Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về địa vị của người bị buộc tội tại tỉnh Quảng Nam và những khó khăn, vướng mắc dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội tại tỉnh Quảng Nam

2.1.1. Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị bắt

Bắt người là viện pháp ngăn chặn có tính đặc thù được áp dụng liền trước các biện pháp tạm giữ hoặc tạm giam. Nội dung biện pháp ngăn chặn này là hạn chế tự do thân thể của người bị bắt trong một thời gian nhất định. Mặc dù bị hạn chế quyền tự do thân thể nhưng người bị bắt vẫn phải được đảm bảo các quyền khác mà pháp luật không tước của họ. Bảo vệ những quyền đó là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không ghi nhận thành một điều riêng về quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, tuy nhiên địa vị pháp lý của người bị bắt cần được tôn trọng và ghi nhận không chỉ trên văn bản mà còn trên các hoạt động tố tụng thực tế.

Vấn đề bảo vệ địa vị pháp lý của người bị bắt đang là một trong những vấn đề được xã hội quan tâm. Khi bắt một người, cơ quan và người tiến hành tô tụng thường có xu hướng thiên về việc người bị bắt thực hiện nghĩa vụ của mình mà chưa chú trọng cho họ thực hiện đầy đủ quyền của mình. Bên cạnh đó một đặc thù là quyền của người bị bắt là được thực hiện hầu hết thông qua việc thực hiện của cơ quan và người tiến hành tố tụng.

Gia đình người bị bắt được quyền biết người thân của họ bị cơ quan nào bắt, bắt về hành vi gì. Tuy nhiên việc thông báo này của cơ quan mặc dù được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ án nhưng vẫn có trường hợp gia đình người bị bắt không nhận được hoặc được thông báo chậm trễ mà không có lý do. Việc thông báo chậm trễ này vừa gây hoang mang cho gia đình người bị bắt vừa ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền khác như quyền nhờ người khác bào chữa, quyền cung cấp tài liệu, đồ vật, chứng cứ và các căn cứ khác để chứng minh họ không thực hiện hành vi phạm tội.

Trong thực tiễn thực hiện quyền của người bị bắt theo pháp luật Tố tụng hình sự ở nước ta nói chung, thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam nói riêng có thể nói rằng vấn đề bảo đảm quyền của người bị bắt đã được quan tâm, thể hiện được phần nào tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính Trị về: Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NG/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó nhấn mạnh “các cơ quan tư pháp phải thực hiện là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”. Tuy nhiên không phải khi nào quyền của người bị bắt cũng được hoàn toàn đảm bảo một cách đúng pháp luật từ các cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Bắt người tùy tiện, oan sai tuy không phải là hiện tượng phổ biến nhưng thực tế đã xảy ra ở nhiều địa phương, gây nên sự bất bình trong du luận xã hội, có trường hợp gây ra hậu quả nghiêm trọng. Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong 05 năm Viện kiểm sát các cấp không phê chuẩn bắt khẩn cấp 32 trường hợp. Ngoài ra qua công tác kiểm sát còn phát hiện một số trường hợp ý kiến của người bị bắt không được ghi nhận vào biên bản bắt người, thành phần tham gia không đảm bảo, các tài liệu, vật chứng thu giữ không được ghi nhận và mô tả đẩy đủ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Trong một thời gian tương đối ngắn, nhưng giai đoạn bắt theo pháp luật Tố tụng hình sự là giai đoạn đặc biệt quan trọng, nếu các lời khai được xác lập, chứng cứ và hồ sơ được củng cố từ Cơ quan điều tra với mục đích khép tội người bị bắt mà không có thái độ, tinh thần xác minh sự thật khách quan của vụ việc, không áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để thực hành công lý, không cho người bị bắt có quyền được im lặng, quyền bào chữa và việc đảm bảo các quyền về bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ chưa được quy định cụ thể và thực thi hiệu quả thì rất dễ dẫn đến sự lạm, ép nhận tội trong lời khai từ đó có thể dẫn đến một chuỗi oan sai tiếp theo trong hoạt động Tố tụng hình sự.

Ở giai đoạn bắt cần sự kiểm sát chặt chẽ từ Viện kiểm sát, trong trường hợp cần thiết Viện kiểm sát có thể gặp gỡ người bị bắt, lấy lời khai, lắng nghe ý kiến của họ để kịp thời phát hiện những vi phạm, oan sai mà hồ sơ vụ án không thể hiện hoặc thể hiện chưa đầy đủ.

2.1.2. Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ

Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ nằm trong tổng thể địa vị pháp lý của người vị tạm giữ được thể hiện trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về địa vị pháp lý gồm có quyền (khoản 2 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) và nghĩa vụ (khoản 3 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).

Về khía cạnh quyền của người bị tạm giữ, từ việc họ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng tạm giữ nên phải có các quyền để bảo vệ việc tạm giữ thiếu căn cứ pháp luật. Việc tạm giữ là hậu quả của việc bắt quả tang, bắt khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú, vì vậy người bị tạm giữ có quyền biết tại sao họ bị bắt. Khi bị tạm giữ, họ có quyền được giải thích các quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là người bị tạm giữ. Người bị tạm giữ cũng có quyền thực hiện các hành vi tố tụng để bác bỏ căn cứ tạm giữ mà người có thẩm quyền đã xác định để ra quyết định tạm giữ. Người bị tạm giữ cũng có quyền chứng minh, khai báo, đưa ra tài liều, đồ vật, yêu cầu xác minh… để bác bỏ sự tình nghi buộc tội từ phía cơ quan có thẩm quyền. Người bị tạm giữ cũng có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng liên quan đến việc đảm bảo thực hiện các quyền tố tụng của mình.

Theo số liệu từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2015, tại tỉnh Quảng Nam có tổng số người bị bắt tạm giữ là 1.485 người. Số người bị tạm giữ đã giải quyết là 1.456 người (còn lại 29 người chưa giải quyết), trong đó: Khởi tố bị can chuyển tạm giam 1.180 người, khởi tố áp dụng biện pháp ngăn chặn khác 99 người, số truy nã chuyển tạm giam 115 người, cơ quan bắt giữ trả tự do 62 người. Trong đó Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm giữ 80 người, không phê chuẩn Quyết định gia hạn tạm giữ 5 người, chuyển xử lý hành chính 04 người. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Như vậy, trong vòng 5 năm qua trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, việc tạm giữ và tình nghi phạm tội đối với 62 trường hợp được xem là không đủ cơ sở và dấu hiệu cấu thành tội phạm, không thể khởi tố bị can. Như vậy, dù muốn dù không, khi người bị tạm giữ này bị bắt rồi lại được thả ra cho thấy rằng quyền của những người bị tạm giữ đã bị can thiệp, tác động tiêu cực. Số liệu nói trên cũng chỉ ra rằng, trong thực tiễn có những trường hợp bị tạm giữ không đúng pháp luật từ Cơ quan điều tra, cụ thể có 30 người bị tạm giữ nhưng bị Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm giữ. Có 05 trường hợp gia hạn tạm giữ không đúng nên Viện kiểm sát không phê chuẩn và trả tự do, trong đó có thực tế 01 người không thực hiện hành vi phạm tội.

Từ thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự tạm giữ nói trên tại tỉnh Quảng Nam cho thấy quyền của người bị tạm giữ luôn cần thiết được bảo vệ để tránh bị xâm phạm do các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng gây ra. Về việc thực hiện các quyền của người bị tạm giữ như được biết lý do bị tạm giữ, được giải thích về quyền và nghĩa vụ, được trình bày lời khai là những quyền mang tính thủ tục và được thực hiện khá đầy đủ trong thực tiễn. Tuy nhiên, khi ở vị thế có địa vị pháp lý yếu thế, người bị tạm giữ vẫn rất cần được bảo vệ bởi những quyền khác một cách hoàn hiện hơn. Như quyền im lặng của người bị tạm giữ chưa được quy định trực tiếp và cụ thể, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, thủ tục tạm giữ vẫn còn những hạn chế cần được hoàn thiện.

Về quyền được im lặng của người bị tạm giữ hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa có quy định cũng như ghi nhận là một nguyên tắc trong Tố tụng hình sự. Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Điều luật quy định về quyền chứng minh vô tội cho bị can, bị cáo mà không phải là nghĩa vụ đã thể hiện sự tôn trọng quyền con người và đây là biểu hiện của quyền im lặng tồn tại trong chuẩn mực pháp luật Tố tụng hình sự quốc tế (mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chưa quy định chính thức quyền im lặng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo). Thế nhưng, nguyên tắc này lại không đặt ra đối với người bị tạm giữ. Sau khi bắt và tạm giữ người, Cơ quan điều tra cũng cố tài liệu chứng cứ buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can và trình Viện kiểm sát phê chuẩn. Điều 71 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “người bị bắt, bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm” đã xác lập nghĩa vụ khai báo hành vi vi phạm pháp của người bị tạm giữ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Ngay cả việc quy định gián tiếp về quyền im lặng cũng chỉ mới đặt ra với bị can, bị cáo mà không được quy định đối với người bị bắt, người bị tạm giữ. Trong thực tiễn thực hiện quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ ở nước ta nói chung và tại tỉnh Quảng Nam nói riêng cho thấy nếu một người bị tình nghi thực hiện tội phạm nào đó bị bắt, bị tạm giữ nếu họ khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình thì được coi là tình tiết giảm nhẹ. Ngược lại nếu họ im lặng từ đầu, không khai báo vì họ cho rằng họ không phạm tội hoặc bị oan, kể cả họ vì muốn che dấu một đồng phạm ở đó, sợ bị liên lụy đến người thân thích hoặc chính họ cho rằng cơ quan thực thi pháp luật sẽ không biết và họ hy vọng sẽ không bị xử lý hoặc chỉ bị xử lý nhẹ…thì bị cơ quan bảo vệ pháp luật cáo buộc họ ngoan cố, chống đối pháp luật, đề nghị xử lý với chế tài nghiêm khắc hơn các trường hợp thông thường khác. Trong khi đó pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hình sự không quy định hành vi im lặng, không khai báo là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Và cũng từ thái độ phong khai báo mà nhiều vụ án bị bế tắc, cũng là một trong nhiều nguyên nhân của hành vi dùng nhục hình xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự do, thân thể, sức khỏe của người bị tạm giữ.

Nếu quyền im lặng đối với người bị tạm giữ được quy định cụ thể thì khi bị tạm giữ ngoài quyền trình bày lời khai người bị tạm giữ có thể im lặng và để tránh được việc bị bức cung, nhục hình do không khai báo. Nếu quyền im lặng của người bị tạm giữ được ghi nhận thì như thông lệ của pháp luật nhiều nước trên thế giới, việc tìm kiếm chứng cứ buộc tội sẽ được dựa trên các cơ sở pháp lý, bằng các biện pháp thu thập chứng cứ khác theo luật định để chứng minh tội phạm và tiến hành buộc tội một cách khách quan tránh việc “trọng cung hơn trọng chứng” như thông lệ tiếng hành Tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay.

Đối với quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ trong thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam cho thấy quyền này của người bị tạm giữ còn ít được đề cập cũng như được bảo vệ thực hiện trên thực tế chưa thực sự đạt hiệu quả cao. Hầu như ở giai đoạn bị tạm giữ dù theo luật khi người bị tạm giữ có thể nhờ luật sư bào chữa nhưng hiếm có vụ việc nào mà luật sư tham gia ngay vào thời gian tạm giữ vì khoảng thời gian này tương đối ngắn nhưng thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa lại không đơn giản khiến cho việc có mặt của luật sư trong giai đoạn này rất khó khăn. Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của nguời bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bảo chữa. Tuy nhiên trên thực tế không phải khi nào Cơ quan điều tra cũng được cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư đúng thời hạn, thậm chí nếu đúng thời hạn nghĩa là nộp hồ sơ vào 10 giờ sáng hôm nay thì 10 giờ sáng ngày mai được cấp giấy chứng nhận bào chữa nhưng như thế có thể việc lấy lời khai đã xong, luật sư trên thực tế không được tham gia với việc bảo chữa cho người bị tạm giữ. Việc quy định thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa như hiện nay trên thực tiễn đã phân nào cản trở luật sư tham gia vào hoạt động bào chữa cho người bị tạm giữ và không đảm bảo được quyền lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ trong khi trên thực tế quy định này là không cần thiết. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Đứng ở khía cạnh tư cách chủ thể tham gia tố tụng, người bào chữa đã được quy định rõ đó là luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bào chữa viên nhân dân. Do đó, chỉ cần những người này xuất trình thẻ luật sư, chứng cứ chứng minh mối quan hệ với tư cách người đại diện hợp pháp hay xác định tư cách bào chữa viên nhân dân có thể tham gia ngay việc bào chữa và có thể chứng kiến việc lấy lời khai cũng như các hoạt động khác của cơ quan điều tra tại giai đoạn tạm giữ. Nếu làm được điều này thì quyền nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ mới có cơ hội được thực thi trên thực tế. Bởi lẽ với quy định như thế này thì rất khó để trong giai đoạn tạm giữ, người bị tạm giữ có thể có được sự bào chữa ngâm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về thủ tục tạm giữ, theo quy định tại Điều 81, Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng là những người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ trong thời hạn ba ngày kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không có ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 3 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ điều Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ; kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Thực tiễn từ tỉnh Quảng Nam cho thấy các quy định ở trên vẫn có những vấn đề cần được hoàn thiện để để bảo vệ quyền của người bị tạm giữ. Về bản chất, tạm giữ là biện pháp cách ly cấp thiết người bị buộc tội nhằm để người bị buộc tội không tiếp tục phạm tội; người bị truy nã không tiếp tục lẩn trốn và trên cơ sở đó xác minh làm rõ căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can (đối với người bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp) hoặc giao cho cơ quan có thẩm quyền (người bị truy nã). Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát và nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định đó, thế nhưng trong thực tiễn Viện kiểm soát rất khó xác định được từng trường hợp cụ thể về việc có căn cứ tạm giữ hay không. Bởi lẽ luật không quy định Cơ quan điều tra phải gửi kèm theo quyết định tạm giữ hồ sơ, tài liệu của vụ việc. Điều này tất yếu sẽ nhớ đến việc kiểm sát vấn đề tạm giữ từ Cơ quan điều tra, do đó ảnh hưởng đến quyền của những người để tạm giữ.

Đồng thời khả năng tham gia của luật sư người bào chữa khác rất hạn chế thế nên các thông tin, hoạt động thực tế của hoạt động cầu cơ quan điều tra ở giai đoạn này dừng hết bị phong tỏa. Điều này cũng rất dễ dẫn đến việc người bị tạm giữ đặt trong sự yêu thế nhưng không biết kêu ai, tất cả có thể bị lạm dụng nếu Cơ quan điều tra có sai phạm thì sẽ bị thiếu các kênh giám sát và bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Song song với những quyền nêu trên, thực tế áp dụng yêu cầu về nghĩa vụ của người bị tạm giữ đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Theo báo cáo 5 năm của Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam qua công tác kiểm sát trực tiếp phát hiện tổng cộng 34 lượt người bị tạm giữ vi phạm kỷ luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự: “Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo quy định của pháp luật” và taị Điều 32 Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính Phủ quy định về quy chế tạm giữ, tạm giam quy định:

  • Người bị tạm giữ, tạm giam đã hoàng cung chờ xét xử chấp hành tốt nội quy nhà tạm giữ trại tạm giam có thể được xét tăng gấp đôi số lần gặp gỡ Thanh Ngân và tăng gấp đôi số lần được gửi và nhận thư, nhận quà.
  • Người bị tạm giữ có hành vi vi phạm nội quy của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý bằng một trong các hình thức sau:

Cảnh cáo;

  • Phạt cùm chân. Thời gian phạt cùm chân do Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam quyết định nhưng không quá một tuần.
  • Người bị tạm giam có hành vi vi phạm nội quy của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau:

Cảnh cáo;

Phạt giam riêng ở buồng kỷ luật thuật từ 3 đến 12 ngày. Người bị phạt giam ở buồng kỷ luật có thể bị cùm chân. Thời gian bị cùm chân do Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định, nhưng không quá 10 ngày.

  • Người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm nội quy nhiều lần thì có thể bị hạn chế gặp thân nhân, gửi và nhận thư, nhận quà đang trong thời gian bị kỷ luật không được gửi và nhận thư, nhận quà, không được gặp thân nhưng cho đến khi họ chấp hành tốt nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
  • Việc thi hành kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm nội quy do Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tham gia quyết định bằng văn bản. Quyết định phải ghi rõ lý do và hình thức kỷ luật. Biên bản về việc vi phạm và quyết định hình thức kỷ luật được đưa vào hồ sơ của người đó.

Sợ dĩ có việc đó là vì pháp luật tố tụng hình sự quy định rất nghiêm khắc về việc những trường hợp không chấp hành quy định về nghĩa vụ. Đây là những quy định rất nghiêm khắc của pháp luật, mang tính cưỡng chị cao bởi vậy thông thường người bị tạm giữ chấp hành tốt nghĩa vụ của mình theo những gì Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Hạn chế: do người bị tạm giữ bao giờ cũng có tâm lý không dám đấu tranh đòi hỏi, yêu cầu trong thời gian bị tạm giữ. Do đó để tạo điều kiện cho họ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ cũng như chấp hành nghiêm nội quy, quy chế nhà tạm giữ, trại tạm giam và có tinh thần hợp tác với Cơ quan điều tra trong đấu tranh làm rõ nội dung hành vi phạm chưa đáp ứng được. Nguyên nhân là do những người được giao nhiệm vụ này chưa có nhận thức đúng đắn về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ mà thông thường khi bị bắt họ thường coi những người này có trách nhiệm phải phục tùng, tuân theo chứ họ không có quyền đòi hỏi gì. Như vậy vô tình đã tạo ra sức ngăn cách, phân biệt giữa một bên là đại diện những người tiến hành tố tụng và một bên là người bị tạm giữ

2.1.3. Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự khác với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là chủ thể mà khi thực hiện quyền của mình sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Việc thực hiện quyền của bị can được thể hiện trong các hoạt động, biện pháp khác nhau của cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó thể hiện ở những nội dung như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong hoạt động điều tra, truy tố.

Về việc thực hiện quyền của bị can trong các biện pháp ngăn chặn, xét rộng ra trong phạm vi cả nước từ năm 2011 đến năm 2015, theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam giao động qua các năm khác nhau theo đó năm: 2011 là 73,03%, năm 2012 là 69,1%, năm 2013 là 72,3%, năm 2014 là 70,7%, năm 2015 là 68,9%; số người được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam sang biện pháp ngăn chặn khác năm 2011 là 12,11%, năm 2012 là 9,43%… Như thế có thể thấy tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng phổ biến trong cả nước. Số bị can không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn chiếm tỷ lệ rất thấp, có địa phương hầu như không có.

Trong khi đó trên địa bàn tỉnh Quảng Nam theo thống kê của VKSND tỉnh Quảng Nam cũng cho thấy trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2015 thì tổng số người bị tạm giam là 4.319 bị can. Trong đó số người đã giải quyết là 2.785 người, trong đó có 62 người được hủy bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác đối với 154 người, trả tự do khi có quyết định đình chỉ 01 người, Hội đồng xét xử xử trả tự do cho 138 người, án có hiệu lực đã chuyển trại giam là 2.255 người. Số người chết: 01 bị can. Số còn tạm giam: 1.530 người. Với những con số được nêu ở trên, qua nghiên cứu thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn nhiều hạn chế, bất cập.

Một là, hiện nay đối với các bị can bị buộc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thường luôn luôn bị áp dụng biện pháp tạm giam và rất ít được hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp khác. Điều này xuất phát từ việc căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam phụ thuộc nhiều vào nhận định của người áp dụng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Điểm a Khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng. Nghĩa là luật đưa ra một giữ kiện là “có thể” nhưng thực tiễn hầu như khi nào Cơ quan điều tra cũng tạm giam đối với các bị can buộc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Với nội dung tại Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn thì cũng quy định “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra truy tố xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của bộ luật này có thể áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Như vậy, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn chỉ được đặt ra khi có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, đảm bảo thi hành án thế nhưng trên thực tế ít khi các “căn cứ” thuộc yếu tố cảm tính chủ quan được sử dụng và Cơ quan điều tra thường mặc nhiên hiểu rằng với trường hợp này thì chỉ cần bị can phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là tiến hành bắt tạm giam.

Điều này bất cập ở chỗ không phải khi nào bị can bị buộc tội với các tội danh thuộc khung hình phạt cao đều nhất thiết phải dùng biện pháp ngăn chặn tạm giam, bởi có nhiều trường hợp rõ ràng không thể xác định là họ làm khó Cơ quan điều tra hay tiếp tục phạm tội mới được, nhưng vẫn bắt tạm giam họ. Với nguyên tắc suy đoán vô tội, dù họ đã bị khởi tố nhưng họ chưa bị bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thì không thể xem họ như là tội phạm để dễ dàng giam giữ và hạn chế tối đa các quyền công dân cơ bản của bị can.

Hai là, thực tiễn cho thấy việc lạm dụng biện pháp tạm giam thể hiện rất rõ, với con số trong tổng số 4.319 bị can bị tạm giam tại tỉnh Quảng Nam trong vòng 05 năm (từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2015) thì chỉ có 82 người được hủy bỏ biện pháp tạm giam, thay đổi biện pháp ngăn chặn khác đối với chỉ 154 người.

  • Như vậy, rõ ràng có tình trạng sử dụng hầu như triệt để biện pháp tạm giam đối với các bị can tại tỉnh Quảng Nam.

Ba là, với những thống kê nói trên, chỉ có 154 bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn không giam giữ, trong đó những biện pháp ngăn chặn như đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thường được áp dụng ở nhiều quốc gia thì ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Quảng Nam nói riêng hầu như chưa được thực hiện trên thực tiễn. Ngày 14/11/2013, liên bộ Bộ tư pháp – Bộ Công an – Bộ quốc phòng – Bộ tài chính – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân TC đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC quy định hướng dẫn về việc đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật tố tụng hình sự. Theo đó, thông tư quy định đặt tiền bảo đảm đối với những bị can , bị cáo có đủ 5 điều kiện sau:

Thứ nhất, họ phải có nhân thân tốt (phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải).

Thứ hai, họ có khả năng về tài chính để đặt bảo đảm theo quy định. Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần mà không có hoặc không đủ tiền để đặt bảo đảm thì xem xét khả năng tài chính của người đại diện hợp pháp. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Thứ ba, phải có căn cứ xác định sau khi được tại ngoại, họ sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tố tụng và không tiêu hủy, che dấu chứng cứ hoặc có hành vi khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử.

Thứ tư, việc cho họ tại ngoại không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.

Thứ năm, họ không thuộc các trường hợp không áp dụng đặt tiền bảo đảm (bao gồm: bị can, bị cáo phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tổ xã hội hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; phạm tội rất nghiêm trọng thuộc loại tội phạm về ma túy, tham nhũng , xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản; Bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã; Bị can, bị cáo là người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Bị can, bị cáo là người nghiện ma túy; Bị can, bị cáo là người tổ chức trong trường hợp phạm tội có tổ chức; Hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân). Thông tư cũng quy định rõ mức tiền bảo đảm mà bị can, bị cáo phải đặt: Không dưới 20 triệu đồng đối với phạm tội ít nghiêm trọng, không dưới 80 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng, không dưới 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng. Với một số trường hợp như có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cơ quan tố tụng có thể quyết định mức tiền bảo đảm thấp hơn nhưng không dưới 1/2 cáo các mức tương ứng nói trên. Như vậy, thông tư 17 nói trên đã mở ra một hướng mới mẻ cụ thể được điều 93 BLTTS năm 2003 từ trước đến nay chưa được sử dụng đến trong thực tiễn bởi thiếu quy định chi tiết. Tuy thế, kể từ khi thông tư 17 có hiệu lực (ngày 15/01/2014) đến nay thì vẫn rất hiếm trường hợp nào đó đặt cọc tiền để đảm bảo thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam. Quy định về việc đặt tiền để thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam nêu trên là một bước tiến mới, tạo nên cơ sở nhằm đảm bảo thực hiện của bị can một cách tốt hơn.

Về việc thực hiện quyền của bị can trong hoạt động điều tra, truy tố của các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Quảng Nam nhìn chung đã được thực hiện khá đồng bộ và toàn diện. Trong hoạt động điều tra, các công việc như thu thập, đánh giá chứng cứ, trưng cầu giám định và giám định, lấy lời khai, hỏi cung bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra…đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của bị can. Nếu các công tác liên quan đến các vấn đề điều tra không được thực thi một cách khách quan, chính xác, nghiêm túc thì sẽ rất dễ dẫn đến việc xâm phạm các quyền của bị can, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, có khả năng làm quen người vô tội. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Theo báo cáo của VKSND tỉnh Quảng Nam, thời gian qua hầu hết việc thu thập, đánh giá chứng cứ được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát các cấp tại tỉnh Quảng Nam thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một số vụ án Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát điều tra phối hợp chưa sâu sát trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ dẫn đến việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc thời gian phê chuẩn của Viện kiểm sát phải kéo dài. Từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2015, Viện kiểm sát tại tỉnh Quảng Nam đã phải trả 64 vụ cho Cơ quan điều tra bổ sung chiếm 2,5% tổng số vụ thụ lý, trong đó: trả hồ sơ cho thiếu chứng cứ là 41 vụ, có căn cứ khởi tố về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác là 18 vụ, có vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng là 5 vụ; Toà án đã trả 67 vụ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung. Trong hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ, nếu Cơ quan điều tra có những sai sót thì rất dễ dẫn đến việc buộc tội không đúng bị can, từ đó việc truy tố xét xử sẽ có những sai sót kéo theo ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của người bị buộc tội. Nhìn vào thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam qua các số liệu nói trên cho thấy mặc dù đã có những nỗ lực nhưng cũng còn có những trường hợp việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ. Nếu việc thu thập, đánh giá chưa đầy đủ mà dẫn đến buộc tội sai theo hướng bất lợi cho bị can sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền của bị can trong vụ án, sẽ không đảm bảo được sự truy tố đúng người đúng tội. Những trường hợp bị trả hồ sơ điều tra bổ sung nói trên thể hiện hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ đã được giám sát, coi trọng và là sự cố gắng để đảm bảo các quyền của bị can trong hoạt động điều tra.

Bên cạnh đó, đó thông qua hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ tại thực tiễn tỉnh Quảng Nam cũng như các địa phương khác, theo luật thì bị can có quyền đưa các tài liệu, đồ vật, yêu cầu của mình. Tuy nhiên, hầu như không mấy khi ở giai đoạn điều tra bị can thực hiện được quyền này của mình trong hoàn cảnh bị giam giữ. Việc thu thập, cung cấp chứng cứ, tài liệu đồ vật có thể được thực hiện thông qua sự hỗ trợ pháp lý của luật sư nhưng trên thực tế số vụ án hình sự mà luật sư tham gia còn rất ít, số bị can được luật sư bào chữa còn rất hạn chế. Quyền nhờ người khác bào chữa của bị can còn hạn chế bởi nhiều nguyên nhân. Theo số liệu báo cáo của Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam, tổng số lượng vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Nam và luật sư tham gia từ ngày mùng 5 tháng 7 năm 2011 bị chết ngày 30 tháng 4 năm 2014 là 459 vụ án , trong đó phần lớn là các vụ việc theo yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng với 268 vụ, số vụ án hình sự được khách hàng mời là 171 vụ án. Đây là những con số đã thể hiện phần nào nói lên được việc thu thập, cung cấp chứng cứ của bị can trên thực tế là khó có thể thực hiện, việc nhờ luật sư vì nhiều lý do như: điều kiện kinh tế, khó quen, văn hóa ứng xử với các tình huống pháp lý cần sự trợ giúp chưa được hình thành. Từ phía cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng có những vi phạm dẫn đến hạn chế quyền được bào chữa của bị can. Trong đó, cơ quan điều tra thường ngại sự có mặt của người bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án, do đó có những trường hợp gây khó khăn cho người bào chữa trong việc thực hiện nhiệm vụ bào chữa. Đây không phải là hiện tượng thường thấy ở tỉnh Quảng Nam và hầu như khắp nơi trong cả nước vẫn diễn ra tình trạng này.

Theo kết quả “Nghiên cứu đánh giá 01 năm thi hành Thông tư số 70/2011/TT-BCA và Quy chế phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao” do liên đoàn luật sư Việt Nam phối hợp với Chương trình đối tác tư pháp thực hiện và công bố ngày 9/7/2013 cho thấy, có đến 50% luật sư được hỏi vẫn cho rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng không tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can trong việc nhờ người bào chữa, thấm chí 12,5 % luật sư được hỏi rằng các cơ quan tiến hành tố tụng ngăn cản người bị tạm giữ, bị can trong việc nhờ người bào chữa. Nhưng sau khi có quyết định khởi tố, chỉ còn 27,7% luật sư được hỏi cho rằng, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can không được tạo điều kiện tiếp cận quyền bào chữa.

Đối với hoạt động lời khai, hỏi cung bị can, qua các báo cáo hoạt động của ngành Công an và Viện kiểm sát tại tỉnh Quảng Nam những năm qua cho thấy các hoạt động này đã được thực hiện nghiêm túc chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên thực tiễn vẫn có những trường hợp việc lấy lời khai, hỏi cung bị can được thực hiện trái luật, làm ảnh hưởng đến quyền của bị can trong quá trình điều tra. Đặc biệt nghiêm trọng hơn là có những trường hợp hợp thức hóa biên bản hỏi cung, hoàn toàn nguy tạo cơ sở là căn cứ để xem xét nội dung vụ án. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Với những vi phạm cơ bản trong ví dụ điển hình nêu trên có thể thấy dường như hoạt động lấy lời khai, hỏi cung bị can vẫn bị xem nhẹ. Nếu việc lấy lời khai, hỏi cung bị can được làm một cách sai trái thì sẽ dẫn đến những hậu quả lớn trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo vệ các quyền cơ bản của bị can trong quá trình điều tra đó là việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe và các quyền cơ bản khác của bị can, chống bức cung, nhục hình. Từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam cho công tác chống bức cung, nhục hình đã được làm thường xuyên, hạn chế đến mức thấp nhất việc cơ quan điều tra bức cung, nhục hình đối với bị can.

Tuy nhiên, thời gian qua trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cũng xảy ra những vụ việc đáng tiếc. Cụ thể, đó là trường hợp đối với bị can Võ Văn Nam (27 tuổi, trú tại xã Tiên Ngọc, huyện Tiên Phước, Quảng Nam) bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, bị bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thăng Bình vào lúc 13 giờ ngày 01 tháng hai 2014 được chuyển về trụ sở Công an huyện Thăng Bình để làm việc đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày thì Võ Văn Nam chết tại phòng làm việc. Sau khi trưng cầu giám định, Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận là Võ Văn Nam chết do bệnh lý về tim mạch.

Dù là do nguyên nhân nào đi nữa, thì việc các bị can chết một cách bất thường trong hoàn cảnh điều kiện giam giữ cũng là một điều kiện rất đáng trăn trở, băn khoăn của dư luận xã hội.

Song song với những quyền nêu trên, thực tế áp dụng yêu cầu về nghĩa vụ của bị can đã được thực hiện đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, về cơ bản, bị can thực hiện đúng nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tích cực thành khẩn khai báo đầy đủ nhưng bên cạnh đó có một số bị can không biết vì lý do chính đáng hay cố tình mà nhiều lần không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền. Chính điều này đã gây khó khăn trong công tác lấy lời khai của các cơ quan, khiến cho các vụ việc phải kéo dài vì sự vắng mặt, chậm trễ của bị can.

2.1.4. Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Về thực tiễn thực hiện quyền của bị cáo từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam được nhìn nhận chủ yếu và trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Bị cáo là những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, do đó quyền của bị cáo được thực hiện thông qua chủ yếu ở các hoạt động của Tòa án, trung tâm là việc xét xử.

Qua báo cáo hoạt động của Tòa án các cấp tại tỉnh Quảng Nam những năm vừa qua cho thấy, số lượng thụ lý và giải quyết các VAHS sơ thẩm từ năm 2011 đến năm 2015 là tương đối, không có nhiều sự biến động lớn về số vụ việc, số lượng bị cáo có tăng lên theo từng năm, tỷ lệ giải quyết của Tòa án qua các năm luôn ở mức cao. Tòa án các cấp tại tỉnh Quảng Nam đã giải quyết với tỷ lệ qua các năm luôn đạt từ 97,7%, năm 2013 giải quyết đạt trăm phần trăm đối với các vụ án được thụ lý.

Việt kịp thời giải quyết dứt điểm các vụ án là điều rất đáng ghi nhận bởi sẽ nhanh chóng quyết định đến các bị cáo nếu việc giải quyết bị chậm trễ kéo dài thì sẽ ảnh hưởng mạnh đến việc người bị buộc tội phải gánh chịu các biện pháp ngăn chặn tác động tiêu cực trực tiếp đến các quyền cơ bản của họ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã thực hiện có chất lượng đối với hầu hết các vụ việc đảm bảo được yêu cầu và nhiệm vụ được đề ra, đã cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác trên toàn tỉnh giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam cho thấy tòa án các cấp tại tỉnh Quảng Nam đã thực hiện tốt các thủ tục, quyền hạn mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định. Việc đảm bảo quyền bào chữa được đảm bảo, không có tình trạng gây khó dễ cho các luật sư trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, tiếp xúc với bị cáo.

Đặc biệt, Tòa án các cấp tại tỉnh Quảng Nam đã thực hiện trả hồ sơ điều tra bổ sung với nhiều vụ án, nhiều bị cáo. Cụ thể, năm 2011 tòa án các cấp tại Quảng Nam trả hồ sơ điều tra bổ sung 27 vụ với 77 bị cáo, năm 2012 trả hồ sơ điều tra bổ sung 47 vụ với 123 bị cáo, năm 2013 trả hồ sơ điều tra bổ sung 41 vụ với 64 bị cáo, năm 2014 trả hồ sơ điều tra bổ sung 46 vụ với 103 bị cáo, năm 2015 trả hồ sơ điều tra bổ sung 39 vụ với 121 bị cáo.

Số lượng bị cáo qua các vụ án mà tòa án yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung qua các năm có dấu hiệu tăng lên, có nhiều vụ án thiếu chứng cứ buộc tội, gây bất lợi cho bị cáo. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, làm rõ các tình tiết của vụ án là điều đất ý nghĩa vì qua đó sẽ giúp tránh việc buộc tội chủ quan, thiếu chứng cứ gây ra những bất lợi không đáng có cho bị cáo, xâm phạm đến có quyền lợi ích cơ bản của bị cáo. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Việc thực hiện các quyền của bị cáo cũng được thể hiện qua thủ tục kháng cáo, kháng nghị và xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự tại Tòa án các cấp ở ở tỉnh Quảng Nam trong những năm qua. Hàng năm, quyền kháng cáo của các bị cáo được đảm bảo tốt, nhiều bị cáo sau khi bị tòa tuyên án, có các quyết định tố tụng đã có đơn kháng cáo, trong khi đó cơ quan có thẩm quyền cũng đã có nhiều kháng nghị quan trọng nhằm đảm bảo việc xét xử công minh của tuân thủ pháp luật. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh qua các năm số vụ án có kháng cáo, kháng nghị tương đối lớn với con số vụ án có kháng cáo, kháng nghị là tương đương một nửa số án được thụ lý giải quyết sơ thẩm. Con số này thể hiện được phần nào quyền kháng cáo của bị cáo được đảm bảo, qua việc kháng cáo, có không ít trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án, hủy án theo hướng có lợi cho bị cáo, đảm bảo được quyền lợi của bị cáo theo đúng quy định pháp luật. Cũng thông qua việc kháng cáo, bị cáo có cơ hội hơn để nhìn lại rõ hơn, toàn diện đầy đủ và công khai các chứng cứ lý lẽ buộc tội mình từ đó có cơ hội tìm cách gỡ tội, minh oan để đảm bảo quyền của bị cáo. Thực tiễn xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho thấy nhiều trường hợp sữa án, hủy án là do sai phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó ảnh hưởng đến quyền của bị cáo. Đây là sự thể hiện việc đảm bảo quyền của bị cáo được khẳng định và bảo vệ bởi công tác xét xử phúc thẩm.

Đối với hoạt động xét xử tại Tòa án, thực tiễn cho thấy tỉnh Quảng Nam những năm qua đã đảm bảo thực hiện tốt theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự. Ở các phần liên quan đến thủ tục, bị cáo đã được tạo điều kiện để trình bày lời khai, ý kiến nhằm làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án. Hiện tượng mớm cung, dụ cung dường như không có. Hội đồng xét xử cũng tạo các điều kiện thuận lợi để người bào chữa cho bị cáo tham gia tố tụng để làm rõ các vấn đề liên quan đến những chứng cứ buộc tội, kết quả giám định để bảo vệ quyền của bị cáo. Những hoạt động mang tính thủ tục tố tụng đó thể hiện chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần nghị quyết 08 – NQ/TW cũng như là biểu hiện cụ thể của việc đảm bảo quyền con người của bị cáo trong xét xử VAHS.

Trong một biểu hiện khác, Toà án các cấp tại tỉnh Quảng Nam cũng đã thể hiện những đổi mới trong việc tạo điều kiện cho thực tiễn tranh luận tại phiên tòa được đảm bảo tốt hơn. Ngoài việc đảm bảo cho bị cáo, người bào chữa có quyền tranh luận tại phiên tòa với không khí dân chủ hơn so với trước đây, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã thể hiện vị trí và vai trò của luật sư khi đã triển khai bố trí chỗ ngồi của luật sư và đại diện Viện kiểm sát ở vị trí ngang nhau tại các phiên tòa. Đây là điểm nhấn tạo hình ảnh dân chủ được triển khai thực hiện ở tòa án các cấp tại tỉnh Quảng Nam những năm qua và nhận được nhiều sự quan tâm, phản ánh tích cực của dư luận. Bản thân cho rằng, chỗ ngồi thì không đảm bảo cho công lý, tuy nhiên trên bước đường đảm bảo sự dân chủ hóa trong hoạt động xét xử đòi hỏi phải thay đổi cách đánh giá về vị trí, vai trò của luật sư trong việc thực bảo vệ quyền của bị cáo tại phường toàn với tư cách làm bên gỡ tội cho bên bị buộc tội, thì được triển khai bố trí chỗ ngồi cho luật sư hàng với đại diện Viện kiểm sát là điều cần thiết để từng bước hoàn thiện hơn các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình cải cách tư pháp. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Bên cạnh những ưu điểm nổi trội nói trên qua hoạt động xét xử tại tòa án các cấp tại tỉnh Quảng Nam, theo tôi vẫn cần chỉ ra những hạn chế, bất cập dường như không chỉ ở các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Quảng Nam mà là biểu hiện tương đối thường xuyên có các cơ quan hệ hàng phụ tùng khác nhau trong cả nước như sau:

Một là, quyền bào chữa của bị cáo chưa được đảm bảo. Việc tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đã được ghi nhận như một quyền quan trọng của bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên trên thực tiễn người bào chữa cho bị cáo vẫn bị cản trở nhất hiện tượng các cơ quan tiến hành tố tụng. Với những trường hợp bị cáo đang bị tạm giam nhưng cơ quan tiến hành tố tụng vẫn yêu cầu phải có văn bản yêu cầu luật sư của bị cáo, hoặc nếu không thì phải có văn bản của bị cáo nhờ người thân liên hệ giúp. Với cách vận dụng và áp dụng theo hướng dẫn của thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an hiện nay, thì theo điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư 70, trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam nhờ đích danh luật sư thì trong vòng 24 giờ từ khi viết giấy, Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi giấy yêu cầu luật sư của người bị tạm giữ, tạm giam mà họ nào bào chữa bằng thư bảo đảm bảo hoặc chuyển phát nhanh. Trên thực tế, rất ít bị cáo đang bị tạm giam có thể viết tên một luật sư mà họ cần nhờ là gì , địa chỉ cụ thể ở đâu để nhờ đích danh luật sư. Thông tư 70 lại không có quy định đối với trường hợp này thì Cơ quan điều tra sẽ làm gì để bảo đảm quyền nhờ người bào chữa của họ. Ngoài ra, một loạt vấn đề khác cũng chưa được quy định nhưng nếu không chỉ định được đích danh luật sư, không có người thân, không biết địa chỉ liên lạc với người thân, thì người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam phải làm gì để nhờ luật sư. Nếu người bị tạm đồng ý luật sư đó thì giải quyết thế nào.

Thông tư 70 cũng không có quy định về việc người thân mời luật sư cho người bị tạm giam cùng thủ tục lấy ý kiến xác nhận của người bị tạm giam. Đây là một bước thụt lùi so với tinh thần cải cách tư pháp rất đáng biểu dương của cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công An thể hiện tại Công văn số 45 ngày 26/01/2007. Theo Công văn này thì trường hợp thân nhân của người bị tạm giữ, tạm giam có đơn yêu cầu luật sư thì các đơn vị như trại tạm giam, nhà tạm giữ, Cơ quan điều tra cần hướng dẫn luật sư gởi đơn kèm theo các giấy tờ liên quan đến việc xin cấp giấy chứng nhận người bào đến cơ quan thụ lý án. Điều tra viên thụ lý vụ án có trách nhiệm tiến hành ngay việc lấy ý kiến của người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam về việc đồng ý hoặc từ chối một luật sư để xem xét. Trường hợp họ đồng ý luật sư thì Cơ quan điều tra phải khẩn trương xem xét để cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư theo đúng thời gian luật định. Như thế, với các quy định tưởng chừng có tính cải tiến của Bộ công an, thì trên thực tiễn thực thi lại góp phần cản trở việc luật sư bào chữa cho bị cáo một cách thuận lợi theo luật định.

Hai là, việc thực hiện quyền tranh luận tại phiên tòa chưa được đảm bảo một cách hiệu quả. Tranh luận tại phiên tòa có vai trò hết sức quan trọng, là cơ thể tối ưu để bị cáo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như đảm bảo việc xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Điều 218 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

“Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án. Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan niệm vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận”. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Luật quy định như thế nhưng trên thực tiễn xét xử các bị cáo rất khó để thực hiện quyền của mình, hầu hết các trường hợp trước khi ra tòa đều bị tạm giữ trong điều kiện khắc nghiệt, ra tòa lại không được sử dụng các công cụ, phương tiện để ghi chép lời luận tội của Kiểm sát viên, thế nên họ khó có thể đủ lý lẻ, căn cứ và lập luận để tự bào chữa cho mình.

Ba là, thực tiễn xét xử tại tỉnh Quảng Nam cũng cho thấy hiện trạng xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng tương đối nhiều. Theo điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Nếu bị cáo bị tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh. Nếu bị cáo trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo.

Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp sau đây: “Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả; Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên toà; nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ”.

Như vậy, việc xét xử vắng mặt của bị cáo được thực hiện với trình tự, điều kiện thủ tục khá rõ ràng, chỉ những trường hợp nhất định mới xét xử vắng mặt bị cáo. Thế nhưng, theo quy định tại Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự nhiều người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tình hình chiến sự việc tùy trường hợp hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. Việc “tùy trường hợp mà Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử” một cách chung chung như thế này dẫn đến nhiều trường hợp xét xử bị cáo nhưng vẵng bị hại và các người tham gia tố tụng khác. Thực tiễn cũng cho thấy, có những vụ án người bị hại với những người tham gia tố tụng khác không có mặt sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo tại Tòa vì việc xác định sự thật khách quan của vụ án, đối chất giữa các bên bị ảnh hưởng.

Về việc thực hiện nghĩa vụ của bị cáo, theo quy định tại khoản 3 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 tại địa bàn tỉnh Quảng Nam được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. Bị cáo có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của phiên tòa, có một số trường hợp vắng mặt nhưng có lý do chính đáng được Tòa xem xét chấp thuận.

2.2. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bị buộc tội Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Trong quá trình thực hiện những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về địa vị pháp lý của người bị buộc tội có rất nhiều những bất cập, vướng mắc. Cụ thể:

Có rất nhiều vướng mắc nảy sinh từ những quy định thiếu hoàn thiện của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Chẳng hạn như việc Bộ luật quy định về việc người bị tạm giữ được giải thích quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên đối với những người nước ngoài không có thân phận ngoại giao thì việc giải thích này trở nên rất khó khăn đối với những người thực hiện. Bởi lẽ: Khi thi hành lệnh bắt khẩn cấp, hoặc bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang rất khó thực hiện, vì trường hợp bắt này mang cấp tính cấp bách, người phiên dịch của ta còn ít, khả năng ngoại ngữ của lực lượng tiến hành bắt còn hạn chế. Vì vậy, vấn đề đọc lệnh; giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt chỉ mang tính hình thức, đối tượng bị bắt không hiểu được họ có quyền và nghĩa vụ gì khi tham gia tố tụng hình sự. Cũng đối với những người này, do Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cho phép người tham gia tố tụng được quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, vì thế một số đối tượng người nước ngoài đã lợi dụng điểm này, dù biết tiếng Anh nhưng họ vẫn cứ dùng ngôn ngữ bản địa giao dịch với cơ quan Điều tra. Người phiên dịch của nước ta chủ yếu dùng tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc; các thứ tiếng khác như: Thái Lan, Pakistan, Iran, Nigieria, Ghana, Congo… rất ít người phiên dịch. Khi không giao dịch được thì khó khăn cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ ban đầu để bắt người phạm tội. Có trường hợp quần chúng bắt người nước ngoài phạm tội quả tang giao cho cơ quan Công an, do bất đồng ngôn ngữ nên cơ quan Công an không lấy lời khai, thu thập tài liệu chứng cứ để chứng minh tội phạm, khi hết thời hạn tạm giữ thì phải trả tự do cho họ. Như vậy, trường hợp này đã để lọt tội phạm, ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Đối với những quy định về việc người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo “có quyền nhờ” mà lại không có quy định cho phép “người nhà của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhờ người bào chữa cho họ”. Điều này gây khó khăn và không đảm bảo quyền lợi cho người bị bứt, người bị tạm giữ và bị can, bị cáo bị tạm giam. Bởi họ bị cách ly khỏi xã hội nên khả năng nhờ người bào chữa là rất khó khăn. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Ngoài ra, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chỉ cho phép người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, người bào chữa được quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ sau khi kết thúc điều tra, chỉ được hỏi người bị tạm giữ nếu được sự đồng ý của Điều tra viên là những quy định gây rất nhiều khó khăn cho việc thực hiện việc quyền bào chữa.

Về quy định, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được giải thích quyền và nghĩa vụ. Đối với người bị tạm giữ, bị can thì pháp luật quy định những người này được giải thích quyền và nghĩa vụ ngay khi thi hành quyết định tạm giữ đối với người bị tạm giữ, khi giao quyết định khởi tố đối với bị can. Tuy nhiên lại không quy định bị cáo được giải thích quyền và nghĩa vụ khi được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, mà họ chỉ được biết quyền này ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. Quy định không thống nhất này dẫn đến tình trạng bị cáo không hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trước khi mở phiên tòa đến phiên tòa mới hiểu và đưa ra các yêu cầu thì nhiều trường hợp không được xem xét giải quyết. Chẳng hạn vấn đề mời luật sư, không có quy định nào của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho phép hoãn phiên tòa nếu tại phiên tòa bị cáo yêu cầu mời luật sư bào chữa cho mình. Rất nhiều Hội đồng xét xử đã lúng túng không biết làm thế nào để bảo đảm cho bị cáo quyền nhờ người khác bào chữa của mình.

Ngoài ra trong khi thực hiện việc bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp phải rất nhiều những vướng mắc. Chẳng hạn như việc người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam xin kết hôn thì phải giải quyết thế nào? Hay với những trường hợp tại phiên tòa bị cáo muốn hỏi, đối chất với những người tham gia tố tụng khác thì có được quyền hay không? Việc lấy lời khai của người mù chữ chỉ có điểm chỉ của họ, ra phiên tòa họ chối tội thì sao?…

Thêm nữa, Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định quyền im lặng của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Dẫn đến họ không khai báo thì bị cho là không thật thà khai báo, không ăn năn hối cải nên không được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó quyền tự bào chữa, quyền thu thập, kiểm tra chứng cứ, quyền đối chất để chứng minh sự vô tội của mình… của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn chưa được Bộ luật quy định cụ thể dẫn đến việc trên thực tế người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo muốn thực hiện những quyền này đã hết sức lúng túng và khó khăn.

Bên cạnh việc chưa hoàn thiện của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn bị hạn chế bởi sự lạc hậu của một số văn bản dưới luật trong việc quy định về tạm giữ, tạm giam, trong việc ban hành biểu mẫu, biên bản tố tụng… Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc xuất phát từ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên trên thực tế còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo xuất phát từ yếu tố con người, cơ sở vật chất. Cụ thể:

Ai cũng biết rằng người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa có tội, tuy nhiên hiện nay chế độ tạm giữ, tạm giam lại chưa phản ánh đúng điều này do cơ sở vật chất của các nhà tạm giữ không được đảm bảo hoặc quá tải. Theo ghi nhận của ở bài viết “Bị can khổ hơn bị án” thì:

Ông Bùi Đức Long, Vụ trưởng Vụ Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù (VKSNDTC), cho biết tổ chức, hoạt động tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam cơ bản vẫn theo Nghị định 89 ban hành từ năm 1998 và có sửa đổi một chút vào năm 2002. Lúc ấy, cơ quan điều tra các cấp vẫn hoạt động theo luật tố tụng cũ. Tuy nhiên, từ năm 2004, khi tăng thẩm quyền cho tòa án cấp huyện thì số lượng vụ án hình sự mà cơ quan điều tra cấp huyện thụ lý tăng mạnh. Việc này gây quá tải cho các nhà tạm giữ của công an quận, huyện.

Người bị tạm giam, tạm giữ nhiều mà quản giáo lại mỏng nên nhiều nơi đã sáng tạo biện pháp quản lý buồng giam bằng cách lựa chọn, cắt cử một vài bị can có “uy tín” đứng ra tổ chức sinh hoạt trong buồng giam. “Cách làm này không được quy định trong luật cho nên nơi làm tốt, không để sơ sẩy gì thì không sao. Còn nơi nào xảy ra lộn xộn, chết người thì giám thị, quản giáo lãnh đủ” – ông Long cho biết.

Không chỉ cơ sở vật chất của các nhà tạm giữ chưa được đảm bảo mà trong bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống ngành Tòa án nhân dân Chủ tịch nước cũng khẳng định “cơ sở vật chất của các Tòa án chưa được đầu tư đúng mức”. Từ việc cơ sở vật chất của các Tòa án chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến rất nhiều trường hợp không đảm bảo các quyền của bị cáo như quyền được tranh luận tại phiên tòa, quyền được nói lời sau cùng không hạn chế về thời gian chỉ vì có những Tòa án chỉ có một phòng xử duy nhất trong khi có rất nhiều phiên tòa diễn ra trong cùng một ngày, cho nên bị cáo cần phải “nhanh”.

Bên cạnh đó, việc quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được đảm bảo còn là do “trình độ của nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử”. Vẫn còn tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức chưa sẵn sàng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham giam tố tụng vì e ngại làm chậm tiến độ vụ án, làm lộ bí mật công tác điều tra. Ở một số địa phương, giấy chứng nhận tham gia tố tụng được cấp trong giai đoạn nào chỉ có hiệu lực ở giai đoạn đó, dẫn đến tình trạng người thực hiện trợ giúp pháp lý phải đi lại nhiều lần, hoặc không tạo thuận lợi trong việc thông báo lịch làm việc và nghiên cứu hồ sơ, thẩm vấn. Hoặc: hiện nay để tham gia một vụ án hình sự thì thủ tục với một kiểm sát viên rất đơn giản, chỉ cần một quyết định phân công của lãnh đạo Viện kiểm sát. Trong khi đó, luật sư thì phải nộp đủ mọi loại giấy tờ như thẻ luật sư, giấy giới thiệu của văn phòng, giấy yêu cầu luật sư… rồi đi tới đi lui mới được cơ quan tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Tại chương 2, tác giả đề cập đến thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội theo pháp luật Tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Qua đó có thể thấy, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội tại tỉnh Quảng Nam đã có những ưu điểm đáng ghi nhận như công tác điều tra, truy tố, xét xử hầu như đảm bảo được sự đúng đắn của pháp luật. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã quán triệt tinh thần cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng, có những biểu hiện thể hiện rõ nổ lực đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội trong việc thực thi. Việc kiểm sát điều tra, xét xử đã có nhiều vụ việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, có những vụ việc Viện kiểm sát có các quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, gia hạn tạm giữ người, những hoạt động thực tiễn đó nhằm đảm bảo địa vị pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Bên cạnh đó, thực tiễn cũng chỉ ra việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội cũng có những mặt hạn chế cần khắc phục và điều chỉnh trên thực tế cũng như trong công tác lập pháp. Quyền của người bị buộc tội về việc được bào chữa, nhờ người khác bào chữa vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, rất ít các trường hợp có sự tham gia của đội ngũ luật sư vào hoạt động bào chữa cho bị cáo. Đối với những trường hợp bào chữa theo sự chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng thì chất lượng chưa cao. Luận văn: Thực tiễn pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội.

Ngoài ra do những rào cản từ các quy định của pháp luật về thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận bào chữa, nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chưa tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa tham gia vào tiến trình tố tụng. Việc thực hiện quyền tranh luận chưa được đảm bảo, vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội còn những hạn chế rất cần được khắc phục và cần có giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật tố tụng về địa vị người bị buộc tội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464