Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2. Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (NHNTVN) chính thức được thành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là Ngân Hàng Nhà Nước). Theo Quyết định nói trên, NHNT đóng vai trò là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm…), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)… Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT theo mô hình Tổng công ty được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện chủ trương đổi mới sắp xếp lại hệ thống DNNN, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thông qua việc bán đấu giá cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26/12/2007 tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 02 tháng 06 năm 2008, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần với tên gọi Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.1.2 Quy mô hoạt động Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Trải qua 45 năm phấn đấu và phát triển, Vietcombank đã không ngừng vươn lên, trở thành ngân hàng hàng đầu Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như quản lý và kinh doanh vốn, thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ, công nghệ ngân hàng… Với bề dày kinh nghiệm và đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, có trình độ cao và tác phong chuyên nghiệp, Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng đầu cho các tậpđoàn lớn, các doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng như đông đảo khách hàng cá nhân. Từ một ngân hàng chuyên phục vụ trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đã có mạng lưới chi nhánh vươn rộng ra hầu khắp các tỉnh thành lớn trên cả nước với các sản phẩm ngân hàng đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng. Hệ thống Vietcombank đến hết năm 2009 bao gồm 1 hội sở chính, 1 sở giao dịch, 60 chi nhánh và 209 phòng giao dịch trên toàn quốc, 1 trung tâm đào tạo, 3 công ty con tại Việt Nam, một công ty con tại Hồng Kông, 4 công ty liên doanh, 3 công ty liên kết và 1 văn phòng đại diện tại Singapore. Ngoài ra, mạng lưới phục vụ khách hàng còn được đa dạng hóa với 1.244 máy ATM và 7.800 điểm chấp nhận thẻ của Vietcombank trên toàn quốc. Hoạt động của ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý trên gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam trong giai đoạn 2006-2009
Hoạt động huy động
Nhằm đảm bảo sự tăng trởng ổn định của nguồn vốn, VCB đã đưa ra chính sách chú trọng công tác huy động vốn từ cả nền kinh tế và thị truờng liên ngân hàng, sử dụng công cụ lãi suất linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng khách hàng và tận dụng lợi thế vùng, miền để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế. Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn giai đoạn 2006-2009
Năm 2007 được đánh giá là năm sôi động và gặt hái thành công của hoạt động kinh doanh ngân hàng (đặc biệt là khối các ngân hàng thương mại cổ phần). Tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng mạnh so với năm 2006. Mức tăng trưởng huy động vốn của VCB năm 2007 tăng 16,95%. Tuy nhiên cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, lạm phát tăng cao, theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ thắt chặt, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, khống chế mức tăng trưởng tín dụng đã tạo ra cuộc đua về lãi suất huy động giữa các ngân hàng, đẩy mặt bằng lãi suất chung lên cao làm cho hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Tình hình khó khăn tiếp tục kéo dài hết năm 2008 vì vậy không nằm ngoài tình hình chung của toàn hệ thống, tổng huy động vốn của VCB năm 2008 tăng 10,46%, thấp hơn so với mức độ tăng của năm 2007. Năm 2009 chứng kiến sự phục hồi của nền kinh tế, tổng huy động vốn của VCB tăng 17,49%, cao hơn mức độ tăng năm 2008.
Hoạt động sử dụng vốn
Tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tài chính khác và hoạt động trên thị trường liên ngân hàng
Trước tình hình bất ổn của tài chính thế giới, từ tháng 10/2008, Vietcombank đã quyết định rút một lượng vốn khá lớn gửi tại các ngân hàng nước ngoài về nước và tạm thời gửi phần lớn tại NHNN. Tỷ trọng tiền mặt và tiền gửi tại NHNN trong năm 2008 tăng từ 7% năm 2007 lên 15,4%. Trong năm 2009, Vietcombank duy trì hoạt động cho vay trên thị trường liên ngân hàng với khối lượng lớn và thường xuyên đóng vai trò ngân hàng chủ lực cho vay hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng khác; do đó, tỷ trọng tiền mặt và tiền gửi tại NHNN đã giảm xuống còn 12,4%. Tuy vậy, tỷ trọng này vẫn giữ ở mức cao phù hợp với bối cảnh kinh tế thế giới cũng như trong nước đang trên đà phục hồi.
Hoạt động tín dụng
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng tại thời điểm 31/12/2009 đạt 141.621 tỷ đồng, tăng 25,26% so với năm 2008 (112.793 tỷ đồng, tăng 15,5% so với năm 2007). Hoạt động tín dụng của VCB trong năm 2008 chịu nhiều tác động bất lợi của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế; do đó VCB phải nhanh chóng điều chỉnh chỉ tiêu tăng trường tín dụng từ 29% xuống 15%, thực tế đến cuối năm 2008 tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 15,53%. Trước những diễn biến phức tạp và khó lường của thị trường tài chính trong và ngoài nước, bên cạnh nhiệm vụ mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh, VCBtiếp tục chú trọng hơn nữa vào công tác quản trị rủi ro. Với việc thành lập Uỷ ban quản lý rủi ro và cơ cấu lại phòng Quản lý rủi ro trung ương, VCB đang từng bước hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh các chính sách về quản lý rủi ro tín dụng đã được đưa vào áp dụng thành công từ những năm trước, trong năm 2009 VCB tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các chính sách quản trị đối với các rủi ro về thị trường, rủi ro hoạt động.
Các chỉ số tài chính cơ bản
Trong giai đoạn 2006-2009, quy mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của VCB liên tục tăng trưởng, trong đó giá trị tổng tài sản của VCB đứng thứ 3 trên thị trường nội địa (sau Agribank và BIDV).
Bảng 2.3 Các chỉ số tài chính cơ bản
Tử bảng trên, có thể thấy tình hình kinh doanh của VCB liên tục phát triển, thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế và hai chỉ số ROAA và ROEE tăng trưởng hàng năm. Với kết quả như vây, VCB đang ngày càng chứng tỏ được vị trí lớn mạnh trong hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh nói riêng và ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung.
2.2 Diễn biến lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
2.2.1 Chính sách điều hành tiền tệ của NHNN từ năm 2007 đến cuối năm 2009
Trong giai đoạn từ năm 2001-2006, mục tiêu của chính phủ Việt Nam là ưu tiên tăng trưởng kinh tế nên chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ liên tục được mở rộng. Lượng cung tiền mỗi năm tăng 25% trong khi lãi suất và tỷ lệ dự trữ giữ nguyên không đổi.
Từ cuối năm 2005 đến 31/12/2007, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu được duy trì ở mức tương ứng 8.25%/năm – 6.5%/năm – 4.5%/năm. Trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh các loại lãi suất cho phù hợp với tình hình, cụ thể những điều chỉnh được tóm tắt ở bảng sau đối với lãi suất cơ bản:
Bảng 2.4 Thay đổi lãi suất cơ bản từ năm 2007 đến năm 2009
Ngoài ra, NHNN cũng đưa ra một số điều chỉnh khác cụ thể như sau:
- Ngày 01/02/2008, tăng dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% đối với VND và từ 10% lên 11% đối với ngoại tệ, đồng thời mở rộng kỳ hạn tiền gửi phải thực hiện DTBB từ dưới 24 tháng thành tất cả các kỳ hạn (Quyết định 187/QĐ-NHNN, áp dụng từ 01/02/2008 của NHNN).
- Ngày 26/02/2008 thông qua công điện 02/CĐ-NHNN của NHNN Việt Nam, các NHTM phải điều chỉnh lãi suất huy động vốn không vượt quá 12%/năm; Các NHTM nhà nước tích cực tham gia nghiệp vụ thị trường mở và các kênh tái cấp vốn khác của NHNN để đảm bảo khả năng thanh toán và hỗ trợ vốn cho các NHTM trên thị trường LNH với lãi suất tối đa bằng lãi suất nghiệp vụ thị trường mở tại phiên giao dịch gần nhất cộng với 1%/năm.
- Ngày 16/05/2008, NHNN thông qua quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam, theo đó các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng VNĐ đối với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN Việt Nam công bố để áp dụng trong từng thời kỳ.
- Ngày 26/06/2008, điều chỉnh lãi suất tín phiếu bắt buộc, theo đó từ 01/07/2008, lãi suất tín phiếu NHNN bằng VND dưới hình thức bắt buộc phát hành ngày 17/03/2008 sẽ tăng từ 7.8%/năm lên 13%/năm, áp dụng đối với thời hạn thanh toán còn lại của tín phiếu (Quyết định 1435/QĐ-NHNN ngày 26/06/2008 của NHNN).
- Ngày 26/06/2008, NHNN điều chỉnh tăng biên độ từ +-1% lên +-2% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày giao dịch do NHNN thông báo theo Quyết định 1436/QĐ-NHNN.
- Ngày 19/08/2008, theo Quyết định số 1849/QĐ-NHNN, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động và lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam giữa các TCTD trên thị trường LNH không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố
- Ngày 29/08/2008, điều chỉnh lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng: điều chỉnh từ 1,2%/năm (theo Quyết định số 923/QĐ-NHNN ngày 20/7/2004) tăng lên 3,6%/năm (Quyết định số 1907/QĐ-NHNN ngày 29/8/2008). Mục đích của việc tăng mức lãi suất này nhằm hỗ trợ các tổ chức tín dụng có điều kiện giảm lãi suất cho vay, góp phần chia sẻ cùng doanh nghiệp và người vay tác động thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh phát triển.
2.2.2 Tình hình lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Vietcombank Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
Lãi suất huy động và lãi suất cho vay được duy trì khá ổn định cho đến cuối năm 2007. Từ tháng 01/1008, do chính sách thắt chặt tiền tệ NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm lượng tiền trong lưu thông. Từ đó, Ngân hàng bắt đầu tăng lãi suất để huy động vốn, đảm bảo thanh khoản.
Tình hình lãi suất huy động:
Bảng 2.5 Tình hình lãi suất huy động
Lãi suất huy động VNĐ được duy trì tương đối ổn định từ cuối năm 2006 cho đến tháng 12/2007. Lãi suất huy động cho kỳ hạn 3 tháng dao động ở mức 7,80%/năm – 8,52%/năm; 6 tháng (7,80 – 9,06%/năm); 12 tháng (8,40 – 9,48%/năm). Từ đầu năm 2008, Vietcombank tăng lãi suất để thu hút nguồn tiền gửi từ dân cư. Lãi suất tiếp tục tăng cho đến tháng 06/2008, lãi suất huy động cho kỳ hạn 3 tháng là 12%/năm; 6 tháng là 14%/năm; 12 tháng là 14,4%/năm. Như vậy, tính đến tháng 06/2008, lãi suất huy động VNĐ tăng gấp 2 lần so với năm 2007. Năm 2009, Vietcombank hạ lãi suất huy động
Riêng đối với lãi suất huy động USD: áp dụng theo cơ chế lãi suất thả nổi gắn với lãi suất thị trường tiền tệ quốc tế, chịu tác động ảnh hưởng nhiều bởi các đợt điều chỉnh, thay đổi lãi suất của FED. Đến tháng 05/2008, lãi suất của FED ở mức 2%/năm, tuy nhiên, lãi suất tiền gửi USD ở Việt Nam đang ở mức 6,3%/năm, cao hơn 1,05% so với mức lãi suất của trái phiếu chính phủ 1 năm của Mỹ là 5,25%/năm.
Tình hình lãi suất cho vay
Bảng 2.6 Tình hình lãi suất cho vay
Từ cuối năm 2006 đến tháng 12/2007, lãi suất cho vay VNĐ ngắn hạn khoảng 12%/năm; trung dài hạn khoảng 13,5%/năm. Cho đến tháng 06/2008, lãi suất cho vay ngắn hạn, trung dài hạn đều ở mức 21%/năm, tăng gấp 1,55 lần so với năm 2007.
Đối với USD, trong năm 2006 và năm 2007, lãi suất cho vay dao động trong khoảng 6%/năm – 8,7%/năm. Đến tháng 06/2008, lãi suất cho vay dao động trong khoảng 9,5%/năm – 13%/năm, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2007. Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng quản lý rủi ro lãi xuất tại Vietcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
