Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Giới thiệu chung về các hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam
Cùng với quá trình phát triển của Hiệp hội ngành hàng nói chung, Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu bắt đầu ra đời với sự thành lập đầu tiên của Hiệp hội chè Việt Nam (VITAS – Vietnam Tea Association). VITAS ra đời và hoạt động chính thức từ ngày 25/01/1988, trong bối cảnh đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới. Mười sáu đơn vị thành lập, trong đó có Liên hiệp các xí nghiệp Công nông nghiệp chè Việt Nam (nay là Tổng công ty Chè Việt Nam) là nòng cốt, đã tiến hành Đại hội lần thứ nhất thành lập Hiệp hội với mục đích liên kết rộng rãi các thành phần kinh tế từ trung ương đến địa phương, quốc doanh và ngoài quốc doanh tham gia sản xuất, chế biến, xuất nhập khẩu và dịch vụ chè theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam
Tiếp theo sự ra đời của VITAS là sự ra đời của Hiệp hội lương thực Việt Nam (VIETFOOD) tiền thân là Hiệp hội xuất nhập khẩu lương thực Việt Nam. VIETFOOD được thành lập ngày 16/11/1989, có trụ sở tại thành phố Hồ Chính Minh. Hiện nay, hội viên của Hiệp hội hàng năm đã xuất khẩu chiếm trên 95% trong tổng số lượng xuất khẩu cả nước và gạo Việt Nam đã có mặt trên tất cả thị trường Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Trung Đông.
Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (Vietnam Cofee and Cocoa Association: VICOFA) được thành lập ngày 4/1/1990 và được công nhận theo Quyết định số 28/KTĐN-TCCB ngày 22/1/1990 của Bộ trưởng Bộ KTĐN (nay là Bộ Công thương). VICOFA được thành lập trên cơ sở tự nguyện nhằm phối hợp có hiệu quả và đẩy mạnh các hoạt động sản xuất – kinh doanh, nghiên cứu khoa học và thúc đẩy các quan hệ hợp tác với cộng đồng quốc tế. Cũng như các Hiệp hội ngành hàng khác, sự hình thành và phát triển của VICOFA nhằm thực hiện vai trò là cầu nối của các mối “liên kết ngang” giữa các doanh nghiệp thuộc ngành hàng Cà phê – Ca cao trong cả nước.
Cho đến nay, hầu hết các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực khác của nước ta đều đã thành lập các hiệp hội riêng của mình như Hiệp hội cây điều Việt Nam (Vietnam Cashew Association – VINACAS) thành lập 29/11/1990, Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam (Vietnam Pepper Association – VPA) thành lập cuối năm 2001 và Hiệp hội cao su Việt Nam (Vietnam Rubber Association – VRA) bắt đầu hoạt động từ cuối năm 2019.
Cũng như nhiều Hiệp hội ngành hàng khác, Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu đã có những đóng góp tích cực và quan trọng vào việc xây dựng chiến lược phát triển ngành, xây dựng cơ chế quản lý, tham gia chuẩn bị hoặc hỗ trợ cho các cuộc đàm phán thương mại cũng như giải quyết các tranh chấp quốc tế, thực hiện nhiều chương trình xúc tiến thương mại, tổ chức hội thảo, tập huấn giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận và hiểu biết thêm những yêu cầu mới của thị trường thế giới về môi trường, trách nhiệm xã hội, an toàn lao động, sức khỏe… Hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu đang ngày càng có hiệu quả và được Nhà nước khuyến khích, đề cao.
Hiệp hội ngành hàng nói chung và Hiệp hội ngành hàng nông sản nói riêng mới chỉ thực sự bắt đầu khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập, tuy với một thời gian tương đối ngắn nhưng nhìn chung các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu đã trở thành nơi tập hợp các doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu. Qua quá trình hoạt động, các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu đã và đang ngày càng nâng cao được vai trò của mình đối với các doanh nghiệp hội viên, chính vì vậy, số hội viên tham gia vào các Hiệp hội ngành hàng này đang ngày càng gia tăng.
Tuy nhiên, số hội viên ở trong các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu là rất khác nhau. Có Hiệp hội gần 200 hội viên, bên cạnh đó có Hiệp hội chỉ vài chục hội viên. Chẳng hạn, Hiệp hội Chè Việt Nam có 155 hội viên, còn Hiệp hội Rau quả lại chỉ có 68 hội viên. Sở dĩ như vậy là bởi vì những Hiệp hội có thời gian thành lập lâu hơn thì số hội viên thường đông hơn. Tổng số hội viên của Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu trong cả nước là 745 hội viên.
Bảng 1: Thông tin cơ bản về các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Thực trạng chung về hoạt động của các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam
2.1. Tình hình tài chính của các Hiệp hội
Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu (NHNSXK) là một tổ chức tự nguyện và phi lợi nhuận, chính đặc điểm này chi phối đến quá trình hình thành quỹ tài chính của hiệp hội. Cơ sở hình thành quỹ tài chính của các hiệp hội ngành hàng này không thể dựa trên cơ sở quyền lực, cũng không thể dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh, mà nguồn tài chính chỉ có thể huy động từ các lợi ích của các hoạt động hiệp hội mang lại cho các hội viên và cho xã hội. Các nguồn tài chính mà hiệp hội có khả năng huy động để gây quỹ là:
- Huy động nội lực: hội phí, lệ phí gia nhập và các khoản đóng góp khác của hội viên phục vụ cho hoạt động cần thiết của hiệp hội.
- Huy động từ bên ngoài: các khoản tài trợ của các tổ chức và các cá nhân bên ngoài hiệp hội, các chương trình hợp tác, dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ.
- Thu từ các hoạt động dịch vụ của hiệp hội thông qua các hoạt động mang tính dịch vụ công được Nhà nước cho phép, các dự án và đề tài nghiên cứu.
- Hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước: bao gồm hỗ trợ tài chính trực tiếp bằng nguồn ngân sách hoặc tạo điều kiện về trụ sở làm việc và hỗ trợ gián tiếp thông qua kinh phí chương trình xúc tiến thương mại.
Như vậy có thể thấy, các nguồn tài chính mà hiệp hội có thể huy động là rất lớn và đa dạng, nhưng khả năng hình thành quỹ tài chính của các hiệp hội trên thực tế lại không gặp thuận lợi như vậy. Do yếu tố quyết định khả năng huy động quỹ tài chính của hiệp hội trực tiếp là lợi ích từ các hoạt động của hiệp hội mang lại cho hội viên và xa hơn chính là uy tín của hiệp hội đối với xã hội. Đa số các hội viên của hiệp hội đều cho rằng lợi ích từ việc tham gia hiệp hội đối với hội viên chưa tương xứng với số tiền mà hội viên đóng góp. Các hoạt động xã hội, hoạt động hợp tác quốc tế cũng như vai trò tham mưu cho Chính phủ của các hiệp hội rất yếu, do đó hình ảnh hiệp hội chưa được khắc họa rõ nét trong công chúng và xã hội.
Theo kết quả điều tra các hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn toàn quốc của VCCI năm 2003, tỷ lệ các nguồn tài trợ cho quỹ hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp chỉ chiếm 39%, còn lại là các khoản thu từ việc huy động nội lực trong hiệp hội và một phần rất nhỏ từ các hoạt động dịch vụ [3].
Bảng 2: Cơ cấu quỹ tài chính của hiệp hội doanh nghiệp 2003
Sở dĩ nguồn tài chính của các Hiệp hội còn hạn chế như vậy là vì các hoạt động dịch vụ của các Hiệp hội NHNSXK còn đơn giản, thường là cung cấp thông tin thị trường, tư vấn kinh doanh, xuất bản ấn phẩm, đào tạo, tổ chức đoàn đi khảo sát thị trường xuất khẩu… và chất lượng cung cấp dịch vụ chưa cao. Chính vì vậy, thu phí từ các dịch vụ này hầu như không có, một vài hiệp hội có thực hiện dịch vụ giới thiệu khách hàng cho hội viên nhưng tỷ lệ giao dịch thành công và khối lượng hàng bán được không nhiều do đó phần trăm trích lại cho hiệp hội không đáng kể và bấp bênh.
Về các hoạt động dịch vụ công, thông qua các hợp đồng kinh tế với các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế khác còn gặp khó khăn. Thông thường, để thực hiện các dịch vụ này đòi hỏi lãnh đạo và cán bộ của hiệp hội phải có đủ năng lực để thực hiện các dự án như tham gia xây dựng chính sách pháp luật, chiến lược phát triển ngành hàng… Nhưng ở nước ta, một mặt do năng lực của các hiệp hội, mặt khác các cơ quan quản lý Nhà nước chưa quan tâm và đánh giá đúng vai trò của hiệp hội trong các dịch vụ công, nên thường tự mình đảm trách các công việc này, hoặc phối hợp với các tổ chức sự nghiệp như các viện nghiên cứu, các trường đại học để tiến hành. Do vậy, nguồn thu được từ các hoạt động này của các hiệp hội thường rất ít ỏi.
Nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho các hiệp hội NHNSXK nhìn chung là hạn hẹp và mỗi hiệp hội được hưởng lợi từ sự hỗ trợ của Nhà nước cũng khác nhau. Các Hiệp hội Lương thực, Hồ tiêu và Hiệp hội Chè Việt Nam được hưởng khoản phụ thu từ khối lượng xuất khẩu hàng năm, một số hiệp hội tranh thủ được sự hỗ trợ về trụ sở làm việc, còn lại đa số các hiệp hội được hỗ trợ tài chính thông qua chương trình xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, nguồn kinh phí hỗ trợ này chỉ chiếm từ 7- 10% và giúp hiệp hội trang bị được một số máy tính, xây dựng trang web và tiền vé máy bay cho các hội viên đi khảo sát thị trường xuất khẩu.
Tóm lại, tình hình tài chính của các hiệp hội NHNSXK hiện nay rất hạn hẹp và không ổn định. Với nhiều lý do và nguyên nhân nêu trên, nhìn chung quỹ tài chính của hiệp hội tập trung vào 3 nguồn chính: hội phí, tài trợ của các cá nhân trong và ngoài hiệp hội và nguồn hỗ trợ của Nhà nước; một số hiệp hội tìm nguồn tài trợ của nước ngoài, song không ổn định. Với tình trạng như hiện nay, các hiệp hội NHNSXK đã và đang gặp phải những khó khăn lớn trong công tác tổ chức bộ máy và ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hiệp hội trong việc thực hiện vai trò và chức năng của hiệp hội ngành hàng.
2.2. Tình hình thực hiện chức năng của các Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam
2.2.1 Đại diện quyền lợi
Có thể nói, hiệp hội là ngôi nhà chung cho các hội viên. Giống như các hiệp hội doanh nghiệp nói chung, chức năng chính của các hiệp hội NHNSXK là đại diện và tăng cường quyền lợi cho các hội viên của mình trong các quan hệ trên quy mô cả nước và quốc tế. Về phạm vi trong nước, vai trò đại diện của các hiệp hội NHNSXK thể hiện trên 2 phương diện [3]: (i) bảo vệ quyền lợi cho toàn thể cộng đồng hội viên bằng việc duy trì đối thoại với Chính phủ về luật và chính sách liên quan trực tiếp đến lợi ích hoặc chi phối hoạt động của cộng đồng hội viên là các tác nhân trong chuỗi ngành hàng như người sản xuất, thu gom, chế biến, kinh doanh, xuất khẩu; (ii) bảo vệ quyền lợi chính đáng của từng hội viên riêng lẻ. Trên quy mô và phạm vi quốc tế, hiệp hội NHNSXK đại diện cho cộng đồng hội viên thiết lập các mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, các hiệp hội ngành hàng quốc tế và đại diện cho hội viên giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế.
Về vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi cho toàn thể cộng đồng hội viên [3], trong thời gian qua các hiệp hội đã đóng góp tiếng nói tích cực vào quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường, chính sách phát triển ngành hàng, thể hiện tích cực vai trò đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Các hiệp hội đã bước đầu thể hiện vai trò đại diện, nói lên tiếng nói của doanh nghiệp trước các cơ quan chủ quản và qua phương tiện thông tin đại chúng, qua đó góp phần tích cực vào việc hình thành các văn bản pháp luật, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp như Luật đầu tư trong nước, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật lao động, Nghị định 90 về doanh nghiệp nhỏ và vừa v.v…
Các hiệp hội ngành hàng đã tích cực tham gia cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức cuộc gặp của Thủ tướng với doanh nghiệp, phối hợp với chi nhánh VCCI tại các địa phương tổ chức các cuộc đối thoại giữa chính quyền với doanh nghiệp. Các cơ chế tham khảo ý kiến của các doanh nghiệp thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội ngành hàng đang ngày càng được mở rộng. Các kiến nghị và tác động của các hiệp hội ngành hàng cũng đã tích cực thúc đẩy quá trình đổi mới thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước, dễ nhận thấy nhất đó là việc đổi mới trong khâu đăng ký thành lập doanh nghiệp, thủ tục hải quan, thuế…
Về vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng cho từng hội viên [3], một số vụ việc liên quan đến những vướng mắc cụ thể của các doanh nghiệp, liên quan đến việc thanh tra kiểm tra sự chồng chéo hay việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế dân sự đã được các hiệp hội tích cực tác động, cùng các cơ quan chính quyền tham gia tháo gỡ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sự phối hợp giữa các hiệp hội với các cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương yếu kém và những hạn chế về nguồn lực nên thực tế các can thiệp của hiệp hội trong vai trò đại diện bảo vệ cho những trường hợp hội viên cụ thể về các nảy sinh trong sản xuất kinh doanh là rất hạn chế.
Về vai trò đại diện cho cộng đồng hội viên thiết lập các mối quan hệ hợp tác với các tổ chức, các hiệp hội ngành hàng quốc tế [3], các hiệp hội NHNSXK đã thực hiện khá tốt trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định. Các hiệp hội đã tổ chức các đoàn doanh nghiệp tháp tùng đoàn công tác của Chính phủ ra nước ngoài để thiết lập các mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực phát triển thị trường và ngành hàng. Đa số các hiệp hội hiện nay đang là thành viên của các tổ chức ngành hàng quốc tế, qua đó đại diện cho các tác nhân trong ngành hàng tham gia các diễn đàn quốc tế, thực hiện các cuộc đàm phán, ký kết, trao đổi và làm cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp các nước. Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, các hiệp hội NHNSXK đã tích cực nói lên tiếng nói của hội viên cũng như các tác nhân trong ngành hàng, tích cực bảo vệ lợi ích thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam trong các mối quan hệ thương mại song phương và đa phương. Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam
Về vai trò đại diện cho hội viên giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế [3], trong thời gian qua các hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam tuy chưa vấp phải các vụ kiện về chống bán phá giá như đã xảy ra đối với các mặt hàng thủy sản, dệt may v.v… nhưng những tranh chấp nhỏ như mâu thuẫn trong giao dịch, chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng đúng theo điều kiện hợp đồng, hàng kém chất lượng do lẫn tạp chất v.v… xảy ra khá phổ biến. Trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hoặc khách hàng nước ngoài đều nhờ cậy đến hiệp hội để giúp đỡ giải quyết hoặc lên tiếng can thiệp và các hiệp hội NHNSXK của Việt Nam đã thực hiện khá tốt vai trò của mình. Đầu tiên, hiệp hội tổ chức buổi họp giữa các nhà chuyên môn là các hội viên danh dự của hiệp hội và các doanh nghiệp lớn có kinh nghiệm trong ngành để xem xét hồ sơ và tìm biện pháp giải quyết. Tiếp theo, tùy từng vụ việc cụ thể hiệp hội liên hệ với các cơ quan giám định chất lượng hàng hóa hoặc văn phòng luật sư để tư vấn cho doanh nghiệp các bước tiến hành giải quyết tranh chấp; đồng thời thay mặt doanh nghiệp liên lạc hoặc cung cấp các thông tin mà phía khách hàng yêu cầu. Nhờ đó, các vụ việc được giải quyết nhanh và dứt điểm, giúp doanh nghiệp hội viên tiết kiệm chi phí và tránh những phát sinh từ phía khách hàng có thể dẫn đến những vụ kiện thương mại.
2.2.2 Xúc tiến thương mại
Chương trình xúc tiến thương mại (XTTM) của hiệp hội là một số hoạt động được tổ chức ở nước ngoài nhằm mục đích giúp đỡ hội viên xây dựng mối quan hệ khách hàng, tìm kiếm thị trường và đối tác, tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo để quảng bá tiềm năng ngành hàng hoặc tìm hiểu những quy định cần thiết của thị trường nhập khẩu, tham quan siêu thị, các trung tâm thương mại để tìm hiểu nhu cầu và thị hiếu khách hàng; tham gia các hội chợ, triển lãm để quảng bá sản phẩm, thương hiệu v.v…
Khác với thời gian trước đây thông thường doanh nghiệp tự tìm tòi là chính, không có sự hỗ trợ từ phía các hiệp hội. Kể từ năm 2020 trở lại đây, các hiệp hội đã từng bước thực hiện được vai trò và chức năng của mình trong công tác XTTM, từng bước xây dựng được niềm tin đối với doanh nghiệp hội viên. Để thực hiện được hoạt động này, trước hết phải kể đến sự hỗ trợ mang tính khởi động từ chương trình XTTM trọng điểm quốc gia, các hiệp hội được hỗ trợ một phần kinh phí bao gồm chi phí vé máy bay và chi phí tổ chức hội thảo cho các chuyến đi khảo sát thị trường nước ngoài. Thành công của chuyến đi phụ thuộc chính vào khả năng của hiệp hội, từ công tác tổ chức đoàn, xây dựng kế hoạch chuyến đi, liên hệ với thương vụ Việt Nam ở các nước để tổ chức các hoạt động hội nghị, hội thảo, cho đến việc vận động hội viên tham gia và đóng góp kinh phí.
Kết quả hoạt động XTTM của các hiệp hội là bình quân mỗi năm tổ chức được 2 đoàn đi khảo sát với số lượng 40 hội viên tham dự [3]. Qua việc triển khai, cán bộ hiệp hội đã tích lũy được kinh nghiệm trong công tác tổ chức và triển khai hoạt động XTTM, các hội viên đã có cơ hội giao lưu hợp tác với các bạn hàng quốc tế. Điều quan trọng hơn là một số doanh nghiệp hội viên đã nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích từ các chuyến đi này, sẵn sàng đóng góp kinh phí để hiệp hội tự tổ chức các chuyến khảo sát thị trường theo yêu cầu của hội viên.
Do mới triển khai hoạt động XTTM trong vòng 3 năm trở lại đây nên kết quả XTTM của các hiệp hội vẫn còn hạn chế, nhiều hội viên khó khăn về tài chính chưa tiếp cận chương trình của hiệp hội. Nhiều hội viên tham gia chuyến đi chưa thỏa mãn với các hoạt động trong khuôn khổ chương trình. Tuy nhiên, những thành công bước đầu trong việc triển khai hoạt động XTTM của các hiệp hội đã khích lệ rất lớn đến hiệp hội cũng như các hội viên, mở ra cơ hội mới trong việc đa dạng hóa các chức năng của hiệp hội.
2.2.3 Cung cấp thông tin Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam
Đây là một trong những hoạt động chính của hiệp hội ngành hàng đối với lĩnh vực hoạt động thương mại cho hội viên. Đa số các hiệp hội đều đã xây dựng và thường xuyên cập nhật thông tin trang Web và chuyển thông tin nhanh chóng đến hội viên. Một số hiệp hội đã phối kết hợp với các dự án nước ngoài in và phát hành nhiều ấn phẩm hướng dẫn công nghệ, chuyên môn, quản lý, kiến thức nghề nghiệp, chế biến với những quy trình hiện đại tiên tiến nhất thế giới…dưới dạng CD – Rom để cung cấp cho hội viên kiến thức chuyên sâu về kinh tế, kỹ thuật, giới thiệu sản phẩm mới, cũng như đáp ứng những thông tin cập nhật về các sản phẩm của hiệp hội cung cấp cho khách hàng nước ngoài, góp phần quảng bá nhiều thương hiệu sản phẩm của các hiệp hội trên thị trường quốc tế.
Những hạn chế chủ yếu của công tác thông tin thương mại của hiệp hội ngành hàng là vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu ngày càng cao về thông tin của các hội viên cả về tính cập nhật, độ chi tiết và mức độ phân tích cũng như tổng hợp, đặc biệt đối với hội viên là các doanh nghiệp hoặc nhà máy có quy mô lớn. Các bản tin chuyên đề mang tính tổng hợp, thông tin chi tiết về mùa vụ thu hoạch, sản lượng, cơ cấu sản phẩm còn ít…
Tuy nhiên, công tác thông tin và dịch vụ cho hội viên nhiều khi không triển khai được khiến cho hội viên thấy tác dụng của hiệp hội mờ nhạt và không muốn vào hiệp hội. Trong thời gian tới, hiệp hội ngành hàng cần tập trung cao vào một số dịch vụ chuyên sâu đòi hỏi chất xám cao như tư vấn kinh doanh, thông tin dự báo, thông tin tình báo về động thái thị trường, mặt hàng, giá cả của phía đối tác.
Theo ý kiến của các doanh nghiệp, các hiệp hội đã thực hiện được chức năng này. Trong thời gian gần đây các hoạt động cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp hội viên đang được các hiệp hội ngành hàng thực hiện ngày một tốt hơn.
Bảng 3: Ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp về hoạt động của Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu
Qua kết quả điều tra cho thấy đến nay các Hiệp hội nhìn chung đã có nhiều hoạt động và cung cấp nhiều dịch vụ cho các hội viên và các hội viên cũng tích cực tham dự, tuy vậy, theo đánh giá của các hội viên thì các hoạt động này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của họ. Nói cách khác, việc thực hiện chức năng của các Hiệp hội ngành hàng mới chỉ ở mức có tiến triển.
2.2.4. Đào tào, tư vấn
Đến nay, hiệp hội đã tổ chức các lớp tập huấn về định hướng sản xuất, các quy định về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, các pháp luật quốc tế (bao gồm các hiệp hội Chè, hiệp hội Cà phê – Ca cao, Hiệp hội Điều, Hiệp hội Trái cây,…). Tuy nhiên, chất lượng đào tạo vẫn còn thấp. Các hiệp hội chưa tư vấn cho các thành viên một cách hiệu quả về đầu tư thiết bị công nghệ, chưa có khả năng cung cấp thông tin, phân tích và dự báo chính xác về thị trường trong nước và quốc tế để giúp các doanh nghiệp thành viên định hướng kinh doanh và tránh được rủi ro của thị trường. Khóa luận: Tổng quan chung về ngành nông sản ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Vai trò ngành hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam