Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Định hướng và cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo

3.1.1 Định hướng phát triển nâng cao công tác quản lý dạy học

Hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo góp phần tạo được giá trị của người giáo viên mầm non tại các cơ sở GDM, là hoạt động cơ bản tạo nên chất lượng của các trường mầm non. Chính vì thế các biện pháp nâng cao công tác quản lý HĐDH phải góp phần nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ tại các trường MNTT tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, đảm bảo thực hiện đầy đủ yêu cầu, mục đích và nội dung chương trình học tập do Bộ GD&ĐT quy định đối với khối mầm non. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Quản lý HĐDH phải theo định hướng đổi mới chung của ngành giáo dục, vận dụng khoa học, công nghệ, các phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học. Với xu hướng phát triển chung của ngành giáo dục việc vận dụng các phương pháp dạy học khoa học hiện đại là tất yếu, chính vì vậy các trường MNTT cũng cần phải thay đổi công tác quản lý HĐDH theo hướng này từ khau xây dựng kế hoạch, công tác phân công công tác, tuyển dụng GV, đào tạo GV, kiểm tra, đánh giá HĐDH… để thúc đẩy xu hướng và thúc đẩy chất lượng dạy học tại trường.

Biện pháp quản lý HĐDH cũng phải hướng đến phát huy vai trò chủ động, tích cực, tự giác của GVMG, khuyến khích GV gia công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với giáo viên mầm non để họ phát huy hết năng lực, tự nâng cao trình độ kiến thức hoặc tham gia vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ do nhà trường, ngành giáo dục tổ chức, từ đó nỗ lực hơn nữa trong cống hiến trong công tác dạy học tại trường, thúc đẩy chất lượng dạy học các trường ngày càng được cải thiện, nâng cao.

Một định hướng quan trọng là các biện pháp quản lý HĐDH cần phải phù hợp với điều kiện thực tế tại các trường MNTT mà tác giả thực hiện khảo sát trong nghiên cứu này. Thông qua các đánh giá cụ thể, những tồn tại khách quan, chủ quan sẽ được tác giả tìm ra các biện pháp khắc phục để nâng cao công tác quản lý HĐDH tại các trường trong thời gian tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

3.1.2. Cơ sở đề xuất các biện pháp Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

3.1.2.1 Cơ sở pháp lý

Giáo dục là một lĩnh vực được nhà nước và chính phủ rất quan tâm trong thời gian qua. Hiện nay ngành Giáo dục đứng trước những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi toàn ngành phải quyết tâm, nỗ lực, phấn đấu hơn nữa để có thể đào tạo những thế hệ lao động trẻ có năng lực phù hợp nhu cầu thực tế. Hiện nay hoạt động giáo dục và đào tạo của Việt Nam tuy có tiến bộ về chất lượng nhưng so với các nước phát triển khác thì còn khá lạc hậu. Chính vì vậy sự thay đổi trong tư duy quản lý vĩ mô và vi mô cần phải có sự thay đổi mạnh mẽ.

Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Hướng đổi mới giáo dục là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Mọi hoạt động quản lý trong nhà trường đều chú trọng đến mục đích cuối cùng là nâng cao năng lực người học, hướng đến người học, xem người học là mục tiêu của giáo dục, là trung tâm của các hoạt động giáo dục.

Điều 22 và Điều 23 Luật giáo dục (2005) nêu Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Và Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Trong Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT do bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ký ngày 26/8/2016 ban hành về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 – 2017 của ngành Giáo dục đã nêu Giáo dục mầm non chú trọng đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Trong thông tư 01/VBHN-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục mầm non ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ GD&ĐT đề ra yêu cầu nội dung và phương pháp trong giáo dục mầm non. Cụ thể:

Về nội dung:

  • Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống.
  • Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học.

Về phương pháp giáo dục:

  • Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi”. Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ. Kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp. Tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế.
  • Các biện pháp được đề xuất đều phải dựa trên các cơ sở pháp lý là định hướng của Đảng, chính sách của nhà nước, các quy định của bộ GD&ĐT đã ban hành trong thời gian qua, còn hiệu lực.

3.1.2.2 Cơ sở lý luận Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Như đã nêu trong chương 1 thì quản lý HĐDH là quá trình tạo điều kiện và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa người dạy và người học, nhằm xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung chương trình thích hợp, thực hiện đúng kế hoạch, áp dụng hài hòa các phương pháp, tận dụng các phương tiện và điều kiện dạy học hiện có, tổ chức linh hoạt các hình thức dạy học, tìm ra phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học đáng tin cậy để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng giáo dục.

Tuy nhiên trong thực tế quản lý hiện nay các nhà trường vẫn còn thực hiện một cách bị động theo các quy định từ các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, tính chủ động hầu như rất ít, điều này tác động hạn chế đến hiệu quả quản lý dạy học tại các trường. Chính vì vậy các biện pháp cần phải nâng cao tính chủ động trong thực hiện các chức năng quản lý của nhà trường đối với hoạt động dạy học gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

3.1.2.3 Cơ sở thực tiễn

Trong phân tích về công tác quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương ở chương 2 đã cho thấy tuy mức độ thực hiện các hoạt động quản lý dạy học tại trường được đánh giá khá cao, nhưng về hiệu quả lại không cao. Nhất là trong công tác Quản lý phân công công việc dạy học; Quản lý việc thực hiện Chương trình dạy học; Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và chăm sóc trẻ. Chính vì thế các biện pháp đề ra vừa phải chú trọng đến việc tăng cường mức độ thực hiện các hoạt động quản lý dạy học của GVMG tại một số trường MNTT mà vừa phải nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.

Kết quả khảo sát về lựa chọn các biện pháp của các đối tượng CBQL và GVMG là một trong những cơ sở để tác giả đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương. Các biện pháp phải căn cứ vào kết quả phân tích khảo sát để đảm bảo phù hợp với cơ sở vật chất, nhân sự, những quy định của pháp luật trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đối tượng liên quan và không xung đột với các chức năng nhiệm vụ của các đối tượng khác. Với các căn cứ như vậy thì các biện pháp đưa ra mới mang tính cần thiết và tính khả thi trong thực tế

3.2. Một số biện pháp nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng và phân công dạy học theo hướng phát huy thế mạnh của GV

3.2.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp

Trong phân tích ở chương 2 đã cho thấy một hạn chế của các trường MNTT hiện nay là chất lượng giáo viên đầu vào hạn chế, không đồng đều, thường xuyên thay đổi giáo viên, số giáo viên kinh nghiệm, có thời gian gắn bó với nhà trường lâu dài ít.

3.2.1.2 Mục tiêu của biện pháp

Lựa chọn được giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy học của nhà trường.

Đảm bảo chất lượng dạy học trên cơ sở phân công giáo viên dạy học theo hướng phát huy thế mạnh của từng giáo viên, qua đó các giáo viên có cơ hội để vừa thể hiện được năng lực của bản thân vừa có thể học hỏi thêm trong quá trình dạy học.

3.2.1.3 Nội dung của biện pháp

Lên kế hoạch về chất lượng GV tuyển dụng vào nhà trường và thực hiện kiểm soát chất lượng GV ngay từ khâu tuyển dụng nhằm đáp ứng nhu cầu về trình độ, năng lực.

Lập bảng đánh giá năng lực của GV, đánh giá điểm mạnh, yếu và khả năng thực hiện việc dạy học đáp ứng nhu cầu công việc tại nhà trường.

Bố trí công việc dạy học một cách phù hợp căn cứ bảng đánh giá trên và theo hướng bổ sung để khắc phục trình độ chênh lệch của GV.

Tạo điều kiện để GV được đào tạo, học hỏi nâng cao trình độ.

3.2.3.4 Cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Đối với trường MNTT nhà trường được quyền tự chủ trong vấn đề tuyển dụng nhân sự nói chung và GV nói riêng vì thế để đáp ứng nhu cầu về năng lực trong các vị trí GV mà nhà trường đang cần nhà trường cần tăng cường kiểm soát chất lượng GV ngay từ khâu tuyển dụng. Để làm được điều này nhà trường cần tiếp tục thực hiện việc đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường trong công tác thu hút nguồn GV, mục tiêu hướng đến của nhà trường cũng như những chính sách giữ chân GV từ đó đưa ra các dự báo về nhu cầu của nhà trường về cả số lượng và chất lượng. Nhà trường thực hiện tuyển dụng rộng rãi, công khai trên các phương tiện truyền thông, bản tin nhà trường, chú trọng về trình độ, các năng lực, kỹ năng cần thiết mà GV cần phải đạt được, kinh nghiệm làm việc… để nâng cao chất lượng ngay từ khâu tiếp nhận hồ sơ tuyển dụng.

Trong quá trình tuyển dụng nhà trường thực hiện phỏng vấn một cách nghiêm túc để lựa chọn được ứng viên phù hợp để đưa vào các vị trí còn thiếu. Sau khi tuyển dụng, nhà trường cần thực hiện quá trình kiểm tra năng lực, kỹ năng, kiến thức của GV trong thực tế công việc để tiếp tục sàn lọc GV, Đối với các GV không đáp ứng được tất cả các yêu cầu công việc nhưng có mong muốn gắn bó với nhà trường lâu dài và có thể đào tạo được thì nhà trường sẽ xem xét để tạo điều kiện để GV được đào tạo nâng cao trình độ. Nhà trường sẽ thay thế GV nếu không đáp ứng được yêu cầu công việc trong thực tế để không ảnh hưởng đến công việc chung của nhà trường.

Để quản lý được chất lượng GV nhà trường tiến hành lập bảng đánh giá năng lực của GV, đánh giá điểm mạnh, yếu và khả năng thực hiện việc dạy học đáp ứng nhu cầu công việc tại nhà trường. Vào cuối học kỳ hay cuối năm học, hiệu trưởng nhà trường tiến hành tổ chức đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non căn cứ vào các tiêu chí, yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non trong quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT để đánh giá. Để đánh giá đúng, GVMG tổ chức tự đánh giá, tổ chuyên môn và đồng nghiệp tham gia nhận xét, góp ý kiến và ghi kết quả đánh giá vào bản đánh giá, xếp loại của giáo viên.

Sau đó hiệu trưởng sẽ xem xét kết quả đánh giá từ nhiều phía để hiện đánh giá, xếp loại GVMG một cách chính xác, khách quan, lập thành bảng đánh giá năng lực của GVMG và công khai kết quả đánh giá GVMG trước tập thể nhà trường. Với kết quả đánh giá là cơ sở để nhà trường tổ chức phân công công việc dạy học đến từng GVMG. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Nhà trường sẽ thực hiện bố trí công việc dạy học một cách phù hợp căn cứ bảng đánh giá trên và theo hướng bổ sung để để khắc phục trình độ chênh lệch của GV. Ví dụ đối với các GVMG có kiến thức về phát triển thể chất thì bố trí dạy những các giờ vui chơi phát triển thể chất cho trẻ; với các GVMG có kiến thức, kỹ năng về tạo hình, âm nhạc và văn học thì bố trí cho GVMG đảm nhận các giờ dạy học liên quan… Từ đó giúp GV có cơ hội thể hiện được năng lực, thế mạnh của mình, giảm được áp lực công việc và hứng thú hơn với vị trí mình được phân công.

Các lớp cần được bố trí từ 2 GV, trong đó các GV sẽ được lựa chọn dựa theo năng lực, kiến thức, kỹ năng theo hướng bổ sung cho nhau để cộng tác làm việc và hoàn thành được công việc dạy học một cách tốt nhất. Với việc bố trí như trên sẽ tạo điều kiện để các GV phối hợp, học hỏi và bổ sung lẫn nhau để cùng phấn đấu vươn lên, hoàn thiện bản thân, hoàn thành tốt công việc. Điều này giúp khắc phục tình trạng chất lượng GV không đồng đều trong từng lớp học, tạo nên một tập thể đoàn kết, vững mạnh về chuyên môn, có đủ khả năng hoàn thành tốt các nhiệm vụ, mục tiêu mà nhà trường đã đề ra. Đối với các lớp chỉ bố trí được 1 GVMG đảm nhiệm nhiệm vụ dạy học thì tạo điều kiện để GVMG tham gia đào tạo các khóa học nâng cao năng lực phù hợp với yêu cầu công việc…

Để nâng cao chất lượng GV một cách bền vững hơn nhà trường cần thường xuyên thực hiện các hình thức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sư phạm cho các GV có nhu cầu. Tạo điều kiện để GVMG tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ do nhà trường, phòng hay sở GD&ĐT tổ chức trong năm học. Khuyến khích GV tăng cường tự học, tham gia các buổi dự giờ, sinh hoạt chuyên môn cùng đồng nghiệp, tham quan các trường trên địa bàn về cách sắp xếp, tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ; tham dự các hội thi của ngành, tham gia các lớp học nâng cao trình độ; xem phim ảnh, học trực tuyến qua truyền hình và internet những nội dung liên quan đến chuyên ngành GDMN… nhằm học tập, bổ sung những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của bản thân. Khuyến khích các GV tham khảo các mô hình, phương pháp giáo dục hiện đại như Steiner, Montessori và Reggio Emilia và tạo điều kiện để GV triển khai các phương pháp giáo dục này trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trong quá trình triển khai phương pháp mới nhà trường sẽ tổ chức cho GV thực hiện thí điểm, nếu thành công, mang lại kết quả tốt cho việc dạy học trong nhà trường sẽ cho lập báo cáo và nhân rộng phương pháp.

Với việc kiểm soát chất lượng GV ngay từ khâu tuyển dụng, đánh giá được năng lực GV trong quá trình dạy học và bố trí công việc dạy học theo hướng bổ sung để khắc phục trình độ chênh lệch của GV sẽ giúp nhà trường khắc phục được tình trạng chất lượng GV không cao, không đồng đều, kinh nghiệm ít hiện nay tại các trường MNTT. Qua đó giúp nhà trường quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại trường một cách hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng dạy học tại trường trong thời gian tới.

3.2.2. Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với giáo viên mầm non Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

3.2.2.1. Cơ sở đề xuất biện pháp

Trong phân tích kết quả khảo sát GVMG về mức độ quan trọng của các yếu tố đối với công tác quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại trường thì cho thấy chính sách thu hút, đãi ngộ và tiền lương; Áp lực từ yếu tố bên ngoài cơ sở giáo dục (xã hội, phụ huynh…); và mối quan hệ giữa các thành viên trong cơ sở giáo dục đều được đánh giá cao. Đây là phương tiện, điều kiện và các yếu tố kích thích đối với các GVMG trong việc hoàn thành hoạt động dạy học tại các trường.

Hiện nay GVMG đang phải chịu nhiều áp lực trong quá trình thực hiện dạy học từ nhiều phía như nhà trường, phụ huynh, xã hội nhưng thu nhập lại không tương xứng. Điều này tác động không tốt đến chất lượng thực hiện công việc của GVMG trong các trường, GVMG không toàn tâm toàn ý thực hiện trách nhiệm cũng như sáng tạo cống hiến trong công việc, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý đối với GVMG của nhà trường. Chính vì vậy để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương cần phải thực hiện biện pháp tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và các yếu tố kích thích đối với GVMG.

3.2.2.2. Mục tiêu của biện pháp

Tăng cường sự hài lòng của GVMG đối với các phương tiện, điều kiện và các yếu tố kích thích trong hoạt động dạy học. Từ đó thúc đẩy sự phấn đấu, tạo động lực để GVMG hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong quá trình dạy học, góp phần giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.

3.2.2.3 Nội dung của biện pháp

Thực hiện các biện pháp cải thiện mức thu nhập, phúc lợi của nhà trường đối với GVMG.

Bố trí công việc linh hoạt, có xét đến hoàn cảnh của GVMG.

Tạo môi trường làm việc gần gũi, gắn bó giữa đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường.

Tạo cơ hội để GVMG phát triển tốt trong công việc.

3.2.2.4. Cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Trước hết nhà trường cần thực hiện nhiều các biện pháp cải thiện mức thu nhập, phúc lợi của nhà trường đối với GVMG. Để làm được điều này nhà trường cần phải đề ra chính sách trả lương và chính sách khen thưởng theo năng lực, GVMG nào làm việc có hiệu quả, được đánh giá cao sẽ được nhà trường trả lương cao hơn. Việc trả lương theo năng lực là dựa vào một thực tế rằng không phải GV nào cũng làm việc như nhau, có trình độ như nhau và sự cống hiến như nhau trong công việc. Căn cứ vào trình độ, năng lực làm việc, khả năng tổ chức việc dạy học, giao tiếp với trẻ, hoàn thành các công việc được giao theo kế hoạch, được mọi người trong và ngoài tín nhiệm, có khả năng thực hiện các phương pháp giáo dục mới một cách có hiệu quả hoặc có nhiều ý tưởng mang lại giá trị cao trong hoạt động của nhà trường… nhà trường sẽ đề ra các chỉ tiêu trên để đánh giá năng lực làm việc, cống hiến của GVMG để đưa ra các chính sách trả lương, thực hiện khen thưởng phù hợp. Qua đó kích thích GVMG trong các trường nỗ lực thực hiện tốt nhiệm vụ được giao trong hoạt động dạy học tại nhà trường, thúc đẩy sự nỗ lựp học tập, tăng cường mối đoàn kết tập thể trong nhà trường, tăng cường sự gắn kết của GV đối với ngôi trường đang công tác.

Để có nguồn kinh phí trong việc tăng cường trả lương, thực hiện chính sách khen thưởng nhà trường sẽ trao đổi với GV để cung cấp cho phụ huynh các dịch vụ tiện ích như giữ con thêm giờ, giữ trẻ trong những ngày cận Tết, cho trẻ ăn chiều, tắm trẻ… từ đó gia tăng thu nhập cho GVMG. Ngoài ra, tùy vào điều kiện nhà trường có thể vận động sự nỗ lực của GVMG trong nâng cao chất lượng đào tạo, sử dụng phương pháp dạy học mới, từ đó có cơ sở để nâng cao mức học phí và các khoản thu khác để nâng cao thu nhập cho GVMG. Nhà trường cũng nên đặt ra những điều kiện để tăng lương, thưởng cho GVMG như hình thức thưởng theo kết quả, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Lương có thể trả theo hình thức lương cố định và thưởng theo công việc, nhà trường phải xây dựng mức lương và thưởng sao cho tổng hợp lại phải đủ đảm bảo hơn các khoản chi cho cuộc sống với mức sống hiện tại. Ngoài ra phải có các khoản phát triển, tái sản xuất sức lao động, chăm sóc y tế, chăm lo đời sống, sức khỏe cho bản thân và gia đình GVMG.

Riêng trong vấn đề khen thưởng nhà trường cần phải thực hiện thường xuyên, ngay khi GV hoàn thành tót công việc, có thành tích xuất sắc, có nhiều sáng kiến hay, có nhiều cống hiến cho tập thể hay những GV luôn cố gắng làm tốt công việc, những người đã vượt khó để và vượt lên trên chính bản thân họ… Ngoài việc khen thưởng bằng tiền nhà trường cũng cần thực hiện các biện pháp tuyên dương trước tập thể, cấp bằng khen để khuyến khích bản thân GV và những người khác phấn đấu học tập và làm theo.

Nhà trường cũng cần phải thực hiện đầy đủ các phúc lợi theo quy định pháp luật của nhà nước như các loại bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế… nhà trường cũng nên có các khoản phúc lợi tự nguyện như là các phúc lợi hỗ trợ cho GVMG như các khoản phúc lợi bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm mất khả năng lao động; Các phúc lợi bảo đảm thu nhập, bảo đảm hưu trí, phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt…

Tất cả các khoản thu nhập, phúc lợi đều phải được đánh giá và trả theo năng lực của GVMG một cách công bằng, minh bạch. Nhà trường cũng cần thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ về đời sống, sức khỏe thể chất và tinh thần cho GVMG, từ đó tạo ra sự thoải mái trong tinh thần, mạnh mẽ về thể chất, tạo điều kiện phát huy các kỹ năng và tính sáng tạo trong công việc để GV có thể cống hiến nhiều hơn cho nhà trường, nâng cao mức độ gắn kết của họ với nhà trường, từ đó GVMG sẽ nổ lực cống hiến cho hoạt động dạy học tại trường, tuân thủ các nguyên tắc quản lý dạy học của trường.

Thứ hai, nhà trường cần xây dựng môi trường làm việc gần gũi, gắn bó giữa đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường. Lãnh đạo nhà trường mà nhất là hiệu trưởng không phải là người chỉ biết ra lệnh mà còn phải biết lắng nghe nghe ý kiến của GVMG và từ đó nhận biết được tâm tư nguyện vọng của GVMG do mình quản lý từ đó quan tâm, giúp đỡ, động viên GVMG hoàn thành tốt công việc được giao và hỗ trợ khi cần thiết. Người lãnh đạo phải biết đánh giá đúng năng lực, trình độ chuyên môn của GV cấp dưới từ đó bố trí công việc phù hợp, hướng họ đến những công việc phù hợp với bản thân, chuyên môn của họ để giúp họ hoàn thành tốt nhất công việc của nhà trường với một tinh thần thoải mái. Lãnh đạo của nhà trường phải luôn đối xử công bằng, không phân biệt giữa các thành viên trong nhà trường như GVMG cũ – mới, GVMG giỏi – bình thường… Điều này cần phải dựa vào kỹ năng kiến thức của lãnh đạo nhà trường. Để thực hiện tốt thì nhà trường nên xây dựng một văn hóa nhà trường một cách bền vững và phù hợp có trao đổi với GV khi xây dựng. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Nhà trường cũng cần xây dựng văn hóa nhà trường, nó phải đề cao sự trung thực, sự tin cậy giữa các cá nhân trong guồng máy, tạo cơ hội để cho mỗi công việc là một sự phối hợp nhịp nhàng của các thành viên trong một nhóm hay cả nhà trường. Nhà trường cần đề cao những người có tinh thần giúp đỡ người khác, biết phối hợp với những đồng nghiệp để nâng cao hiệu quả công việc, tạo dựng hình tượng của những đồng nghiệp đáng tin cậy… Tạo được môi trường làm việc có sự sự giao tiếp, sự hòa đồng giữa các cá nhân trong nhà trường. Nhà trường cũng cần tạo tinh thần thoải mái, hòa đồng và có sự cộng tác, trao đổi giữa các cá nhân trong nhà trường.

Thứ ba, nhà trường cũng cần trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ cho công việc. Nhà trường cũng cần phải cung cấp cho GVMG một môi trường làm việc tốt cùng những phương tiện thích hợp chẳng hạn như môi trường làm việc thoáng mát, sạch đẹp, nhiệt độ ánh sáng phù hợp, các công cụ, dụng cụ hỗ trợ công việc tương đối đầy đủ như máy vi tính, bàn làm việc, nơi đựng hồ sơ, máy móc kỹ thuật, dụng cụ giảng dạy, giấy bút, máy in, máy photocopy, phần mềm dạy học… để họ có thể làm việc tốt nhất. Thời gian biểu làm việc phù hợp đối với các cá nhân, thông thường thời gian này là giờ hành chính, chính vì vậy nhà trường phải bố trí để thời gian này không bị xáo trộn hay tăng thêm.

Thứ tư, nhà trường cũng cần tạo cơ hội để GVMG phát triển tốt trong công việc. Nhà trường cần thực hiện quy hoạch nguồn lực GVMG tốt để có được cái nhìn xa về nguồn nhân lực trong nhà trường, không tạo ra quá nhiều sự cản trở, tạo mọi điều kiện để GVMG phát triển sự nghiệp tại nhà trường, bố trí công việc phù hợp với năng lực của từng cá nhân, tạo cho họ hứng thú trong công việc tại nhà trường, tạo điều kiện để GVMG được tự do sáng tạo để phát triển tốt trong việc hoàn thành công việc và sự thăng tiến nếu tích cực cống hiến cho nhà trường trong quá trình thực hiện dạy học. Ngoài ra, nhà trường phải thực hiện các chính sách, chương trình đào tạo phù hợp với những GVMG chưa nắm bắt được công việc mới để hiệu quả công việc và hỗ trợ GVMG, nhất là những thời điểm chuyển công tác tới vị trí mới, hoặc được bố trí sang một vị trí không đúng với năng lực của GVMG nhưng theo yêu cầu của nhà trường.

Thông qua tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với GVMG nhà trường đã tạo ra động lực lao động giúp cho GV có thể tự hoàn thiện mình. Từ đó GV sẽ nỗ lực hơn để trong quá trình dạy học tại trường, trong quá trình lao động học hỏi, đúc kết kinh nghiệm, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Qua đó người GV sẽ thỏa mãn hơn với công việc hiện có và có mong muốn gắn kết lâu dài với nhà trường, giúp nhà trường giữ chân được người GV giỏi, tạo nên một tập thể mạnh luôn hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Xét về khía cạnh quản lý nhà trường khi GV giỏi có mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tâm của các cán bộ giáo viên trong cơ quan trường học thì sẽ giảm được các chi phí do công tác tuyển dụng, đào tạo GV mới từ đó giúp nhà trường ổn định được chất lượng dạy học ở mức cao. Giúp nhà trường tạo được nguồn kinh phí thực hiện các chính sách tiền lương, thưởng, phục lợi để cải thiện đời sống GV. Giúp tạo nên một tập thể đồng lòng và luôn nỗ lực hoàn thành công việc, luôn hướng về việc hoàn thành mục tiêu của nhà trường. Qua đó giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của GVMG.

3.2.3. Đẩy mạnh quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của GV Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

3.2.3.2 Cơ sở đề xuất biện pháp

Hiện nay Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT đang hướng tới sự đổi mới toàn diện giáo dục để nâng cao chất lượng ngay từ cấp mầm non. Điều 22 và Điều 23 Luật giáo dục (2005) nêu Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Và Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ. Điều này cho thấy ngay trong luật giáo dục của Việt Nam đã quan tâm đến sự thay đổi về phương pháp giáo dục theo hướng chú trọng đến người học, xem người học là trung tâm của hoạt động dạy – học.

Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Hướng đổi mới giáo dục là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Mọi sự đổi mới đều quan tâm đến chất lượng cuối cùng là năng lực người học, hướng đến người học, xem người học là mục tiêu của giáo dục, là trung tâm của các hoạt động giáo dục, trung tâm để tạo nên sự thay đổi.

Trong Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT do bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ký ngày 26/8/2016 ban hành về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 – 2017 của ngành Giáo dục đã nêu Giáo dục mầm non chú trọng đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Trong khi đó theo phân tích ở chương 2 đã cho thấy các trường MNTT tại thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương đã cơ bản thực hiện theo yêu cầu chung của chương trình khung và có những quan điểm giáo dục hoặc dạy học theo các phương pháp giáo dục hiện đại như Steiner, Montessori và Reggio Emilia. Tuy nhiên việc vận dụng và quản lý việc dạy học theo các phương pháp này chỉ dừng lại ở mức độ tham khảo, chưa được quản lý chặt chẽ, thường để GV tự lên giáo án, chuẩn bị dụng cụ và thực hiện. Điều này thiếu tính thống nhất tạo nên sự chênh lệch chất lượng dạy học giữa các lớp, các trường, hạn chế chất lượng dạy học, không bắt kịp xu hướng đổi mới giáo dục của thời đại.

3.2.3.2 Mục tiêu của biện pháp

Đẩy mạnh vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng dạy học và tăng cường quản lý GV trong hoạt động này.

3.2.3.3 Nội dung của biện pháp

Xác định sự cần thiết phải vận dụng các phương pháp giáo dục hiện đại như Steiner, Montessori và Reggio Emilia.

Lên kế hoạch vận dụng các phương pháp hiện đại vào dạy học tại nhà trường.

Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học theo hướng vận dụng các phương pháp hiện đại.

Kiểm soát kết quả và đề ra các cải tiến phù hợp.

3.2.3.4 Cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Các phương pháp hiện đại như Steiner, Montessori và Reggio Emilia là các phương pháp giáo dục thực tiễn mang tính đột phá, đã được vận dụng từ lâu ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới và thu được thành công vang dội. Mục tiêu của các phương pháp giáo dục này là tạo điều kiện tối đa để trẻ trau dồi niềm đam mê học hỏi, thông qua thực hành thường xuyên để hình thành các kỹ năng, cá nhân hóa việc học tập, trẻ là trung tâm của hoạt động dạy học và chú trọng phát triển năng khiếu toàn diện cho từng bé. Cùng với xu thế thay đổi toàn diện của giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa thì các trường MNTT cần phải có sự thay đổi mạnh mẽ, đẩy mạnh kế hoạch vận dụng các phương pháp giáo dục hiện đại trên trong hoạt động dạy học.

Trước hết lãnh đạo nhà trường cần nâng cao nhận thức về việc cần thiết thay đổi, vận dụng phương pháp dạy học hiện đại và tuyên truyền đến GVMG, nhân viên trong trường. Xem xét một vài phương pháp dạy học hiện đại và đánh giá mức độ vận dụng, đáp ứng của nhà trường về cơ sở vật chất, trang thiết bị và GV. Từ đó lựa chọn phương pháp và mức độ vận dụng vào quá trình dạy học.

Quá trình này được thực hiện công khai, có tham vấn CBQL, tổ chuyên môn và GV trong trường để có lựa chọn phù hợp nhất.

Sau khi xác định được phương pháp và mức độ vận dụng vào quá trình dạy học nhà trường sẽ thông tin đến các bậc phụ huynh, cộng đồng địa phương để thu hút sự hỗ trợ. Cần phối hợp chặt chẽ với phòng GD&ĐT thị xã, sở GD&ĐT tỉnh để học tập những thành công từ những trường đã thực hiện các phương pháp đã chọn. Nhà trường cũng thực hiện bồi dưỡng CBQL, GVMG về phương pháp giáo dục mới và cách thức vận dụng vào quá trình dạy học phù hợp.

Tiếp theo nhà trường lên kế hoạch vận dụng các phương pháp hiện đại vào dạy học tại nhà trường. Cụ thể nhà trường khuyến khích GV xây dựng kế hoạch dạy học, chuẩn bị học cụ, hình thức dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy học, trang bị các phương tiện, công cụ, dụng cụ theo hướng vận dụng các phương pháp dạy học mới. Chú trọng tạo cơ hội cho trẻ chủ động tham gia vào các hoạt động, giao tiếp, tương tác tích cực với bài học, công cụ, đồ chơi… Trong quá trình học tập học sinh được tham gia các trò chơi theo phương châm “Chơi để học, học để chơi”. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn trong buổi học, gợi ý, gợi cho trẻ tự tìm tòi, phát hiện ra ý nghĩa của bài học, khuyến khích trẻ, chơi cùng trẻ, củng cố kiến thức vững chắc cho trẻ khi kết thúc một bài học.

Nhà trường sẽ cho phép mỗi GVMG được lựa chọn và xây dựng các nội dung bài học phù hợp với điều kiện cụ thể của lớp dựa trên nội dung chương trình cơ bản của Bộ GD&ĐT và phương pháp dạy học mới. Quá trình thực hiện bài học phải đảm bảo rằng nhu cầu, khả năng thế mạnh của mỗi đứa trẻ đều đươc hiểu, đánh giá đúng và được tôn trọng, mỗi đứa trẻ đều có cơ hội tốt nhất có thể để thành công, mỗi đứa trẻ đều có cơ hội để học bằng nhiều cách khác nhau kể cả thông qua vui chơi.

Thứ ba, nhà trường thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học theo hướng vận dụng các phương pháp hiện đại. Nhà trường thực hiện mua sắm thêm một số trang thiết bị phục vụ học tập, vui chơi cho trẻ; tạo không gian vui chơi rộng rãi và thay đổi không gian thường xuyên để trẻ hoạt động thoải mái và không bị nhàm chán… Các phòng học của trẻ mẫu giáo cần được trang bị bàn ghế cá nhân để tăng tính linh hoạt cho về cách bài trí chỗ ngồi, phù hợp với bài học, các hoạt động học tập trong tiết học hay theo yêu cầu sư phạm của từng phần trong tiết học. Trẻ cũng được tham gia các hoạt động thực tế để tăng cường mức độ nhận thức về nội dung bài học, giúp trẻ tích cực, hứng thú tìm tòi, khám phá, chủ động tham gia các hoạt động nhóm, tham gia các thí nghiệm nhỏ tại phòng, thực hiện các buổi khám phá thiên nhiên ngoài trời, tham gia trồng cây, trồng rau (chủ đề Thực vật), tham quan Viện bảo tàng (chủ đề Quê hương, đất nước, Bác Hồ)…, cơ sở sản xuất các sản phẩm, vật dụng (chủ đề Nghề nghiệp). Trong quá trình dạy học nhà trường cũng phải thường kỳ tổ chức các hội thi có sự phối hợp giữa trẻ, phụ huynh, cô giáo và địa phương như chủ đề về dinh dưỡng và an toàn giao thông (dưới hình thức tiểu phẩm), tái chế đồ nhựa để bảo vệ môi trường, thi làm đồ dùng dạy học, thử tài của bé… Nhà trường cũng cần trang bị cơ sở vật chất, đồ dùng học tập phù hợp, nhất là các phương tiện công nghệ phù hợp tăng khả năng tương tác tích cực của trẻ với bài học. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Thứ tư, nhà trường sẽ tiến hành kiểm soát kết quả và đề ra các cải tiến phù hợp. Trong quá trình thực hiện vận dụng phương pháp mới GVMG có thể sáng tạo trong việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục tại trường. Tuy nhiên nhà trường cần phải tăng cường quản lý kiểm soát chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học.

Nhà trường cần chú trọng đánh giá một cách nghiêm túc, khách quan, trung thực, công bằng về phẩm chất và năng lực của học sinh. Trong quá trình dạy học GV chú trọng đánh giá trẻ trên lớp thông qua các biểu hiện học tập, sự hứng thú tham gia vào các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài trời, hoạt động sáng tạo trong lớp học. GV cũng chú trọng đánh giá trẻ thông qua các sản phẩm học tập như các bức vẽ, các dụng cụ chơi trong các cuộc thi sáng tạo, cuộc thi vẽ tranh… hay khả năng trình diễn, biểu diễn thuyết trình chủ đề, kể chuyện… trước lớp học. Kết quả đánh giá cụ thể từng hoạt động sẽ được tổng kết để đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học. Việc kiểm tra, đánh giá trẻ không chỉ là việc xem trẻ học được cái gì mà quan trọng hơn là biết học sinh học như thế nào, có biết vận dụng không.

Kết quả của quá trình kiểm soát, đánh giá sẽ được lập thành báo cáo để trình lãnh đạo nhà trường xem xét, đánh giá về hiệu quả thực hiện, tác động đến chất lượng dạy học của nhà trường, những điểm mạnh, tồn tại của nhà trường trong quá trình thực hiện. Từ đó nhà trường sẽ đề ra các biện pháp khắc phục tương ứng. Mục tiêu là ngày càng vận dụng sâu hơn và có hiệu quả hơn sự vượt trội của các phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học tại các trường MNTT.

Việc tăng cường quản lý và đẩy mạnh GV vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học sẽ giúp nhà trường định hướng về mục tiêu chất lượng dạy học tốt hơn, qua đó nhà trường có cơ sở để kế hoạch dạy học, tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học cũng như thực hiện kiểm tra hoạt động dạy học trong nhà trường đối với GVMG. GVMG được chủ động tham gia lập kế hoạch học tập cho trẻ, kích thích trẻ tham gia và làm phong phú hoạt động chơi và học của trẻ; thực hiện trang trí góc học tập, góc hoạt động; tổ chức các chương trình tham quan, xây dựng đồ dùng… gia tăng sự hứng thú, sáng tạo đối với việc thực hiện hoạt động dạy học của GVMG và hoàn thành tốt công việc dạy học. Qua đó giúp nhà trường hoàn thành tốt việc quản lý dạy học của GVMG trong nhà trường.

3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Để kiểm nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương tác giả sử dụng bảng hỏi khảo sát. Trong bảng khảo sát tác giả tóm tắc 3 biện pháp đã đề xuất và nội dung của chúng để đối tượng khảo sát đánh giá và cho ý kiến phù hợp. Bảng gồm 2 câu hỏi nhằm đánh giá mức độ cần thiết và khả thi; sử dụng thang đo Linkert 5 mức độ để tăng mức độ chính xác cho các đánh giá.

Bảng 3.1: Cách tính điểm của khảo sát tính cần thiết và khả thi

Đối tượng khảo sát đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi là các CBQL và GVMG tại các trường MNTT, tương tự như đối tượng khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học đã trình bày trong chương 2. Tác giả sử dụng 100 phiếu khảo sát chung cho cả hai đối tượng. Dữ liệu khảo sát sẽ tác giả phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0 và Excell 2010 để tính điểm trung bình, tỷ lệ % đối tượng khảo sát lựa chọn các mức đánh giá của các đối tượng khảo sát đối với từng biện pháp. Từ đó tiến hành so sánh và đánh giá về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất. Sau khi khảo sát tác giả thu về 97 phiếu, trong đó có 92 phiếu có đầy đủ dữ liệu phân tích cho cả mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

3.3.1 Đánh giá tính cần thiết

Kết quả khảo sát tính cần thiết cho thấy đa số các đối tượng khảo sát đánh giá cao về tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuất.

Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tính cần thiết

Trong các biện pháp này có thể thấy biện pháp “Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng và phân công dạy học theo hướng phát huy thế mạnh của GV” được các đối tượng khảo sát đánh giá mức độ cần thiết nhất với điểm trung bình là 4,77. Điều này cho thấy tác động của tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với giáo viên mầm non được GVMG đánh giá là có mức độ cần thiết nhất trong việc nâng cao chất lượng dạy học, giúp nhà trường nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương. Đây là điều mong mõi của GVMG. Qua đó sẽ tăng cường sự hài lòng của GVMG đối với công việc dạy học trong nhà trường, thúc đẩy sự phấn đấu, tạo động lực để GVMG hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong quá trình dạy học, góp phần giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.

Trong khi đó biện pháp “Tăng cường quản lý và đẩy mạnh GV vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học” được các đối tượng khảo sát đánh giá mức ở độ cần thiết với điểm trung bình là 4,71 – là điểm thấp nhất trong 3 biện pháp. Tuy nhiên mức độ chênh lệch trong đánh giá là không cao. Điều này chứng tỏ tất cả các biện pháp tác giả đưa ra đều được đánh giá có tính cần thiết cao, ở mức thấp nhất là 4,71 điểm trung bình, cao nhất 4,77 điểm trung bình. Điều này cho thấy trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương thì các trường này cần phải xem xét thực hiện tốt các biện pháp quản lý mà luận văn đã đề xuất trên đây.

3.3.2 Đánh giá tính khả thi Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Kết quả nghiên cứu tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của GVMG tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương thể hiện ở bảng 3.3. Qua kết quả này cho thấy tất cả các biện pháp được đề xuất đều được đánh giá cao về tính khả thi.

Biện pháp “Đẩy mạnh quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của GV” được đánh giá cao nhất về tính khả thi, đây là biện pháp thiên về tính chủ quan của lãnh đạo nhà trường, vì thế nếu lãnh đạo nhà trường quyết tâm thì khả năng thực hiện được là rất cao.

Bảng 3.3: Kết quả khảo sát tính khả thi

Biện pháp “Đẩy mạnh quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của GV” được đánh giá có tính khả thi đứng thứ ba với 4,74 điềm trung bình. Điều này cho thấy đối tượng khảo sát đã nhận định được một số khó khăn trong thực hiện biện pháp này. Tuy nhiên với điều kiện thuận tiện, ưu điểm hiện có của các trường MNTT thì biện pháp này vẫn có tính khả rất cao.

Biện pháp được đánh giá tính khả thi có điểm trung bình đứng thứ hai là Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với giáo viên mầm non với điểm trung bình 4,76. Điều này cho thấy đối tượng khảo sát đánh giá biện pháp này cần phải có nhiều điều kiện để thực hiện như phải có nguồn thu, phụ thuộc vào nhu cầu của phụ huynh ở địa phương, tình hình phát triển kinh tế của các gia đình… Tuy nhiên với tình hình phát triển kinh tế tại địa phương hiện nay thì việc cung cấp nhiều dịch vụ cho phụ huynh là phù hợp với nhu cầu hiện tại cũng như kinh tế của các gia đình.

Biểu đồ 3.1: Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp

Nhìn chung về tổng thể thì các biện pháp đều có điểm đánh giá khả thi cao mức thấp nhất là 4,74, cao nhất là 4,77. Mức chênh lệch không quá cao giữa trong kết quả đánh giá các biện pháp.

Tác giả thể hiện biểu đồ (Biểu đồ 3.1) phản ánh mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất để dễ dàng nhận thấy sự đánh giá của đối tượng khảo sát đến sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp mà tác giả đề xuất. Biểu đồ cho thấy hấu hết các biện pháp đều ở trên mức điểm trung bình 4,71. Đây là số điểm đánh giá rất cao cho các biện pháp.

Để tăng tính thuyết phục cho các nhận định tác giả đi đánh giá hệ số tương quan (Pearson) giữa hai nhóm trung bình lựa chọn là nhóm Tính cần thiết và nhóm Tính khả thi để đánh giá độ mạnh của mối tương quan tuyến tính giữa hai nhóm.

Bảng 3.4: Mối tương quan giữa hai nhóm Tính cần thiết và Tính khả thi

Qua bảng 3.4 cho thấy rằng hai nhóm Tính cần thiết và Tính khả thi không có mối tương quan về số liệu khi hệ số Sig.= 0,667 >0,05 (hệ số mức ý nghĩa đảm bảo độ tin cậy). Điều này có nghĩa là giữa hai nhóm Tính cần thiết và Tính khả thi không ảnh hưởng đến nhau khi đưa ra các đánh giá mức độ tác động của biện pháp, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu. Điều này một lần nữa khẳng định các biện pháp mà tác giả đưa ra là cần thiết và có tính khả thi cao.

3.4 Thử nghiệm biện pháp quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

3.4.1 Khái quát quá trình thực nghiệm

Thực nghiệm nhằm mục đích đánh giá tác động của các biện pháp đề xuất đối hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương. Kiểm tra đánh giá, so sánh kết quả của hoạt động dạy học của giáo viên trước và sau khi áp dụng biện pháp được đề xuất.

Đối tượng được chọn thực nghiệm là 3 trường được lựa chọn ngẫu nhiên trên địa bàn gồm Trường MNTT Đôrêmi, Trường MNTT Hoa Sen và Trường MNTT Hạnh Phúc. Thời gian thực nghiệm là học kỳ 2 năm học 2016 – 2017. Kết quả sẽ được đem so sánh với học kỳ 1 của cùng năm học. Nội dung đánh bao gồm các 12 chỉ tiêu (bảng 3.5) liên quan đến hoạt động quản lý dạy học của GVMG tại các trường thực nghiệm.

Nội dung thực nghiệm: áp dụng biện pháp 2, Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với GV. Đây là biện pháp được đánh giá cần thiết nhất trong hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trường mầm non tư thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương. Cụ thể nhà trường đề ra các biện pháp cải thiện mức thu nhập, phúc lợi và bố trí công việc phù hợp với từng GVMG. Song song đó nhà trường xây dựng môi trường làm việc gần gũi, gắn bó giữa đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường và tạo cơ hội để GVMG phát triển tốt trong công việc.

3.4.2 Quy trình tiến hành thực nghiệm Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Thức nhất, Hiệu trưởng sẽ đề ra các dịch vụ tăng thêm cung cấp cho phụ huynh học sinh và căn cứ vào tình hình tài chính để tiến hành xây dựng chính sách trả lương theo năng lực như khả năng lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ; Kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ; Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; Kỹ năng quản lý lớp học; Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng và thời gian dạy học trong tháng để trả lương chứ không trả lương khoán tháng như lâu nay vẫn thực hiện. Đối với các thời gian yêu cầu tăng ca, làm việc thêm vào các ngày lễ, Tết nhà trường nhân thêm hệ số trả lương từ 2 đến 3 lần so với ngày thường.

Thứ hai, Hiệu trưởng xem xét theo năng lực của từng cá nhân để bố trí công việc phù hợp với từng GVMG nhằm tạo điều kiện để GV có thể hoàn thành tốt công việc của mình.

Thứ ba Hiệu trưởng chỉ đạo đóng các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… đầy đủ theo quy định của pháp luật lãnh đạo đối với các GV đã ký hoạt động chính thức. Hiệu trưởng quan tâm, giúp đỡ về đời sống, sức khỏe thể chất và tinh thần cho GVMG nhất là đối với những hoàn cảnh khó khăn.

Thứ tư Hiệu trưởng xây dựng môi trường làm việc gần gũi, gắn bó, cộng tác giữa đồng nghiệp, lãnh đạo nhà trường thông qua các quy chế làm việc, trao đổi và tổ chức trong nhà trường. Hiệu trưởng tạo ra sự công bằng trong tất cả các hoạt động như đánh giá, trả lương, thưởng, ký kết hợp đồng lãnh đạo, xem xét các trường hợp khen thưởng hay kỷ luật…

Thứ năm Hiệu trưởng cần đánh giá, tham khảo ý kiến của GV và căn cứ vào tình hình thực tế nhà trường để trang bị một số thiết bị phục vụ cho công việc dạy học của GV như máy vi tính, bàn làm việc, nơi đựng hồ sơ, máy móc kỹ thuật, dụng cụ giảng dạy, giấy bút, máy in, máy photocopy, phần mềm dạy học… để GV có thể phát huy khả năng dạy học tốt nhất.

Thứ sáu, Hiệu trưởng cần tạo cơ hội để GVMG phát triển tốt trong công việc như cho phép và hỗ trợ GV tham gia các khóa học nâng cao trình độ, tham gia các chương trình giao lưu học tập, trao đổi kinh nghiệm giữa GV các trường, tham gia các chương trình đào tạo của phòng, sở GD&ĐT tỉnh tổ chức trong năm học, tạo cơ hội để GV sáng tạo trong công việc, bố trí công việc phù hợp với năng lực của cá nhân…

3.4.3 Kết quả thực nghiệm Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Qua kết quả phân tích ở bảng 3.5 cho thấy các nội dung đánh giá đều có xu hướng tác động tích cực đến hoạt động quản lý dạy học của GVMG tại các trường được tiến hành thực nghiệm biện pháp đề xuất.

Cụ thể các nội dung Số lượt GV đi trể so với giờ quy định; Số lượt GV không soạn bài dạy trước; Số GV không hoàn thiện các hồ sơ theo quy định; Số GV không hoàn thành kế hoạch dạy học; Số GV không hoàn thành công việc dạy học; Số giáo viên nghỉ việc, chuyển công tác; Số buổi học giáo viên xin nghỉ phép; Các vụ việc mâu thuẫn giữa GV đều có xu hướng giảm. Các nội dung trên cho thấy việc vận dụng biện pháp 6 đã tạo ra sự hài lòng trong tập thể nhà trường, GVMG từ đó khuyến khích họ chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của nhà trường đưa ra, tích cực hoàn thành tốt công việc được giao; mong muốn đứng lớp nhiều hơn; trung thành hơn với công việc cũng như với nhà trường, từ đó muốn gắn bó lâu dài với ngôi trường đang dạy; các GVMG trong trường gắn bó, đoàn kết với nhau hơn.

Bảng 3.5: Kết quả trước và sau khi thực nghiệm biện pháp số 2

Số lượt GV tham gia các khóa học, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm…

Các nội dung đánh giá gồm Số GV được đánh giá xếp loại giỏi cấp cơ sở; Số GV được đánh giá xếp loại tốt; Số giờ dạy được dự giờ xếp loại tốt; Số lượt GV tham gia các khóa học, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm… đều tăng. Điều này cho thấy việc vận dụng biện pháp 6 đã góp phần nâng cao chất lượng GVMG, tác động tích cực đến hoạt động dạy học của GVMG, qua đó nâng cao chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ trong nhà trường. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

Biểu đồ 3.5: Tổng hợp kết quả trước và sau khi thực nghiệm của 3 trường

Vậy qua quá trình thực nghiệm đã cho thấy việc áp dụng biện pháp 2, Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với GV đã tác động tích cực đến hoạt động quản lý dạy học của GVMG tại các trường MNTT. Tóm lại các biện pháp được đề xuất trong nghiên cứu này có mối quan hệ tương hỗ với nhau, biện pháp này là tiền đề cho biện pháp kia, bổ sung cho nhau, hoàn thiện nhau để đạt đến kết quả tích cực cho hoạt động quản lý dạy học của GVMG. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học và chăm sóc trẻ tại một số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương.

Tiểu kết chương 3

Chương 3 đã đề xuất và thử nghiệm 3 biện pháp nhằm giải quyết những tồn tại trong quản lý hoạt động dạy học của GVMG các số trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương . Các biện pháp bao gồm:

  • Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng và phân công dạy học theo hướng phát huy thế mạnh của GV.
  • Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với giáo viên mầm non.
  • Đẩy mạnh quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học của GV.

Quá trình thực nghiệm đã cho thấy việc áp dụng biện pháp “Tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với GV” đã tác động tích cực đến hoạt động quản lý dạy học của GVMG tại các trường MNTT với kết quả thử nghiệm đạt kết quả tích cực. Hai biện pháp còn lại đạt tính khả thi cao đặc biệt là biện pháp Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng và phân công dạy học theo hướng phát huy thế mạnh của GV (4.77). Biện pháp 3 cũng đạt tính khả thi cao (4.74) tuy nhiên trong điều kiện thực tiễn của GDMN hiện nay đặc biệt là MNTT tại Dĩ An vẫn còn nhiều điều kiện khách quan lẫn chủ quan dẫn đến việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào hoạt động dạy học còn một số hạn chế. Kết quả thu được chính là một kết quả khá thú vị làm nền tảng cho việc nghiên cứu ứng dụng các PPDH hiện đại vào hoạt động DH của GVMG trong các trường MNTT sau này.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Các trường MNTT cơ bản đều thực hiện các nội dung quản lý dạy học cũng có những điểm mạnh và điểm yếu riêng so với các trường mầm mon công lập.

Cán bộ quản lý chưa được trang bị về tri thức quản lý, việc quản lý HĐDH trường MNTT chưa chặt chẽ, đôi khi còn tùy tiện, đo đó HĐDH còn chưa nghiêm túc trong thực hiện chương trình mà chủ yếu là “nuôi” chứ việc “dạy” còn hạn chế.

Từ những tồn tại trên tác giả đã đề ra được các biện pháp giải quyết những tồn tại cơ bản nói trên trong quản lý HĐDH tại các trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An. Các biện pháp chú trọng đảm bảo chất lượng GV ngay từ giai đoạn tuyển dụng đầu vào, trong quá trình phân công sẽ có sự đan xen, phối hợp để các GV được học hỏi, hoàn thiện bản thân, khắc phục trình độ chênh lệch của GV, nâng cao được chất lượng dạy học của GV tại các nhà trường.

Thông qua việc tăng cường quản lý các phương tiện, điều kiện và yếu tố kích thích đối với GV sẽ thúc đẩy sự phấn đấu, tạo động lực để GV hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, tích cực gắn bó với nhà trường, giúp nhà trường nâng cao được chất lượng dạy học.

Vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại như Steiner, Montessori và Reggio Emilia vào hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng dạy học và tăng cường quản lý GV trong hoạt động này là hướng tới của các trường MNTT để nâng cao chất lượng dạy học.

Các biện pháp được đánh giá cao về tính cần thiết và khả thi trong thực hiện trong việc giúp các trường MNTT trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương nâng cao hiệu quả quản lý HĐDH của các GVMG.

2. Kiến nghị Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương cần thường xuyên tổ chức các hội thảo, sinh hoạt chuyên đề, tham quan học tập về kĩ năng, kinh nghiệm quản lý nói chung, quản lý HĐDH nói riêng và các mô hình trường mầm non, mẫu giáo trong và ngoài tỉnh.

Sở cũng cần chỉ đạo hỗ trợ nhà trường mầm non trong hướng dẫn mua sắm, sáng tạo một số đồ dùng, đồ chơi ngoài trời, thiết bị dạy học và tài liệu để GVMG thực hiện tốt chương trình dạy học, chăm sóc giáo dục trẻ tại trường.

Sở thường xuyên tổ chức thi cán bộ quản lý giỏi theo định kỳ để tăng cường chất lượng công tác quản lý giáo dục nói chung và công quản lý hoạt động dạy học nói riêng.

2.2. Đối với Phòng Giáo dục thị xã Dĩ An

Hỗ trợ các trường MNTT triển khai đổi mới quản lý giáo dục theo quan điểm tiếp cận lấy nhà trường làm cơ sở, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường.

Thường xuyên quan tâm theo dõi chỉ đạo, hỗ trợ nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ theo mục tiêu đã đề ra.

Tạo điều kiện cho cán bộ quản lý của các trường MNTT tham gia học các lớp Lý luận chính trị và bồi dưỡng quản lý giáo dục; Tổ chức các chuyên đề, bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBQL và giáo viên.

2.3. Đối với chính quyền địa phương

Quan tâm hỗ trợ về cơ chế chính sách Tài chính đầu tư cho các trường MNTT trên địa bàn.

Cần có kế hoạch và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng về công tác Đảng, công tác đoàn thể cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường MNTT để đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Hoạt động dạy học của trường mầm non tư thục

One thought on “Luận văn: Biện pháp NC dạy học của trường mầm non tư thục

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng của một số trường mầm non tư thục

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464