa nhiều lớp thế hệ, đào tạo từ các trường chuyên ngành An ninh, Cảnh sát của Công an và Quân đội.

Căn cứ vào Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg ngày 15/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã ban hành các quyết định triển khai, thì mô hình tổ chức bộ máy của các đơn vị hải quan chuyên trách chống buôn lậu được tổ chức như sau:

Cục Điều tra chống buôn lậu trực thuộc Tổng cục Hải quan, gồm 14 đơn vị: 04 phòng tham mưu nghiệp vụ, 01 phòng công tác đảm bảo, 03 đội Kiểm soát hải quan (3 miền); 01 đội Kiểm soát ma tuý, 01 đội sở hữu trí tuệ và hàng giả, 03 hải đội, 01 trung tâm huấn luyện chó nghiệp vụ.

Cục Hải quan tỉnh, thành phố gồm các đơn vị: đội Kiểm soát Hải quan (36 đội); đội Kiểm soát phòng, chống ma tuý (12 đội); phòng Tham mưu chống buôn lậu và xử lý vi phạm (22 phòng); tổ Tham mưu xử lý vi phạm và thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan thuộc Phòng nghiệp vụ (đối với nơi không có phòng -13 tổ). Có 02 tỉnh có đội Kiểm soát hải quan trên biển, các tỉnh có biển, sông còn lại có tổ Kiểm soát hải quan trên biển, trên sông thuộc đội Kiểm soát hải

Chi cục Hải quan cửa khẩu và tương đương gồm các đơn vị: tổ Kiểm soát hải quan; tổ Kiểm soát phòng, chống ma tuý; đơn vị được giao nhiệm vụ kiểm soát hải quan tại Chi cục Hải quan nơi không thành lập tổ Kiểm soát hải

Cơ sở pháp lý hoạt động nghiệp vụ và điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan từng bước được hoàn thiện

Hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về tội phạm buôn lậu và hoạt động điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan, cũng như pháp luật xử lý vi phạm hành chính liên quan đến thẩm quyền, biện pháp nghiệp vụ thu thập thông tin, điều tra xác minh, ngăn chặn, tạm giữ, xử lý,… đã được cấp có thẩm quyền ban hành và đang có hiệu lực. Hiện nay, có thể khái quát các cơ sở pháp lý cho hoạt động nghiệp vụ và điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan như sau:

Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014; Nghị định số 01/2015/NĐ-CP ngày 02/01/2015 quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; trách nhiệm phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (thay thế Nghị định số 107/2002/NĐ-CP ngày 23/12/2002 của Chính phủ); Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Quyết định số 65/2004/QĐ-TTg ngày 19/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động của lực lượng Hải quan chuyên trách chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Thông tư số 102/2005/TT-BTC ngày 21/11/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quy chế hoạt động của lực lượng hải quan chuyên trách phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Quyết định số 1882/QĐ-TCHQ ngày 29/11/2005 Ban hành quy định về các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan…

Hiện nay, Tổng cục Hải quan đã trình Bộ Tài chính ban hành các văn bản gồm: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành qui định các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan; Thông tư qui định chế độ đảm bảo thực hiện các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan để tổ chức thực hiện trong thời gian tới.

  • Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ theo hệ thống từ khâu trinh sát đến khởi tố, điều tra vụ án

Thực tế từ nhiều năm nay, các đơn vị hải quan các cấp đã triển khai các biện pháp nghiệp vụ từ vận động quần chúng tham gia phòng, chống buôn lậu, điều tra cơ bản tại địa bàn, tuần tra kiểm soát, xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật, sưu tra, trinh sát nội, ngoại tuyến, đấu tranh chuyên án,… kết quả tính từ 2010 đến năm 2015 Cơ quan Hải quan đã tiến hành lập hơn 2000 hồ sơ điều tra nghiên cứu nắm tình hình, đưa vào diện sưu tra hơn 2.000 đối tượng, xác lập, tổ chức đấu tranh hơn 100 chuyên án. Đây là nguồn thông tin cơ sở quan trọng để chủ động phát hiện, điều tra tội phạm buôn lậu của Cơ quan Hải quan. [22]

2.3 Những hạn chế trong điều tra vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan

Mặc dù, đã đạt được những kết quả nhất định trong điều tra vụ án buôn lậu, nhưng trong hoạt động của mình Cơ quan Hải quan vẫn đang có một số hạn chế sau đây:

2.3.1 CQHQ chưa thực hiện hết các qui định về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự mà pháp luật qui định.

Kết quả nghiên cứu các vụ án Cơ quan Hải quan bắt giữ quả tang có rất nhiều vụ buôn lậu, ra quyết định khởi tố vụ án, nhưng chưa có vụ án nào mà Cơ quan Hải quan tiến hành điều tra toàn bộ vụ án và chuyển cho Viện kiểm sát xem xét, truy tố. Các vụ án Cơ quan Hải quan chỉ tiến hành khởi tố, khám xét, tạm giữ hàng hoá, phương tiện vi phạm, chứng từ về nguồn gốc của lô hàng… và chuyển cho Cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Chi cục Hải quan là đơn vị cơ sở, trực tiếp làm thủ tục hải quan, kiểm tra, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, tuần tra kiểm soát trong địa bàn hoạt động hải quan… Các vụ buôn lậu, gian lận thương mại chủ yếu do Chi cục Hải quan phát hiện và bắt giữ. Tuy nhiên, đến nay, chưa có Chi cục Hải quan nào khởi tố vụ án và tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Thông thường, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật hải quan đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, các Chi cục cũng chỉ lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, tiến hành khám xét theo thủ tục hành chính…, sau đó chuyển hồ sơ vụ việc về Phòng tham mưu xử lý vi phạm và thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan để làm thủ tục trình lãnh đạo Cục ra quyết định khởi tố hoặc chuyển giao cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì sau khi khởi tố vụ án, Cơ quan Hải quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra. Nhưng trong thực tế, khi xác định vụ việc vi phạm có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì Cơ quan Hải quan trao đổi ý kiến với Viện kiểm sát nhân dân hoặc với Cơ quan điều tra, sau đó tiến hành khởi tố và chuyển giao vụ án cho Cơ quan điều tra; hoặc tiến hành xác minh, xác định vụ vi phạm có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì chuyển giao ngay vụ việc cho Cơ quan điều tra chuyên trách, mà không khởi tố vụ án.

2.3.2 Hệ thống lý luận còn thiếu và chưa có văn bản qui định quy trình thủ tục, hướng dẫn về công tác điều tra vụ án hình sự:

Ở phương diện lý luận cho thấy, đến nay vẫn chưa có các công trình nghiên cứu một cách toàn diện về công tác điều tra của Cơ quan Hải quan và cũng như chưa có các chuyên đề tổng kết thực tiễn thi hành các qui định pháp luật tố tụng hình sự về công tác điều tra của Cơ quan Hải quan đối với các vụ án buôn lậu.

Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 có hiệu lực, ngành Hải quan chưa có văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện thẩm quyền điều tra của Hải quan, trình tự thủ tục tiến hành điều tra một vụ án cho Cơ quan Hải quan các cấp, cũng như ban hành mẫu ấn chỉ sử dụng trong hoạt động tố tụng trong toàn ngành. Vì vậy, khi điều tra vụ án hình sự, Hải quan còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về trình tự thủ tục tiến hành.

2.3.3 Nhận thức chưa đầy đủ, chính xác về công tác điều tra của Hải quan dẫn đến hạn chế trong công tác chỉ đạo điều hành, công tác triển khai hoạt động điều tra, công tác bố trí cán bộ làm công tác điều tra…

Thẩm quyền điều tra hình sự của Cơ quan Hải quan có ý nghĩa rất lớn trong công tác phòng ngừa hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, chống thất thu thuế… Nhưng nhiều cán bộ, công chức và cả lãnh đạo một số đơn vị chưa nhận thức được đầy đủ và chính xác về vị trí, vai trò của công tác điều tra tội phạm, mà chủ yếu quan tâm nhiều đến vấn đề thu thuế. Do vậy, hoạt động điều tra hình sự của Cơ quan Hải quan không được quan tâm. Trong năm gần đây chỉ có 115 vụ Cơ quan Hải quan khởi tố trên 104.055 vụ vi phạm bị phát hiện là một con số hết sức khiêm tốn, phản ánh sự thiếu hiệu quả từ nhận thức, đến tổ chức thực hiện công tác điều tra vụ án hình sự.

2.3.4 Quan hệ phối hợp với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khác chưa được chặt chẽ, hạn chế hiệu quả phát hiện, xử lý và phòng ngừa tội phạm.

Theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì trong trường hợp cần thiết, Cơ quan điều tra có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển ngay hồ sơ vụ án để trực tiếp điều tra. Các yêu cầu của Cơ quan điều tra có giá trị bắt buộc thi hành đối với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Do vậy, đã xẩy ra nhiều trường hợp Hải quan đang tiến hành điều tra, xác minh thì Cơ quan điều tra lại yêu cầu chuyển hồ sơ để nghiên cứu làm cho việc điều tra bị tạm dừng, việc kết luận điều tra phải chờ kết quả từ Cơ quan điều tra. Vì vậy, vấn đề làm thủ tục hải quan, thông quan hàng hoá bị đình trệ, gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Mặt dù pháp luật đã quy định đối với những tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, sau khi khởi tố vụ án thì trong thời hạn 7 ngày phải chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc chuyển cho Cơ quan điều tra nào chưa có hướng dẫn cụ thể, do vậy, Cơ quan Hải quan rất lúng túng trong việc chuyển giao và thường mất rất nhiều thời gian, thủ tục trong việc trao đổi, thống nhất cơ quan tiếp nhận.

2.4. Những nguyên nhân của các hạn chế trong điều tra vụ án buôn lậu của cơ quan Hải quan

Qua thực tiễn có thể khái quát những nguyên nhân làm hạn chế, bất cập trong điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan:

2.4.1 Tình hình tội phạm buôn lậu gia tăng, diễn biến phức tạp do tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội:

Các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục chống phá cách mạng, chống phá Nhà nước, chế độ xã hội ở nước ta. Các tổ chức phản động lưu vong chống phá ta quyết liệt, tìm cách đưa người, vũ khí và phương tiện hoạt động tình báo, xâm nhập nội địa, lợi dụng; lợi dụng các dự án hợp tác về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, giáo dục, luật pháp, y tế và các hoạt động từ thiện, nhân đạo khác để hoạt động. Liên quan đến tình hình này là hoạt động vận chuyển trái phép qua biên giới vũ khí, chất nổ, văn hoá phẩm có nội dung phản động, chống phá nhà nước gia tăng.

Công cuộc đổi mới đã thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đồng thời bộc lộ nhiều bất cấp về cơ chế, chính sách, pháp luật bị các đối tượng lợi dụng để buôn lậu, nhất là các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế. Chính sách điều tiết kinh tế đối với với các mặt hàng như xăng dầu, vàng, ngoại tệ, thực phẩm, dược phẩm, vật tư nông nghiệp,… cũng bị lợi dụng. Ví dụ khi có sự chệnh lệch về giá xăng dầu giữa Việt Nam và Campuchia thì hoạt động xuất lậu xăng dầu xẩy ra ồ ạt, bọn buôn lậu dùng mọi thủ đoạn để vận chuyên trái phép xăng dầu qua biên giới (như vận chuyển qua lối mòn, chở bằng túi ni lông để khi bị bắt thì chọc thủng phi tang….). Khi giá xăng dầu ít chênh lệch thì hoạt động xuất lậu xăng dầu chấm dứt; hoặc trường hợp giá đường trong nước thường cao hơn đường sản xuất từ Thái Lan (do công nghệ sản xuất của Việt Nam lạc hậu, máy móc cũ…).

Sản xuất hàng hóa trong nước chưa đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của người dân. Nhất là các mặt hàng tiêu dùng điện tử, điện lạnh, gia dụng, hàng công nghệ cao, ô tô, xe máy. Các mặt hàng nguyên phụ liệu sản xuất như thép, hạt nhựa, vải, hóa chất,… phục vụ sản xuất trong nước chủ yếu vẫn phải nhập của nước ngoài.

Theo Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015 của cả nước là 2,31% (năm 2013 là 2,18%; năm 2014 là 2,10%). Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn là 1,83% (năm 2013 là 1,54%; năm 2014 là 1,49%). Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới,hải đảo, những vùng bị thiên tai còn rất khó khăn, đã tác động trực tiếp đến sự gia tăng tội phạm nói chung và tội buôn lậu. Theo khảo sát thực tế tại các xã, khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm về buôn lậu thì “cửu vạn” đai vác hàng qua đường mòn, lối mở biên giới, xách hàng thuê qua cửa khẩu,… đều là dân nghèo bản địa, hoặc các tỉnh lân cận.

Các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm ngày càng diễn biến phức tạp. Các tệ nạn xã hội đã, đang và sẽ là nguyên nhân làm cho tình hình tội phạm tiếp tục gia tăng với tính chất, mức độ nguy hiểm hơn trước.

Cùng với việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và khu vực mậu dịch tự do (AFTA)… Theo lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam sẽ giảm dần thuế suất đối với một số dũng thuế và dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, thì lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, hành khách xuất nhập cảnh; hoạt động đầu tư, liên doanh, gia công, sản xuất hàng hoá xuất khẩu… gia tăng mạnh mẽ, đồng thời những phương thức, thủ đoạn buôn lậu, gian lận thương mại mang tính quốc tế cũng thâm nhập vào Việt Nam, làm cho hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới ngày càng phức tạp.

2.4.2 Nguyên nhân về nhận thức

Cán bộ, công chức Hải quan chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác điều tra vụ án buôn lậu. Đây chính là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự yếu kém trong công tác điều tra của ngành Hải quan. Trong bối cảnh áp lực về thu ngân sách qua thuế xuất nhập khẩu, toàn Ngành đã tập chung cả nhân lực, vật lực cho công tác thu thuế. Vì vậy, công tác điều tra tội phạm chưa được quan tâm đúng mức trong khi pháp luật qui định cho Cơ quan Hải quan thẩm quyền điều tra, là công cụ hữu hiệu trong đấu tranh chống thất thu, góp phần thiết lập trật tự trong lĩnh vực thương mại, bảo vệ an ninh quốc gia và lợi ích cộng đồng.

Từ nhận thức về hoạt động điều tra chưa đầy đủ, chưa chính xác dẫn đến một loạt các nguyên nhân khác: như công tác chỉ đạo điều hành, công tác triển khai hoạt động điều tra, công tác bố trí cán bộ làm nhiệm vụ điều tra, công tác đào tạo…không có hiệu quả. Qua thực tiễn hoạt động phát hiện những bất hợp lý trong quy định về quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ điều tra, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng chưa phản hồi tới nhà làm luật, tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kịp thời bổ sung, sửa đổi.

2.4.3 Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự chưa phù hợp với thực tế hoạt động của Cơ quan Hải quan.

BLHS năm 1999 qui định “buôn bán trái phép qua biên giới”. Bộ luật hình sự năm 2015 đã mở rộng hơn “buôn bán qua biên giới, hoặc từ khu phi thuế quan và nội địa và ngược lại”. Tuy nhiên, vẫn còn chưa rõ ràng trong việc xác định yếu tố “biên giới”. Theo Luật Biên giới quốc gia năm 2013 thì biên giới bao gồm đường biên giới, vành đai biên giới và khu vực biên giới. Cả hai Bộ luật đều không qui định cụ thể địa điểm biên giới nào được xác định là cấu thành tội phạm.

Ngoài ra, các hình thức hoạt động xuất nhập khẩu như tạm nhập, tái xuất, quá cảnh,… thì khi qua biên giới, hàng hóa được làm thủ tục hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình vận chuyển nội địa, hàng hóa đó thẩm lậu nội địa. Hoặc đối tượng buôn lậu khi bị phát hiện tại khu vực biên giới, nhưng bỏ chạy, Cơ quan Hải quan truy đuổi và bắt được hàng hóa trong nội địa. Do đó trong các trường hợp này, việc xác định yếu tố biên giới rất khó khăn.

BLHS năm 2015 tại Điều 188 tội buôn lậu và Điều 200 tội trốn thuế có sự trùng lặp, không rõ ràng qui định về hành vi phạm tội. Theo qui định hiện hành, hồ sơ hải quan cũng là hồ sơ thuế. Tại Điều 200 qui định các hành vi cụ thể là hành vi trốn thuế như không khai báo, khai báo sai với thực tế hàng xuất nhập khẩu, không kê khai, hoặc kê khai sai số thuế phải nộp,… đây cũng là những hành vi trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của Cơ quan Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, xâm hại trật tự quản lý trong hoạt động xuất nhập khẩu, là các hành vi cấu thành tội buôn lậu.

  • Về các hoạt động điều tra

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 20 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì Cơ quan Hải quan có quyền lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can, tiến hành các biện pháp điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự…

Theo quy định tại Chương XI Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan…. do điều tra viên hoặc kiểm sát viên tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ. Cơ quan Hải quan không có các chức danh này. Việc lấy lời khai do Cơ quan Hải quan thực hiện chưa được quy định một cách rõ ràng, cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự cũng chỉ quy định chung chung “theo quy định của Bộ luật này”. Do chưa có quy định cụ thể, cho nên việc triệu tập người làm chứng đến làm việc rất khó khăn và cũng chưa có chế tài xử lý khi những người này không đến làm việc.

Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Lệnh khám xét của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra phải được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn trước khi tiến hành. Vì vậy, trường hợp Cơ quan Hải quan khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát hải quan thì cần có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân hay không, chưa được hướng dẫn cụ thể. Trong thực tiễn cũng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Có ý kiến cho rằng Bộ luật tố tụng hình sự, cũng như Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đều không quy định nên việc khám người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát hải quan không cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Có quan điểm cho rằng ngay cả Lệnh khám xét của Cơ quan điều tra còn phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát thì đương nhiên Lệnh khám xét của cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Tương tự việc thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án chưa được hướng dẫn cụ thể. Trên thực tế, để tránh việc thực thi không đúng quy định, Cơ quan Hải quan thường sử dụng quyết định hành chính để tiến hành khám xét, cũng như thu giữ vật chứng.

Về chuyển vụ án: việc xác định thẩm quyền để Cơ quan Hải quan chuyển vụ án đang là một vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau. Đối với trường hợp Chi cục Hải quan cửa khẩu khởi tố vụ án thì chuyển cho Cơ quan điều tra cấp huyện nơi xẩy ra vụ án, cũng là nơi phát hiện. Đối với trường hợp Cục trưởng Cục Hải quan liên tỉnh khởi tố vụ án thì chuyển cho Cơ quan điều tra nơi xẩy ra vụ án hay nơi phát hiện cũng chưa có quy định cụ thể.

Trường hợp Cục điều tra chống buôn lậu, Cục Kiểm tra sau thông quan khởi tố vụ án thì việc chuyển cho Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an hay Cơ quan điều tra cấp tỉnh chưa có quy định cụ thể. Trong thực tế, khi tiến hành khởi tố vụ án, Cục Điều tra chống buôn lậu thường trao đổi trước với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an để xin ý kiến về việc chuyển giao vụ án.

Việc định lượng trị giá hàng hóa, tiền tệ phạm pháp là rất khó khăn, nhất là những loại hàng hóa đặc biệt như động vật hoang dã, hàng hóa chuyên dụng,…

Theo quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999, đối với những trường hợp mặc dù trị giá hàng hoá buôn lậu, vận chuyển trái phép dưới 100 triệu đồng, nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại hai điều này hoặc tại một trong các điều 155, 156, 157, 158, 159, 160, và 161 của Bộ luật hình sự năm 1999 hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cũng bị coi là phạm tội.

Trong thực tế, thông tin tội phạm, về việc xử phạt vi phạm hành chính giữa các cơ quan chưa được kết nối trực tuyến và chưa có quy định các cơ quan phải thường xuyên cung cấp cho nhau, nên Hải quan không có thông tin để xử lý khi phát hiện vi phạm. Hiện nay, Chính phủ ban hành rất nhiều nghị định quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan, trong lĩnh vực thương mại… Tuy nhiên, những hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, thương mại, sở hữu trí tuệ không xác định rõ hành vi nào là hành vi buôn lậu, hành vi nào là hành vi vận chuyển trái phép để làm căn cứ xác định một hành vi vi phạm pháp luật là tái phạm để xem xét đến khả năng bị xử lý hình sự.

2.4.4 Tổ chức bộ máy điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống buôn lậu, tội phạm trong lĩnh vực Hải quan.

Hiện nay, ở Tổng cục Hải quan có 2 đơn vị tương đương đều có quyền khởi tố và điều tra vụ án hình sự như nhau, đó là Cục điều tra chống buôn lâu và Cục Kiểm tra sau thông quan. Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan chưa có văn bản phân công đơn vị nào có nhiệm vụ tham mưu, hướng dẫn hoạt động điều tra hình sự trong toàn ngành. Do vậy, từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành, ngành Hải quan chưa có văn bản nào hướng dẫn việc thực hiện hoạt động tố tụng hình sự.

Ngành Hải quan chưa tổ chức một hệ thống Cơ quan điều tra hình sự riêng, có chức danh tiêu chuẩn riêng, mà lực lượng điều tra hình sự nằm trong lực lượng kiểm soát hải quan. Do vậy, tính chuyên sâu, chuyên nghiệp trong hoạt động tố tụng hình sự còn yếu kém.

2.4.5 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ điều tra của Cơ quan Hải quan chưa đáp ứng được yêu cầu

Đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra hình sự chủ yếu là kiêm nhiệm, nằm trong lực lượng kiểm soát hải quan. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát hải quan nói chung, điều tra hình sự nói riêng cũng thiếu, trình độ chưa đồng đều.

Tổng số cán bộ chuyên trách làm công tác chống buôn lậu là 1,660 người, bằng 14,70 % biên chế Ngành (11.296 người). Trong đó trình độ trên đại học chiếm 1,61%; đại học, cao đẳng 82,57%; trung cấp 7,87%, sơ cấp trở xuống 7,95%. Có 71% là cán bộ ở cơ sở, thuộc đội kiểm soát của các cục Hải quan tỉnh, thành phố và tổ kiểm soát của Chi cục hải quan cửa khẩu. Có hơn 24% là cán bộ thuyền viên, huấn luyện viên chó nghiệp vụ, nhân viên hợp đồng là những người không được trực tiếp nghiệp vụ. Nhiều Cục hải quan tỉnh, thành phố số cán bộ chuyên trách làm công tác chống buôn lậu không quá 10 người như: Quảng Nam, Bình Dương, Cà Mau, GiaLai- Kontum. [22]

Trình độ của cán bộ đa số mới đáp ứng yêu cầu tuần tra kiểm soát công khai, tổ chức đấu tranh với các vụ việc nhỏ, trong phạm vi hẹp. Do vậy, kiến thức chuyên sâu về pháp luật, kỹ năng, chiến thuật điều tra rất yếu (chỉ có khoảng 40% cán bộ đã qua đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ chống buôn lậu). Việc luân chuyển cán bộ làm công tác điều tra luôn thay đổi, dẫn đến thiếu cán bộ có trình độ, kinh nghiệm điều tra.

2.4.6 Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ phát hiện, đấu tranh phòng, chống buôn lậu còn thiếu thốn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Phần lớn các trang thiết bị, phương tiện chống buôn lậu được trang bị trong nhiều năm, hiện tại phần lớn đã xuống cấp, hạn chế tính năng sử dụng hoặc hỏng. Mức độ đầu tư mới đáp ứng cho nhu cầu tối thiểu, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ và yêu cầu kiểm soát thực tế. Đặc biệt trong điều kiện đối tượng buôn lậu có phương tiện, trang bị ngày càng hiện đại hơn so với lực lượng Hải quan.

Thiếu các trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm tra, khám xét hàng hóa, phương tiện chưa được đánh giá đúng. Dẫn đến tình trạng, trang thiết bị phục vụ công tác này đang được trang bị chủ yếu theo đề xuất của từng địa phương nhưng không được khảo sát, đánh giá cụ thể trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Một số trang bị không đồng bộ về chủng loại, xuất xứ. Do đó, ảnh hưởng đến công tác vận hành, sử dụng, sửa chữa…Mặt khác, tính năng kỹ thuật của các phương tiện đã được trang cấp cũng không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; chưa được trang bị những thiết bị kiểm hóa cơ bản như: thiết bị phát hiện hàng cấm, thiết bị kiểm tra hóa chất, xăng dầu, thiết bị kiểm tra các chất gây nghiện, thiết bị phát hiện phóng xạ,…

Hệ thống tàu thuyền chống buôn lậu đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập như: tổng số tàu thuyền ngành Hải quan cho đến thời điểm này là 153 chiếc, trong đó có 29 tàu, 116 ca nô lắp máy. Trong số 29 tầu hải quan có 18 tầu từ 10 tuổi trở lên chiếm 62% trên tổng số tầu, có 04 tầu trên 17 năm sử dụng. Trong số 116 ca nô lắp máy có 48 ca nô từ 10 năm sử dụng trở lên chiếm 41% trên tổng số ca nô, số ca nô hỏng có 32 chiếc (chiếm 27,6% trên tổng số ca nô gắn máy). Đa số tầu có kích thước nhỏ, khả năng chịu sóng kém (thực tế chỉ chịu được sóng gió cấp 3-4), trong khi yêu cầu hoạt động trên biển đòi hỏi tàu phải chịu được sóng cấp 5-6. [22]

Tuy các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ khác đã được quan tâm trang bị, nhưng vẫn còn các trang thiết bị phục vụ công tác chưa được trang cấp, còn thiếu và không kịp thời như: đạn cho súng quân dụng; các thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác trinh sát kỹ thuật như: máy nghe điện thoại, máy định vị điện thoại,…

Kết luận Chương 2

Từ thông tin báo cáo tổng kết hàng năm của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, báo cáo của công tác chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan và các tài liệu thu thập được, Chương 2 của luận văn đã tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng diễn biến tình hình hoạt động của tội phạm buôn lậu hiện nay, nêu lên được những tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm về buôn lậu, các phương thức, thủ đoạn, cũng như các mặt hàng buôn lậu chủ yếu và kết quả khởi tố, điều tra của Cơ quan Hải quan trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015. Ngoài ra, luận văn đã nêu lên được những đặc điểm chủ yếu của tội phạm buôn lậu, những nguyên nhân, điều kiện phát sinh buôn lậu.

Trong Chương 2, luận văn đã đánh giá những kết quả đạt được trong tổ chức công tác điều tra của Cơ quan Hải quan, qua đó thấy rõ tổ chức bộ máy chuyên trách làm công tác chống buôn lậu và công tác điều tra vụ án buôn lậu, hệ thống luật, văn bản của ngành qui định về công tác điều tra, tổ chức hoạt động nghiệp vụ từ khâu trinh sát đến khởi tố, điều tra. Chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan từ nhận thức, hệ thống lý luận, tổ chức triển khai qui định của pháp luật về thẩm quyền, biện pháp điều tra theo tố tụng hình sự. Đồng thời cũng nghiên cứu những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh những hạn chế, bất cập nêu trên.

Chương 2 của luận văn không chỉ phân tích, đánh giá một cách có hệ thống về thực trạng công tác điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan mà còn xác định các vấn đề hạn chế, bất cập trong công tác này và nguyên nhân để từ đó là cơ sở xây dựng những giải pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra vụ án buôn lậu của Cơ quan Hải quan.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464