Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Tình hình phát triển của ngành sản xuất và kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam.
1. Năng lực, quy mô sản xuất.
Ngành sản xuất và kinh doanh đồ gỗ ở nước ta đang phát triển với một tốc độ nhanh trong những năm gần đây và là một trong những ngành có đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế của cả nước. Điều này không chỉ thể hiện qua những con số thống kê về sự gia tăng quy mô, số lượng các doanh nghiệp mà nó còn được phán ánh qua những giá trị đem lại cho nền kinh tế.
Tính đến hết tháng 3 năm 2009, cả nước có khoảng gần 2600 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ, sử dụng 170000 lao động. So với năm 2000, số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực này hiện thời đã tăng lên gấp 2,5 lần. Nếu phân chia theo loại hình sở hữu thì hiện nay các doanh nghiệp trong ngành bao gồm 4 nhóm doanh nghiệp chính: nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Trong đó, nhóm doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài hay còn được gọi với tên chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện có hơn 420 doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Năng lực chế biến và sản xuất gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đạt vào khoảng 2,2 đến 2,5 triệu m khối một năm với hơn 1300 nhà máy, còn lại là các cơ sở sản xuất nhỏ. Nếu như từ năm 2006 trở về trước, ngành sản xuất đồ gỗ của Việt Nam đứng thứ 4 trong Đông Nam Á thì giờ đây ngành đã đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á và trong năm 2008 vươn lên trở thành quốc gia đứng thứ 4 trên thế giới về hoạt động xuất khẩu.
Giá trị sản phẩm toàn ngành tạo ra cũng như kim ngạch xuất khẩu đều tăng nhanh qua các năm.
Theo tổng kết của hiệp hội sản xuất gỗ, giá trị sản xuất của toàn ngành tăng mạnh trong thời kỳ 2000-2005. Cụ thể là so với năm 2000, giá trị sản xuất năm 2005 tăng gấp 4,44 lần. Giá trị sản xuất năm 2000 đạt 13500 tỷ đồng, năm 2005 đạt 60059 tỷ đồng xẩp xỉ 4 tỷ đô la vào thời điểm đó. Đến giai đoạn 2006-2008, tổng giá trị sản xuất ra còn nhiều hơn, bằng 2,5 lần thời kỳ 2000-2005.
Bên cạnh việc khai thác thị trường trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam còn đẩy mạnh xuất khẩu và hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu toàn ngành. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng khi đồ gỗ của Việt Nam ngày càng thâm nhập sâu vào các thị trường lớn trên thế giới. Hiện tại, cả nước có hơn 450 doanh nghiệp chỉ chuyên sản xuất phục vụ cho xuất khẩu, còn lại phục vụ nhu cầu trong nước hoặc đáp ứng cả hai.
Bảng 1.1. Kim ngạch xuất khẩu của ngành sản xuất đồ gỗ.
Qua bảng tổng kết về kim ngạch, ta có thể thấy sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ. Chỉ sau 7 năm, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành trong năm 2008 đã tăng hơn 7 lần (bằng 744,7%) so với trong năm 2001. Tốc độ tăng trưởng qua từng năm đều ở mức cao, thấp nhất là 16,6% và cao nhất là 87,2 %. Đặc biệt phải kể đến năm 2004 và 2005 với mức tăng trưởng là 87,2% và 51,8%, đây có thể coi là thời điểm bùng nổ của ngành hay nói cách khác là lúc đó các doanh nghiệp trong ngành đã nhận thấy được sức hấp dẫn từ nhiều thị trường lớn ở nước ngoài và biết nhanh chóng nắm bắt lấy cơ hội. Với kim ngạch này, ngành sản xuất đồ gỗ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ 5 của cả nước (chỉ sau dầu thô, giày dép, dệt may và thuỷ sản).
Hiện cả nước có 3 cụm công nghiệp sản xuất và kinh doanh gỗ chính đó là: miền Nam với thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, một số tỉnh ở miền Trung và Tây Nguyên như Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc, khu vực đồng bằng sông Hồng với Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Trong 3 cụm công nghiệp này, Bình Định và Bình Duơng là 2 tỉnh có số lượng các doanh nghiệp và lượng hàng xuất khẩu lớn nhất cả nước. Trong năm 2007, riêng Bình Dương có tới 369 doanh nghiệp, trong đó có 194 doanh nghiệp nước ngoài với vốn đầu tư hơn 700 triệu đô và toàn tỉnh đóng góp gần 40% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của cả nước. Đến hết 10 tháng đầu năm 2008, toàn ngành sản xuất gỗ của Bình Dương đã xuất khẩu được 952,6 triệu đô chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của cả nước [12,3] tức đã tăng hơn hẳn về tỷ trọng so với năm trước đó và tiếp tục là tỉnh dẫn đầu trong hoạt động sản xuất và kinh doanh đồ gỗ.
Phạm vi phân bố các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ không đều. Trong đó, miền Bắc chiếm 14 %, Bắc Trung Bộ chỉ chiếm 6%, còn lại 80% tập trung ở vùng Duyên Hải thuộc Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Nam. Như vậy, khu vực từ giữa miền Trung đổ vào Nam, ngành sản xuất và kinh doanh đồ gỗ phát triển nhanh hơn về mặt quy mô.
Tiềm năng phát triển của ngành sản xuất đồ gỗ ở Việt Nam đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài. Cuối năm 2007 đầu 2008, cả nước có tới 420 dự án đầu tư nước ngoài vào ngành sản xuất đồ gỗ, trong đó có hơn 300 dự án đã thực hiện với tổng vốn đầu tư hơn 330 triệu đô [1,5]. Các nhà đầu tư chủ yếu đến từ Châu Á như Đài Loan, Malaysia, Trung Quốc, Singapore và một số khác như Thuỵ Điển , Na Uy, Đan Mạch, Pháp.
Sự phát triển nhanh chóng của ngành sản xuất đồ gỗ ở Việt Nam tất yếu dẫn đến sự ra đời của các hiệp hội. Ngoài các hiệp hội sản xuất và kinh doanh đồ gỗ thuộc từng địa phương, nước ta hiện nay có 2 hiệp hội chính đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ trên cả nước đó là hiệp hội chế biến gỗ và lâm sản, hiệp hội sản xuất đồ gỗ và mỹ nghệ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Sản phẩm của ngành. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Căn cứ theo mục đích sử dụng, các sản phẩm gỗ của Việt Nam có thể chia làm 4 nhóm chính:
- Nhóm thứ nhất: Nhóm sản phẩm gỗ ngoài trời bao gồm các loại bàn, ghế vườn, ghế xích đu, mái che nắng được làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp với các vật liệu khác như sắt, nhôm, nhựa.
- Nhóm thứ hai: Nhóm sản phẩm gỗ trong nhà bao gồm các loại bàn, tủ, giường, ghế, giá sách, ván sàn làm hoàn toàn từ gỗ hay gỗ kết hợp với các vật liệu khác như da, vải.
- Nhóm thứ ba: Nhóm gỗ mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn, ghế ,tủ có áp dụng các công nghệ trạm, khắc.
- Nhóm thứ tư: Sản phẩm dăm gỗ sản xuất từ gỗ rừng trồng mọc nhanh như gỗ keo, gỗ bạch đàn dùng để sản xuất bột giấy.
Nếu như 3 nhóm hàng sản phẩm gỗ ngoài trời, trong nhà và mỹ nghệ được sản xuất ra là những mặt hàng đã thành phẩm phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày thì sản phẩm dăm gỗ lại là nguyên liệu để phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất bột giấy.
Hiện nay, đóng góp chủ yếu vào giá trị sản xuất cũng như xuất khẩu thì nhóm đồ gỗ ngoài trời vẫn chiếm tỷ trọng nhiều nhất và là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đứng thứ hai là mặt hàng đồ gỗ trong nhà, thứ ba là sản phẩm dăm gỗ và cuối cùng là sản phẩm gỗ mỹ nghệ.
Nếu như các doanh nghiệp thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam chủ yếu sản xuất sản phẩm gỗ ngoài trời, gỗ trong nhà và dăm gỗ thì khu vực phía Bắc lại sản xuất chủ yếu đồ gỗ trong nhà và gỗ mỹ nghệ. Riêng nhóm doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gỗ mỹ nghệ lại có đặc điểm là tập trung chủ yếu ở các làng nghề truyền thống và hiện cả nước có 342 làng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ.
II. Thực trạng môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
1. Môi trường vĩ mô.
1.1. Môi trường kinh tế.
Cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm 2008 đã làm cho doanh thu từ hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ suy giảm so với mức dự kiến ban đầu là 3 tỷ đô la (thực tế đạt 2,8 tỷ đô) . Thời gian đầu của năm 2008, khi khủng hoảng chưa bùng phát và lan rộng, hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ vẫn tăng so với cùng kỳ năm 2007. Nhưng vào giai đoạn 2 tháng cuối năm 2008 và đầu 2009 khi khủng hoảng đã bắt đầu lan rộng, nhiều đơn hàng được kí kết trước đó đã buộc phải giảm số lượng đặt hàng hay bên đối tác ngừng hợp đồng. Mặt khác, số lượng các đơn hàng được kí kết cuối năm 2008 để cung cấp sản phẩm cho nước ngoài trong năm 2009 cũng ít đi. Ngành sản xuất đồ gỗ Viêt Nam trong năm 2008 vừa qua vì vậy chỉ còn tăng trưởng với tốc độ 16% thay vì tăng trưởng nóng trên dưới 30% như mấy năm trước đây. Theo như dự đoán của hiệp chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam, nhu cầu đối với đồ gỗ ngoài trời và đồ nội thất trong nhà – 2 nhóm hàng chính trong tỷ trọng xuất khẩu ở thị trường Mỹ và EU sẽ giảm từ 30-35%. Trong đó, với cuộc khủng hoảng nhà đất và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng ở Mỹ – thị trường chiếm kim ngạch nhiều nhất trong xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam sẽ mất một lượng đơn hàng cũng như doanh thu lớn từ thị trường này Điều này tất yếu dẫn đến sự giảm sút về sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệpẩn xuất đồ gỗ. Từ những nhận định của mình, hiệp hội chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam dự kiến tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ trong năm 2009 chỉ vào khoảng 8-10% với mức 3,2 tỷ đô.
Mặc dù ghi nhận mức doanh thu tăng nhưng có thể nói tỷ suất lợi nhuận đạt được của ngành trong năm 2008 còn khá thấp và sụt giảm so với những năm trước đó. Sở dĩ xảy ra tình trạng này là bởi sự gia tăng của giá dầu mỏ dẫn đến cước vận chuyển tăng trong khi phần lớn nguồn gỗ nguyên liệu của Việt Nam chủ yếu nhập từ nước ngoài. Tại thời điểm giá dầu tăng lên đỉnh điểm 147 đô/ thùng, giá gỗ nguyên liệu nhập về Việt Nam cũng tăng mạnh theo. Trong khi đó, gỗ nguyên liệu mua từ Nam Phi nhập về Việt Nam thì giá cước vận tải chiếm 27% giá thành, từ Nam Mỹ về Việt Nam là 37% và từ khu vực Nam Thái Bình Dương là 45%.[2,4] Mặc dù giá thành cao đến như vậy nhưng các doanh nghiệp vẫn buộc phải mua để thực hiện hợp đồng với đối tác nước ngoài và chỉ có những nguồn gỗ này mới có chứng chỉ FSC-điều kiện kiên quyết để xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU và Mỹ. Theo tính toán của nhiều doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ, khi mức giá dầu tăng lên đến đỉnh điểm, nếu để đảm bảo mức lãi 10% thì doanh nghiệp sẽ phải tăng giá từ 18% tới 20%. Tuy nhiên, do đơn hàng đã ký từ nhiều tháng trước, nếu có điều khoản trong hợp đồng xuất khẩu quy định cho phép 2 bên thoả thuận lại giá khi xảy ra biến động thì phía doanh nghiệp Việt Nam cũng không thể tăng theo đúng mức đó để mà duy trì lợi nhuận được bởi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải giữ khách hàng. Kết quả là nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ thậm chí còn lỗ, số còn lại nếu có lãi thì cũng không cao. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Trong nước, lạm phát lên cao khiến sức tiêu thụ tại thị trường nội địa đối với mặt hàng đồ gỗ giảm mạnh. Thông thường, tỷ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn tốc độ phát triển kinh tế thì là tốt nhưng ở Việt Nam lạm phát đã lên tới 2 con số. Mặc dù lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng CPI ở Việt Nam có nguyên nhân một phần do giá dầu mỏ và một số nguyên liệu trên thế giới tăng nhưng về cơ bản lạm phát cao ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ nhân tố chủ quan có tính cơ cấu của nền kinh tế. Các nước trong khu vực gần Việt Nam như Trung Quốc , Thái Lan, Malaysia, Singapore, Inđônêxia, Hàn Quốc, Đài Loan cũng đều chịu sức ép tương tự của giá cả thế giới nhưng mức độ lạm phát của các nước này vẫn thấp hơn đáng kể so với Việt Nam. Ta có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau:
Nguyên nhân chính của việc lạm phát tăng cao như hiện nay đó là nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả nhưng đã hấp thụ một lượng vốn quá lớn. Tính đến hết năm 2007, lượng vốn chảy vào nền kinh tế Việt Nam là 22 tới 23 tỷ đô (bằng 30% GDP) [8,7]. Sang năm 2008, lượng tiền tệ, tín dụng cũng đạt mức kỷ lục. Trong đó, một lượng tiền tệ, tín dụng lớn thuộc về phía các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có lượng vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng các nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Khối doanh nghiệp nhà nước này đã tiến hành các hoạt động đầu tư không hiệu quả ra ngoài lĩnh vực kinh doanh của chính mình. Khi lượng tiền đổ vào nền kinh tế quá nhiều mà lại được hấp thụ không hiệu quả trong hoạt động sản xuất thì sẽ dẫn đến tình trạng tiền nhiều hơn so với giá trị hàng hoá thực tạo ra và lạm phát là điều tất yếu.
Tiếp đó, đến giữa 2008, lãi suất ngân hàng có xu hướng tăng mạnh. Nguyên nhân là do nhà nước đang thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát nhằm làm giảm lượng tiền lưu thông trên thị trường. Với mức lãi suất cơ bản lên đến 14% từ phía ngân hàng nhà nước đưa ra, lãi suất tại các ngân hàng thương mại tăng mạnh theo và có lúc lãi suất huy động vốn ở nhiều ngân hàng thương mại đã lên tới gần 20%. Lãi suất cho vay theo quy định của ngân hàng nhà nước vào thời điểm đó có thể bằng 21% [11,9] (bằng 150% lãi suất cơ bản) và thực tế là lãi suất cho vay đã đạt đến mức này. Quyết định này đồng thời dẫn đến hạn chế sự tăng trưởng tín dụng nóng. Người dân khi đó đổ đến các ngân hàng thương mại gửi tiền khiến cho vốn huy động tăng lên. Tính đến 3/5/2008 tổng tiền gửi bằng VNĐ đã tăng 19,3% so với năm 2007. Tuy nhiên, điều này càng khiến cho doanh nghiệp gặp khó, nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ buộc phải chấp nhận vay với lãi suất cao để có vốn phục vụ cho kịp sản xuất theo đơn hàng từ phía đối tác.
Đến thời điểm tháng 4/2009, khi tiến hành gói kích cầu, trong đó nhà nước cam kết dành mức hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp thì phần lớn các doanh nghiệp trong ngành sản xuất gỗ lại chưa thể vay được vốn theo mức hỗ trợ này bởi ngân hàng chỉ cam kết cho doanh nghiệp vay khoản vay mới có hỗ trợ lãi suất khi các doanh nghiệp trả hết các khoản nợ theo mức lãi vay cũ. Mặt khác, thời hạn cho vay có hỗ trợ lãi suất chỉ có 8 tháng. Nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ hiện đang gặp khó khăn về vốn trong khi đơn hàng lại không tăng cho rằng thời hạn này vẫn còn ngắn.
Một vấn đề khác nữa trong năm 2008 ảnh hưởng đến doanh nghiệp sản xuất chính là biến động của tỷ giá hối đoái và hoạt động mua bán ngoại tê từ phía các ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp hạn chế về vốn buộc phải đi mua đô lúc tỷ giá VNĐ/ USD ở mức cao để mua nguyên liệu nhập khẩu. Đến khi tỷ giá xuống thấp nhưng do buộc phải đổi tiền để trả lương nhân viên nên những doanh nghiệp này lại phải chấp nhận bán đô với mức giá thấp. Thêm vào đó, có thời điểm thừa ngoại tệ, các ngân hàng còn từ chối mua đô của doanh nghiệp khiến cho doanh nghiệp buộc phải chấp nhận mức quy đổi thấp hơn tỷ giá thực tế để đổi được VNĐ. Đây là nhóm doanh nghiệp chịu thiệt về biến động tỷ giá. Trái lại, lại có những doanh nghiệp lại thu được lợi nhuận từ sự chênh lệch tỷ giá này.
1.2. Môi trường chính trị, pháp luật.
Hoạt động sản xuất và kinh doanh đồ gỗ ở nước ta do phần lớn phải nhập gỗ nguyên liệu và kim ngach xuất khẩu lớn nên chịu tác động bởi khá nhiều chính sách, quy định của nhà nước. Việc các chính sách, quy định này áp dụng như thế nào và thay đổi ra sao đều ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện tại, điều khiến cho ngành sản xuất và kinh doanh đồ gỗ của nước ta gặp khó khăn chính là sự phức tạp và phiền hà trong vấn đề thủ tục hành chính cùng với những sự thay đổi và cách thức công bố thông tin mang tính bất ngờ của các cơ quan quản lý nhà nước.
Cho đến nay, các doanh nghiệp sản xuất gỗ vẫn bị mất nhiều thời gian trong việc kê khai giấy tờ và làm thủ tục hải quan. Theo ý kiến của nhiều lãnh đạo doanh nghiệp, nhiều thủ tục gây rườm rà, lãng phí thời gian cho cả 2 bên như bản cam kết xuất trình chứng từ thanh toán trong vòng 15 ngày hay công văn giải trình khi thực xuất tờ khai mua bán với bên thứ ba. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Tiếp đó, một yếu tố khác ảnh hưởng không kém đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ chính là cách thức thu thuế và hoàn thuế. Cụ thể, đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì thời hạn 60 ngày để giải quyết thủ tục hoàn thuế cho doanh nghiệp là quá dài bởi trên thực tế cơ quan hải quan chỉ tính mốc thời gian giải quyết vấn đề hoàn thuế kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trong đó, hồ sơ muốn được coi là hợp lệ phải có đầy đủ các chứng từ bản gốc. Điều này là hoàn toàn gây khó khăn cho doanh nghiệp bởi nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng có thời hạn thanh toán là từ 3 đến 6 tháng. Như vậy, phải sau từ 3 đến 6 tháng sau, doanh nghiệp mới có đầy đủ chứng từ gốc. Kết quả là phải đợi từ 3 đến 6 tháng cùng với một khoảng thời gian trong 60 ngày, doanh nghiệp mới nhận được tiền hoàn thuế. Trong khi đó, để thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn phải đi vay vốn mua nguyên liệu. Nhận được tiền hoàn thuế chậm đồng nghĩa với việc họ sẽ không có tiền sớm để trả bớt nợ ngân hàng và phải chịu thêm chi phí lãi vay. Đó là chưa kể đến việc doanh nghịêp sẽ không có đủ vốn để thực hiện đơn hàng khác trong thời gian đó và bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh. Thêm vào đó, theo báo cáo về môi trường kinh doanh ở Việt Nam trong năm 2008, Việt Nam vẫn thuộc trong nhóm các nước tiêu tốn nhiều thời gian nhất để đáp ứng các yêu cầu về thuế. Trung bình, các doanh nghiệp Việt Nam mất tới 1050 giờ tức tương đương với 130 ngày làm việc của một nhân viên để hoàn tất các thủ tục về thuế [10,4].
Ngoài ra, việc ngày 23/9/2008 bộ tài chính ban hành bất chợt công văn số 11270 với quyết định đánh thuế 10% đối với các mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu đã gây ra bức xúc cho doanh nghiệp và không phù hợp với tình hình thực tế bởi gần như 100% đồ gỗ mà các doanh nghiệp xuất đi là lấy từ nguồn nguyên liệu nước ngoài chứ không phải lấy từ nguồn tài nguyên trong nước. Điều này hoàn toàn trái với chính sách ưu tiên của chính phủ cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất không sử dụng tài nguyên trong nước. Thuế tăng nhưng doanh nghiệp không thể nào tăng giá phần vì để giữ khách hàng và một phần là do giá hàng đã được ký trong hợp đồng từ nhiều tháng trước đó dẫn đến lợi nhuận của những lô hàng buộc phải xuất đi để giao vào thời điểm đó giảm mạnh, nhiều doanh nghiệp thậm chí không có lãi. Mặc dù đến đầu năm 2009, chính phủ đã giảm thuế về mức 0% nhưng qua đó có thể thấy rằng việc ban hành các chính sách quy định theo kiểu bất ngờ và không có sự tham gia lấy ý kiến ngành của cơ quan quản lý nhà nước đã làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, chưa tạo được môi trường thuận lợi, ổn định cho ngành.
Bên cạnh đó, thời hạn 275 ngày cho việc nộp thuế nhập khẩu nguyên vật liệu dường như vẫn chưa đủ đối với nhiều doanh nghiệp có số lượng đơn hàng lớn như hiên nay. Thời hạn này vẫn còn ít hơn nhiều so với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ. Sau mỗi lần xuất hàng, mặc dù mức doanh thu đã được ghi nhân vào sổ sách nhưng phải thực tế là một thời gian sau tiền hàng mới được thu về. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, lượng tiền thu về sớm cần được doanh nghiệp ưu tiên cho trả nợ ngân hàng trước do số vốn vay thường lớn và nhiều khi vượt quá vốn chủ sở hữu.
Cuối cùng, một chính sách khác hiện cũng khiến cho doanh nghiệp gặp bất lợi không kém đó chính là quy định liên quan đến giao thông. Tại các cảng thuộc khu vực miền Nam – nơi diễn ra hoạt động nhập khẩu của các khu vực sản xuất đồ gỗ lớn, sở giao thông vận tải tại đây đã ban hành luật không cho các xe container chở quá trọng tải 25 tấn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhập gỗ về có số lượng lớn hơn đây rất nhiều và mỗi container nhập về thường có trọng tải 30 tấn. Do vậy, doanh nghiệp buộc phải mất thêm chi phí thuê, san, xếp hàng sang container khác và phí chuyên chở.
1.3. Môi trường công nghệ. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Tính chung toàn ngành, công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất gỗ Việt Nam vẫn còn thấp so với thế giới và các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Malaysia, Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan trong hoạt động xuất khẩu. Mặc dù các bản thân các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ Việt Nạm cũng có chú trọng đến việc trích giữ lợi nhuận để đầu tư cho máy móc thiết bị nhưng máy móc thiết bị mua về dù là mới hay cũ thì cũng để chủ yếu phục vụ cho một vài phần của công đoạn sản xuất như cắt, gọt, sấy, phun sơn, đánh bóng, chứ chưa phải toàn bộ quy trình sản xuất. Đây là một điều dễ hiểu bởi ngoài việc hạn chế về vốn, các doanh nghiệp dù có đủ tiền để đầu tư cả một dây chuyền lớn hiện đại và đồng bộ thì cũng hoàn toàn không cần thiết so với nhu cầu và công suất hoạt động thực tế mà doanh nghiệp cần.
Các loại máy móc, công nghệ dùng cho sản xuất và gia công gỗ ở Việt Nam chủ yếu là máy nhập khẩu của Đức, Ý, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan và một phần là sản xuất trong nước. Ở đây có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm doanh nghiệp. Với nhóm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có vốn FDI lớn, các loại máy của Đức, Ý, Nhật Bản chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn lại là máy của Trung Quốc, Đài Loan. Thêm vào đó, tỷ lệ máy đã qua sử dụng của nhóm doanh nghiệp này cũng chiếm ít hơn. Trái lại, nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ máy nhập cũ và đã qua sử dụng nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu xét một cách toàn diện thì phần lớn máy móc của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là máy qua sử dụng, chất lượng chưa cao và nhiều máy đã lạc hậu.
1.4. Môi trường văn hoá, xã hội.
Trong những năm gần đây, do đời sống trong nước ngày một tăng cao cùng với việc chính phủ tiến hành cắt giảm thuế đối với các mặt hàng đồ gỗ nhập khẩu khi gia nhập WTO nên các sản phẩm đồ gỗ ngoại nhập ở thị trường Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Mẫu mã phong phú, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của người dân nên đồ gỗ trong nước đang trở nên yếu thế so với đồ gỗ nhập ngoại mặc dù mặt hàng đồ gỗ ngoại nhập có giá thành cao hơn so với hầu hết đồ gỗ sản xuất trong nước.
Trong thị trường đồ gỗ cao cấp phục vụ đối tượng khách hàng có thu nhập cao, sản phẩm nhập ngoại gần như chiếm lĩnh tuyệt đối và đáp ứng thị hiếu của nhóm khách hàng này do sự vượt trội về công nghệ, kiểu dáng lẫn chất lượng.
Tuy nhiên, một số doanh nghiệp trong nước hiện nay đã có những bước đi khá khôn ngoan khi liên kết và sử dụng hình ảnh, thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài vốn được nhiều người tiêu dùng yêu thích cho sản phẩm gỗ của mình. Ví dụ như việc một số hãng sản xuất sản phẩm đồ gỗ cho trẻ em đã ký kết với WaltDisney hợp đồng cho phép các công ty này sử dụng hình ảnh nhân vật hoạt hình của hãng cho sản phẩm và đã khá thành công. Đây là những doanh nghiệp đã biết tạo dựng lợi thế của phía đối tác nước ngoài để xâm nhập thị trường ngách đồng thời còn nâng cao được thương hiệu cho bản thân mình. Cụ thể là nhóm doanh nghiệp này đã biết nắm bắt đúng thị hiếu của nhóm khách hàng trẻ em.
1.5. Môi trường tự nhiên. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Trong ngành công nghiệp sản xuất đồ gỗ, rừng là một yếu tố tự nhiên không thể thiếu. Hiện nay, diện tích rừng toàn quốc là 12,61 triệu ha (độ che phủ rừng 37%) [6,2], trong đó 10,28 triệu ha rừng tự nhiên và 2,33 triệu ha rừng trồng, được phân loại theo chức năng sử dụng thành ba loại rừng: rừng đặc dụng 1,93 triệu ha, rừng phòng hộ 6,2 triệu ha và rừng sản xuất 4,48 triệu ha.
Tuy nhiên, do diện tích rừng ở nước ta đang bị chặt phá và sụt giảm nhiều nên chính phủ đã tiến hành siết chặt lại các quy định về quản lý và bảo vệ rừng. Cụ thể là chính phủ đã đề ra chiến lược hạn chế khai thác gỗ rừng trong nước kể từ trước năm 2000 và triển khai các dự án trồng rừng. Theo các chính sách này, lượng gỗ được phép khai thác từ rừng tự nhiên sẽ giảm và chỉ một số doanh nghiệp sẽ được nhà nước giao cho quản lý, khai thác một phần và phải làm nhiệm vụ gieo trồng, tái tạo. Những doanh nghiệp còn lại nếu muốn sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ trong nước có thể xin cấp đất trồng rừng và sau này sẽ được toàn quyền khai thác, tái tạo khu rừng đó.
Trong những năm trước đây, sản lượng gỗ tròn khai thác từ rừng tự nhiên có năm đã đạt đến mức cao nhất 1,8 triệu m3 gỗ tròn/năm, sau đó lượng gỗ khai thác giảm dần chỉ còn 500.000 m3/năm (từ năm 2000-2003), đến năm 2004 là 300.000 m3/năm và năm 2005 chỉ khai thác 150.000 m3/năm. Theo dự tính, sản lượng khai thác gỗ rừng tự nhiên năm 2008 là 180.000 m3[6,3]. Theo tài liệu của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác năm 2006, trữ lượng gỗ rừng trồng cả nước có khoảng 35,6 triệu m3 gỗ, chiếm 4,1% tổng trữ lượng gỗ cả nước.Với trữ lượng rừng hàng năm có thể khai thác khoảng từ 1,5 – 2 triệu m3/năm trên thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Nhu cầu bình quân hàng năm từ nguyên liệu gỗ rừng trồng cho công nghiệp chế biến khoảng 3 – 4 triệu m3/năm. Đến nay tiến độ trồng rừng sản xuất mới đạt khoảng trên 30% kế hoạch (613.093 ha/2 triệu ha). Cả nước hiện có 720.000 ha rừng trồng có thể cung cấp nguyên liệu gỗ nhưng đa phần là chất lượng thấp, chỉ có thể làm nguyên liệu cho ván nhân tạo, gỗ dăm.
Do gỗ lớn từ rừng tự nhiên trong nước chỉ mới đáp ứng cho xây dựng cơ bản và một phần sản xuất đồ mộc trong nước nên chủ yếu nguồn gỗ lớn phải dựa vào nguồn nhập khẩu. Để bù đắp lại mức thiếu hụt nguyên liệu, hàng năm Việt Nam phải nhập hàng triệu m3 gỗ các loại để sản xuất hàng xuất khẩu.
1.6. Toàn cầu hoá.
Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và việc gia nhập WTO đã đem lại cả cơ hội lẫn thách thức cho ngành sản xuất gỗ.
Trước tiên, sản phẩm gỗ của Việt Nam có cơ hội thâm nhập sâu hơn ra thị trường thế giới và điều này đã được minh chứng cụ thể qua sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu trong nhiều năm gần đây. Bên cạnh đó, tiềm năng phát triển của ngành cũng tạo sức hút để thu hút đầu tư nước ngoài, nhiều dự án đầu tư lớn góp phần giải quyết tình trạng việc làm và đem lại lợi ích về thuế cho nhà nước.
Hiện tại, so với các nước khác cũng xuất khẩu mạnh các sản phẩm đồ gỗ và là đối thủ cạnh tranh chính của các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam như Trung Quốc, Malaysia, Inđônêxia, Thái Lan, hàng Việt Nam đang có lợi thế lớn khi được EU cho hưởng mức thuế quan ưu đãi GSP với mức thuế suất chủ yếu là 0%, một số chịu thuế 2,1% .Trong khi đó, sản phẩm đến từ các nước đó không được hưởng mức thuế này. Bởi vậy, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ của Việt Nam cần phải biết tận dụng ưu thế này để gia tăng thị phần ở EU so với đối thủ.
Tuy nhiên, khi sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu có xu huớng gia tăng tại thị trường các nước lớn thì cũng là lúc doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với sự xuất hiện của những hình thức bảo hộ thương mại. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Đối với thị trường Mỹ, cơ quan quản lý nước này đã ban hành 2 đạo luật là nhằm quản lý chặt chẽ các mặt hàng nhập vào thị trường nước này. Đạo luật đầu tiên là Farm Bill ban hành năm 2008. Cụ thể, mục 8204 trong đạo luật này quy định “trong thương mại giữa các bang và với nước ngoài, cấm mọi hoạt động xuất nhập khẩu , vận chuyển hoặc mua bán mất kỳ thực vật nào được đốn hạ, thu hoạch ,sở hữu, vận chuyển, hoặc mua bán trái với các điều luật, quy định của bất kỳ bang nào hoặc của bất kỳ pháp luật nước ngoài nào về bảo vệ, quản lý thực vật hoặc về các loại thuế và phí liên quan đến việc khai thác thực vật”. Mặc dù phạm vi điều chỉnh của quy định này còn nêu chung chung nhưng với cách dùng từ kiểu này có thể thấy rằng phạm sẽ rất rộng và chắc chắn bao gồm các sản phẩm làm từ gỗ. Để đối phó với các vấn đề phát sinh, chắc chắn các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến nguồn gốc xuất xứ của nguyên liệu xuất khẩu cũng như trị giá xuất khẩu, các loại giấy tờ có liên quan đến sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho nhà nhập khẩu. Ngoài ra, Farm Bill 2008 cũng quy định riêng chương trình khai báo khi nhập khẩu một số loại gỗ xẻ mềm (mục 830). Chương trình này yêu cầu các nhà nhập khẩu gỗ xẻ mềm và các sản phẩm từ loại gỗ này phải cung cấp thông tin, khai báo về nguồn gốc xuất xứ, kèm theo tài liệu tóm tắt. Tiếp đó, còn phải kể đến đạo luật Lacey. Đạo luật này sẽ bắt đầu có hiệu lực vào cuối năm 2009 đầu 2010 cũng nhằm mục đích thắt chặt hơn việc kiểm soát nguồn gốc sản phẩm gỗ.
Tại thị trường EU, uỷ ban EU thông qua hiệp định “Tăng cường thực thi Luật Lâm Nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ” (FLEGT). Theo đó, tất cả các chuyến hàng đồ gỗ xuất khẩu vào thị trường này sẽ được cơ quan thẩm quyền cấp phép chỉ sau khi kiểm tra tính hợp pháp của các lô hàng thông qua các bằng chứng gốc. Về vấn đề này, người đại diện của EU cho biết: “EU sẽ không bắt nước xuất khẩu kiểm soát nguồn gốc gỗ nếu không đưa ra động cơ khuyến khích, tức là mở rộng thị trường châu Âu cho những nước đó. EU thuyết phục đối tác của mình cần phải thực hiện FLEGT, đổi lại EU có các chương trình hỗ trợ về xúc tiến thương mại sản phẩm gỗ hợp pháp”. Như vậy, sản phẩm gỗ của Việt Nam khi vào thị trường EU phải có chứng chỉ về nguồn gốc. Hiện chỉ có “chứng chỉ rừng” của hội đồng quản trị rừng thế giới FSC (Forest Stewardship Council) mới được EU chấp nhận làm bằng chứng chứng minh tính hợp pháp của nguồn gốc sản phẩm gỗ. Đó là chứng chỉ theo dõi sản phẩm gỗ từ khi còn là nguyên liệu gỗ thô đến khi trở thành sản phẩm. Theo hội đồng này “Chứng chỉ rừng” được sử dụng để bảo đảm với người tiêu dùng rằng và tất cả những ai quan tâm đến bảo vệ rừng và môi trường rừng rằng sản phẩm gỗ có chứng chỉ được sản xuất trên cở rừng được tái tạo lâu dài, không làm giảm tính đa dạng sinh học của rừng và không ảnh hưởng đến môi trường. Để được cấp chứng chỉ này, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gỗ của Việt Nam phải chấp nhận hoạt động theo các điều kiện nhất định ví dụ như: gỗ làm ra sản phẩm chỉ được khai thác từ rừng trồng, rừng không có nguy cơ bị diệt chủng, phải đảm bảo tính đa dạng sinh học, chức năng phòng hộ, đồng thời phải đảm bảo nâng cao thu nhập người lao động làm nghề rừng.
Chưa dừng lại ở đó, trước sự phát triển nhanh của ngành sản xuất gỗ Việt Nam, nhiều tổ chức đã đưa ra những bình luận chưa chính xác và không có căn cứ về nguồn gốc nguyên liệu gỗ của Việt Nam. Hai tổ chức EIA (Enviromental Investigation Agency) ở Anh và Telapak của Inđônêxia đã cáo buộc Việt Nam là trung tâm chế biến gỗ bất hợp pháp của thế giới với những số lượng lớn gỗ lậu nhập về từ Lào. Mặc dù chưa đưa ra bằng chứng nhưng rõ ràng là những phát ngôn kiểu này rất dễ tác động và gây ảnh hưởng đến uy tín ngành sản xuất đồ gỗ Việt Nam. Sau vụ việc này, một số đối tác nhập khẩu nước ngoài đã yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam giải trình.
2. Môi trường ngành. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
2.1. Khách hàng.
Ngoài phục vụ cho khách hàng tiêu dùng nội địa, đồ gỗ Việt Nam còn xuất khẩu mạnh ra thị trường nước ngoài và hiện đã có mặt trên 120 nước trên thế giới. Trong đó những thị trường chính và đem lại nguồn thu chủ yếu đó là Mỹ, EU, Nhật Bản. Giữ vị trí đầu tiên vẫn là Mỹ, thứ hai là EU rồi đến Nhật Bản. Trong số các nước EU, Đức, Anh, Pháp ,Thuỵ Điển, Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha là những nước tiêu thụ nhiều nhất. Đây là những thị trường mà người dân có thu nhập, đời sống cao nên nhu cầu tại những thị trường này tăng mạnh qua các năm tạo thuận lợi đáng kể cho các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam. Cụ thể là kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ đã tăng từ 115,46 triệu đô năm 2003 lên thành 900 triệu đô năm 2007, thị trường EU tăng từ 160 triệu đô năm 2003 lên thành 500 triệu đô năm 2006 và 600 triệu đô năm 2009 , Nhật Bản từ 137,9 triệu đô năm 2003 lên 286,8 triệu đô năm 2006. Ngoài ra, còn một số thị trường khác cũng có kim ngạch xuất khẩu lớn chỉ sau 3 thị trường trên như Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc. Đến thời điểm đầu 2009, mặc dù doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu chuyển hướng mở rộng sang một số thị trường khác nhưng nói chung kim ngạch xuất khẩu theo thị trường của ngành sản xuất gỗ vẫn không có sự thay đổi nào đáng kể với tỷ trọng sau:
Bảng 2.3. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam phân theo thị trường 2 tháng đầu năm 2009.
Hạn chế lớn nhất đối với một số doanh nghiệp chính là sự phụ thuộc vào khách hàng ở thị trường xuất khẩu. Những doanh nghiệp này do không có được hệ thống phân phối rộng và sản phẩm bán được ít ở thị trường trong nước nên chủ yếu quay ra làm theo đơn hàng của khách hàng nước ngoài để thu lợi nhuận. Tuy nhiên, vấn đề phụ thuộc còn trở nên nghiêm trọng hơn đối với những doanh nghiệp không có khách hàng thường xuyên hay không có thị trường tiêu thụ rộng. Khi đơn hàng giảm hay bị ngừng, nhóm doanh nghiệp này sẽ gặp khó khăn hoặc dễ xảy ra tình trạng giảm giá sản phẩm để giành giật khách hàng.
Nhìn chung, với sự lựa chọn đa dạng các nhà sản xuất và cung ứng sản phẩm như hiện nay, khách hàng trong lẫn ngoài nước là người nắm ưu thế và tạo áp lực đến các doanh nghiệp.
Riêng có nhóm doanh nghiệp lớn, đặc biệt là khối các tập đoàn đa lĩnh vực ở Việt Nam như Hoàng Anh Gia Lai, Hoà Phát và một số doanh nghiệp FDI do có hệ thống phân phối đầu ra lớn và mạng lưới kinh doanh tại nhiều nước trên thế giới nên rủi ro về việc bị ảnh hưởng khi khách hàng cắt đơn hàng là không cao và có thể không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
2.2. Nhà cung cấp. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ Việt Nam bị phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp từ bên ngoài. Hàng năm, nguyên liệu gỗ phải nhập chiếm đến 80% do trong nước không đáp ứng đủ. Các nhà cung cấp gỗ cho Việt Nam đến từ nhiều nơi trên thế giới tuy nhiên không có nhà cung cấp nào có lợi thế hoàn toàn trong khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu. Nguồn gỗ nhập khẩu từ các nước trong Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Malaysia, Inđônêxia gần nhưng thường không ổn định do chính sách lâm sản của các quốc gia hay thay đổi, trong khi nguồn nhập khẩu từ các quốc gia khác như New Zealand, Úc, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Canađa, Mỹ, Braxin, Châu Phi ổn định nhưng lại cách xa nên phí vận chuyển cao, làm cho giá thành nguyên liệu tăng, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam. Ngoài ra, do ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển nên máy móc, thiết bị, công cụ gia công và các loại nhiên liệu khác như sơn, vecni cũng phải nhập. Đây là một bất lợi bởi nó sẽ dẫn đến việc nguồn cung đầu vào của doanh nghiệp dễ thay đổi thường xuyên do biến động từ nước cung cấp, hoạt động mua bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. Mặt khác, cũng chính vì phải nhập nguyên liệu nên cho dù có nguồn cung cấp ổn định đi chăng nữa thì chi phí đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam vẫn cao so với nhiều nước xuất khẩu đồ gỗ khác.
Đối với nguồn nguyên liệu gỗ trong nước, nguồn cung cấp đến từ các lâm trường hay các khu rừng mà nhà nước cho phép doanh nghiệp khai thác, quản lý, tái tạo. Tuy nhiên, những nguồn nguyên liệu này phần lớn chỉ có thể dùng để phục vụ cho sản xuất đồ gỗ trong nước và một số thị trường nước ngoài không đòi hỏi chứng chỉ rừng FSC bởi cho đến thời điểm này (đầu 2009), cả nước chỉ có một khu rừng ở Quảng Nam được công nhận đạt tiêu chuẩn của hội đồng quản trị rừng thế giới. Do vậy , chỉ có duy nhất nguồn gỗ thuộc khu rừng này được cấp chứng chỉ FSC. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng sản phẩm gỗ có chứng chỉ FSC đã trở nên bắt buộc tại các thị trường lớn. Bởi vậy, khi khách hàng tại các thị trường lớn đặt hàng, doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ trong nước vẫn phải mua gỗ có chứng chỉ FSC từ nước ngoài cho dù loại gỗ đó có ở trong nước hay không. Ví dụ như loại gỗ dầu nhập từ Malaysia, thông thường nếu nhập doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra 105 đô/ m3 trong khi giá bán trong nước là 80 đô/ m3. Rõ ràng nếu mua trong nước sẽ rẻ hơn 30% và giảm chi phí nhưng doanh nghiệp vẫn buộc phải nhập do có chứng chỉ FSC.
Hiện nay, nhiều đơn vị được nhà nước giao cho trồng rừng để cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ cho hoạt động sản xuất do chạy theo lợi nhuận trước mắt đã khai thác cây non (từ 5-8 tuổi) để bán cho các doanh nghiệp sản xuất bột giấy của nước ngoài bán với giá trung bình 70 USD/tấn, thậm chí có lúc chưa tới 50 USD/tấn thấp hơn nhiều so với gỗ truởng thành dùng để sản xuất [4,12]. Điều này rõ ràng đã ngăn cản các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ đầu tư xây dựng cơ sỏ tại các khu vực này do lo sợ khi hoàn thành nhà máy xong thì họ sẽ không có đủ gỗ lớn cho sản xuất. Hơn thế nữa, nó hoàn toàn đi ngược lại với chính sách trồng rừng để đẩy mạnh nguồn gỗ nguyên liệu trong nuớc. Đây là một vấn đề bất cập cần được giải quyết.
2.3. Đối thủ cạnh tranh hiện tại. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Thị trường trong nước, sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam bên cạnh hoạt động cạnh tranh lẫn nhau giờ còn phải cạnh tranh mạnh đối với hàng ngoại nhập. Theo tổng kết của văn phòng uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, trong khi các doanh nghiệp gỗ Việt Nam mải mê xuất khẩu thì đồ gỗ ngoại đã chiếm đến 80% thị trường trong nước. Mẫu mã phong phú, cách thức phân phối, tổ chức bán hàng tốt nên dù giá cả đắt hơn hàng nội 30% – 50% vẫn được người tiêu dùng ưa chuộng. Các sản phẩm gỗ của Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, một số nước EU trên thị trường Việt Nam đang dần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và giá cả có xu hướng giảm theo mức thuế nên nhanh chóng được người tiêu dùng đón nhận. Tại các cửa hàng, đại lý phân phối mà không phải của riêng một doanh nghiêp sản xuất trong nước và là nơi tập trung của nhiều loại sản phẩm gỗ có nguồn gốc khác nhau, sản phẩm gỗ ngoại giờ đây chiếm tỷ lệ lớn. Như vậy, khả năng cạnh tranh của hàng nội đang trở nên yếu đi.
Trái ngược lại thị trường nội địa, thị trường xuất khẩu lại đánh dấu sự vươn lên mạnh mẽ của doanh nghiệp Việt Nam. Hết năm 2008, việc kim ngạch đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đạt mức 2,8 tỷ đô vượt qua nhiều nước xuất khẩu mạnh khác như Inđônêxia, Thái Lan đã cho thấy khả năng lôi kéo khách hàng nước ngoài đến với sản phẩm gỗ Việt. Tuy nhiên, sự vươn lên trong khả năng cạnh tranh lôi kéo đơn hàng nước ngoài chủ yếu đến từ yếu tố giá cả chứ không phải chất lượng. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài chọn Việt Nam vì mức giá phải trả thấp, thậm chí nhiều lúc họ còn được lợi lớn do bản thân các doanh nghiệp Việt Nam tự nguyện giảm giá để tranh nhau đơn hàng. Bên cạnh đó, nếu xét về khả năng cạnh trạnh về giá thì Việt Nam vẫn thua Trung Quốc, Malaysia bởi doanh nghiệp tại các quốc gia này có phần lớn có lợi thế hơn về quy mô, năng suất cao hơn và chi phí đầu vào thấp hơn so với các doanh nghiệp Việt Nam nên tỷ suất lợi nhuận của họ thường cao hơn.
Do đó, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng tay nghề công nhân, năng suất, đổi mới sản phẩm và đẩy nhanh tiến độ trồng rừng nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu nguyên liệu trong nuớc mới là bước đi đúng để tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp chứ không phải chỉ dựa vào giá cả.
2.4. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Việc để mất thị trường trong nước vào tay các doanh nghiệp nước ngoài sẽ có thể tăng nếu như nhiều hãng sản xuất đồ gỗ hàng đầu của thế giới đặt nhà máy sản xuất tại Việt Nam. Hiện tại, các doanh nghiệp sản xuất gỗ của nước ngoài đặt cơ sở sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là để phục vụ xuất khẩu, một số ít là bán cả trong nước. Những sản phẩm gỗ chất lượng cao với thiết kế mẫu mã đẹp ở nước ta chủ yếu đến từ các nước có trình độ tiên tiến. Nhóm sản phẩm này vào nước ta bằng con đường nhập khẩu và phân phối thông qua các đại lý trong nước hay qua các công ty xuất nhập khẩu. Giá thành sản phẩm của chúng là khá cao so với sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất trong nước nên thị trường tiêu thụ sản phẩm này thường rơi vào đối tượng khách hàng có thu nhập cao. Trong khi đó, rào cản để gia nhập thị trường Việt Nam và trở nên phổ biến đối với những dòng sản phẩm chất lượng cao đến từ nước ngoài chính là chí phí và giá thành. Nếu giá thành giảm, chúng hoàn toàn có thể được người dân Việt Nam mua và sử dụng rộng rãi. Bởi vậy, một khi các hãng sản xuất đồ gỗ danh tiếng đó đặt được cơ sở sản xuất tại Việt Nam, giá thành sản phẩm chắc chắn sẽ được giảm đi và phù hợp với khả năng của nhiều người tiêu dùng trong nước. Hai sản phẩm có mức giá không chênh lệch mà chất lượng lại khác nhau thì chắc chắn ưu thế sẽ nghiêng về sản phẩm của nước ngoài.
2.5. Sản phẩm thay thế.
Trong số các mặt hàng đồ gỗ, trừ các mặt hàng như giường, tủ, bàn, ghế – những mặt hàng mà người tiêu dùng có thói quen dùng đồ gỗ thì chỉ có duy nhất mặt hàng cửa sổ, cửa ra vào là đang phải chịu sự cạnh tranh với các dòng sản phẩm có khả năng thay thế khác. Sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp sản xuất các loại cửa ra vào bằng khung nhôm hay kim loại đã làm cho thị trường tiêu thụ sản phẩm cửa làm bằng gỗ bị giảm. Do cửa khung nhôm hay kim loại có mức giá rẻ hơn so với cửa gỗ trong khi giá gỗ lại có xu hướng tăng, vì vậy mà người tiêu dùng đang có xu hướng dich chuyển sang sử dụng các loại cửa này. Tại các dự án về bất động sản và xây dựng trong nước, cửa khung nhôm hay kim loại đang ngày càng được chủ đầu tư và người dân dùng nhiều hơn để tiết kiệm chi phí. Trong tương lai, việc sử dụng cửa khung nhôm hay kim loại chắc chắn còn tăng nhiều hơn nữa.
3. Môi trường nội bộ doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
3.1. Hoạt động Marketing.
Hệ thống phân phối giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt rõ rệt. Đối với thị trường trong nước, khối doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã có hệ thống phân phối trải rộng trên khắp toàn quốc còn nhóm các doanh nghiệp nhỏ hơn thì lại có hệ thống cửa hàng, đại lý phân phối tập trung chủ yếu tại một khu vực hay địa bàn. Riêng chỉ có nhóm doanh nghiệp nhỏ phụ thuộc xuất khẩu là gặp khó khăn trong xây dựng hệ thống phân phối. Sở dĩ xảy ra điều này là bởi nhóm doanh nghiệp này không có đủ vốn. Họ không quen với việc vừa phải đi từng cửa hàng, đại lý để tiếp thị sản phẩm theo kiểu nhỏ giọt, vừa phải tập trung sản xuất. Trong khi đó, nếu làm ăn với đối tác nước ngoài họ có thể bán được hàng chục container một lúc. Do vậy, có bao nhiêu vốn trong tay là họ dồn vào để mua nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu hết thay vì đầu tư xây dựng cửa hàng riêng cho mình.
Đối với thị trường nước ngoài, chỉ có một số các doanh nghiệp lớn, tập đoàn trong nước và khối doanh nghiệp FDI là mở được văn phòng đại diện, chi nhánh cũng như hệ thống cửa hàng, đại lý để trực tiếp bán sản phẩm. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lại chủ yếu là bán hàng thông qua các công ty trung gian hoặc gia công theo yêu cầu từ phía nước ngoài. Bởi vậy, khối doanh nghiệp này không có khả năng tạo dựng được thương hiệu cho sản phẩm gỗ Việt. Tuy nhiên, đây cũng là điều không thể tránh khỏi do các doanh nghiệp bị hạn chế về vốn trong khi nguồn thu lại phụ thuộc chủ yếu vào đơn hàng của đối tác nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Về hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại, có thể nói đây là hoạt động được nhóm doanh nghiệp sản xuất dành nhiều ưu tiên về ngân sách nhất, đặc biệt là khối doanh nghiệp xuất khẩu. Đối với thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam rất tích cực tham gia vào các hội chợ, triển lãm thương mại quốc tế để quảng bá sản phẩm. Trái lại, đối với thị trường trong nước, doanh nghiệp chủ yếu quảng bá qua báo chí hoặc qua nhiều phương tiện khác có mức chi phí thấp, chỉ có một số ít là qua phương tiện truyền thông nhưng không thường xuyên.
3.2. Hoạt động tài chính kế toán.
Với các doanh nghiệp lớn, tỷ lệ vay của khối doanh nghiệp này thường ít và khả năng thanh khoản cao. Bởi vậy, khối doanh nghiệp này không phải chịu áp lực từ nợ vay cũng như áp lực từ sự chậm trễ trong việc hoàn vốn và hoàn thuế. Trái lại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại gặp khá nhiều khó khăn phát sinh từ vấn đề này và nhiều doanh nghiệp thậm chí còn hoạt động khá mạo hiểm. Điều này xảy ra khi họ ký được hợp đồng có giá trị lớn nhưng vượt quá khả năng của vốn chủ sở hữu, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp này phải đi vay vốn với tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với vốn chủ sở hữu. Bởi vậy, nếu tiền hàng bị chậm thu hồi hay bên khách hàng huỷ hợp đồng hay cắt giảm đơn hàng bất chợt, ngay lập tức khối doanh nghiệp này sẽ lâm vào tình trạng khó khăn do không xoay đâu ra đủ tiền trả ngân hàng do toàn bộ vốn mà họ vay đã đổ hết vào việc mau nguyên liệu. Theo điều tra của tổ chức kỹ thuật GTZ của Đức, nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ vốn chủ sở hữu rất thấp chỉ vào khoảng trên dưới 20%, trong khi đó nợ phải trả đến 70% [1,8]. Phần lớn tài sản dưới dạng vốn lưu động là nguyên vật liệu dự trữ và thành phẩm trong kho chờ xuất bán hoặc sản phẩm đã giao nhưng chưa thu được tiền. Đây cũng chính là vấn đề đáng nói nhất cuả các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ hiện nay. Nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ này không cao.
Chỉ tiêu doanh thu thuần/vốn (1 đồng vốn làm ra được bao nhiêu đồng doanh số) bình quân thời kỳ 2000 – 2005 đạt 1,259 tăng dần từ năm 2001 đến 2005, chỉ tiêu này năm 2006 đạt 1,267. Điều này cho thấy khả tạo ra doanh thu của các doanh nghiệp là có tăng nhưng không nhiều. Rõ ràng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mới chỉ từng bước cải thiện dần nhờ vào số lượng đơn hàng tăng chứ chưa thực sự tạo được đột phá trong quy trình sản xuất. Nói cách khác chất lượng và máy móc kỹ thuật mới chỉ đóng góp một phần nhỏ trong việc tăng doanh thu. Mặt khác, chúng ta có thể thấy được tốc độ tăng của chỉ tiêu doanh thu thuần/ vốn rõ ràng vẫn còn thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu và tổng giá trị đồ gỗ sản xuất ra. Do vậy, tỷ lệ này hoàn toàn không tương xứng với giá trị đầu ra của doanh nghiệp. Điều này cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành gỗ nước ta là không cao.
3.3. Hoạt động sản xuất. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Hoạt động sản xuất ở Việt Nam hiện vẫn là sự kết hợp giữa thủ công và cơ khí trong khi tại các nước có nền sản xuất phát triển, số lượng công nhân ít và máy móc đóng góp phần lớn vào quá trình sản xuất. Mặt khác, sản phẩm mà họ làm ra mang tính đại trà nên có thể dùng cả một dây chuyền máy móc làm ra một loại sản phẩm với số lượng lớn. Việc quá phụ thuộc vào đơn hàng nhập khẩu có thiết kế riêng lẻ của nhiều khách hàng khác nhau đã khiến ngay cả những doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Việt Nam dù có thừa vốn nhưng cũng chưa thể áp dụng cả một dây chuyền máy móc đồng bộ dành cho một nhóm sản phẩm nhất định. Kết quả là, dù doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ Việt Nam có trang bị máy móc hiện đại nhưng vẫn chỉ là để sử dụng cho một phần của công đoạn sản xuất và số lượng lao động ở các doanh nghiệp gỗ ở Việt Nam nhìn chung vẫn còn khá đông.
Nhiều doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm gỗ đòi hỏi các chi tiết thiết kế có hoạ tiết trang trí, trạm, khắc vẫn sử dụng lượng lớn công nhân để gia công gây mất nhiều thời gian thay vì đầu tư sử dụng các loại máy dập, tạo hình.
Theo kết quả điều tra dự án của tổ chức kỹ thuật GTZ Đức được thực hiện tại Bình Định và khu vực Tây nguyên, công suất của các nhà máy chế biến gỗ nhiều khi chỉ đạt khoảng 50% so với thiết kế. Nguyên nhân là do tính thời vụ của đơn đặt hàng và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù là một trong 2 trung tâm sản xuất lớn của cả nước nhưng các doanh nghiệp ở đây khi đầu tư, xây dựng nhà xưởng đã chưa tính toán phù hợp với nhu cầu sản xuất, gây nên lãng phí nguồn lực.
So với các doanh nghiệp sản xuất gỗ của Trung Quốc, chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm của họ vẫn còn thấp hơn Việt Nam. Sở dĩ họ làm được điều này là do các doanh nghiệp Trung Quốc đạt được lợi thế về quy mô. Diện tích nhà xưởng, năng lực sản xuất lớn có khả năng đáp ứng được nhiều đơn hàng dễ dàng giúp doanh nghiệp giảm chi phí. Mỗi tháng, các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc có thể xuất lên đến hàng ngàn container trong khi con số này đối với bộ phận doanh nghiệp vừa nhỏ ở Việt Nam (chiếm tỷ lệ chủ yếu trong toàn) ngành lại chỉ là là vài chục. Hiên nay, xuất hàng với một tỷ lệ container gỗ lớn như vậy chỉ có ở tập đoàn lớn hoạt động đa ngành đa nghề ở Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất gỗ lớn ở Bình Định, Bình Dương và các doanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam.
3.4. Hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Với nhóm doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ ngoài trời và đồ gỗ trong nhà, số lượng các doanh nghiệp có bộ phận phát triển sản phẩm thường rất ít. Một phần vì không có đội ngũ chuyên thiết kế và trong nước cũng chưa có nhiêu cơ sở đào tạo chuyên ngành này. Một phần vì nhiều doanh nghiệp nước ta đã quen với việc làm theo mẫu yêu cầu của khách hàng. Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì lại đem mẫu từ các trụ sở chính của họ ở ngoài Việt Nam để công nhân trong nước ta gia công. Doanh nghiệp nào đưa ra được mẫu mã mới thì đó cũng chỉ là các mẫu tự thiết kế của các quản đốc, công nhân kỹ thuật có kinh nghiệm và của ban lãnh đạo.
Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ ở Việt Nam lại có khả năng sáng tạo và phát triển sản phẩm cao. Các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tập trung chủ yếu ở các làng nghề lâu đời, sản phẩm được làm ra bởi các nghệ nhân cùng với đội ngũ lao động đều trải qua đào tạo thực tế dưới sự chỉ dẫn của các nghệ nhân đi trước. Tuy nhiên, mặt hàng gỗ mỹ nghệ lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị sản phẩm gỗ và không có nhu cầu cao bằng đồ gỗ trong nhà và ngoài trời (chiếm tỷ trọng xuất khẩu chính) nên vì vậy chưa tạo được lợi thế cạnh tranh cho cả toàn ngành.
3.5. Nguồn nhân lực. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
Với quy mô khoảng 170.000 lao động trong gần 2600 doanh nghiệp sản xuất gỗ, tỷ lệ lao động có trình độ đại học chỉ chiếm 3%, công nhân kỹ thuật gần 30%, số còn lại gần 70% chủ yếu là lao động phổ thông. Với yêu cầu thực tế hiện nay thì nhu cầu về nguồn nhân lực là rất lớn cả ở bậc công nhân, kỹ sư. Theo tính toán của các chuyên gia, tuỳ theo quy mô nhà máy, năng lực sản xuất, số lượng kỹ sư có thể dao động trong khoảng 7-10% tổng số lao động phổ thông. Như vậy, với tổng số lao động hiện nay nhu cầu kỹ sư chế biến lâm sản cần phải là 17.000. Với quy mô đào tạo hiện nay số lượng kỹ sư chế biến lâm sản, công nhân kỹ thuật không đủ cung cấp cho các doanh nghiệp. hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu cán bộ quản lý, kỹ sư giỏi công nhân lành nghề, khiến cho năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất không cao. Điều này sẽ hạn chế sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong khu vực nếu xét về khả năng xử lý những đơn hàng lớn và khả năng tăng tỷ suất lợi nhuận. Cụ thể, trong ngành chế biến gỗ, bình quân một người làm ra chưa được số sản lượng tương đương 10.000 USD/năm, trong khi ở Trung Quốc con số này đã là 15.000 USD/năm.
Năng suất lao động tính theo chỉ tiêu doanh thu/lao động bình quân các DN cả nước thời kỳ 2000- 2006 đạt: 65,689 triệu đồng/lao động, tăng đều hàng năm. Năm 2006 dạt 123,265 triệu đồng bằng 176% năm 2000, tốc độ tăng bình quân 10,85%/năm. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn con quá ít so với mức tăng về kim ngạch xuất khẩu (năm 2006 bằng 513,3 % so với năm 2000). Điều này cho thấy năng suất của đội ngũ lao động tại các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh đồ gỗ vẫn hạn chế và vẫn còn ít so với kết quả đạt được. Mức tăng chậm hơn 1/3 lần này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn phải tuyển và sử dụng thêm nhiều lao động khi mở rộng sản xuất hay xử lý các đơn đặt hàng mới.
Mặc dù nhu cầu về kỹ sư và công nhân kỹ thuật rất lớn, tuy nhiên sức hấp dẫn với người học vẫn không cao so với các ngành nghề khác, nguyên nhân cơ bản là lương của kỹ sư chế biến lâm sản vẫn còn thấp. Chất lượng đào tạo về kỹ sư và công nhân chưa đáp ứng tốt yêu cầu về trình độ công nghệ và thiết bị trong thực tế. Chưa thiết lập được sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực. Bởi vậy, phần lớn lực lượng lao động khi ra ra trường vẫn phải tiến hành đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ lại. Khóa luận: Thực trạng về kinh doanh đồ gỗ ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện kinh doanh đồ gỗ tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Môi trường sản xuất và kinh doanh đồ gỗ