Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, toàn cầu hóa nền kinh tế không còn là vấn đề xa lạ mà đã và đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu khách quan đối với nền kinh tế của một quốc gia. Chính thức gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) cùng với các tổ chức hợp tác khu vực, Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đang từng bước nỗ lực làm mới mình, đón đầu hội nhập. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cũng có nhiều khó khăn, tồn tại, những rủi ro tiềm ẩn gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của ngân hàng. Vì vậy để cho hoạt động của ngân hàng phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả, các ngân hàng cần phải kiểm soát và hạn chế rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro. Trong những năm gần đây, quản trị rủi ro đã giành được sự quan tâm chú ý của các NHTM Việt Nam, tuy nhiên chưa được xem xét một cách toàn diện. Hầu hết các NHTM chỉ chú trọng tới quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản mà chưa đi sâu, nghiên cứu các loại rủi ro đặc thù khác của NHTM như: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối… và vận dụng các biện pháp quản lý những loại rủi ro này trong hoạt động kinh doanh.

Thực tế cho thấy việc duy trì lãi suất ổn định trong một thời gian dài của NHNN đã làm cho Nhà quản trị các NHTMCP lơ là công tác quản trị rủi ro lãi suất. Cho đến cuối năm 2007 đầu năm 2008, tình hình kinh tế vĩ mô có nhiều diễn biến bất lợi do lạm phát gia tăng cùng với chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN đã đẩy các NHTMCP vào cuộc khủng hoảng thanh khoản, bắt buộc các ngân hàng bước vào cuộc đua lãi suất làm lãi suất liên tục tăng cao. Điều này đã bộc lộ mặt yếu kém trong công tác quản trị rủi ro của các NHTMCP, đặc biệt là rủi ro lãi suất. Qua việc nghiên cứu về hoạt động của Vietcombank, em mong muốn các NHTM nói chung và Vietcombank nói riêng có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác Quản trị rủi ro lãi suất, góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các NHTMCP. Xuất phát từ thực tế này, em xin chọn đề tài “Quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” với nỗ lực đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất, cũng như đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động này tại Vietcombank nói riêng và hệ thống NHTMCP nói chung.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:

  • Làm sáng tỏ một số vấn đề về cơ sở lý luận của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân hạn chế công tác quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
  • Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam trong thời gian từ cuối 2007 đến cuối năm 2009.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp định lượng, phương pháp định tính, phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá… để xử lý các thông tin thu thập được từ lý thuyết đến thực tiễn, qua đó rút ra nhận xét tổng quát và tìm giải pháp tối ưu.

5. Khó khăn của luận văn

Do Vietcombank chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc Quản trị rủi ro lãi suất nên các mô hình quản lý hoặc không được xây dựng, hoặc chỉ được xây dựng một cách khái quát nên em không thể nêu chi tiết mô hình tham khảo, đánh giá chi tiết những mô hình đã được áp dụng.

6. Kết cấu của đề tài

Luận văn được chia làm 3 chương:

  • Chương I: Khái quát chung về hoạt động Quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM
  • Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
  • Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.

Trong quá trình thực hiện, do vốn kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế hầu như chưa có, khóa luận tốt nghiệp vẫn cón tồn tại những thiếu sót. Em xin kính mong nhận được sự đánh giá và góp ý của các thầy cô nhằm hoàn thiện hơn nữa vấn đề nghiên cứu.

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Sự cần thiết quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

1.1.1 Rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM

Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Nó là một yếu tố khách quan nên con người không thể loại trừ được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những thiệt hại do chúng gây ra. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, các NHTM luôn phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, rủi ro lãi suất…Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng song song với việc đạt được những mục tiêu trong kinh doanh, các Ngân hàng tiến hành cho vay, mua bán chứng khoán, nhận các khoản tiền gửi huy động từ các tổ chức, cá nhân với kỳ hạn và lãi suất khác nhau. Những hoạt động này luôn đặt thu nhập cũng như giá trị vốn chủ sở hữu của Ngân hàng phụ thuộc vào sự biến động của lãi suất thị trường. Do vậy, dù chấp nhận mức độ rủi ro nào hay theo đuổi chiến lược quản trị rủi ro nào, các Ngân hàng cũng khó có thể loại bỏ được hoàn toàn một trong những loại hình rủi ro tiềm tàng và nguy hiểm nhất: Rủi ro lãi suất.

Rủi ro lãi suất được định nghĩa là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng.

Căn cứ vào văn bản của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, rủi ro lãi suất có thể được xem xét để phân loại thành 4 loại rủi ro: Rủi ro định giá lại, rủi ro cơ bản, rủi ro lựa chọn và rủi ro đường cong thu nhập.

Rủi ro định giá lại là loại rủi ro phát sinh khi có sự không cân xứng về thời hạn còn lại của các khoản mục tài sản áp dụng theo chế độ lãi suất cố định và khi xảy ra việc định giá lại TSN, TSC của ngân hàng theo chế độ lãi suất thả nổi. Ví dụ, một ngân hàng tài trợ một khoản cho vay dài hạn với lãi suất cố định bằng việc huy động vốn với lãi suất ngắn hạn sẽ phải đối mặt với sự giảm giá trị của cả thu nhập và vốn chủ sở hữu khi lãi suất thị trường tăng. Sự sụt giảm này xảy ra là do dòng tiền vào của ngân hàng đối với khoản cho vay là cố định trong suốt thời hạn của khoản vay trong khi lãi ngân hàng phải trả cho việc huy động vốn là thay đổi. Trong trường hợp lãi suất tăng, lãi phải trả tăng khi khoản huy động vốn ngắn hạn này đáo hạn. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Rủi ro cơ bản là rủi ro phát sinh khi việc định giá lại không hoàn hảo hoặc giống nhau giữa các khoản mục tài sản khác nhau, nghĩa là xuất hiện sự khác nhau về mức độ thay đổi lãi suất giữa khoản thu nhập từ tài sản có và chi phái trả lãi từ tài sản nợ mặc dù hai loại tài sản này có cùng thời hạn định giá lại. Ví dụ, Ngân hàng có một khoản cho vay một năm được định giá lại hàng tháng theo lãi suất Tín phiếu Kho Bạc một tháng. Giả sử, Ngân hàng sử dụng một khoản huy động vốn tương xứng có thời hạn một năm và cũng được định giá lại hàng tháng theo lãi suất Libor một tháng để tài trợ cho khoản vay này. Nếu xét trên phương diện định giá lại, Ngân hàng không có rủi ro nhưng nếu hai mức lãi suất được chọn làm cơ sở (Lãi suất Tín phiếu Kho Bạc một tháng và lãi suất Libor một tháng) lại biến động với mức độ khác nhau ngoài dự kiến của Ngân hàng, chẳng hạn, lãi suất Libor một tháng tăng nhanh hơn lãi suất Tín phiếu Kho Bạc một tháng thì Ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất.

Rủi ro lựa chọn là rủi ro đối với việc thay đổi phương thức thanh toán đối với TSC hoặc TSN khi lãi suất thay đổi. Ví dụ, khách hàng có thể thanh toán trước hạn đối với những khoản vay dài hạn như vay mua nhà ở khi nhận thấy lãi suất tái tài trợ giảm xuống trở nên hấp dẫn hơn. Ngược lại, khách hàng cũng có thể rút tiền trước hạn từ các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn để gửi sang tài khoản có kỳ hạn khác với mức lãi suất cao hơn khi lãi suất thị trường biến động tăng.

Rủi ro đường cong thu nhập là rủi ro của thu nhập Ngân hàng trước sự thay đổi độ dốc và hình dạng của đường cong lãi suất. Rủi ro này xuất hiện khi những thay đổi không dự đoán trước được của đường cong lãi suất có tác động làm giảm giá trị tài sản ròng của Ngân hàng do lãi suất của những thời hạn khác nhau thay đổi khác nhau. Ví dụ, đường cong lãi suất dốc hơn so với dự kiến ban đầu; khi đó lãi suất các khoản cho vay có kỳ hạn ba năm có thể tăng lên 2%/ năm, trong khi dó, lãi suất huy động lại chỉ có thể tăng lên 0,5%/ năm. Khi đó, giá trị TSC của Ngân hàng sẽ giảm mạnh hơn so với sự giảm giá trị TSN, dẫn đến rủi ro rất lớn đến việc giảm giảm giá trị tài sản ròng của Ngân hàng.

1.1.2 Phương pháp xác định rủi ro lãi suất

Phương pháp phân tích khoảng cách

Phân tích khoảng cách là chênh lệch giữa tổng số tài sản có loại nhạy cảm với lãi suất và tổng số tài sản nợ loại nhạy cảm với lãi suất.

Ví dụ: Một ngân hàng thương mại A với số dư bình quân kỳ (Đơn vị: triệu USD), lãi suất bình quân kỳ (%) như sau:

Nhìn vào bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại trên, ta có khoảng cách là – 20=30-50. Bằng cách nhân khoảng với thay đổi lãi suất, chúng ta có kết quả đối với lợi nhuận của ngân hàng : khi lãi suất tăng 5% lợi nhuận ngân hàng thay đổi 5% x(-20)=-1 triệu đồng; khi lãi suất giảm 5% , lợi nhuận ngân hàng thay đổi -5% x (-20)=+1 triệu đồng. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Thuận lợi của phương pháp này là rất đơn giản, chúng ta dễ dàng thấy được mức độ rủi ro của ngân hàng trước rủi ro lãi suất. Tuy nhiên trên thực tế ta thấy không phải tất cả TSC và TSN của ngân hàng có cùng một kỳ hạn thanh toán. Bởi vì tính chất hoạt động của ngân hàng là gặp nhiều rủi ro nên ngân hàng phải đa dạng hoá những khoản mục TSC, đồng thời cũng do việc huy động vốn của ngân hàng thường mang tính bị động nên những khoản mục TSC và TSN không có cùng kỳ hạn thanh toán. Như vậy để lượng định một cách chính xác hơn rủi ro lãi suất thì ta sử dụng phương pháp gọi là phân tích khoảng thời gian tồn tại.

Phương pháp phân tích khoảng thời gian tồn tại

Phân tích khoảng thời gian tồn tại dưạ trên khái niệm về khoảng thời gian tồn tại của Macaulay, nó lượng định khoảng thời gian sống trung bình của đồng tiền thanh toán của một chứng khoán. Về mặt đại số học, khoảng thời gian tồn tại của Macaulay được định nghĩa là :

Trong đó:

Thời gian tính đến lúc việc thanh toán tiền mặt được thực hiện.

CPt = thanh toán tiền mặt (lãi + gốc ) tại thời điểm

i = lãi suất

N = thời gian đến khi mãn hạn của chứng khoán này

Thay đổi tính bằng phần trăm về giá trị thị trường của chứng khoán bằng xấp xỉ thay đổi phần trăm về lãi suất nhân khoảng thời gian tồn tại trong năm. Sự phân tích khoảng thời gian tồn tại liên quan đến việc so sánh khoảng thời gian tồn tại trung bình của những tài sản, nợ của ngân hàng đó. Quay lại với bảng cân đối tàì sản của ngân hàng thương mại A, giả sử khoảng thời gian tồn tại trung bình của những TSC của ngân hàng là 6 năm (tức là thời gian sống trung bình của dòng thanh toán là 6 năm) và khoảng thời gian tồn tại trung bình của những TSN của nó là 3 năm. Khi lãi suất tăng 5%, giá trị thị trường của những TSC của nó giảm đi 5%* 6=30%, trong khi đó giá trị thị trường của những TSN của nó giảm đi 5%*3=15%. Kết quả là giá trị ròng (giá trị thị trường của những tài sản có trừ đi tài sản nợ) đã giảm (30%-15%=15%) của tổng giá trị tài sản có ban đầu.

1.1.3 Sự cần thiết quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

1.1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro lãi suất

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro bao gồm các bước: Nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi ro.

Quản trị rủi ro lãi suất là việc ngân hàng tổ chức các bộ phận nhận biết, định lượng những tổn thất đang và sẽ xảy ra từ rủi ro lãi suất để từ đó có thể giám sát và kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc hoạch định các chính sách, chiến lược sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

1.1.3.2 Sự cần thiết quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM

Thứ nhất: Quản lý lãi suất giúp các NHTM chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động và sử dụng vốn phù hợp nhằm hạn chế tổn thất.

Môi trường kinh doanh ngân hàng ngày nay có quá nhiều sự bấp bênh. Bất cứ biến động lãi suất hay các nhân tố thị trường khác đều ảnh hưởng đến thu nhập và giá trị tài sản ròng của ngân hàng. Quản lý rủi ro giúp các ngân hàng có cái nhìn chính xác hơn về triển vọng kinh doanh trong tương lai, từ đó có khả năng hoạch định chính sách phù hợp. So với các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh thực tế như: quy mô hoạt động, mức sinh lời, lãi, chi phí… thì rủi ro là chỉ tiêu có phần mang tính “dự đoán”. Nói đến rủi ro là nói đến những sự cố có thể xảy ra một cách không chắc chắn. Việc coi nhẹ rủi ro hôm nay có thể sẽ dẫn đến những tổn thất nặng nề trong tương lai. Tầm quan trọng của quản lý rủi ro lãi suất bắt nguồn từ thực tế là nếu thiếu nó thì việc thực hiện chiến lược kinh doanh của ngân hàng sẽ bị giới hạn bởi chỉ tiêu lợi nhuận mà không hề cân nhắc mối quan hệ đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro trong điều kiện biến động của thị trường, Chính việc quan tâm hơn đến biến động của lãi suất thị trường đã buộc các NHTM phải chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn, giảm tối thiểu sự chênh lệch giá trị TSC-TSN.

Thứ hai: Quản trị rủi ro lãi suất tạo lợi thế cạnh tranh cho các NHTM. Một lý do cơ bản cho việc thực hiện quản lý rủi ro lãi suất là những rủi ro này sẽ làm phát sinh chi phí trong tương lai. Hiện tại, những tồn thất này mới chỉ là xác xuất nhưng trong tương lai sẽ trở thành tổn thất thực sự. Vì vậy, việc kiểm soát các chi phí trong tương lai cũng như hiện tại sẽ giúp NHTM tăng thu nhập cả trong hiện tại và tương lai. Trong điều kiện cạnh tranh cho phép, ngân hàng nên coi rủi ro là một yếu tố chi phí phải tính đối với khách hàng. Do đó, quản lý rủi ro có liên quan mật thiết tới việc định giá hoạt động cho vay của ngân hàng. Sự nhận biết các loại rủi ro là một yếu tố quan trọng để đưa ra mức giá phù hợp với khách hàng. Nếu không thực hiện tốt việc quản lý rủi ro lãi suất làm cơ sở cho việc định giá chính xác, một ngân hàng sẽ mất lợi thế canh tranh với các NHTM khác và làm ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của mình.

Thứ ba: Quản lý rủi ro lãi suất góp phần giúp các NHTM xác định mức vốn tự có cần thiết nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng.

Việc đề cập đến các tổn thất trong tương lai làm nảy sinh vấn đề là phải xác định mức độ tổn thất đó và trích dự phòng cho những tổn thất tiềm tàng đó. Khả năng thanh toán của ngân hàng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi kết qua kinh doanh. Để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán, ngân hàng cần có đủ số vốn tự có cần thiết để bù đắp cho những thiệt hại này.Tất nhiên trong thực tế không phải số vốn tự có cần thiết của ngân hàng không phải lúc nào cũng đủ để bù đắp mọi tổn thất, nhưng để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi các NHTM phải xác định được xác suất rủi ro tối đa và tính toán được vốn tự có đủ để bù đắp những rủi ro trên mức trung bình.

1.2. Phương pháp quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

1.2.1 Mục tiêu của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM

Mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất là bảo vệ thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất. Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) tương đối cố định. Đây là hệ số giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Hệ số này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi thu từ cho vay và đầu tư hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tư giảm nhanh hơn chi phí huy động vốn sẽ làm cho NIM bị thu hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ lớn.

Ta có công thức tính hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM- Net Interer Margin)

Trong đó:

  • Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tư, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tư chứng khoán,…
  • Chi phí lãi: chi phí huy động vốn, đi vay,…
  • Tổng TSC sinh lời = Tổng TSC – (Tiền mặt + Tài sản cố định)

Thông qua việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chúng ta thấy rằng, việc phối hợp giữa quản trị TSN và TSC phải luôn luôn được thực hiện song song, hỗ trợ lẫn nhau mới có thể bảo vệ thu nhập dự kiến của Ngân hàng khỏi rủi ro lãi suất. Để có thể thấy rõ hơn quan hệ giữa quản trị TSN và quản trị TSC, chúng ta xem xét cách phòng chống rủi ro lãi suất thông qua việc xác định – kiểm soát khe hở nhạy cảm lãi suất và việc quản lý khe hở kỳ hạn của các ngân hàng.

1.2.2 Quản trị TS-Nợ thông qua quản trị khe hở nhạy cảm lãi suất Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Để thực hiện việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất, ngân hàng cần tiến hành phân tích kỳ hạn, định giá lại các cơ hội gắn với những tài sản sinh lợi của ngân hàng, những khoản tiền gửi cũng như với những khoản vốn vay trên thị trường. Tại bất cứ thời điểm nào, ngân hàng có thể tự bảo vệ trước những thay đổi của lãi suất bằng cách bảo đảm cân bằng sau:

Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất = Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất

Trong đó:

  • Tài sản nhạy cảm lãi suất là những TSC thể được định giá lại khi lãi suất thay đổi: các khoản cho vay sắp đến hạn, các khoản cho vay và chứng khoán có lãi suất thả nổi,…
  • Nợ nhạy cảm lãi suất là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh theo điều kiện thị trường: tiết kiệm ngắn hạn, tiền gửi mang lãi suất thả nổi,…

Khi giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi suất không cân bằng, khe hở nhạy cảm lãi suất được hình thành:

Khe hở nhạy cảm lãi = Giá trị tài sản nhạy – Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất (R) cảm lãi suất suất

Mức thay đổi lợi nhuận =Quy mô khe hở nhạy cảm lãi suất * Mức thay đổi lãi suất.

Trong mỗi giai đoạn kế hoạch (ngày, tuần, tháng,…), nếu giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất, ta có khe hở nhạy cảm lãi suất dương hay khe hở nhạy cảm tài sản. Và ngược lại, nếu giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất, ta có khe hở nhạy cảm lãi suất âm hay khe hở nhạy cảm nợ.

  • Trường hợp R = 0: giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất bằng giá trị nợ nhạy cảm lãi suất: khi lãi suất tăng hay giảm cũng không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.
  • Trường hợp R > 0: giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất lớn hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất: Khi lãi suất thị trường tăng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Và ngược lại, khi lãi suất thị trường giảm, thu nhập từ lãi giảm nhanh hơn chi phí lãi phải trả, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
  • Trường hợp R < 0: Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm lãi suất. Khi lãi suất thị trường giảm, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, thu lãi tăng chậm hơn chi phí lãi, rủi ro lãi suất xuất hiện làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

Như vậy:

  • Khi R = 0: Rủi ro lãi suất không xuất hiện
  • Khi R > 0: Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm vì NIM giảm. Lúc đó, ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ tăng lại hoặc ổn định; hoặc kéo dài kỳ hạn của TSC hoặc thu hẹp kỳ hạn của danh mục TSN; hoặc tăng TSN nhạy cảm lãi suất hoặc giảm TSC nhạy cảm lãi suất
  • Khi R < 0: Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng vì NIM giảm. Ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ giảm hoặc ổn định; hoặc thu hẹp kỳ hạn của TSC hoặc kéo dài kỳ hạn của danh mục TSN; hoặc giảm TSN nhạy cảm lãi suất hoặc tăng TSC nhạy cảm lãi suất.

Các ngân hàng lớn ngày nay thường xác định giá trị TSC nhạy cảm lãi suất và giá trị TSN nhạy cảm lãi suất trong những khoảng thời gian khác nhau và quản lý mức độ nhạy cảm lãi suất dựa trên quan điểm quản lý rủi ro và dựa trên sự nhạy cảm về rủi ro của những người quản lý ngân hàng. Tuy nhiên, kỹ thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất còn có nhiều hạn chế. Sự lựa chọn thời gian để phân tích hoàn toàn tùy theo từng ngân hàng. Đồng thời, lãi suất trong hoạt động ngân hàng và lãi suất thị trường thay đổi với những tốc độ khác nhau. Và cuối cùng, việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không nhằm mục đích bảo vệ giá trị TSC và đặc biệt là không bảo vệ được giá trị ròng của ngân hàng. Để làm được việc đó, chúng ta phải đi vào phân tích khe hở kỳ hạn.

1.2.3 Quản trị TS-Nợ thông qua quản trị khe hở kỳ hạn

Phương pháp này được sử dụng để khắc phục nhược điểm của việc dựa vào khe hở nhạy cảm lãi suất để đánh giá rủi ro lãi suất là chỉ chú trọng vào số liệu trên sổ sách kế toán của vốn mà không nghiên cứu đầy đủ tác động của rủi ro lãi suất đến giá trị thị trường của vốn. Hơn nữa, quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không đưa ra một con số cụ thể về mức độ rủi ro lãi suất tổng thể của ngân hàng.

Để đi vào phân tích khe hở kỳ hạn, trước tiên chúng ta làm quen với khái niệm kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả.

  • Kỳ hạn hoàn vốn của tài sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã bỏ ra để đầu tư, là thời gian trung bình dựa trên dòng tiền dự tính sẽ nhận được trong tương lai. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank
  • Kỳ hạn hoàn trả của TSN là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng.

Khe hở = Kỳ hạn hoàn vốn – Kỳ hạn hoàn trả kỳ hạn trung bình của tài sản trung bình của nợ

Để phòng chống rủi ro lãi suất, các ngân hàng thường cố gắng duy trì cân đối giữa tài sản và nguồn vốn vay sao cho khe hở kỳ hạn tiến gần tới 0, lúc đó kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản sẽ gần bằng kỳ hạn hoàn trả trung bình của nguồn vốn. Bên cạnh đó, trong một ngân hàng, giá trị TSC luôn luôn phải lớn hơn giá trị TSN để đảm bảo khả năng thanh toán, nên nếu ngân hàng TSN

Khi khe hở kỳ hạn dương: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản lớn hơn Kỳ hạn hoàn trả trung bình nợ. Nếu lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng bởi vì giá trị TSC giảm nhiều hơn giá trị TSN. Nếu lãi suất giảm sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng.

Khi khe hở kỳ hạn âm: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nhỏ hơn Kỳ hạn hoàn trả trung bình nợ. Nếu lãi suất tăng sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng. Nếu lãi suất giảm sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng.

Công thức chuẩn để tính kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả của một công cụ tài chính là:

Trong đó: YTM là tỷ lệ thu nhập mãn hạn

Như ta đã biết:

Giá trị ròng của ngân hàng = Giá trị tổng tài sản

Giá trị tổng vốn huy động (L)

Khi lãi suất thay đổi:  ΔNW = ΔA – ΔL

Đồng thời, Lý thuyết Danh mục đầu tư trong lĩnh vực tài chính đã chỉ ra rằng: Lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị thị trường của các tài sản và của các khoản nợ mang lãi suất cố định; Và Kỳ hạn của TSC và của TSN càng dài thì giá trị thị trường của chúng càng giảm mạnh khi lãi suất tăng. Vì vậy, mức độ thay đổi giá trị ròng dưới tác động của lãi suất phụ thuộc vào tương quan về kỳ hạn giữa tài sản và các khoản vốn vay của ngân hàng. Ta có công thức:

Trong đó:

  • NW: Sự thay đổi giá trị ròng của ngân hàng
  • DA: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị của danh mục tài sản
  • A: Tổng giá trị Tài sản
  • DL: Kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá của danh mục nợ
  • L: Tổng giá trị nợ
  • Δr: Sự thay đổi lãi suất
  • r: Lãi suất ban đầu.

Mặc dù các ngân hàng có thể sử dụng công cụ khe hở kỳ hạn một cách dễ dàng nhưng nó vẫn tồn tại một số hạn chế: rất khó khăn trong việc tìm kiếm các TSC, TSN có kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả phù hợp với yêu cầu của ngân hàng; Đối với một số loại tài khoản không thể xác định được chính xác mô hình luồng tiền vào ra làm cho việc tính kỳ hạn hoàn trả, kỳ hạn hoàn vốn rất khó khăn. Tuy nhiên, nó vẫn được sử dụng để giúp các ngân hàng hạn chế rủi ro lãi suất.

1.2.4 Các nghiệp vụ nhằm phòng vệ rủi ro lãi suất Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

1.2.4.1 Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (Forward rate agreement – FRA)

Hợp đồng kỳ hạn lãi suất là thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm , theo đó bên mua cam kết nhận và bên bán cam kết gửi một số tiền nhất định bằng một loại tiền nhất định theo một lãi suất nhất định trong khoảng thời gian từ đến trong tương lai.

Tại thời điểm: Trên cơ sở mức lãi suất đã được xác định tại với mức lãi suất hiện hành (lãi suất so sánh) trong khoảng thời hạn từ ến để thực hiện thanh toán bù trừ bằng tiền mặt. Cụ thể:

  • Nếu lãi suất so sánh > lãi suất ấn định tại , bên bán thanh toán phần chênh lệch cho bên mua.
  • Nếu lãi suất so sánh < lãi suất ấn định tại , bên mua thanh toán phần chênh lệch cho bên bán.

Ví dụ: Một ngân hàng có khoản cho vay là 100 triệu USD với lãi suất 8,5%/năm có thời hạn từ 15/4/2009 đến 15/4/2010 và ngân hàng huy động được một khoản tiền gửi 100 triệu USD với lãi suất 7,5%/năm có thời hạn từ 15/4/2009 đến 15/10/2009 để tài trợ cho khoản tín dụng trên. Có thể thấy khoản tài trợ trên chỉ được 6 tháng, 6 tháng còn lại ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn mới. Nhưng sau 15/10/2009, khoản huy động 6 tháng có thể thay đổi do lãi suất thị trường tại thời điểm đó thay đổi => ngân hàng gặp phải rủi ro lãi suất. Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, ngân hàng có thể ký một hợp đồng vay 100 triệu USD với lãi suất LIBOR 6 tháng và một hợp đồng FRA lãi suất FRA 7,5%/năm cộng với môt khoản tiền 100 triệu USD. Ngày ấn định lãi là 15/4/2009, ngày thanh toán là 15/10/2009 và ngày đến hạn là 15/4/2010. Ta có sơ đồ sau:

Giả sử ngày 15/10/2009, lãi suất LIBOR 6 tháng là 9,5%/ năm cho khoản 100 triệu USD, như vậy ngân hàng đã bị lỗ. Nhưng do ngân hàng ký một FRA với lãi suất 7,5%/ năm nên sẽ nhận được một khoản tiền do lãi suất LIBOR 6 tháng là 9,5% lớn hơn lãi suất ấn định 7,5% (lãi suất FRA) là 2%. Nghĩa là khoản lãi phải trả cho vay với lãi suất LIBOR 6 tháng là 4,75 triệu USD được bù bởi khoản tiền từ FRA là 1 triệu USD. Ngân hàng chỉ phải trả 3,75 triệu USD tương đương với khoản vay 100 triệu USD 6 tháng lãi suất 7,5%/năm. Như vậy, ngân hàng đã phòng vệ rủi ro lãi suất một cách hiệu quả do nếu không sử dụng FRA ngân hàng sẽ bị lỗ tại ngày 15/10/2009. Sử dụng FRA đã giảm thiểu rủi ro một cách triệt để.

1.2.4.2 Hợp đồng tài chính tương lai Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Người ta sử dụng thị trường tài chính tương lai để dịch chuyển rủi ro lãi suất từ nhà đầu tư không ưa thích rủi ro, chẳng hạn các ngân hàng thương mại sang nhà đầu cơ – những người sẵn sàng chấp nhận và hy vọng kiếm được lợi nhuận từ chính những rủi ro này. Khi một ngân hàng liên lạc với nhà môi giới

Sở giao dịch và đề nghị bán hợp đồng tương lai (ví dụ, ngân hàng muốn tạo ra thế đoản trong tương lai), điều này có nghĩa rằng ngân hàng cam kết giao chứng khoán cho người mua theo hợp đồng với mức giá định trước vào một ngày xác định trong tương lai. Ngược lại, một ngân hàng có thể gia nhập vào thị trường tương lai với tư cách người mua hợp đồng (ngân hàng muốn tạo thế trường trong tương lai), cam kết nhận chứng khoán và thanh toán cho hợp đồng tại ngày mãn hạn thông qua tổ chức thanh toán bù trừ. Nghiệp vụ phòng vệ rủi ro lãi suất trong tương lai nhìn chung đòi hỏi ngân hàng phải thiết lập vị thế trên thị trường tương lai đối nghịch với vị thế hiện thời trên thị trường giao ngay.

Nghiệp vụ phòng vệ thế đoản:

Giả sử, lãi suất trên thị trường được dự tính sẽ tăng lên, làm tăng chi phí huy động tiền gửi hay chi phí vay vốn trên thị trường tiền tệ của một ngân hàng và đồng thời sẽ làm giảm giá trị các trái phiếu hay các khoản cho vay lãi suất cố định mà ngân hàng hiện có hay dự định mua. Trong trường hợp này, nghiệp vụ phòng vệ thế đoản có thể được sử dụng. Nhà quản lý ngân hàng sẽ tham gia hợp đồng tương lai bán chứng khoán (tức là cho phép ngân hàng bán chứng khoán) vào khoảng thời gian khi những khoản tiền gửi mới xuất hiện, các khoản vay lãi suất cố định được thực hiện hay khi quy mô danh mục đầu tư của ngân hàng tăng thêm. Nếu lãi suất thị trường tăng mạnh, chi phí trả lãi đối với các khoản vốn huy động của ngân hàng sẽ tăng lên, giá trị các khoản tín dụng lãi suất cố định và các chứng khoán ngân hàng nắm giữ sẽ sụt giảm. Tuy nhiên, những tổn thất này sễ được bù đắp bởi khoản lợi nhuận từ các hợp đồng tương lai. Hơn nữa, ngân hàng không cần giao hay nhận chứng khoán ghỉ trong hợp đồng nếu như nó thực hiện mua hay bán các hợp đồng đối nghịch với vị thế hiện tại. Trung tâm thanh toán bù trừ sẽ ghi nhận kết quả cho mỗi hợp đồng trên cơ sở triệt tiêu các giao dịch đối kháng.

Nhà quản lý ngân hàng nên thực hiện những ước sau để chống lại sụt giảm giá trị của trái phiếu khi lãi suất thị trường dự tính tăng trong một vài tháng tới: Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Thời điểm hiện tại: Bán Hợp đồng trên thị trường tương lai cho các nhà đầu tư, theo đó ngân hàng cam kết sẽ giao một số chứng khoán nhất định (chẳng hạn trái phiếu kho bạc Mĩ tại mức giá được xác định trước cho 6 tháng sau).

Sau 6 tháng : Ngân hàng sẽ mua một hợp đồng với giá trị tương tự từ Sở giao dịch.

Kết quả: Hai hợp đồng sẽ triệt tiêu nhau trên tài khoản của ngân hàng tại Trung tâm thanh toán bù trừ của Sở giao dịch và do vậy ngân hàng không phải thực hiện trách nhiệm giao hay nhận chứng khoán. Tuy nhiên, nếu lãi suất tăng trong suốt thời gian tồn tại 6 tháng của hợp đồng thứ nhất (hợp đồng được bán) thì giá chứng khoán sẽ giảm xuống. Sau đó khi ngân hàng mua chứng khoán theo hợp đồng thứ hai vào thời điểm cuối của giai đoạn 6 tháng, ngân hàng chỉ phải trả một mức giá thấp hơn so với mức giá bán chứng khoán cùng loại vào thời điểm 6 tháng trước. Do vây, lợi nhuận sẽ được tạo ra trên thị trường tương lai và nó sẽ bù đắp một phần hay toàn bộ tổn thất về giá trị của danh mục trái phiếu mà ngân hàng nắm giữ.

Nghiệp vụ phòng vệ thế trường:

Ngân hàng thường quan tâm tới tổn thất về lợi nhuận khi lãi suất tăng. Tuy nhiên, trong một số tình huống, ngân hàng cần phải tiến hành các biện pháp bảo vệ nhằm chống lại tổn thất do lãi suất thị trường giảm, đặc biệt khi ngân hàng đang dự tính có một dòng tiền vào sắp xuất hiện. Ví dụ, nhà quản lý ngân hàng dự tính rằng quy mô tiền gửi sẽ tăng đáng kể trong vài tuần hay vài tháng tới nhưng lãi suất thị trường sẽ có thể giảm xuống. Động thái này sẽ mang lại lợi thế cho ngân hàng xét trên quan điểm chi phí vốn, nhưng ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm trong khả năng sinh lợi và trong thu nhập ròng. Nếu nhà quản lý ngân hàng không tiến hành các biện pháp phòng chống rủi ro và nếu dự đoán nói trên trở thành hiện thực thì ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất lớn bởi vì lượng tiền gửi dự tính tăng thêm sẽ được đầu tư vào các khoản tín dụng và các chứng khoán có tỷ suất gửi dự tính tăng thêm sẽ được đầu tư vào các khoản tín dụng và các chứng khoán có tỷ suất sinh lời thấp. Để bù đắp tổn thất tiềm năng này, nhà quản lý có thể sử dụng nghiệp vụ phòng vệ thế trường có nghĩa rằng ngân hàng sẽ mua hợp đồng tương lai ngay hôm nay (cho phép ngân hàng mua chứng khoán) và sau đó được bán vào thời điểm xuất hiện dòng tiền gửi (nhằm triệt tiêu vị thế ). Kết quả, hợp đồng tương lai mang lại khoản lợi nhuận nếu lãi suất giảm, bởi vì giá trị hợp đồng đã tăng lên.

Nhà quản lý dự đoán rằng trong vòng 6 tháng tới lãi suất sẽ giảm và đe doạ lợi nhuận của ngân hàng do lãi suất của các khoản tín dụng giảm tương đối so với lãi suất tiền gửi và các chi phí hoạt động khác. Hơn nữa, nguồn vốn của ngân hàng có thể sẽ phải chịu những tổn thất lớn hơn. Nhà quản lý quyết định sử dụng phương án sau:

  • Thời điểm hiện tại: Mua hợp đồng trên thị trường tương lai, theo đó ngân hàng cam kết mua một số chứng khoán nhất định (chẳng hạn tín phiếu kho bạc) tại mức giá định trước cho 6 tháng sau.
  • Sau 6 tháng : Ngân hàng sẽ bán một hợp đồng với quy mô tương tự.

Kết quả: Hai hợp đồng sẽ triệt tiêu nhau trên tài khoản của ngân hàng tại trung tâm thanh toán bù trừ của Sở giao dịchvà do vậy ngân hàng không phải thực hiện trách nhiệm giao hay nhận chứng khoán. Tuy nhiên, nếu lãi suất giảm trong suốt thời gian tồn tại 6 tháng, ngân hàng sẽ nhận được một mức giá cao hơn so với mức giá mua chứng khoán cùng loại tại thời điểm 6 tháng trước. Do vậy, lợi nhuận được tạo ra trên thị trường tương lai sẽ bù đắp một phần hay toàn bộ tổn thất về thu nhập do lãi suất giảm.

1.2.4.3 Hợp đồng quyền chọn lãi suất Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Vào những năm 1970 và 1980, một công cụ phòng chóng rủi ro lãi suất mới đã xuất hiện, đó là hợp đồng quyền lãi suất. Hợp đồng này cho phép người nắm giữ chứng khoán :

  • Bán chứng khoán cho một nhà đầu tư khác tại một mức giá định trước vào ngày đáo hạn của hợp đồng
  • Mua chứng khoán từ một nhà đầu tư khác tại mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng.

Trong hợp đồng quền bán (put option), người bán quyền phải sẵn sàng mua chứng khoán từ người mua quyền nếu bên mua thực hiện quyền. Trong hợp đồng quyền mua (call option), người bán quyền phải sẵn sàng bán chứng khoán cho người mua quyền khi bên mua thực hiện quyền. Phí mà người mua phải trả cho đặc quyền có thể bán hay mua chứng khoán được gọi là quyền phí (option premium).

Hợp đồng quyền chọn bán bù đắp những tổn thất khi lãi suất tăng:

Người mua quyền bán có quyền bán chứng khoán, cho vay hay bán các hợp đồng tương lai cho người bán quyền tại mức giá thoả thuận trong khoảng thờì gian trước khi hợp đồng quyền hết hiệu lực. Nếu lãi suất tăng, giá trị thị trường của các chứng khoán, các khoản tín dụng hay của các hợp đồng tương lai sẽ giảm. Việc thực hiện quyền này sẽ mang lại một khoản thu nhập cho người mua quyền bởi vì người mua quyền giờ đây có thể mua chứng khoán, tìm kiếm các khoản tín dụng với mức giá thị trường thấp hơn và bán chúng cho người phát hành quyền với giá cao hơn (giá thoả thuận trước). Dĩ nhiên, lợi nhuận thu được sẽ bằng khoản thu nhập của người mua quyền trừ đi quyền phí, phí hoa hồng và các khoản thuế có liên quan. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Ví dụ về một giao dịch quyền bán: Một ngân hàng dự tính phát hành các CD hưởng lãi trị giá 150 triệu USD có kỳ hạn 180 ngày vào cuối tuần. Lãi suất CD trên thị trường hiện tại là 6,5% và ngân hàng lo ngại rằng nó sẽ tăng lên tới 7%. Khi lãi suất tăng , chi phí trả lãi cho các CD mới sẽ tăng thêm 375000 USD, làm giảm lợi nhuận tiềm năng của ngân hàng từ hoạt dộng tín dụng và đầu tư bằng nguồn vốn từ việc phát hành CD. Để hạn chế tổn thất tiềm năng do chi phí tăng, nhà quản lý ngân hàng sẽ liên lạc với những người kinh doanh có ý định phát hành quyền bán đối vớí các hợp đồng tương lai đô la Châu Âu tại mức giá 960.000 USD (cho một hợp đồng có mệnh giá 1000000USD). Quyền phí là 5.000USD. Khi lãi suất tăng như dự đoán, giá trị thị trường của các hợp đồng sẽ giảm xuống còn 940.000 USD. Đặc biệt, nếu giá trị thị trường của các hợp đồng trong tương lai giảm mạnh thì quyền bán sẽ được thực hiện bởi vì giờ đây trên thị trường tiền tệ, nhà quản lý ngân hàng có thể mua đô la Châu Âu với giá rẻ hơn và bán ở mức giá cao hơn (mức giá theo hợp đồng quyền). Do vây, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng từ giao dịch quyền bán sẽ được tính như sau:

Lợi nhuận trước thuế =Giá giao dịch theo hợp đồng quyền – giá thị trường của chứng khoán – Quyền phí

Ở đây lợi nhuân trước thuế của một hợp đồng đô la Châu Âu= 960.000USD-940.000USD -5.000USD =15.000USD. Khoản lợi nhuận 15.000 USD sẽ bù dắp một phần tổn thất do chi phí trả lãi cho các CD tăng lên nếu lãi suất tăng. Trong trường hợp lãi sất không tăng, ngân hàng chỉ phải trả quyền phí cho người phát hành quyền. Tuy nhiên, nếu lãi suất không tăng, ngân hàng không phải đối mặt với tổn thất do chi phí trả lãi cho CD tăng và do đó ngân hàng không cần thực hiện quyền. Hợp đồng quyền bán cũng có thể được sử dụng để bảo về giá trị của các trái phiếu và các khoản tín dụng ngân hàng trước tổn thất do lãi suất tăng.

Hợp đồng quyền chọn mua bù đắp những tổn thất do lãi suất giảm

Người mua nhận dược quyền mua chứng khoán, cho vay hay mua các hợp đồng tương lai từ người bán quyền tại mức giá thoả thuận trong khoảng thờì gian trước khi hợp đồng quyền hết hiệu lực. Chi phí mua quyền được gọi là quyền phí. Nếu lãi suất giảm, giá trị thị trường của các chứng khoán, các khoán tín dụng hay của hợp đồng tương lai sẽ tăng. Việc thực hiện quyền sẽ mang lại một khoản thu nhập cho người mua. Dĩ nhiên, lợi nhuận ròng sẽ bằng thu nhập của người mua quyền trừ đi quyền phí, phí hoa hồng và các khoản thuế liên quan.

Ví dụ về một giao dịch quyền mua: Một ngân hàng dự đinh mua trái phiếu Kho bạc trị giá 50 triệu USD trong vài ngày tới và hy vọng có tỉ lệ thu nhập là 8%. Tuy nhiên các nhà quản lý ngân hàng lo ngại rằng lãi suất sẽ giảm vào thời điểm trước khi ngân hàng mua và vì thế ngân hàng đề nghị với một công ty kinh doanh chứng khoán phát hành quyền mua trái phiếu kho bạc ở mức giá thoả thuận 95.000 USD cho mỗi trái phiếu mệnh giá 100.000 USD. Quyền phí đối với một trái phiếu là 500USD. Nếu lãi suất giảm theo như dự tính, giá trị thị trường của trái phiếu kho bạc có thể tăng tới 97.000 USD và do đó ngân hàng sẽ yêu cầu giao trái phiếu ở mức giá 95.000 USD. Do vây, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng từ giao dịch quyền mua sẽ được tính như sau:

Lợi nhuận = Giá thị trường của – giá giao dịch – quyền phí Trước thuế chứng khoán theo Hợp đồng đây, lợi nhuận trước thuế từ một trái phiếu = 97.000 USD –95.000 USD – 5.00 USD =1.500 USD.

Khoản lợi nhuận sẽ bù đắp một phần tổn thất về thu nhập lãi do lãi suất giảm. Nếu lãi suất tăng, giá trái phiếu Kho bạc sẽ giảm do đó ngân hàng chịu lỗ đúng bằng quyền phí. Tuy nhiên, lãi suất tăng cho phép ngân hàng tăng thu nhập lãi từ hoạt động mua trái phiếu. Hợp đồng quyền mua cũng có thể được sử dụng để chống lại sự sụt giảm thu nhập lãi từ các khoản tín dụng.

1.2.4.4 Hợp đồng trao đổi lãi suất Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Trao đổi lãi suất là một cách thức nhằm thay đổi trạng thái rủi ro lãi suất của một tổ chức. Hoạt động này giúp làm giảm chi phí vay vốn. Các bên tham gia hợp đồng trao đổi có thể chuyển lãi suất cố định thành lãi suất thả nổi hay lãi suất thả nổi thành lãi suất cố định và làm cho kỳ hạn của các tài sản và nợ phù hợp hơn.

Tính chất hoạt động và mục tiêu kinh doanh trong mỗi thời kì của từng ngân hàng quyết định trạng thái khe hở lãi suất. Thay đổi trạng thái này đòi hỏi phải có thời gian tương đối lâu trong khi thay đổi của lãi suất thường rất nhanh chóng. Nhiều ngân hàng thực hiện các hoán đổi lãi suất để hạn chế rủi ro lãi suất. Một ngân hàng do đặc điểm sản xuất kinh doanh buộc phải duy trì khe hở lãi suất dương có thể hoán đổi rủi ro (hoặc sinh lời) với ngân hàng có khe hở lãi suất âm. Như vậy, hợp đồng hoán đổi xác định lại khe hở lãi suất khi lãi suất thay đổi. Khi lãi suất thay đổi, ngân hàng này có lợi thì ngân hàng kia chịu thiệt. Ngân hàng được lợi sẽ chuyển khoản thặng dư sang cho ngân hàng bị tổn thất.

Ví dụ về hoán đổi lãi suất

Thị trường của 2 ngân hàng A và B

Ngân hàng A : Có thể vay trung hạn với lãi suất 10% /năm, vay ngắn hạn lãi suất thả nổi ( ví dụ 6%)

Ngân hàng B: Có thể vay trung hạn với lãi suất 12%/năm, vay ngắn hạn với lãi suất thả nổi +1%. Ngân hàng B được coi là ngân hàng có thứ bậc thấp hơn ngân hàng A. Nguồn của ngân hàng B đắt hơn ngân hàng A.

Huy động vốn của mỗi ngân hàng :

Hợp đồng như sau:

Hai bên kí hợp đồng đổi chéo lãi suất (có thể qua trung gian) với nội dung : B sẽ thanh toán cho A 10 % để có được nguồn lãi suất cố định (trung hạn ) và A sẽ thanh toán cho B với lãi suất thả nổi –0,75% để có nguồn ngắn hạn (với cùng giá trị của nguồn trung hạn).

Kết quả : Bảng cân đối của hai ngân hàng không thay đổi, song :

B sẽ trả lãi suất thị trường + 1% để huy động vốn trên thị trường cộng thêm (+)10% trả cho A để có nguồn trung hạn;

A sẽ trả 10% để huy động vốn trên thị trường và cộng thêm (lãi suất thị trường –0,75%) cho B để có nguồn ngắn hạn;

B tiết kiệm : 12% -10% -(lãi suất thị trường +1%)+(lãi suất thị trường–0,75%) = 0,25%;

A tiết kiệm:10% -10%+lãi suất thị trường–(lãi suất thị trường–0,75%) = 0,75%

Nếu lãi suất thay đổi, rủi ro của bên này sẽ được bù đắp bởi thu nhập của bên kia.

Hoán đổi lãi suất là kĩ thuật tương đối phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải nghiên cứu kĩ lưỡng xu hướng và mức độ thay đổi có thể của lãi suất. Trong nhiều trường hợp, hai ngân hàng hoán đổi phải nhờ ngân hàng trung gian sắp xếp. Chi phí hoán đổi cao hay thấp phu thuộc vào dự tính của mỗi bên và làm tăng chi phí của ngân hàng. Nếu dự đoán của ngân hàng sai, hoán đổi lãi suất có thể gây tổn thất cho ngân hàng.

1.2.4.5 Lãi suất trần, sàn và sự kết hợp Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Phương pháp phòng chống rủi ro quen thuộc nhất được các ngân hàng và khách hàng sử dụng rộng rãi đó là lãi suất trần, lãi suất sàn và sự kết hợp trần –sàn.

Trần lãi suất:

Lãi suất trần được sử dụng để chống lại những tổn thất do lãi suất thị trường tăng. Người vay được đảm bảo rằng tổ chức cho vay sẽ không tăng lãi suất của khoản tín dụng vượt quá mức trần. Còn có một cách lựa chọn khác đó là : Người vay có thể mua một hợp đồng về trần. Ví dụ, nếu ngân hàng mua một hợp đồng lãi suất trần là 11% cho khoản tín dụng 100 triệu USD mà nó vay đưọc trên thị trường đô la châu Âu, hợp đồng trần lãi suất này đảm bảo cho ngân hàng rằng chi phí vay thực tế không thể vượt quá 11%. Nếu ngân hàng bán hợp đồng trần lãi suất cho khách hàng vay vốn, nó sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất thay cho khách hàng nhưng đổi lại ngân hàng sẽ thu được một khoản phí (trần phí), đền bù trong việc chấp nhận rủi ro. Khi một ngân hàng phải đảm bảo nhận số lượng lớn các hợp đồng trần lãi suất, nó có thể hạn chế toàn bộ rủi ro bằng những kỹ thuật phòng vệ khác như tiến hành nghiệp vụ trao đổi lãi suất. Trần lãi suất được áp dụng rất đơn giản. Trở lại ví dụ trước, ngân hàng mua hợp đồng trần lãi suất 11% từ một tổ chức tài chính khác cho khoản tín dụng 100 triệu USD kỳ hạn 1 năm mà ngân hàng vay được trên thị trường đô la Châu Âu. Giả sử lãi suất thị trường tăng lên tới 12%, lúc đó, tổ chức tài chính bán hợp đồng sẽ phải thanh toán cho ngân hàng mua 1% chi phí lãi tăng lên. Ngân hàng nhân được số tiền là : Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

[Lãi suất thị trường – Trần lãi suất ] x Số tiền vay = [12%-11%] x100triệu = 1triệu

Như vậy, chi phí vay vốn thực tế của ngân hàng có thể giao động nhưng sẽ không vượt quá 11%. Ngân hàng mua hợp đồng trần lãi suất để phòng ngừa những tổn thất có thể xảy ra, ví dụ như khi tài trợ tài sản lãi suất cố định bằng các khoản nợ lãi suất thả nổi, khi có trạng thái khe hở kỳ hạn dương hay nắm giữ một danh mục chứng khoán lớn mà giá trị sẽ giảm nếu lãi suất tăng.

Sàn lãi suất:

Như chúng ta đã thấy ở phần trước, ngân hàng có thể phải chịu tổn thất về thu nhập trong thời kỳ lãi suất giảm, đặc biệt khi lãi suất của các khoản tín dụng sụt giảm. Ngân hàng có thể thiết lập một sàn lãi suất cho các khoản tín dụng và vì thế sẽ không có vấn đề gì lớn xảy ra cho dù lãi suất giảm xuống dưới mức tối thiểu. Một ngân hàng cũng có thể bán hợp đồng sàn lãi suất cho các khách hàng – những người nắm giữ các chứng khoán nhưng lo sợ thu nhập từ các chứng khoán giảm xuống quá thấp. Ví dụ, một khách hàng của ngân hàng nắm giữ 1 CD kỳ hạn 90 ngày với lãi suất 6,75% nhưng có dự định bán CD trong một vài ngày tới. Giả sử khách hàng không muốn lãi suất giảm xuống dưới mức 6,25%, trong trường hợp này ngân hàng có thể bán cho khách hàng một hợp đồng sàn lãi suất 6,25%. Theo hợp đồng này, ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho khách hàng phần chênh lệch giữa sàn lãi suất và lãi suất CD thực tế nếu lãi suất giảm xuống dưới mức sàn vào ngày mãn hạn của CD.

Vậy ngân hàng có lợi thế gì thông qua việc sử dụng sàn lãi suất? Hãy xem xét ví dụ sau: Giả sử một ngân hàng cấp một khoản tín dụng trị giá 10 triệu USD, lãi suất thả nổi, thời hạn 1 năm cho một công ty với điều khoản về sàn lãi suất là 7%. Nếu lãi suất thị trường của khoản cho vay giảm xuống 6%, công ty không chỉ phải trả 6% lãi suất (hay 10 triệu USD x0,06= 600.000 USD chi phí lãi) mà còn phải trả thêm một khoản chênh lệch lãi được xác định như sau:

[Lãi suất sàn –lãi suất hiện thời của khoản tín dụng] x Số tiền vay = [7%-6%] x10 triệu = 100.000 USD

Thông qua nghiệp vụ phòng chống rủi ro này, ngân hàng được bảo đảm 1 tỷ nên lãi suất tối thiểu trên khoản tín dụng là 7%. Ngân hàng sử dụng sàn lãi suất chủ yếu khi các khoản nợ có kỳ hạn dài hơn tài sản hay khi các khoản nợ lãi suất cố định được đầu tư vào tài sản lãi suất thả nổi.

Khoảng trần –sàn lãi suất

Ngân hàng và các khách hàng vay vốn thường sử dụng hợp đồng có sự phối hợp khoảng lãi suất. Nhiều ngân hàng bán hợp đồng khoảng lãi suất cho những khách hàng vay vốn như một dịch vụ cơ bản để thu phí. Ví dụ, một khách hàng vừa nhận được khoản tín dụng 100 triệu USD có thể kí một hợp đồng khoảng lãi suất quy định mức lãi suất nằm trong khoảng [7%,11%]. Trong trường hợp này nếu lãi suất thị trường vượt quá 1%, ngân hàng sẽ thanh toán cho khoản chi phí lãi tăng thêm. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm xuống dưới 7% khách hàng sẽ phải trả cho ngân hàng lãi suất tối thiểu 7%. Thực chất, người mua hợp đồng khoảng lãi suất phải trả trần phí đồng thời nhận được sàn phí. Khoản phí ròng (chênh lệch giữa trần phí và sàn phí) có thể là dương hay âm, phụ thuộc vào biến động của lãi suất.

Thông thường, các hợp đồng trần, sàn và khoảng lãi suất có kỳ hạn trong phạm vi từ một vài tuần cho đến khoảng 10 năm. Phần lớn các hợp đồng này được dựa trên lãi suất của các chứng khoán chính phủ, giấy nợ ngắn hạn, các khoản tín dụng lãi suất cơ bản hay lãi suất tiền gửi đô la Châu âu (LIBOR). Bản thân ngân hàng cũng thường sử dụng hợp đồng khoảng lãi suất để bảo vệ thu nhập của mình khi lãi suất giao động thất thường hay khi ngân hàng không thể dự tính được chính xác động thái của lãi suất trên thị trường.

Hợp đồng trần, sàn và khoảng lãi suất là những dạng đặc biệt của hợp đồng quyền phòng chống rủi ro lãi suất cho các khoản mục tài sản do ngân hàng và khách hàng nắm giữ. Việc bán cho khách hàng hợp đồng trần, sàn và khoảng lãi suất đã tạo ra khoản thu nhập từ phí đáng kể cho ngân hàng trong những năm gần đây, nhưng loại hợp đồng này cũng chứa đựng cả rủi ro tín dụng (khi bên nhận trách nhiệm hoàn trả mất khả năng thanh toán) và rủi ro lãi suất. Chính vì vây, nhà quản lý ngân hàng phải hết sức cẩn trọng khi quyết định cung cấp hay sử dụng công cụ phòng chống rủi ro lãi suất này.

1.3. Kinh nghiệm quản trị rủi ro lãi suất trên thế giới Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

1.3.1 Bài học quản trị rủi ro lãi suất của Quận Cam, bang California (1994)

Giới thiệu chung

Vào ngày 6/12/1994, Quận Cam, một trong những quận giàu có của bang California đã tuyên bố phá sản sau khi bị thua lỗ khoảng 1.6 tỷ đô la từ một đặt cược sai lầm về lãi suất vào một trong các quỹ đầu tư chủ yếu của nó. Quỹ này trước đó dự định được thực hiện theo phương pháp thận trọng và đồng thời cũng phải đảm bảo khả năng tạo ra lợi nhuận trong việc quản lý dòng tiền của toàn Quận và của 241 tổ chức chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thay vào đó, nó lại gây ra sự sụp đổ tài chính lớn nhất của một chính quyền địa phương trong lịch sử nước Mỹ. Robert Citron, thủ quý Quận Cam, người kiểm soát quỹ đầu tư trị giá 7.5 tỷ đô la này đã tiến hành đầu tư mạo hiểm khoản tiền trên vào một danh mục đầu tư. Chiến lược của ông dựa trên mức lãi suất ngắn hạn tương đối thấp so với lãi suất trung hạn. Nhưng kể từ tháng 2 năm 1994, Quỹ dự trữ Liên Bang bắt đầu tăng lãi suất USD, làm cho rất nhiều chứng khoán trong quỹ đầu tư của Quận Cam bị giảm giá trị. Trong một thời kỳ dài năm 1994, Citron bỏ qua sự biến động trên thị trường lãi suất và các khoản lỗ trong danh mục đầu tư của ông. Đến cuối năm 1994, nhu cầu hàng tỷ đô la tiền thế chấp từ các đối tác của Citron tại phố Wall, và nguy cơ các nhà đầu tư chính quyền địa phương đổ xô tới rút tiền, tạo ra trạng thái mất thanh khoản. Sau thất bại này, Quận Cam đã sửa đổi nhiều khía cạnh của thủ tục kiểm soát và quản trị tài chính của nó và thiết lập một cơ chế chính sách đầu tư nghiêm ngặt hơn.

Diễn biến

Robert Citron giữ chức thủ quỹ của quận Cam kể từ năm 1972 cho tới đầu năm 1994. Khoảng thời gian đó các chiến lược đầu tư của ông liên tục thành công, quỹ do ông quản lý đạt lợi suất khoảng 10,1% hàng năm trong khi danh mục đầu tư của kho bạc bang California chỉ đạt lợi suất hàng năm 5%-6%. Thu nhập từ quỹ đầu tư này ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngân sách bang kể từ cuối thập niên 70, dẫn đến việc nới lỏng các quy định về cách thức đầu tư. Thêm vào đó, chính quyền thành phố khác như Irvin, Anaheim cùng với nhiều cơ quan công quyền địa phương khác cũng bị thu hút bởi mức tỷ suất lợi nhuận đặc biệt cao mà quỹ mang lại.

Những nhà đầu tư này đưa tiền mà họ huy động được từ thuế và các nguồn khác vào quỹ với hy vọng rằng khoản tiền đó sẽ được tăng thêm trước khi họ sử dụng vào các dịch vụ công cộng thiết yếu. Lợi nhuận của quỹ đặc biệt cao vào đầu thập niên 1990 khi mà môi trường chính trị địa phương được thiết lập nhằm hạn chế việc tăng thuế và các nguồn tài chính khác của chính quyền địa phương. Một số cơ quan thành phố thậm chí còn vay thêm tiền để tăng đầu tư của họ vào quỹ. Rất ít nhà đầu tư thắc mắc Citron về cách làm việc hết sức thành công của ông hay là phân tích mức độ rủi ro mà ông phải đối mặt để có thể đạt được lợi nhuận cao. Ban kiểm soát thiếu sót trong việc đánh giá chính sách đầu tư, quản trị rủi ro, kiểm tra báo cáo định kỳ và chi tiết. Điều này làm cho mục tiêu của quỹ thiên về tạo ra tiền hơn là quản lý tiền. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Đến năm 1994, số tiền trong quỹ tăng lên nhanh chóng. Citron đã đầu tư 7.5 tỷ đô là vào rất nhiều loại giấy tờ có giá của Chính phủ Mỹ. Ông mua chủ yếu thông qua các công ty môi giới phố Wall, đặc biệt từ các công ty thuộc ngân hàng đầu tư Merrill Lynch. Một điều hiển nhiên là: Khi một quỹ đầu tư muốn đạt được lợi suất cao hơn lợi suất của các quỹ quản lý tiền thông thường, nó sẽ phải chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Hơn nữa, Citron đã sai lầm khi cho rằng chứng khoán chịu lãi suất trung hạn sẽ duy trì ổn định hoặc là tăng giá. Ông sử dụng nhiều phương pháp nhằm mục đích biến quỹ 7.5 tỷ đô la thành 20 tỷ đô la vì thế lợi nhuận và rủi ro được nhân lên gấp bội. Citron đã đầu tư khoảng 2.8 tỷ đô mua các loại giấy tờ có giá hoặc các công cụ phái sinh mà giá của chúng sẽ giảm khi lãi suất tăng. Ông cũng đầu tư 8 tỷ đô la vào một loại trái phiếu “inverse floater” – một loại chứng khoán kết hợp của một hoán đổi lãi suất và một chứng khoán lãi suất thả nổi mà lãi suất tăng người nắm giữ sẽ bị thua lỗ. Kết quả là, quỹ đã biến nguồn vốn dự định được sử dụng cho các dịch vụ công cộng thiết yếu trong ngắn hạn thành một sự đầu tư đầy rủi ro vào các công cụ tài chính trung hạn. Trong trường hợp lãi suất ngắn hạn vẫn duy trị thấp như những năm đầu thập kỷ 90, giá của những chứng khoán trung hạn này sé được thanh toán theo giá thị trường và Citron sẽ thu được lợi nhuận cao. Tuy nhiên chiến lược này trở nên tồi tệ khi Fed có sự thay đổi trong chính sách của mình vào tháng 2 năm 1994. Tháng 2 này đã chứng kiến sự gia tăng lãi suất đầu tiên trong một chuỗi tăng liên tiếp, đến cuối năm 1994 lãi suất tăng thêm 2.25%. Vào tháng 11, quỹ đầu tư của Citron gặp khủng hoảng lớn khi giá trị của các chứng khoán trung hạn nhạy cảm lã i suất sụt giảm. Các đối tác của Citron bắt đầu thu hồi hàng tỷ đô la tiền thế chấp, trong khi dó các cơ quan chính phủ ồ ạt rút tiền ra khỏi quỹ. Vào ngày 1/12, Citron phải thừa nhận quỹ thua lỗ 1.5 tỷ USD và từ chức vào ngày 3/12.

Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là một loại trong rủi ro thị trường. Các ngân hàng cũng như các tổ chức đầu tư không thể kiểm soát và dự đoán chắc chắn mức độ và xu hướng biến động của lãi suất. Người quản lý quỹ đầu tư không nên quá tin vào xu hướng lãi suất giữ ở mức thấp như dự tính mà phải lường đến trường hợp xấu là lãi suất ngắn hạn biến động sụt giá các chứng khoán quỹ nắm giữ hoặc làm giảm thu nhập của quỹ; không nên tập trung quá nhiều vào các chứng khoán có mức giá biến động cùng chiều với nhau khi lãi suất thay đổi (trường hợp Quận Cam, Citron đã đầu tư hàng tỷ đô la vào các chứng khoán mà khi lãi suất tăng sẽ bị mất giá trị).

Bản thân Ban quản trị và hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng cũng như các tổ chức kinh doanh phải theo dõi sát biến động lãi suất, xác định cụ thể cơ chế chính sách và phương pháp quản trị rủi ro lãi suất, lập báo cáo định kỳ thường xuyên. Đặc biệt dù có một thời kỳ kinh doanh tốt, lợi nhuận cao, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh cũng không được nới lỏng các quy định và lơ là kiểm soát để dẫn đến hậu quả kinh doanh thua lỗ, thậm chí phá sản.

Sự sụp đổ của Quận Cam chính là một bài học về sự cần thiết phải quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như các tổ chức đầu tư chứng khoán trên thế giới.

1.3.2 Một số nguyên tắc tham khảo nhằm quản trị rủi ro lãi suất Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Với nỗ lực giải quyết các vấn đề quản trị ngân hàng quốc tế, tháng 9 năm 1997, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (The Basel Committee on Banking Supervision) đã công bố văn bản về các nguyên tắc quản trị rủi ro lãi suất. Các nguyên tắc trên được dựa trên thực tiền hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các ngân hàng trên thế giới mặc dù mỗi ngân hàng với quy mô và loại sản phẩm dịch vụ khác nhau có sự áp dụng riêng. Theo văn bản trên, một chính sách quản trị rủi ro lãi suất hợp lý tập trung vào hai nội dung cơ bản sau:

Phương pháp quản trị tài sản, nợ và các công cụ ngoại bảng (4 nguyên tắc)

Sự giám sát và điều hành hợp lý của ban Quản trị Ngân hàng và các cấp quản lý

Ban quản trị ngân hàng nên thông qua các cơ chế và chính sách quản trị rủi ro lãi suất và đảm bảo rằng các phòng ban quản trị cấp dưới có đủ thẩm quyền cần thiết để đo lường và giám sát tình hình lãi suất trên thị trường. Để làm được điều đó, ngân hàng có trách nhiệm hiểu được bản chất, đưa ra cụ thể mức độ chấp nhận rủi ro lãi suất của ngân hàng, và phân công nhiệm vụ hợp lý cho các cá nhân để tránh tình trạng xung đột lợi ích hoặc chồng chéo nhiệm vụ.

Ban quản trị cũng cần phải được báo cáo thông tin tình hình biến động lãi suất một cách định kỳ và đầy đủ để có thể hiểu và đánh giá sự thi hành của đơn vị quản trị cấp dưới. Đổi lại, nhiệm vụ của ban quản trị cấp dưới là phải đảm bảo rằng ngân hàng có chính sách hợp lý và toàn diện trong việc quản trị rủi ro lãi suất trong dài hạn cũng như ngắn hạn; giám sát những chính sách này còn phù hợp với quy mô và tình phức tạp của hoạt động ngân hàng hay không; thường xuyên báo cáo tình hình với ban quản trị.

Cơ chế và chính sách hợp lý nhằm hạn chế và quản trị rủi ro lãi suất

Những cơ chế này phải đưa ra rõ ràng những công cụ và chiến lược phòng ngừa, thông số định lượng rủi ro lãi suất, xác định mức độ giới hạn chấp nhận rủi ro. Mỗi giới hạn phải được quy định rõ cho phù hợp với từng danh mục đầu tư hay hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các ngân hàng cũng cần xác định mức độ rủi ro lãi suất cũng như phương pháp quản trị hợp lý trước khi tung ra sản phẩm dịch vụ mới.

Đo lường rủi ro lãi suất

Các ngân hàng vần phải quy định rõ hệ thống đo lường rủi ro lãi suất tính đến tất cả các nguồn dẫn đến rri ro này và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động của ngân hàng khi lãi suất thay đổi, đến các khoản mục tài sản, nợ và vốn chủ sở hữu.

Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương pháp định lượng rủi ro lãi suất; tuy nhiên, mỗi ngân hàng tủy theo quy mô, tính đa dạng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình có thể lựa chọn phương pháp từ đơn giản như phương pháp phân tích khoảng cách, phân tích khoảng thời gian tồn tại cho đến những mô hình phức tạp để đưa ra quyết định. Nhiều ngân hàng lớn sử dụng các mô hình giả định để đánh giá chi tiết ảnh hưởng tiềm tàng của biến động lãi suất lên thu nhập và giá trị Tài sản-Nợ thông qua việc đưa ra những giả định về lãi suất trong tương lai và tác động của lãi suất lên dòng tiền. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán độc lập toàn diện

Các ngân hàng phải có một hệ thống kiểm soát toàn diện để đảm bảo các chính sách quản trị rủi ro lãi suất được thực hiện đúng đắn.Hệ thống này phải thúc đẩy sự vận hành hiệu quả, báo cáo tài chính đáng tin cậy và phù hợp với các quy định của pháp luật và hiệp hội ngân hàng. Một hệ thống kiểm soát nội bộ về rủi ro lãi suất hiệu quả bao gồm:

  • Quy trình toàn diện về nhận dạng và đánh giá rủi ro
  • Sự thiết lập đầy đủ các cơ chế, chính sách và phương pháp quản trị rủi ro
  • Hệ thống thông tin toàn diện và chi tiết
  • Sự xét duyệt thường xuyên các cơ chế và chính sách đã được thiết lập Những ngân hàng quy mô lớn và phức tạp nên được các công ty kiểm toán

độc lập giám sát và kiểm tra hoạt động của mình. Hơn nữa, những báo cáo được kiểm tra từ những tổ chức bên ngoài nên luôn có sẵn để cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người có trách nhiệm kiểm tra nên xem xét các yếu tố sau:

Yếu tố định lượng rủi ro lãi suất:

  • Mức độ nhạy cảm về giá và khối lượng của các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp
  • Sự thay đổi của thu nhập và vốn chủ sở hữu của ngân hàng khi lãi suất thay đổi
  • Hệ thống quản trị nội bộ của ngân hàng có phù hợp với chức năng, quy mô và tính phức tạp của ngân hàng và hoạt động của nó
  • Ngân hàng có một đơn vị kiểm soát độc lập chịu trách nhiệm cho việc thiết kế, thực hiện chức năng đo lường và quản trị rủi ro
  • Ban quản trị và những cán bộ liên quan có thực sự chủ động tham gia vào quá trình quản trị rui ro
  • Các chính sách và cơ chế nội bộ liên quan đến lãi suất được ghi chép và tuân thủ đầy đủ và đáng tin cậy

Giám sát và quản trị vốn ngân hàng

Nhằm mục đích khẳng định việc các ngân hàng duy trì một mức vốn phù hợp đối với toàn bộ những rủi ro trong hoạt động kinh doanh, Ủy ban Basel đưa ra 4 nguyên tắc sau:

  • Các ngân hàng phải có một quy trình đánh giá mức vốn an toàn tương ứng với cơ cấu rủi ro của ngân hàng và một chiến lược để duy trì mức vốn của mình;
  • Các cơ quan quản lý phải liên tục xem xét và đánh giá hệ thống xác định vốn an toàn của nội bộ các ngân hàng cũng như khả năng giám sát và tuân thủ của họ đối với quy định về tỷ lệ vốn tối thiểu đồng thời các cơ quan quản lý cũng phải có biện pháp can thiệp thích đáng nếu họ không hài lòng về kết quả đánh giá;
  • Các cơ quan quản lý phải yêu cầu các ngân hàng hoạt động với mức vốn cao hơn mức vốn an toan tối thiểu và phải có khả năng bắt các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu;
  • Các cơ quan quản lý phải sớm can thiệp nhằm ngăn chặn vốn của ngân hàng tụt xuống thấp hơn mức yêu cầu và phải yêu cầu ngân hàng có biện pháp sửa chữa kịp thời nếu mức vốn an toàn không được khôi phục và duy trì.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh rất đặc biệt. Hoạt động kinh doanh của một ngân hàng có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng và xã hội vì các chủ thể gửi tiền và vay tiền của ngân hàng là những các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư trong toàn xã hội. Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng cần đề cao công tác quản trị rủi ro để bảo vệ ngân hàng và bảo vệ khách hàng. Khóa luận: Quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Vietcombank

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan về rủi ro lãi xuất tại Vietcombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464