Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp xây dựng và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ hàng dệt may Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2 NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM

2.2.1 Tình hình hoạt động và thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Tình hình hoạt động:

Hội thảo quốc gia lần thứ nhất về “Chương trình hành động về phát triển công nghiệp phụ trợ của Việt Nam” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tổ chức đã diễn ra ngày 5/9/2022 tại Hà Nội. Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cho biết, Hội thảo được tổ chức nhằm trao đổi và kiến nghị với đại diện các cơ quan Nhà nước về nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp về hiệu quả Quy hoạch phát triển công nghiệp phụ trợ đã được Chính phủ phê duyệt từ 2021. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Phát biểu tại đây, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng nhấn mạnh, phát triển công nghiệp phụ trợ phải được tiến hành chọn lọc, dựa trên tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam và phân công lao động quốc tế. Ban đầu, công nghiệp phụ trợ có thể gắn liền với mục tiêu nội địa hoá các sản phẩm công nghiệp chủ lực, sau phấn đấu trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc tế của các công ty và tập đoàn đa quốc gia [8].

Công nghiệp phụ trợ là động lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và là nền tảng cho việc phát triển bền vững các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn đến 2020. Do đó, công nghiệp phụ trợ cần được phát triển theo hướng phát huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là của các đối tác chiến lược – các công ty, tập đoàn đa quốc gia. Phát triển công nghiệp phụ trợ phải phù hợp với những xu thế, đặc thù riêng của từng chuyên ngành công nghiệp và từng đối tác chiến lược.

Trong điều kiện lộ trình mở cửa hoàn toàn thị trường trong nước đang đến gần, nếu không xây dựng được công nghiệp phụ trợ dệt may tương ứng, đủ sức cạnh tranh quốc tế và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển sang đầu tư thương mại vào thị trường Việt Nam hơn là đầu tư vào sản xuất. Việc đóng cửa cơ sở sản xuất của SONY tại Việt Nam trong thời gian vừa qua là một minh chứng cho vấn đề này.

Trình độ khoa học công nghệ, máy móc: Có thể nói trang thiết bị máy móc cơ khí của chúng ta còn quá yếu kém, chủ yếu vẫn phải nhập khẩu từ những nước có trình độ công nghệ cao từ Đức, Ý, Nhật Bản, nhiều nhất vẫn là Trung Quốc. Nếu so sánh Tổng công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) với toàn ngành Dệt May cả nước, thì năng lực kéo sợi chiếm 67% (đạt 111.0000tấn/170.000 tấn); chế biến bông chiếm 85% (đạt 12.800 tấn/ 15.000tấn). Điều này khẳng định Vinatex là đơn vị chủ đạo và là doanh nghiệp lớn nhất trong ngành Dệt May cả nước. Tuy nhiên, để phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực này, còn nhiều vấn đề cần được tháo gỡ.

Hiện nay, bên cạnh các xưởng cơ khí của các công ty dệt thuộc Vinatex làm nhiệm vụ sửa chữa, thay thế phụ tùng, cơ kiện thì còn có 4 công ty cơ khí chuyên ngành sản xuất các phụ tùng, cơ kiện và trang thiết bị phục vụ cho ngành Dệt May như: Công ty cổ phần cơ khí may Gia Lâm, công ty cổ phần cơ khí Nam Định, công ty cổ phần cơ khí Hưng Yên và công ty cổ phần cơ khí Thủ Đức. Trong thời gian qua, các đơn này tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do năng lực còn hạn chế, thiết bị lại lạc hậu nên không đáp ứng kịp yêu cầu phát triển rất nhanh của các doanh nghiệp dệt may. Cả 4 công ty cơ khí này trị giá sản xuất mỗi năm chỉ vào khoảng 9 triệu USD, tương đương gần 4.000 tấn phụ tùng, chủ yếu là phụ tùng, trang thiết bị nhỏ lẻ như: máy trải vải, máy kiểm tra vải, máy hút hơi là, máy san chỉ, máy hút chỉ, máy dập cúc, máy cắt vải, hệ thống chiếu sáng, hệ thống làm mát và một số phụ tùng như tủ đựng hồ sơ, ghế ngồi may, kệ để nguyên liệu, xe vận chuyển nội bộ… phục vụ ngành may là chính, mà cũng mới chỉ đáp ứng được một phần [9]. Còn phụ tùng, cơ kiện cho ngành dệt, các doanh nghiệp chủ yếu vẫn phải nhập từ nước ngoài từ 70- 80%.

Hầu hết các xưởng cơ khí nằm trong các công ty dệt đến nay đều không phát huy được hiệu quả, do không đáp ứng được yêu cầu khắt khe về chất lượng, giá cả và thời gian giao hàng của các doanh nghiệp dệt. Vì vậy, các xưởng cơ khí này thường phải gia công cho các doanh nghiệp ngoài ngành, trong khi các công ty dệt lại phải nhập khẩu những phụ tùng, cơ kiện từ nước ngoài tới 80%, trị giá hàng chục triệu USD mỗi năm. Trong thời gian qua có một số nhà máy như công ty cổ phần phụ liệu may Nha Trang, công ty may Việt Tiến, công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tư nhân đã sản xuất được nhiều loại phụ kiện như khóa kéo, tấm lót, cúc chỉ… nhưng sản lượng còn thấp chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu của ngành. Hiện nay, cũng có các cửa hàng buôn bán hàng phụ kiện may, nhưng chỉ buôn bán với số lượng nhỏ lẻ, chủ yếu bán cho các hiệu may nhỏ, phần lớn nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, chất lượng cũng tương đối thấp.

Bảng 2.2 Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện may của Việt Nam

Các loại phụ kiện, phụ liệu may đòi hỏi tính chuyên môn hóa rất cao nhưng hiện nay, số lượng các công ty tham gia sản xuất rất ít, vì gặp trở ngại về vốn và công nghệ cùng với đó là quy mô của các doanh nghiệp này còn nhỏ chưa thể cạnh tranh được về giá thành sản phẩm.

Hoạt động đầu tư sản xuất:

Xuất phát từ những phân tích, đánh giá về thực trạng của ngành Dệt, May Việt Nam, ngày 10/03/2022 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 36 phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt,may Việt nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 nhằm phát triển ngành theo hướng chuyên môn hoá, hiện đại hoá, tạo ra bước nhảy vọt về giá trị gia tăng của sản phẩm thông qua việc thực hiện ba chương trình (trồng bông, dệt vải chất lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực) có tính quyết định đến sự phát triển bền vững, ổn định lâu dài của ngành Dệt-May Việt Nam.

Trong quyết định phê duyệt chiến lược này, Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng và phê duyệt chương trình sản xuất vải phục vụ may xuất khẩu, chương trình phát triển cây bông và chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may Việt Nam. Tập đoàn Dệt-May Việt Nam – doanh nghiệp lớn nhất của ngành Dệt-May Việt nam giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, tham gia thực hiện ba chương trình này. Trên tinh thần đó, Tập đoàn Dệt-May Việt Nam đang khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Về chương trình phát triển bông vải, theo mục tiêu và chiến lược phát triển từ nay đến năm 2015 là phục hồi diện tích bông nước trời và phát triển diện tích bông có tưới hướng tới sản lượng khoảng 40 ngàn tấn bông xơ và tới 2020 đưa sản lượng lên tới 60 ngàn tấn. Thực tế phát triển cây bông phân tán (HTX, hộ gia đình) trong những năm qua bộc lộ nhiều bất cập, diện tích, sản lượng bấp bênh, chưa làm được việc phân loại phẩm cấp bông khi thu hoạch do ảnh hưởng của thời tiết, phương thức canh tác, giá bông thế giới .v.v. Chính vì vậy mà trong chương trình phát triển cây bông lần này Tập đoàn Dệt-May Việt Nam đề xuất phương án ưu tiên sản xuất bông tập trung có tưới, có điều kiện áp dụng các giống và qui trình sản xuất mới nhằm tăng năng suất để ổn định chất lượng và sản lượng bông hàng năm cho ngành dệt Việt Nam. Kế hoạch phát triển bông tập trung có tưới dự kiến tại các tỉnh duyên hải miền trung (Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi) và một phần ở Tây Nguyên (Gia Lai, Đak Lak, Dak Nông). Để có diện tích trồng bông có tưới là 40.000 ha vào năm 2015 cần có tổng vốn đầu tư khoảng 3.500 tỷ đồng cho đền bù đất, hệ thống thuỷ lợi, sản xuất giống…

Cùng với việc phát triển xơ sợi tự nhiên thì Tập đoàn Dệt-May Việt Nam cùng Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã thành lập Công ty CP hoá dầu và xơ sợi tổng hợp để xây dựng nhà máy sản xuất xơ polyeste đầu tiên của Việt Nam tại khu công nghiệp Đình Vũ Hải phòng với công suất sản xuất là 400 tấn xơ thông thường, 50 tấn xơ đặc biệt và 50 tấn hạt chip/ ngày dự kiến năm 2011 đi vào sản xuất và đến năm 2020 đáp ứng 40% nhu cầu trong nước về xơ sợi tổng hợp với tổng mức đầu tư khoảng 3000 tỷ đồng.

Với việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ, Tập đoàn Dệt-May Việt Nam đang khẩn trương triển khai xây dựng hai Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ chí Minh để cung ứng đủ và kịp thời nguyên phụ liệu cho mọi khách hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Về mục tiêu sản xuất vải phục vụ may xuất khẩu thì ưu tiên vào sản xuất vải dệt thoi. Trong sản xuất vải dệt thoi thì nhuộm, hoàn tất đóng vai trò quan trọng trong việc làm ra vải đạt chất lượng theo yêu cầu thị trường. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 phải tăng thêm 500 triệu m2 và đến năm 2015 là 1 tỷ m2. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng cho đến nay nhuộm, hoàn tất vẫn là khâu yếu nhất của các doanh nghiệp dệt Việt Nam. Việc củng cố và phát triển khâu in nhuộm, hoàn tất, nhất là cho vải dệt thoi là một vấn đề khó (vốn lớn và trình độ kỹ thuật cao) chưa kể tới vấn đề gây ô nhiễm môi trường. Đây là những lý do mà doanh nghiệp thì ngại đầu tư và nhiều địa phương ít quan tâm các dự án có in nhuộm.

Do đó, để đẩy mạnh các dự án đầu tư dệt, nhuộm, trước hết phải tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm xử lý nước thải trong các khu công nghiệp hiện có tại Hoà Xá (Nam Định), Hoà Khánh (Đà Nẵng), Bến Lức (Long An), Bình An (Đồng Nai) và các trung tâm mới tại Thái Bình, Quảng Nam. Đây là điều kiện rất quan trọng để kêu gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước lên tới 940 triệu USD giai đoạn 2020-2010 và 1,765 tỷ USD cho giai đoạn 2011-2015 cho các dự án dệt, nhuộm qui mô lớn .

Tập đoàn Dệt May Việt Nam làm hạt nhân liên kết triển khai 05 dự án dệt nhuộm trọng điểm giai đoạn 2021 – 2012, [10].

  • Dự án nhà máy nhuộm Teachang – Vina tại Yên Mỹ (liên doanh của Vinatex với Công ty Thiên Nam và Teachang Hàn Quốc) có năng lực nhuộm sau đầu tư đạt 42 triệu m2/năm và đạt 63 triệu m2/năm vào năm 2023;
  • Dự án liên doanh của Vinatex với Công ty Thiên Nam và Teachang (Hàn Quốc) sản xuất vải Denim tại Hoà Xá (Nam Định) có năng lực nhuộm sau đầu tư đạt 45 triệu m2/năm;
  • Dự án di dời và nâng cấp nhà máy nhuộm Công ty cổ phần Dệt Nam Định sản xuất vải áo và vải quần từ vải bông và bông pha có năng lực 42 triệu m2/năm vào năm 2010;
  • Dự án liên doanh với Tập đoàn ITG (Hoa Kỳ) sản xuất vải quần tại Sơn Trà có năng lực dệt nhuộm sau đầu tư đạt 38 triệu m2/năm và đạt 76 triệu m2/năm vào năm 2010;
  • Dự án nhà máy nhuộm Bình An trên cơ sở nâng cấp nhà máy nhuộm Việt Thắng và hợp tác với Tập đoàn Tencate (Hà Lan) có năng lực nhuộm sau đầu tư đạt công suất 37,5 triệu m2/năm và đạt công suất 45 triệu m2/năm vào năm 2010.
  • Ngoài ra Tập Đoàn Dệt May Việt Nam làm hạt nhân triển khai các dự án hỗ trợ cho sản xuất vải dệt thoi:
  • Dự án thành lập Trường Đại học Dệt May và Thời trang tại Thuận Thành – Bắc Ninh theo hình thức liên doanh hoặc cổ phần;
  • Dự án đầu tư phòng thí nghiệm sinh thái dệt may và trung tâm thiết kế vải từ nguồn vốn ODA và ngân sách nhà nước;
  • Dự án xây dựng 02 Trung tâm nguyên phụ liệu tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Một  số ngành phụ trợ dệt may cụ thể:

Thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam trong thời gian qua được các chuyên gia, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá là vẫn đang ở mức độ thấp. Hầu hết các ngành công nghiệp lớn ở Việt Nam đều phải nhập khẩu nguyên liệu, phụ kiện ở nước ngoài để sản xuất. Ngành dệt may hàng năm xuất khẩu mang về cho đất nước hàng tỷ USD nhưng phần lớn số ngoại tệ đó được sử dụng để nhập khẩu nguyên liệu, phụ kiện phục vụ cho sản xuất của ngành.

Ngành sản xuất bông:

Sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu bông nhập khẩu đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành dệt may Việt Nam – một trong những ngành hàng XK được kỳ vọng dẫn đầu trong năm 2022

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất và nhập khẩu bông của Việt Nam

Do sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, hàng năm nước ta đều phải NK một lượng bông rất lớn để đáp ứng nhu cầu, do đó phát triển các vùng trồng bông là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Kế hoạch 2001 – 2010, dự kiến chúng ta trồng 150.000 ha bông để làm ra 80.000 tấn bông xơ, đáp ứng 50% nhu cầu công nghiệp dệt may trong nước. Tuy nhiên, tham vọng này đã không đạt được khi diện tích bông không tăng như mong muốn, ngược lại liên tục bị giảm. Đỉnh cao nhất là vụ bông 2002-2017 đạt 32.000 ha (tương đương 12.000 tấn bông xơ), sau đó cây bông liên tục bị cây trồng khác chiếm chỗ. Dự kiến 2021- 2022, cả nước chỉ còn khoảng 6.000 ha bông với sản lượng bông xơ khoảng 2.600 tấn. Trong khi nhu cầu bông xơ cho ngành dệt may tăng nhanh lên đến trên 200.000 tấn/năm, như vậy sản lượng bông sản xuất trong nước chỉ đạt 2 % nhu cầu. Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của thời tiết bất thường, nguyên nhân diện tích bông suy giảm nhanh là lý do kinh tế. Năng suất bông hạt ở Việt Nam thấp, chỉ 1-2 tấn/ ha (tùy bông nhờ nước trời hay tưới), giá thu mua tăng rất chậm. Năm 2001 giá bông hạt là 5.500 đồng/kg, mãi đến năm 2019 giá mới nhích lên 6.000 đồng/kg và đến vụ bông 2021 – 2022 mới điều chỉnh lên 7.000 đồng/kg. Năng suất và giá thu mua quá thấp, cây bông dường như không cạnh tranh được với cây trồng khác. Trên thực tế, Công ty Bông Việt Nam (VCC) trực thuộc Tập đoàn Dệt may (VINATEX)- đơn vị được giao triển khai dự án này – không khó khăn gì để nhận ra bất cập đó. Năm 2018, VCC đã đề nghị Chính phủ xem xét lại một phần kế hoạch phát triển bông, cụ thể: bỏ sản xuất bông ở ĐBSCL – là nơi cây bông không thể có “chỗ đứng”, đồng thời rút kế hoạch phát triển bông đến năm 2010 xuống còn 50.000 ha để làm ra 36.000 tấn bông xơ. Tuy nhiên, với sản lượng quá thấp vụ bông 2021- 2022 vừa qua, chúng ta có thể khẳng định sự điều chỉnh vẫn là mục tiêu quá xa vời vì những lợi thế so sánh với các nhóm nông sản khác, mà bất lợi thuộc về cây bông. Sự phụ thuộc quá nhiều vào bông xơ nhập khẩu, trong khi tốc độ xuất khẩu may mặc tăng nhanh (năm 2021, Việt Nam xếp vị trí thứ 12 về xuất khẩu sản phẩm may mặc trên thế giới), buộc Việt Nam phải chú trọng đầu tư mạnh vào ngành dệt nên khâu kéo sợi hiện là mắt xích yếu nhất trong ngành. Năm 2020, nhu cầu của ngành dệt may trong nước cần khoảng 200.000 tấn bông xơ, trong đó có tới 95% là nhập khẩu. Ngành dệt và sợi được bảo hộ mạnh tại thị trường trong nước bằng thuế nhập khẩu với mức thuế suất 40% (thuế suất 20% nếu nhập khẩu từ ASEAN). Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Việc bảo hộ này đã tạo thuận lợi cho phát triển của ngành sợi Việt Nam và các nước đầu tư sợi dệt xuất khẩu ở Việt Nam (chủ yếu là các DN Đài Loan). Trong khi ngược lại, nhập khẩu bông xơ được tự do và không phải chịu thuế suất hoặc bất kỳ một quy định thương mại nào tác động. Rõ ràng bông sản xuất trong nước đang phải gánh chịu nhiều sức ép. Sự cạnh tranh càng gay gắt hơn khi giờ đây Việt Nam đã gia nhập WTO, trong đó nông sản là một trong những lĩnh vực mà Việt Nam phải mở cửa mạnh cho hàng hóa của các nước khác.

Theo các chuyên gia phân tích, ngành bông Việt Nam đáp ứng rất thấp so với nhu cầu thị trường. Tỷ lệ thay thế nhập khẩu từ khoảng 11% năm 2017 xuống còn dưới 2% vào năm 2022 (số liệu đã tính đến sự thất bại của sản xuất dự kiến trong vụ bông 2021- 2022). Giá bông từ các nước sản xuất ở châu Phi đến cảng Việt Nam nằm giữa 0,15 và 0,20 USD/kg xơ [11]. Với mức giá này người trồng bông trong nước có được lợi thế so sánh nhưng lại không đủ để bù lại năng suất và giá bán sản phẩm của các loại cây trồng khác cạnh tranh với cây bông Việt Nam.

Nhìn ở một góc độ nào đó, cây bông hiện chỉ còn đứng được ở một số nơi như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Nguyên, một phần Đông Nam bộ và miền núi phía Bắc. Trên đất này, năng suất bông cao nhất chỉ đạt 1.000 – 1.200 kg/ha. Cũng có thể phát triển thêm một phần diện tích bông ở những vùng đất tốt, có tưới. Nếu đảm bảo được về yếu tố giống, quy trình kỹ thuật tốt, năng suất bông có tưới có thể đạt trên 3 tấn/ha, đảm bảo cạnh tranh được.

Nhưng xét trên thực tế, sản xuất bông chỉ đáp ứng được trên 1% nhu cầu thì coi như ngành sản xuất này không còn có vai trò kinh tế. Dự báo trong những năm tới, nếu không có biện pháp điều chỉnh giá thu mua bông nguyên liệu, ngành sản xuất bông trong nước có thể bị “biến mất” ngay từ vụ 2022-2023. Theo tổng điều tra ngành bông Việt Nam mới đây, phỏng vấn nông dân vùng quy hoạch trồng bông cho thấy, hầu như tất cả các hộ trung bình khá trở lên đều không còn nghĩ đến cây bông nữa, chỉ còn một số hộ nghèo, hộ vùng sâu vùng xa họ trồng bông chỉ với mục đích nhận hỗ trợ phân bón từ phía công ty. Trớ trêu những hộ này nhận phân bón không phải để bón cho bông mà bón cho… cây bắp (?). Các chuyên gia của VCC nhìn nhận, trước hết chỉ bằng biện pháp giá mới duy trì tồn tại ngành bông, cụ thể ngay vụ bông tới mức giá thu mua phải tăng lên 8.500 đồng/kg bông hạt thì mới hy vọng giữ được diện tích bông như năm nay, còn muốn phát triển diện tích giá bông phải được nâng trên 10.000 đồng/kg – đó là mức giá rất khó xảy ra, nếu không có những tác động đột xuất của ngành bông hoặc cao hơn là Chính phủ. Tiếc cho những cố gắng của ngành này, khi thời gian gần đây đã đưa được một số giống bông lai tương đối chất lượng, kỹ thuật thâm canh ngày một hoàn thiện để cùng với giống tạo ra nhiều mô hình trồng bông đạt trên dưới 3 tấn/ ha.

Từ việc ghi nhận hiện tại dễ dẫn đến sự sụp đổ của ngành sản xuất bông Việt Nam, có thể đưa ra 2 phương án có thể xảy ra, nhằm mục đích giúp các nhà chính sách có được một quyết định đúng đắn. Thứ nhất – theo xu hướng “tự do hóa”: ngành bông Việt Nam sẽ thiếu yếu tố trợ cấp cho sản xuất và không còn sự bảo hộ trong nước; giá bông của nông dân chấp nhận cạnh tranh với giá sản phẩm cây trồng khác trên cùng diện tích; cạnh tranh với giá và chất lượng bông xơ nhập khẩu… Nếu đi theo phương án này, ngành sản xuất bông Việt Nam gần như biến mất vào niên vụ tới 2022- 2023. Kịch bản thứ hai – phục hồi ngành sản xuất bông: cần nhất cho phương án này là quyết định chính sách và chiến lược của Chính phủ và Bộ Công Thương, trong đó mục tiêu chính sẽ là tạo ra một hành lang an toàn trong việc cung cấp nguyên liệu bông xơ cho ngành dệt Việt Nam trong trường hợp thị trường bông thế giới có biến động bất thường. Điểm thuận lợi nữa là có sự ủng hộ mạnh của các công ty cổ phần bông trong nước với những cam kết cụ thể. Các yếu tố trợ cấp hàng năm cho người trồng bông được thông qua việc: bảo hiểm giá mua bông hạt; giá thành dự kiến cho 1 ha bông xơ, nhất là theo khối lượng dự kiến và tỷ lệ xơ; giá bán xơ dự kiến theo giá thị trường thế giới.

Theo tính toán, số tiền trợ cấp cho sản xuất bông sẽ dưới 1/1.000 giá trị xuất khẩu hiện nay của ngành dệt may. Một kiến nghị khác, có ảnh hưởng đến việc khôi phục nhanh trở lại ngành sản xuất bông trong nước đó là Chính phủ cần xây dựng một mức thuế hải quan cho việc nhập khẩu bông xơ. Quỹ hình thành từ thuế này sẽ không sử dụng vào sản xuất bông và toàn bộ sẽ chuyển vào ngân sách Nhà nước (hầu hết các nước tiêu thụ bông lớn hiện nay đều hỗ trợ ngành sản xuất trong nước hoặc bằng hệ thống trợ cấp hoặc bằng bảo hộ thị trường xơ trong nước). Với phương án thứ hai, cùng với một loạt các giải pháp hỗ trợ khác, giá bông xơ nội địa sẽ được xây dựng ở mức đủ để đảm bảo giá bông hạt hấp dẫn cho nông dân Việt Nam, không làm ảnh hưởng đến giá thành sợi trong nước.

VINATEX hiện là đơn vị được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ lập quy hoạch mới phát triển ngành bông trong nước. Các kế hoạch phát triển trước đây rất tham vọng và mang tính chất hành chính không thực hiện được trên thực tế vì đã định ra các mục tiêu cụ thể mà không xem xét đến hiệu quả quá thấp của cây bông so với các cây trồng cạnh tranh khác. Hy vọng với các số liệu có được trong quá trình nghiên cứu và những kiến nghị được rút ra từ thực tế sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách có được quyết định đúng cho vị trí cây bông ở Việt Nam. VCC đang trình Bộ Công Thương xem xét kế hoạch mới với mục tiêu đạt 40.000 ha bông vào năm 2010 và 63.000 ha bông vào năm 2015 – thể hiện sự phục hồi lớn so với tình trạng hiện nay. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Nuôi trồng dâu – tơ tằm, kéo sợi

Trồng dâu nuôi tằm là là nghề truyền thống của Việt Nam, gắn liền với lịch sử văn hóa, rất nhiều làng nghề truyền thống gắn liền với hoạt động trồng dâu, nuôi tằm, xe sợi nằm ở các tỉnh trước đây như: Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Quảng Nam… Trong những năm gần đây hoạt động trồng dâu nuôi tằm của Việt Nam đã giảm sút mạnh, không tương xứng với tiềm năng, truyền thống cũng như cơ sở vốn có của mình. Theo Tổng công ty dâu tơ tằm Việt Nam, thì nước ta có khoảng 250000 ha trồng dâu tằm, chỉ sau Trung Quốc, nhưng nay chỉ còn 18000-20000 ha trồng dâu tằm và năng suất trồng dâu, năng suất kén tằm chỉ bằng 20% so với Trung Quốc. Trung Quốc chỉ cần 7kg kén tằm cho ra 1kg tơ thì Việt Nam phải cần tới 10kg kén [12]. Chưa kể đến chất lượng tơ của Việt Nam không bền và rất khó nhuộm, thấp hơn chất lượng sợi tơ của Trung Quốc rất nhiều, chất lượng tơ được xếp theo hạng từ A đến E, thông thường chỉ tơ loại A mới có thể xuất khẩu, hiện nay sản lượng tơ loại này của Việt Nam chỉ đạt khoảng 250 tấn/ năm, chiếm khoảng 20% tổng sản lượng tơ nguyên liệu. Chất lượng thấp như vậy một phần là do tơ của Việt Nam chủ yếu sản xuất theo phương pháp truyền thống, thủ công từ khâu trồng dâu đến kéo kén xe tơ.

Hoạt động trồng dâu nuôi tằm phục vụ ngành kéo sợi – ngành được coi là sản xuất đầu nguồn trong công nghiệp sản xuất dệt may, chủ yếu đòi hỏi đầu tư máy móc công nghệ, yếu tố lao động chỉ là thứ yếu. Vì vậy, trình độ thiết bị công nghệ sử dụng trong hoạt động kéo sợi là rất quan trọng và phản ánh được mức độ phát triển của toàn ngành công nghiệp dệt may quốc gia. Ngành công nghiệp kéo sợi Việt Nam hình thành rất sớm vào cuối thế kỷ 19, khi người Pháp xây dựng nhà máy sợi đầu tiên tại Nam Định năm 1987. Tuy nhiên, mặc dù có lịch sử lâu dài như vậy nhưng ngành công nghiệp kéo sợi Việt Nam do ảnh hưởng của chiến tranh và một thời gian dài đóng cửa kinh tế sau khi đất nước thống nhất nên phát triển rất chậm và lạc hậu. Các giai đoạn phát triển của công nghiệp kéo sợi có thể chia thành 2 giai đoạn: trước 1995 và từ 1996 đến nay.

Trước năm 1995, toàn Tổng công ty dệt may Việt Nam có 147966 cọc sợi và 2000 roto kéo sợi không cọc tại 13 công ty có nhà máy kéo sợi. Trong tổng số máy nêu trên, chỉ có 39.000, chiếm 5,2%, được đầu tư thay mới trong giai đoạn 1991-1995, còn lại là các máy cũ từ trước những năm 1980 (khoảng 75%) hoặc máy được cải tạo nâng cấp và thay thế bằng máy đã qua sử dụng từ Tây Âu (25%) [13]. Công suất của tòn Tổng công ty đến năm 1995 là khoảng 53.225 tấn sợi/năm với chỉ số bình quân Ne = 36 ( mức trung bình khá). Nhìn chung, trong giai đoạn này, thiết bị cũ và lạc hậu chiếm tỷ lệ đáng kể. Tuy nhiên so với những năm 1980, giai đoạn 1991-1995 đã có những tiến bộ nhất định. Trước năm 1991, sợi sản xuất chủ yếu là sợi chải thô với chỉ số thấp và chất lượng đạt mức trung bình thấp của thế giới. chủng loại sản phẩm cũng không đa dạng do sự yếu kém về máy móc. Số lượng sợi chải kỹ chỉ chiếm khoảng 3% sản lượng, các loại sợi pha chỉ có một hai loại và chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sản lượng, khoảng gần 2%. Sau 1991, chủng loại sản phẩm sợi đã trở nên đa dạng hơn với tỷ trọng sợi chải kỹ chất lượng cao và các loại sợi pha tăng cao. Trong thời gian này, Việt Nam đã kéo được sợi 100% Plyester, sợi pha bông/ visco, sợi bông/ Acrylic, len/ Acrylic…

Từ năm 1996 đến nay, thiết bị kéo sợi được đầu tư bao gồm nhiều thế hệ đa dạng, tự nhiều nước Tây Âu, châu Á nhập vào, ở trình độ công nghệ thập kỷ 80-90. Thiết bị được nhập dưới dạng máy móc kéo sợi nhập lẻ, nhập đồng bộ mới, nhập đồng bộ dây chuyền đã qua sử dụng. việc nhập thiết bị déo sợi mới đã đi theo hướng tiên tiến hiện đại của các nước Nhật Bản, Thụy Sĩ, Cộng hòa Liên Bang Đức, Italia. Ngoài các dây chuyền đồng bộ mới là các dây chuyền đã qua sử dụng của Tây Âu, chủ yếu của Italia. Bên cạnh đó, các công ty sợi thuộc Tổng Công ty Dệt may đã đầu tư trang bị bổ sung cục bộ và nâng cấp, bao gồm cả máy mới và máy đã qua sử dụng, chủ yếu là các máy hiện đại có trình độ công nghệ của thập kỷ 90. Hầu hết, các công ty đã cố gắng đầu tư để cải tạo nâng cấp thiết bị để đáp ứng yêu cầu về nâng cao và ổn định chất lượng sợi. Một điểm chuyển biến tích cực khác trong giai đoạn này là sự tham gia đầu tư và sản xuất sợi thành phần tư nhân. Nếu như trước đây, hầu như chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh và các nhà đầu tư nước ngoài (Đài Loan và Hàn Quốc) sản xuất sợi thì trong thời kỳ này các công ty tư nhân đã bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực sợi. Khối tư nhân đã mạnh dạn đầu tư các dây chuyền công nghệ đồng bộ thuộc thế hệ công nghệ khá hiện đại từ các nước tư bản tiên tiến như Đức, Thụy Sĩ, Italia, và Nhật Bản giúp nâng cao mặt bằng trình độ sản xuất sợi của Việt Nam.

Ngành dệt, nhuộm và hoàn tất vải

Hàng năm lượng vải chúng ta nhập là rất lớn tới hơn 75%, năng lực sản xuất vải trong nước chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu sản xuất. Đối với Tổng công ty Dệt May Việt Nam, mặt hàng dệt thoi được đầu tư từ năm 1996 đến nay, nhiều mặt hàng mới chưa từng được sản xuất trước đây đến nay đã trở nên phổ biến của nhiều doanh nghiệp. Mặt hàng bông và 100% polyester chiếm tỷ trọng chính trong số các sản phẩm dệt thoi, chủ yếu được sử dụng để phục vụ may sơ mi, quần âu. Do tỷ lệ máy dệt không thoi đã được đầu tư khá nhiều (khoảng 2000 máy dệt thổi khí, dệt thổi nước và thoi kẹp) cùng với hệ thống mắc , hồ được trang bị ở hầu hết các nhà máy sản xuấ vải dệt thoi mà chất lượng vải mộc đã được cải thiện đáng kể.

Mặt hàng vải Denim (bò) đã được sản xuất tại công ty Dệt may Hà Nội và công dệt Phong Phú với số lượng 16 triệu m2 năm. Mặt hàng sợi bông dày, có xử lý làm bóng, chống nhàu, phòng co như gabadin, kaki, vải chéo cho may xuất khẩu cũng được sản xuất với chất lượng khá tốt tại Tổng công ty Dệt Việt Thắng, Dệt Nam Định, Dệt Đông Á. Trong lĩnh vực sợi tổng hợp 100%, nhờ đầu tư mới các thiết bị phụ trợ hiện đại như thiết bị xe với độ săn cao, thiêt bị giảm trọng vv… và nhờ sử dụng các loại vật liệu mới như PES biến tính, PA nên Tổng Công ty đã có khả năng đa dạng các mặt hàng và xuất khẩu được một phần sản xuất ra. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Tuy nhiên dù đã được đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, máy móc của Tổng Công ty Dệt may Việt Nam vẫn chủ yếu là các máy dệt kiểu cũ, hiệu suất thấp và chưa được đầu tư đồng bộ cả hệ thống. Trong số hơn 5000 máy dệt của tổng công ty, máy dệt thoi chiếm 60% số lượng và đa phần thuộc loại lạc hậu, tốc độ chậm, hệ thống tự động kém, khả năng đa dạng các mặt hàng rất hạn chế, cho năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, khổ hẹp, chi phí sản xuất cao, dẫn đến hạn chế cạnh tranh. Việc đầu tư vào các thiết bị và hệ thống chuẩn bị dệt như mắc, hồ ở các doanh nghiệp chưa đồng bộ với các thiết bị nên chất lượng vải dệt chưa cao, hiệu quả sử dụng thiết bị thấp. Các doanh nghiệp thường đầu tư nhỏ lẻ, mang tính chất bổ sung thay thế là chính chứ chưa quan tâm đến đầu tư mở rộng sản xuất như để sản xuất các chủng loại mặt hàng mới.

Đối với khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân, máy móc thiết bị có xu hướng được đầu tư hiện đại và đồng bộ hơn so với Tổng công ty Dệt May Việt Nam. Đầu tư tại khu vực này đã đi trước so với khu vực nhà nước và theo xu thế của thế giới, các máy dệt không thoi, sử dụng công nghệ hiện đại chiếm đa số. Đây cũng là khu vực đóng góp nhiều vào xuất khẩu vải của Việt Nam do khi bắt đầu đầu tư, chủ đầu tư đã có đơn hàng và nhằm trước tới các thị trường xuất khẩu nhất định. Hiện tại, năng lực sản xuất của khu vực tư nhân đạt khoảng 160 triệu m2 vải/năm, bằng khoảng 65% năng lực sản xuất của khu vực đầu tư nước ngoài. Hiện nay, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu vải dệt giá trị khoảng 140 triệu USD sang các thị trường chính như Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Anh…

Theo thống kê trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2000 sản lượng sản xuất ngành may là 400% trong khi ngành dệt (sản xuất sợi, vải) khiêm tốn với 50%. Cơ cấu giá trị hàng dệt và hàng may mặc trong tổng giá trị sản xuất của ngành đã thay đổi lần lượt từ 73% và 27 năm 1990 thành 47% và 53% năm 2000 [13]. Tổng công ty dệt may có khoảng 1,2 triệu cọc sợi chiếm 55% và 9500 hộp kéo sợi OE, trong khi so sánh với các nước khác như Indonesia có 4,5 triệu cọc sợi, Pakistan có 9 cọc sợi, các cường quốc dệ may như Trung Quốc, Ấn Độ làn lượt có 50 triệu và 40 triệu cọc sợi. Đối với hoạt động dệt thoi, Việt Nam có khoảng 305 cơ sở sản xuất dệt thoi với tổng số máy dệt khoảng 17000 máy, cho năng lực sản xuất khoảng 700 triệu m2 vải, tương đương 40000 tấn vải. Tổng công ty dệt may chiếm khoảng 30% năng lực sản xuất với khoảng 5000 máy dệt gồm 3000 máy dệt có thoi và 2000 máy dệt không thoi. Tuy nhiên phần lớn máy dệt có thoi thuộc loại lạc hậu, tốc độ chậm, hệ thống tự động kém, khả năng đa dạng các mặt hàng rất hạn chế, cho năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, khổ hẹp, chi phí sản xuất cao.

Công nghiệp hóa chất ở Việt Nam chưa phát triển, khâu in, nhuộm, hoàn tất vải hầu như phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu, công nghệ, chuyên gia nước ngoài. Hiện nay, toàn bộ thiết bị trên đều thuộc các công ty quốc doanh trong Tổng Công dệt may Việt Nam. Dẫn đến kết quả là ngành dệt không những không đáp ứng đủ số lượng về vải của ngành may mà còn không thể đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng đối với vải xuất khẩu. Vải được sản xuất ra chủ yếu chỉ được tiêu thụ ở nông thôn hoặc các vùng tỉnh lẻ. Hiện nay Việt Nam mới chỉ sản xuất được những loại vải đơn giản như bông 100%, vải bông pha Polyester…, chưa sản xuất được các loại vải cao cấp. Nếu có, cũng chỉ sản xuất với một qui mô rất nhỏ, không nhiều so với nhu cầu sản xuất sản phẩm may. Trong khi hàng năm chúng ta phải nhập khẩu trên 70% sợi, chỉ, vải của Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước có ngành phụ trợ dệt may phát triển khác.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2.2.2. Những hạn chế còn tồn tại của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

2.2.2.1 Hạn chế của ngành sản xuất trang thiết bị máy móc, cơ kiện

Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may được các chuyên gia trong ngành đánh giá có nhiều vấn đề, trước tiên là đối với ngành sản xuất trang thiết bị máy móc, cơ kiện còn tồn tại:

Một là, phụ tùng, cơ kiện phục vụ cho ngành Dệt May đang nhập lậu vào Việt Nam từ Trung Quốc với số lượng lớn, giá rẻ. Bên cạnh đó, tâm lý các doanh nghiệp không muốn đổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng, vì sợ không cạnh tranh nổi với hàng Trung Quốc, cũng là điều dễ hiểu nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay. Theo đánh giá của tổ chức phát triển của Liên Hiệp Quốc UNDP, trình độ công nghệ dệt may của Việt Nam hiện nay ở bậc 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2-3 thế hệ, đăc biệt là công nghệ dệt.

Hai là, phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về chất lượng, đòi hỏi có tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại, điều này khiến các doanh nghiệp cơ khí trong ngành chưa đủ vốn đầu tư [15].

Ba là, yếu kém về nguồn nhân lực. Ngành sản xuất máy móc trang thiết bị dệt may đòi hỏi nhân công có trình độ tay nghề cao, được đào tạo cơ bản về kỹ thuật, chuyên môn trong khi hệ thống các trường dạy nghề của chúng ta không đáp ứng được. Các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động vẫn phải đào tạo lại cho phù hợp với thực tiễn sản xuất. Với thực trạng như hiện nay, câu hỏi được đặt ra là phát triển công nghiệp phụ trợ bắt đầu từ đâu để tiến nhanh, theo kịp với yêu cầu phát triển? Theo các chuyên gia của Nhật Bản, trước mắt, việc sản xuất những chi tiết quan trọng, đòi hỏi kỹ thuật gia công cao ở Việt Nam sẽ do các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đảm nhận, rồi các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt dần và nhận chuyển giao kỹ thuật. Nhưng để tiếp thu tốt các kỹ năng, kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp nước ngoài thì yêu cầu cấp bách đặt ra là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Một trong những nguyên nhân được các chuyên gia chỉ ra là thiếu nguồn nhân lực có tay nghề nên không hấp thụ được khoa học kỹ thuật của các đối tác nước ngoài. Trên cơ sở đó, đào tạo kỹ sư đủ kỹ năng thực hành. Để làm được việc này cần có sự hợp tác với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để thực hiện chế độ thực tập, hướng dẫn tại công xưởng.” [16].

Bảng 2.4 Máy móc thiết bị nhập khẩu phục vụ ngành dệt

Như vậy hầu như toàn bộ máy móc thiết bị phục vụ ngành dệt chúng ta phải nhập khẩu 100%, nó đồng nghĩa với trình độ máy móc thiết bị của các Nhà máy cơ khí trong ngành quá lạc hậu, không được đổi mới, nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp về sản xuất máy móc có chất lượng. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Bốn là, giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao, nên sản xuất phụ tùng không có hiệu quả. Hiện nay giá sắt thép trong nước đã giảm rõ rệt, nhưng chỉ là tạm thời do tác động xấu của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trước đó giá thép luôn bị các doanh nghiệp phàn nàn là quá cao, chất lượng thép của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế do năng lực sản xuất phội thép còn thấp, nặng về gia công và gia công chế biến phôi và bán thành phẩm.

Năm là, thiếu nguồn thông tin chính xác, kịp thời về cung cấp và cầu giữa các doanh nghiệp trong ngành và giữa các doanh nghiệp sản xuất máy móc thiết bị với các doanh nghiệp dệt may. Do vậy có những mặt hàng máy móc thiết bị được các doanh nghiệp đồng loạt sản xuất tràn lan trong khi có mặt hàng không được doanh nghiệp nào sản xuất hoặc sản xuất máy móc thiết bị lại không phù hợp yêu cầu của các doanh nghiệp dệt may do sự khác biệt về thông số kỹ thuật cũng như kiểu dáng và chức năng. Tình trạng cung không gặp cầu, gây ra nghịch lý như trên.

2.2.2.2 Hạn chế của ngành sản xuất nguyên phụ liệu

Kể từ sau ngày đất nước đổi mới, sản xuất nguyên phụ liệu đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên nhìn vào hiện trạng của ngành sản xuất nguyên phụ liệu như trên thì còn quá yếu kém, hàng năm phải nhập tới khoảng 70% nguyên phụ liệu. Phát triển không tương xứng với sự phát triển của hoạt động may mặc, làm giảm sức cạnh tranh, phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu là nguy cơ dẫn đến phá sản ngành sản xuất dệt may, chủ yếu là nhập khẩu vải cho gia công xuất khẩu trực tiếp. Rõ ràng nếu so sánh Việt Nam với Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan chúng ta chịu bất lợi lớn bởi những nước trên đều sản xuất đáp ứng nhu cầu nguyên phụ liệu trong nước và thậm chí còn xuất khẩu.

Chất lượng nguyên liệu của chúng ta còn thấp do yếu kém về công nghệ máy móc. Số thiết bị kéo sợi chải thô với chỉ số chất lượng bình quân chiếm hơn 60% tổng số lượng thiết bị déo sợi nên khả năng sản xuất các loại sợi chải kỹ chỉ số cao dùng cho dệt kim và vải cao cấp bị hạn chế. Chúng ta ít có khả năng thay đổi mẫu mã do trình độ thiết bị công nghệ còn hạn chế, trong khi ngành dệt may là ngành thời trang đòi hỏi luôn có sự thay đổi về kiểu dáng mẫu mã.

Tuy cũng có nhiều cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu dệt may nhưng quy mô còn nhỏ, sản xuất trồng chéo, chi phí sản xuất cao. Yếu kém này đầu tiên phải kể đến những công ty quốc doanh, nhiều địa phương còn chạy theo thành tích xuất khẩu hàng dệt may, tỉnh thành nào cũng ít nhiều có đơn vị xuất khẩu dẫn đến kém hiệu quả trong việc sản xuất phụ trợ. Do đầu tư dàn trải nên dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu vào như vốn, lao động, không thể chuyên môn hóa, tập trung hóa công nghệ cao do không tập trung được nguồn vốn lớn. Hơn nữa tình trạng mỗi doanh nghiệp tự tìm kiếm đầu vào nguyên liệu là phổ biến, hoặc công ty có tiềm lực mạnh một chút thì lại mở thêm một công ty con chuyên lo sản xuất nguyên liệu. Dẫn đến không có sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, các công ty vệ tinh hoạt động theo sự chỉ tiêu được đề ra, không có sự sáng tạo chủ động, cũng không lo cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tồn tại bền vững. Nên dẫn đến hiện trạng chúng ta chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu nguyên phụ liệu cho sản xuất, chưa kể đến sản phẩm sản xuất không đủ tiêu chuẩn của đối tác nước ngoài, sản phẩm chủ yếu lại tiêu thụ ở vùng nông thôn, tỉnh lẻ trong nước.

2.2.2.3 Hạn chế về xử lý chất thải và bảo vệ môi trường Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Không chỉ riêng trong ngành sản xuất nguyên phụ liệu dệt may mà cả nền công nghiệp Việt Nam hiện nay giải pháp xử lý chất thải và bảo vệ môi trường còn quá yếu kém. Nói tới hàng may mặc “xanh” là nói tới các sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn sinh thái quy định, an toàn về sức khoẻ đối với người sử dụng và không gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất. Nếu như tình trạng trên đã xảy ra đối với hàng dệt-may của Trung Quốc, thì tất yếu sẽ xảy ra đối với ngành Dệt- May của Việt Nam. Như vậy là, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt sau khi hạn ngạch dệt- may được rỡ bỏ và tiêu chuẩn “Eco friendly” được EU áp dụng, thì rào cản thương mại “xanh” là một thách thức, trở ngại lớn đối với tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt- may vào các thị trường nói trên.

Trong ngành Dệt-May Việt Nam, cho đến nay, việc sản xuất các sản phẩm “xanh” chưa được quan tâm đúng mức. Một số nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp còn chưa được trang bị kiến thức hoặc hiểu biết còn hạn chế về những yêu cầu “xanh” đối với các sản phẩm dệt- may xuất khẩu. Ngoài ra, phần lớn các công ty, xí nghiệp trong dây chuyền nhuộm- hoàn tất vẫn còn sử dụng một số hoá chất, chất trợ, thuốc nhuộm và các công nghệ gây ô nhiễm môi trường. Có thể nêu lên vài ví dụ nổi bật sau đây. Trong hồ sợi, ngày càng sử dụng nhiều PVA làm tăng tải lượng COD (nhu cầu oxy hoá học) trong nước thải và PVA khó xử lý vi sinh. Nước thải rũ hồ thông thường chứa 4000- 8000 mg/l COD. Kỹ thuật “giảm trọng” polieste bằng kiềm được áp dụng phổ biến làm sản sinh một lượng lớn terephtalat và glycol trong nước thải sau sử dụng 5-6 lần, đưa COD có thể lên tới 80.000 mg/l Trong thành phần nước thải của các công ty, nhà máy dệt – nhuộm hiện nay, có khoảng 300- 400 mg/l COD (đã vượt tiêu chuẩn nước thải loại B 3- 4 lần) dự đoán sẽ tăng lên mức 700- 800mg/l và có thể còn tăng hơn nữa trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường, trước hết là ô nhiễm nước thải không được kiểm soát, thì các doanh nghiệp dệt- nhuộm phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng, phải tốn rất nhiều kinh phí cho việc xử lý môi trường, mới đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định về môi trường, cũng như để phát triển sản xuất, xuất khẩu bền vững, đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn “Eco friendly” về môi trường.

Trong các doanh nghiệp dệt hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường cũng rất nặng nề. Ô nhiễm từ khói thải của việc đốt lò hơi dùng than, ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ các công đoạn nhuộm, giặt. Đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay đều thiếu hệ thống xử lý nước thải. Nước thải của công đoạn nhuộm, giặt thường được thải trực tiếp ra môi trường.

Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp dệt nhuộm vừa thiếu và vừa yếu kém về chuyên môn. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng lãng phí năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Phần lớn chủ doanh nghiệp vừa đảm nhiệm cả vai trò quản lý và nhân viên kỹ thuật. Họ làm việc dựa vào kinh nghiệm là chính, rất ít chủ doanh nghiệp được đào tạo. Công nhân vận hành sản xuất thường là con em nông dân, ít được đào tạo nghề, chủ yếu học nghề theo cách truyền miệng, vừa làm vừa học.

Vấn đề môi trường đáng quan tâm nhất trong các doanh nghiệp dệt nhuộm là ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí do các chất thải trong sản xuất, đặc biệt là trong công đoạn in, nhuộm và hoàn thiện sản phẩm. nhiễm không khí do các loại khí như CO, SO2, NO2, NH3, CO2 được thải ra từ việc đốt than để vận hành lò hơi cho công đoạn nhuộm, nấu, sấy sản phẩm. Trung bình mỗi doanh nghiệp dệt đốt khoảng gần 2 tấn than/ngày. Gần như toàn bộ lượng khí này được thải trực tiếp vào môi trường. Ngoài ra các loại mùi hôi thối bốc lên từ việc phân huỷ các chất hữư cơ trong nước thải rất nặng nề. Các loại khí thải này đang ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của người dân. Minh chứng cho vấn đề này có thể lấy điển hình là tỉnh Thái Bình – nơi có nhiều nhà máy dệt nhuộm. Theo điều tra y tế của Sở Tài nguyên Môi trường Thái Bình thì tỷ lệ người mắc bệnh về mắt và đường hô hấp ở các làng dệt nhuộm là cao từ 50 -70%. Nhiễm nước thải là vấn đề môi trường lớn nhất đối với các làng nghề dệt. Công đoạn in, nhuộm và hoàn thiện sản phẩm sử dụng rất nhiều nước, nhiều loại hoá chất, thuốc nhuộm, chất tẩy rửa. Do các doanh nghiệp không đủ khả năng để đầu tư hệ thống xử lý nước thải, do ý thức về bảo vệ môi trường chưa cao nên nước thải thường được thải trực tiếp vào các nguồn nước. Các nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề bởi các chất hữu cơ và đặc biệt là kim loại nặng độc hại có trong thuốc nhuộm như Sắt, Kẽm, Đồng, Chì. Theo kết quả phân tích nước thải ở làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc (Hà Tây) thì chỉ số BOD là 67 – 159mg/l; COD là 139 – 423mg/l; SS là 167 – 350mg/l, và kim loại nặng trong nước như Fe là 7,68 mg/l; Pb là 2,5 mg/l; Cr6+ là 0.08 mg/l [17]. Theo số liệu của Sở Tài nguyên Môi trường Thái Bình, hàng năm làng nghề Nam Cao sử dụng khoảng 60 tấn hóa chất các loại như ôxy già, nhớt thủy tinh, xà phòng, bồ tạt, Javen, thuốc nhuộm nấu tẩy và in nhuộm. Các thông số ô nhiễm môi trường ở Nam Cao cho thấy hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải cao hơn tiêu chuẩn cho phép 3,75 lần, hàm lượng BOD cao hơn tiêu chuẩn cho phép tới 4,24 lần, hàm lượng COD cao hơn tiêu chuẩn cho phép 3 lần. Theo khảo sát của Viện Hoá học thì hầu hết các nguồn nước ngầm trong các làng dệt nhuộm ở Thái Bình đều đã bị ô nhiễm và không thể sử dụng làm nước sinh hoạt hàng ngày. Người dân đang phải sử dụng nguồn nước mưa dự trữ. Tình trạng thiếu nước sinh hoạt cho người dân ngày càng trở nên trầm trọng. Sức khoẻ người dân đang bị đe dọa.

2.3 ĐÁNH GIÁ VỊ TRÍ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm tạo ra một sản phẩm từ khi ý tưởng sản phẩm được hình thành cho đến khi đưa sản phẩm đi vào sử dụng. Quá trình này bao gồm các khâu như thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và hỗ trợ tới người tiêu dùng cuối cùng. Những hành động này có thể được tạo bởi một doanh nghiệp hoặc bởi nhiều doanh nghiệp khác nhau, diễn ra trong một khu vực địa lý duy nhất hoặc trải dài tại nhiều khu vực địa lý khác nhau. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain) được hiểu là chuỗi giá trị được tạo ra bởi nhiều công ty khác nhau và trải dài trên nhiều khu vực địa lý.

Phân tích chuỗi giá trị cho chúng ta một bức tranh sinh động về việc tạo ra giá trị gia tăng của toàn ngành Dệt May cũng như của từng doanh nghiệp. Việc phân tích này cũng chỉ ra rằng, không chỉ có khâu sản xuất mới tạo ra giá trị gia tăng. Trong hầu hết các chuỗi giá trị, khâu thiết kế thường đóng góp một tỷ lệ lớn giá trị gia tăng, cao hơn hẳn khâu sản xuất. Và cũng bởi thế, lao động làm việc trong các khâu mang lại giá trị gia tăng cao thường đòi hỏi trình độ cao hơn và tiền công cũng cao hơn. Bên cạnh đó, phân tích chuỗi giá trị gia tăng còn cho chúng ta biết con đường, cách thức thương mại hoá sản phẩm của ngành. Đặc biệt là, cùng với phân tích chuỗi giá trị gia tăng của ngành Dệt May, chúng ta có thể tìm ra những điểm yếu về liên kết trong chuỗi giá trị, những điểm này có thể mang lại lợi nhuận thấp và là rào cản sức mạnh của toàn Ngành. Gần đây, có một số chuyên gia cho rằng, việc phát triển sản xuất (gia công) các sản phẩm dệt may, mặc dù tạo giá trị gia tăng không cao, nhưng giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh hơn bởi các “cường quốc may mặc” họ cạnh tranh nhau rất khốc liệt ở giai đoạn thiết kế và phát triển phụ trợ mà tạo ra nhiều thị trường ngách cho các nước như Việt Nam. Trong ngắn hạn, quan điểm này cố gắng phản ánh đúng thực tiễn, nhưng sẽ là không phù hợp, thậm chí sẽ có định hướng sai lệch cho phát triển ngành Dệt May Việt Nam trong tầm nhìn dài hơn [18]. Như đã phân tích, khác với các ngành công nghiệp khác, công nghệ không phải là đòi hỏi có tính sống còn đối với các doanh nghiệp dệt may. Theo đó, các doanh nghiệp không quá khó khăn trong quá trình tiếp cận các yếu tố đầu vào, điển hình là nguồn nhân lực. Hơn nữa, với bề dày kinh nghiệm, ngành Dệt May Việt Nam hoàn toàn đủ năng lực để phát triển các khâu chủ chốt mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị may mặc toàn cầu. Phát triển công nghiệp phụ trợ dệt may hiện nay là yêu cầu cấp bách, nâng tầm Việt Nam được biết đến không chỉ ở khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị toàn cầu, giá trị gia tăng của ngành từng bước được nâng lên.

Ngành công nghiệp phụ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng may mặc xuất khẩu. Sự phân công lao dộng quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa đang càng dịch chuyển các cơ sở sản xuất may mặc từ các nước công nghiệp phát triển sang các quốc gia kém phát triển có lợi thế về nguồn lao động dồi dào và giá rẻ. Do vậy, ngành may mặc của các quốc gia kém phát triển, đặc biệt là tại châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam… đang phát triển rất nhanh, mạnh và cạnh tranh nhanh dữ dội tại các thị trường tiêu thụ như Mỹ, Nhật Bản, EU, Canada… Hai yếu tố cạnh tranh chủ yếu của hàng may mặc là giá thành và chất lượng đều được quyết định rất nhiều bởi khả năng sản xuất phụ trợ. Trước hết về giá thành, nguyên liệu đầu vào đóng góp trên 70% giá trị thành phẩm may mặc cuối cùng. Các quốc gia không sản xuất được nguyên liệu sẽ phải nhập khẩu khiến giá thành của sản phẩm cuối cùng bị đội lên cao so với các quốc gia tự sản xuất được nguyên liệu. Trong khi yếu tố chi phí lao động của hầu hết các quốc gia xuất khẩu dệt may đều đang tịnh tiến về một mặt bằng chung, sự thiếu chủ động về nguyên liệu sản xuất kể trên sẽ làm giảm đi rất nhiều tính hiệu quả của sản xuất cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu cuối cùng.

Về chất lượng, công nghệ, nguyên liệu đầu vào là yếu tố quyết định đối với chất lượng của sản phẩm may mặc cuối cùng. Hiện nay, mặc dù giá vẫn là yếu tố cạnh tranh chủ yếu của hàng dệt may, người tiều dùng đã chú ý nhiều hơn tới chất lượng khi quyết định mua hàng. Do vậy, chất lượng sẽ dần trở thành một yếu tố quyết định về khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng may mặc xuất khẩu

Công nghiệp phụ trợ phát triển giúp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững của hàng may mặc tại thị trường nội địa. Trong quá trình phát triển do sự phân công lao động nên mức độ phát triển dệt may ở các nước cũng khác nhau. Đối với Việt Nam lấy công nghiệp dệt may là công nghiệp trọng điểm, sự phát triển cân đối giữa sản phẩm may mặc và sản phẩm phụ trợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo sự cân bằng và bền vững trong sự phát triển. Nhất là trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu hiện nay, khi mà công nghệ và máy móc sẽ dần thay thế yếu tố lợi thế về nhân công giá rẻ.. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang và kém phát triển khác, do thiếu khả năng sản xuất mặt hàng hỗ trợ cho ngành dệt may nên quá tập trung vào hàng may mặc xuất khẩu dẫn tới thiếu nguồn nguyên liệu hoặc sử dụng nguồn nguyên liệu chất lượng thấp để sản xuất hàng nội địa, khiến cho sức mạnh của hàng may mặc bị sa sút ngay tại thị trường trong nước. Vì vậy yêu cầu cấp bách phát triển công nghiệp phụ trợ không những xuất khẩu mà còn phát triển ngay tại thị trường trong nước, tránh thua ngay tại sân nhà. Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển ngành dệt may tại Việt Nam

3 thoughts on “Khóa luận: Thực trạng công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về ngành dệt may tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464