Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp xây dựng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ hàng dệt may Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1.1 Dệt may là ngành mũi nhọn nhưng hiệu quả kinh tế thấp

2.1.1.1 Dệt may là ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam

Hiện nay, có thể nói rằng công nghiệp dệt may Việt Nam là ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu, tuy nhiên ngành may xuất khẩu chủ yếu là thực hiện gia công cho nước ngoài với giá trị gia tăng thấp (khoảng 20%), do vậy số ngoại tệ thực tế thu được là rất khiêm tốn. Bên cạnh đó, với trang thiết bị lạc hậu, chủng loại hàng còn nghèo nàn, hàng sợi, dệt Việt Nam chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việt Nam mới xuất khẩu được một số loại vải thô, vải bông và vải dệt kim sang Nhật, Canada và EU với kim ngạch không đáng kể. Sản phẩm dệt may xuất khẩu vẫn tỏ ra chưa có sự phát triển thích ứng với đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, chủng loại ngày càng cao của thị trường thế giới. Giá trị nguyên liệu nhập khẩu đóng góp từ 70- 80% giá trị thành phẩm may mặc cuối cùng, cho thấy sản xuất dệt may Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

Thị trường cho ngành dệt may: Việt Nam với hơn 83 triệu dân, sức mua như vậy là không hề nhỏ, tuy nhiên sản xuất dệt may mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước chất lượng còn thấp và mẫu mã chưa phong phú. Trong những năm gần đây chính phủ và các doanh nghiệp dệt may luôn cố gắng không ngừng, có những bước tiến đáng kể để dần chiếm lĩnh thị trường trong nước, nhiều doanh nghiệp may đã có những quyết sách marketing thành công; như Tổng công ty May Việt Tiến với chiến lược Marketing chiếm lĩnh thị trường phía Bắc, Công ty Cổ phần May 10 cũng có danh tiếng tại thị trường phía Bắc. Không chỉ phần nào đóng góp vào tiêu dùng trong nước, dệt may hiện nay còn đóng góp tỷ trọng lớn trong xuất khẩu của Việt Nam, bắt đầu hòa nhập được vào thị trường thế giới, xuất khẩu được sang những thị trường khó tính như: Mỹ, EU, Nhật Bản… Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 57% thị phần xuất khẩu, thị trường EU chiếm 18%, Nhật Bản là 9%. …[5]

Kim ngạch xuất khẩu: Trước năm 1990 nước ta chủ yếu xuất khẩu ngành hàng dệt may sang thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ theo các hiệp định song phương nhưng khối lượng nhỏ, chất lượng hàng không cao. Hoạt động xuất khẩu dệt may mới thực sự mạnh mẽ hơn kể từ năm 1992 trở lại đây, khi chúng ta bắt đầu thực hiện các hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU, hàng dệt may tăng lên không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Trong khoảng 10 năm liền hàng dệt may có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đều trên 20%, mỗi năm trung bình chiếm khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, cụ thể:

Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam qua các năm

Vị trí của Việt Nam đang dần được hình thành trong bản đồ dệt may thế giới khi chính thức có mặt trong 10 nhà xuất khẩu lớn nhất của thế giới. Trong nhiều năm Dệt May luôn là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ hai sau mặt hàng dầu thô. Đây là kết quả ngoài mong đợi bởi nó đã đem lại khoản ngoại tệ lớn để đổi mới và nâng cấp toàn bộ trang thiết bị, công nghệ của ngành dệt may trong giai đoạn hiện nay, tăng tích lũy ngoại tệ và dự trữ cho nền kinh tế.

Lợi ích kinh tế – xã hội: là ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, đặc biệt lao động đơn giản không cần đào tạo, ngành dệt may đã giúp giải quyết đáng kể nhu cầu công ăn việc làm cho xã hội, nhất là lao động nữ, góp phần ổn định đời sống nhân dân, ngăn chặn các hậu quả do nạn thất nghiệp gây ra. Dệt may là một trong những ngành thu hút nhiều lao động nhất, năm 2022 là khoảng 2 triệu lao động gồm 1 triệu lao động công nghiệp và 1 triệu lao động tiểu thủ công nghiệp; chiếm 4,5 % lực lượng lao động toàn xã hội. Dự kiến đến năm 2015 dệt may sẽ thu hút khoảng 3 triệu lao động. Tận dụng được lợi thế nước ta vốn là nước có truyền thống lao động, người dân cần cù lao động, khéo léo. So với nhiều quốc gia, sinh hoạt ở Việt Nam cũng thấp, giá nhân công rẻ: trung bình giá lao động tại Việt Nam khoảng 0,25 USD/ giờ trong khi Thái Lan là 1,18 USD/ giờ và Singapore là 3,16 USD/ giờ, đây cũng là điều kiện quan trọng để hàng dệt may có ưu thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong điều kiện hiện nay có nhiều thuận lợi cho việc phát triển ngành dệt may như: vốn đầu tư vào ngành này thấp hơn nhiều ngành khác, quay vòng vốn nhanh. Vị trí địa lý thuận lợi cho xuất nhập khẩu sản phẩm may mặc bằng đường biển, giảm chi phí vận tải tăng cạnh tranh về giá.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2.1.1.2 Dệt may vẫn là ngành mang lại hiệu quả kinh tế thấp Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

Dù là ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam, nhưng chúng ta vẫn phải thừa nhận thực tế rằng cho đến nay vẫn có rất nhiều yếu kém tồn tại trong ngành dẫn đến tính hiệu quả kinh tế mà ngành dệt may mang lại chưa cao.

Ngành dệt may còn tồn tại nhiều yếu kém, nổi bật là:

Trước hết là lương công nhân trong ngành dệt may tương đối thấp. Dù ngành dệt may xuất khẩu ra thị trường thế giới mỗi năm hàng tỷ USD nhưng lương công nhân trong ngành vẫn rất thấp, chỉ xấp xỉ từ 1- 1,5 triệu VNĐ/ tháng, chưa thuộc nhóm ngành có mức lương khá trong xã hội. Năm 2022 kim ngạch xuất khẩu toàn ngành là 9 tỷ USD nhưng doanh số thực tế thu về cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ khoảng 20% – 30% doanh thu xuất khẩu. Tình trạng khan hiếm lao động tại các doanh nghiệp dệt may là phổ biến, nhất là với những công nhân có tay nghề và thâm niên trong ngành may mặc. Trong bối cảnh tự do hóa về chuyển dịch nguồn lực lao động, rất nhiều công nhân ngành dệt may đi theo hướng xuất khẩu lao động sang nước ngoài, hoặc tham gia vào các hợp tác xã dệt may.

Thứ hai, ngành dệt may Việt Nam quá phụ thuộc vào thị trường Mỹ (chiếm 50-60% kim ngạch xuất khẩu) riêng năm 2022 là 6 tỷ USD. Điều này dẫn tới một rủi ro vô cùng lớn, hiện nay hầu hết các sản phẩm xuất khẩu chỉ bán cho các nhà buôn lớn của Mỹ nhưng chính các nhà buôn này lại không hề chia sẻ một chút rủi ro nào từ các tranh chấp pháp lý liên quan đến hàng dệt may Việt Nam (như trong trường hợp hàng dệt may bị kiện bán phá giá), nên cũng không có nghĩa là từ năm 2023, xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thị trường Mỹ sẽ không còn gặp bất kỳ một rào cản thương mại nào. Bởi vì:

  • Chương trình giám sát hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam của Mỹ dưới thời chính quyền của Tổng Thống Bush và nhiệm kỳ Tổng thống sẽ kết thúc vào tháng 1/2023. Do đó, chương trình này không được mở rộng cũng là điều dễ hiểu.
  • Năm 2023, Tổng thống Mỹ mới nhận chức, và chưa chắc chính quyền của Tổng thống mới kế thừa quyết định của Chính quyền Bush. Và Tổng thống mới chắc chắn sẽ thực hiện quyết định của Quốc hội Mỹ – bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong Hiệp hội Dệt Mỹ.
  • Chắc chắn hàng dệt may xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Mỹ sẽ gặp phải những rào cản thương mại khi chế độ hạn ngạch được dỡ bỏ vào cuối năm 2022. Điều này sẽ khiến cho hàng dệt may Việt Nam rất dễ rơi vào “tầm ngắm” cùng với hàng Trung Quốc [6].
  • Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2022, ảnh hưởng mạnh mẽ không kém gì so với khủng hoảng kinh tế những năm 30 thế kỷ trước, làm giảm sức mua của nền kinh tế Mỹ, rất khó khăn cho hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này. Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

Do đó, trong việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu sang thị trường Mỹ cho năm 2023, doanh nghiệp nên chủ động đàm phán với các đối tác để nâng giá xuất khẩu, tránh những thiệt hại của giá thấp gây ra. Cùng với đó là hoàn thiện công tác lưu trữ, cũng như việc khai báo hải quan rõ ràng chính xác, tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý trong việc thống kê, phục vụ thông tin định hướng và quản lý nhà nước, giúp các doanh nghiệp hoạt động một cách hiệu quả nhất.

Trong khi đó Việt Nam chưa thực sự chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và bỏ ngỏ thị trường nội địa. Theo báo cáo của Hiệp hội dệt may Việt Nam ( Vitas) thị trường nội địa với hàng may mặc chỉ chiếm 7% tổng mức bán lẻ, khoảng 2 tỷ USD. Thị trường nội địa quá yếu thế và tiềm ẩn rủi ro khi xuất khẩu gặp khó khăn.

Ngành dệt may Việt Nam chưa tận dụng được hết các cơ hội. Ngày 11/1/2021 khi chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, đã có rất nhiều ý kiến của những nhà kinh tế hàng đầu dự đoán ngành dệt may Việt Nam sẽ gặp nhiều thuận lợi lớn, sẽ thực sự cất cánh. Nhưng hoàn toàn không dễ dàng như vậy. Chúng ta chưa thực sự khai thác được lợi thế dù đã tự do xâm nhập vào hầu hết các thị trường thế giới, cho thấy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá kém. Dệt may Việt Nam cần học hỏi rất nhiều từ Trung Quốc, nước này gia nhập WTO năm 2002, sự phát triển ngành may mặc nước này như vũ bão đe dọa tới toàn bộ nền sản xuất dệt may của cả những nước phát triển ở Châu Mỹ và Châu Âu.

Theo nhiều chuyên gia trong ngành thì ngành còn tồn đọng nhiều vấn đề như: hầu hết nguyên liệu đều phải nhập khẩu, chưa có thương hiệu xuất khẩu thực sự nổi tiếng trong khu vực và quốc tế, mặc dù sản lượng tiêu thụ khá mạnh, khâu thiết kế mẫu vải và mẫu quần áo rất yếu, thông thường là làm theo mẫu do khách hàng đưa đến; khả năng cạnh tranh kém; đội ngũ cán bộ còn yếu ở những khâu then chốt như dệt, nhuộm phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài nên dễ bị vào tình trạng bị động không tự chủ được… đặc biệt phải kể đến tình trạng gia công xuất khẩu của Việt Nam tỷ lệ gia công chiếm tới hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Ông Lê Quốc Ân – chủ tịch hiệp hội dệt may cho biết hàng dệt may Việt Nam cơ bản chưa thể đứng độc lập trên thị trường thế giới vì hầu như chúng ta chưa có một thương hiệu nổi tiếng nào đẳng cấp. Những doanh nghiệp hàng đầu như May 10; Viettien; May 2; Thăng Long… tuy đã được người tiêu dùng trong nước biết đến nhưng với người tiêu dùng quốc tế còn rất xa lạ. Nguyên nhân chính là chúng ta chưa có đội ngũ thiết kế đủ năng lực, còn yếu kém so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

2.1.2 Cơ hội và thách thức với hàng dệt may Việt Nam khi là thành viên của WTO Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến cho dệt may Việt Nam những cơ hội và thách thức. Bởi vì tình trạng dệt may Việt Nam hướng vào thị trường xuất khẩu vẫn còn tiếp diễn trong thời gian dài nữa, tham gia sân chơi quốc tế sẽ vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức lớn với dệt may nước ta về năng lực cạnh tranh không chỉ thị trường xuất khẩu mà ngay cả thị trường trong nước.

Cơ hội:

Thị trường cho hàng dệt may được mở rộng: chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy là rào cản về xuất khẩu sẽ bị cắt giảm. Mỹ là thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam cũng đã chính thức xóa bỏ hạn ngạch, mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp xâm nhập vào thị trường tiềm năng bậc nhất này.

Những nước trước đây áp dụng mức thuế suất cao với dệt may Việt Nam nay cũng đã giảm đi rất nhiều khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO.

Thu hút nguồn vốn FDI và chuyển giao công nghệ: Cơ chế thông thoáng hơn sẽ là môi trường lý tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bởi nước ta có lợi thế về chi phí sản xuất thấp, giá nhân công rẻ, đầu tư vào ngành dêt may hoàn toàn phù hợp với xu thế chuyển dịch từ các nước công nghiệp sang những nước đang phát triển như Việt Nam. Việt Nam có thể chuyển giao những thiết bị đang sử dụng sang những nước châu Phi để đón nhận sự chuyển giao máy móc hiện đại, tiên tiến từ những nước phát triển.

Khó khăn:

Trước đây, rất nhiều doanh nghiệp dệt may được nhà nước hỗ trợ xuất khẩu bằng nhiều biện pháp khác nhau như: hỗ trợ lãi suất cho vay, thưởng xuất khẩu… nhưng nay khi tham gia vào sân chơi quốc tế những ưu đãi này đã bị xóa bỏ theo những quy ước chung. Tham gia WTO sẽ tác động trực tiếp tới ý thức của những nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp. Thành công hay thất bại của ngành dệt may hoàn toàn được bàn giao lại cho các doanh nghiệp, bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm ra hướng đi mới cho mình, thói ỷ lại vào hỗ trợ, bảo hộ của nhà nước sẽ không thể tồn tại được nữa. Đây cũng có thể là một thuận lợi nếu như chúng ta có tầm nhìn dài, bởi muốn đứng vững trên thị trường dệt may thế giới, không có cách nào khác là phải sử dụng chính nội lực, phát huy chính sức mạnh dân tộc mình.

Nhiều cơ hội nhưng cũng là thách thức thực sự với hàng dệt may Việt Nam khi tham gia vào sân chơi quốc tế. So sánh với mặt hàng khác chúng ta có thời gian chuẩn bị trong nhiều năm thì riêng với trường hợp của ngành dệt may, khi đặt bút ký vào bản hiệp ước gia nhập WTO thì ngay lập tức chúng ta phải tuân thủ mọi quy định với hàng dệt may, cụ thể là ngay lập tức xóa bỏ trợ cấp, thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu cũng giảm. Tuy có nhiều lợi thế nhưng nếu so sánh với người khổng lồ Trung Quốc và Ấn Độ thì những lợi thế của chúng ta không là gì cả. Thực tế diễn ra cho thấy khi không còn hạn ngạch hàng dệt may của hai nước này đang chiếm lĩnh gần như toàn bộ thị trường thế giới, loại bỏ dần những đối thủ như Việt Nam. Cụ thể có thể điểm ra một vài thị trường lớn của chúng ta như Mỹ, EU, Nhật Bản. Tại Nhật, một nước phi hạn ngạch và là một thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, kể từ năm 2002 khi gia nhập WTO Trung Quốc đã chiếm 80% thị trường quần áo và trên 50% thị trường vải sợi đạt mức tăng trưởng trên 70% trong 10 năm. Tại Mỹ và EU, ngay sau khi một số hạn ngạch được dỡ bỏ thì nhập khẩu từ Trung Quốc tăng bình quân trên 100% trong khi xuất khẩu của chúng ta cũng tại thời điểm đó vào EU giảm xuống còn 71% [7]. Theo dự đoán của rấth nhiều chuyên gia kinh tế cũng như Ngân Hàng Thế Giới, thị phần của Trung Quốc sẽ chiếm tới trên 50% thị trường thế giới trong vài năm tới đây. Tác động này sẽ dẫn đến việc Việt Nam sẽ dần đánh mất đi những thị trường lớn của mình nếu không có sự thay đổi tích cực. Ví dụ như thị trường Mỹ, dù xóa bỏ hạn ngạch nhưng việc áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt với hàng dệt may Việt Nam và biện Pháp chống bán phá giá của chính phủ Mỹ sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến các nhà nhập khẩu Mỹ.

Mặt khác khi tham gia vào sân chơi quốc tế, Việt Nam sẽ phải chịu nhiều sự điều chỉnh và quy định khắt khe, phải xóa bỏ những trợ cấp đầu tư, xóa bỏ dần các khuyến khích về miễn giảm thuế thu nhập… sẽ là thách thức không nhỏ không chỉ với toàn ngành dệt may Việt Nam và hệ thống pháp luật nhà nước.

Qua phân tích trên, thì hẳn cơ hội với dệt may Việt Nam là nhiều nhưng thách thức mà nó đem lại còn lớn hơn rất nhiều. Để tạo ra nền tảng phát triển bền vững, chúng ta cần có những định hướng lâu dài, tập trung vào khâu thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu, tập trung đa dạng hóa thị trường. Xác định phát triển hàng dệt may trên cơ sở nội lực của chính dân tộc mình. Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Ngành công nghiệp hàng dệt may Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464