Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xây dựng và bảo vệ thương hiệu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Thực trạng đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ và nhận thức về thương hiệu

1.1. Thực trạng đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ quan trọng đối với đối với doanh nghiệp lớn, mà còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cần quan tâm hơn đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bởi điều này sẽ giúp cho việc tăng cường sức mạnh, nâng cao vị thế, uy tín khả năng cạnh tranh, thị phần và doanh thu của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp chủ động bảo vệ nhãn hiệu thương mại của mình sẽ có thể tránh được tai tiếng tiêu cực dẫn tới kiện tụng. Hơn thế nữa, khi độc quyền về tài sản sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sáng chế, doanh nghiệp sẽ có khả năng tốt hơn trong việc tìm nguồn tài trợ hoặc vay vốn. Việc một công ty đăng ký nhiều sản phẩm sở hữu trí tuệ cũng là thể hiện tính chuyên nghiệp và hiện đại.

Trong khi còn hạn chế về vốn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn chưa nhận thức được họ phải dành sức để phát triển, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) làm nguồn lực kinh tế. Hiện ở Việt Nam, 225.000 doanh nghiệp, tức là 95% tổng số doanh nghiệp có thể được coi là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này chiếm 26% lực lượng lao động và 26% GDP. Tuy nhiên, kết quả khảo sát nghiên cứu gần đây cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chưa nhận thức việc phát triển, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ là nguồn lực kinh tế.

Nhiều doanh nghiệp còn ngần ngại trong việc đầu tư xây dựng, đăng ký bảo hộ thương hiệu. Đây là điểm yếu của của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay. Bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết do hạn chế về tiềm lực tài chính vì đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay. Vì vậy, họ rất ngại tốn kém chi phí khi phải bỏ ra số tiền không phải là nhỏ và còn gặp nhiều khó khăn trong việc đăng ký bảo hộ thương hiệu, đặc biệt là ở thị trường nước ngoài. Hơn nữa, các doanh nghiệp SME còn yếu về nhận thức luật pháp, phong cách kinh doanh mang đậm nét của một quốc gia nông nghiệp như tâm lý làm ăn nhỏ, sợ rủi ro trong kinh doanh, chỉ thấy lợi ích trước mắt mà chưa thấy lợi ích lâu dài… Chỉ khi nào thương hiệu bị xâm phạm hoặc có nguy cơ bị xâm phạm từ bên thứ ba thì doanh nghiệp mới tính đến việc làm thủ tục đăng ký bảo hộ.

Điều này thể hiện qua số lượng đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá được các doanh nghiệp nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ. Trong những năm gần đây, số lượng đơn đăng ký của các doanh nghiệp có tăng nhưng không đáng kể nếu đem so sánh với số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp.

Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Hà Nội và Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2023

Rõ ràng, số lượng doanh nghiệp có đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam là quá ít so với tổng số doanh nghiệp được thành lập. Năm 2020, con số này chỉ là 11.08%. Đến năm 2023 số doanh nghiệp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có tiến triển hơn ở mức 12,26% nhưng vẫn là quá nhỏ so với con số tổng. Điều này chứng tỏ ý thức của doanh nghiệp về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có sự cải thiện. Tuy nhiên, việc đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, vẫn có khá nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu những quy định về việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Điều đáng lưu ý là những doanh nghiệp tới Cục sở hữu trí tuệ chủ yếu là những doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp nước ngoài, còn các SME thi hầu như không quan tâm và không có ý định sẽ bảo hộ cho nhãn hiệu hàng hóa của mình.

Tình trạng không đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các tỉnh địa phương còn trầm trọng hơn. Theo cuộc điều tra của dự án “Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp năm 2021-2023” của tiến sỹ Hà Bạch Đằng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương, đăng trên website của Sở khoa học công nghệ tỉnh Hải Dương16 thì: Trong số 700 doanh nghiệp khảo sát có 61 doanh nghiệp (9%) đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp với các đối tượng như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp (79 nhãn hiệu, 12 kiểu dáng công nghiệp). Trong đó, 19 doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 42 doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể. Như vậy, cuộc điều tra cho thấy số lượng doanh nghiệp đăng ký bảo hộ tài sản sở hữu trí tuệ là quá ít. Đại đa số, các doanh nghiệp không đăng ký và không được pháp luật công nhận và bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, cho dù muốn, họ cũng không thể đăng ký bảo hộ vì nhiều lý do khác nhau.

Nhận thức về lĩnh vực sở hữu công nghiệp của các đơn vị cũng còn thấp. Trong số 700 doanh nghiệp chỉ có 63 doanh nghiệp, bằng 9%, biết về các thủ tục về đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, 469 doanh nghiệp, đơn vị, bằng 67% doanh nghiệp, đơn vị, cho rằng việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp không ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp.

Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh khá phổ biến, năm 2021 đã phát hiện và xử lý 224 vụ hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, năm 2022 phát hiện và xử lý 238 vụ. Phần lớn các vụ vi phạm nêu trên do các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý. Chỉ có 6 vụ là do doanh nghiệp chủ ðộng phát hiện và ðề nghị với cõ quan chức nãng giải quyết.

Chỉ có 15% doanh nghiệp tham gia quảng bá thương hiệu, 1,5% doanh nghiệp có kế hoạch phát triển thương hiệu. Trình độ thiết kế biểu tượng doanh nghiệp (logo) của hầu hết doanh nghiệp cơ sở còn yếu, chủ yếu thiết kế theo kiểu cổ truyền, không gây ấn tượng.

Tài sản vô hình này ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Ngày nay tài sản vô hình chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Khi đã thực sự là thành viên WTO và đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng, khi hàng rào thuế quan dần được rỡ bỏ, doanh nghiệp Việt Nam cần phải có một chiến lược phát triển thương hiệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Một chiến lược phát triển phù hợp và hệ thống quản lý hữu hiệu về sở hữu trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp có được sản phẩm có tính cạnh tranh cao lại tiết kiệm chi phí và kịp thời ngăn chặn việc sao chép nhãn mác, làm nhái sản phẩm… Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Bảo vệ những tài sản trí tuệ của mình không chỉ bằng việc đăng ký bảo hộ, dán tem chống hàng giả, quản lý tốt hệ thống phân phối, một chuyên gia về lĩnh vực quản lý thị trường cho rằng các doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với các cơ quan thực thi. Ở Hoa Kỳ, để bảo vệ quyền lợi cho mình, các công ty đều có những bộ phận riêng hoặc thuê các công ty luật, công ty thám tử tư để bảo vệ bản quyền cho mình. Trong trường hợp bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, các công ty đều có hình thức phối hợp về phương tiện, hỗ trợ kinh phí cho các lực lượng thực thi. Đương nhiên, chiêu thức này còn phụ thuộc vào khả năng tài chính, quy mô của doanh nghiệp nhưng cũng đã có những công ty ở Việt Nam áp dụng cách này để bảo vệ những đứa con tinh thần của mình. Ngoài ra, các tổ chức hiệp hội như Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam, Hội Sở hữu Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam là những tổ chức phi chính phủ đóng vai trò tích cực trong đấu tranh chống hàng giả vi phạm sở hữu trí tuệ. 1.2. Thực trạng nhận thức về thương hiệu

Nhiều doanh nghiệp SME chưa hiểu đúng và đủ khái niệm thương hiệu, còn nhầm lẫn giữa thương hiệu và các yếu tố thương hiệu

Nếu như được hỏi thương hiệu là gì, thì đại đa số các nhân viên PR, marketing hay thậm chí là giám đốc các doanh nghiệp nhỏ đều đưa ra những câu trả lời khác nhau từ “thương hiệu chỉ là cái tên” cho đến “thương hiệu, đó là toàn bộ hoạt động kinh doanh”. Sự nhầm lẫn về “cái tên” và “thương hiệu” là một sự nhầm lẫn khiến doanh nghiệp phải trả giá bởi những tính toán sai lầm trong đầu tư. Nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn giữa thương hiệu với nhãn hiệu, nhầm lẫn nhãn hiệu với các yếu tố thương hiệu khác như chỉ dẫn địa lý hay tên thương mại. Hầu hết, ngay cả những nhân viên chuyên về marketing và tiếp thị trong doanh nghiệp cũng chưa hiểu đầy đủ thương hiệu. Họ chỉ hiểu đơn thuần thương hiệu là tên tuổi của công ty hay sản phẩm mà không biết rằng thương hiệu được cấu thành từ rất nhiều yếu tố cả vô hình lẫn hữu hình. Chính vì thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu có thì thường chăm chăm vào việc tô vẽ cái tên, biểu tượng hay logo sao cho thật bắt mắt hay chỉ chăm chăm vào việc quảng cáo tiếp thì và bán sản phẩm, dịch vụ thông qua các mối quan hệ. Thay vì cần có một chiến lược đúng đắn trong xây dựng hình ảnh sản phẩm cả trong quảng cáo lẫn sản xuất thì doanh nghiệp lại chỉ chú trọng việc bảo hộ và quảng cáo.

Nhiều công ty nghi rằng họ có một thương hiệu tốt trong khi thực tế cái mà họ có chỉ là một sự công nhận cái tên hàng hóa của họ. Đó có thể chỉ là một cái biển rất to treo trước công ty, một tờ giấy được dán hoặc in trên sản phẩm, hay một tập hồ sơ miêu tả dịch vụ. Một cái tên sẽ trở thành một thương hiệu khi người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm đến các thuộc tính và lợi ích hữu hình hoặc vô hình mà họ nhận được từ sản phẩm đó. Khi sự liên tưởng này càng nhiều thì người tiêu dùng sãn sàng trả một mức giá cao cho sản phẩm và trung thành với sản phẩm đó

Các doanh nghiệp SME chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của thương hiệu đối với doanh nghiệp mình.

Với hạn chế về vốn và lao động, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ tính tới kế hoạch trước mắt là làm sao tiêu thụ được thật nhiều sản phẩm, dịch vụ. phương thức chủ yếu của họ là quảng cáo, tiếp thị và tìm khách hàng thông qua các mối quan hệ của giám đốc, phó giám đốc, nhân viên. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ do ít có lợi thế về sản phẩm, nên khi đăng ký hoạt động thì đại đa số các SME đăng ký lĩnh vực linh doanh thuộc lĩnh vực dịch vụ như: đầu tư tài chính, truyền thông, tổ chức sự kiện, PR, đào tạo, luật, tư vấn… Tuy nhiên chính những lĩnh vực nhạy cảm ấy lại cầm có sự hiện hữu của thương hiệu hơn cả. Vì bên cạnh chất lượng dịch vục cung cấp, khách hàng còn chú yếu đến uy tin, đến sự hài lòng sau khi họ trải nghiệm sản phẩm dịch vụ… mà điều đó được làm nên rất nhiều bởi thương hiệu. Một thương hiệu tốt sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được khách hàng mới, duy trì được khách hàng cũ thông qua sự trung thành của họ với thương hiệu, tận dụng được quảng cáo truyền miệng và thu lợi nhuận, mở rộng quy mô… Hay nói đúng hơn, doanh nghiệp cần nhận thức rằng thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp mình và là yếu tố doanh nghiệp cần hết sức lưu tâm.

Trên mặt lý thuyết, nếu được hỏi thì các giám đốc, nhân viên marketing và đại bộ phận các nhân viên khác đều trả lời rằng thương hiệu quan trọng, nhưng thương hiệu quan trọng tới mức nào và mang lại giá trị gì cho công ty họ thì họ lại không xác định rõ ràng. Với số vốn đăng ký hạn chế, trong quá trình hoạt động lại chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay từ các ngân hàng, nên mặc dù biết vậy nhưng họ không quá quan tâm tới vấn đề thương hiệu. Họ chỉ tính tới những mục tiêu trước mắt là doanh thu trong tháng, doanh thu và lợi nhuận của năm. Trong khi đó thương hiệu thực sự là một vấn đề nan giải cần một sự đầu tư thích đáng, phù hợp và là một kế hoạch dài hơi.

Chính vì thế mà trong tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng cần khẳng định vai trò của thương hiệu mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2. Thực trạng các nguồn lực xây dựng và bảo vệ thương hiệu Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

2.1. Nguồn lực tài chính

DNVVN bị hạn chế rất lớn về nguồn tài chính. Vốn đăng ký thành lập ban đầu đã rất nhỏ, theo luật Việt Nam là dưới 10 tỷ đồng, số vốn ấy chưa đủ để tạo dựng và duy trì một doanh nghiệp. Thêm vào đó, những nguồn tài chính khác lại chủ yếu là nguồn đi vay. Do nhiều doanh nghiệp còn chưa có khả năng và không muốn minh bạch nguồn tài chính nên rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay của ngân hàng, có chăng là họ chủ yếu đi vay của họ hàng, bạn bè thân thích. Đặc điểm ấy càng làm cho SMEs Việt Nam nhỏ lẻ và manh mún. Việc hạn chế về chi phí và tiền bạc gây rất nhiều khó khăn, cản trở cho DNVVN. Chính vì thế, hầu hết các doanh ngiệp vừa và nhỏ (SMEs) chưa thực sự đầu tư và chưa có kế hoạch, giải pháp xây dựng thương hiệu hiệu quả.

Xây dựng thương hiệu chưa được đầu tư chính đáng

Xây dựng thương hiệu là một kế hoạch lâu dài và rất khó khăn nhất là trong thời buổi bão hòa của hàng hóa, dịch vụ hiện nay. Chỉ với một chủng loại hàng hóa cũng đã có tới hàng trăm ngàn nhà cung cấp, một hình thức dịch vụ cũng có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh và khách hàng hầu như không nhận thấy sự khác biệt giữa chúng. Dấu hiệu duy nhất để khách hàng nhận dạng doanh nghiệp là thương hiệu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không hề quan tâm xây dựng dấu hiệu quan trọng này nên khó tạo ra được nét riêng, dấu hiệu nhận diện riêng của họ. Chính vì không coi trọng hoạt động xây dựng thương hiệu nên họ không thực sự đầu tư cả về chi phí lẫn nguồn nhân lực.

Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ xây dựng thương hiệu và tư vấn xây dựng thương hiệu. Đáp ứng được nhu cầu xây dựng thương hiệu để không bị lãng quên trong thời kỳ hội nhập, các doanh nghiệp này cũng đưa ra những hình thức, gói dịch vụ tương đối chuyên nghiệp và đội ngũ nhân sự nhạy bén. Chẳng hạn như Lantabrand (www.lantabrand.com ) là doanh nghiệp khá thành công trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ xây dựng thương hiệu chẳng hạn như: dịch vụ cho thuê giám đốc thương hiệu; đặt tên và thiết kế thương hiệu; khám sức khỏe thương hiệu; tư vấn thương hiệu bao gồm các giải pháp cho các cấu trúc và các hình thức mua bán, sáp nhập, nhường quyền thương hiệu; xây dựng thương hiệu qua mạng; xây dựng quy trình quản lý thương hiệu nội bộ… Ngoài Lantabrand, có thể kể đến Saga (www.saga.com) , Masso Group (www.masso.com)…Tuy nhiên, kinh phí cho hoạt động này khá cao, chưa kể tới xây dựng thương hiệu lại phải có cả một quy trình lâu dài, dai dẳng. Hầu hết, những khoản chi phí này vượt quá khả năng của các SME. Với số vốn đăng ký ban đầu chỉ có dưới 10 tỷ đồng, hơn nữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh, hộ gia đình, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với số vốn ban đầu chỉ khoảng 2 tỷ đồng. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2023, trong 131318 daonh nghiệp đăng ký thành lập thì có tới 15908 doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 0,5 tỷ đồng tức là vốn của doanh nghiệp chỉ vài trăm triệu chiếm 12,04% và với số lượng lớn nhất trong các doanh nghiệp hoạt động tính đến ngày 31/12/2023 Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp tai thời điểm 31/12/2023 phân theo quy mô vốn

Cùng với cả trăm các khoản cấn thiết phải chi phí, hầu như, các doanh nghiệp SME chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện sẽ thuê dịch vụ, thuê chuyên gia thương hiệu mặc dù biết hoạt động đó là hết sức cần thiết cho doanh nghiệp.

Mặt khác, thực trạng công tác xây dựng và phát triển thương hiệu trong những năm gần đây cho thấy, hầu hết trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có bộ phận chuyên trách về thương hiệu, nhiều doanh nghiệp chưa có chức danh quản lý nhãn hiệu độc lập. Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ không phân rõ các phòng,ban, nhóm, các bộ phân phụ trách chuyên biệt mà thường thì cứ có việc gì thì làm, ai phù hợp thì làm. Thậm chí, tại các doanh nghiệp này, một bộ phận phụ trách rất nhiều mảng chẳng hạn như vừa PR, vừa marketing vừa lập kế hoạch vừa bán hàng, vừa thiết kê … Đối với doanh nghiệp tư nhân nhỏ và siêu nhỏ thì hầu như chưa có khái niệm thương hiệu trong chiến lược kinh doanh, còn đối với doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn hơn thì vấn đề xây dựng, phát triển thương hiệu chủ yếu thuộc về ban giám đốc, các bộ phận khác như phòng kinh doanh, bộ phận bán hàng, phòng tiếp thị mang tính chất phụ trợ, giúp việc. Ở các doanh nghiệp Nhà nước, do ràng buộc về cơ chế, chính sách, sự bảo hộ và ưu đãi của Nhà nước dẫn đến vấn đề thương hiệu chưa được quan tâm thỏa đáng18.

Việc xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay còn mang tính tự phát, một số có tính tổ chức nhưng còn manh mún, rời rạc. Nhiều doanh nghiệp còn ngần ngại trong việc đầu tư xây dựng, đăng ký bảo hộ thương hiệu.

Đây là điểm yếu của của các doanh nghiệp hiện nay. Bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết do hạn chế về tiềm lực tài chính vì đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay. Vì vậy, họ rất ngại tốn kém chi phí khi phải bỏ ra số tiền không phải là nhỏ và còn gặp nhiều khó khăn trong việc đăng ký bảo hộ thương hiệu, đặc biệt là ở thị trường nước ngoài. Hơn nữa, các doanh nghiệp còn yếu về nhận thức luật pháp, phong cách kinh doanh mang đậm Công ty luật sở hữu trí tuệ WINCO, wincolaw.com.vn nét của một quốc gia nông nghiệp như tâm lý làm ăn nhỏ, sợ rủi ro trong kinh doanh, chỉ thấy lợi ích trước mắt mà chưa thấy lợi ích lâu dài… Chỉ khi nào thương hiệu bị xâm phạm hoặc có nguy cơ bị xâm phạm từ bên thứ ba thì doanh nghiệp mới tính đến việc làm thủ tục đăng ký bảo hộ.

Xây dựng một thuơng hiệu mạnh, ngoài việc xây dựng và thực hiện một chiến luợc quảng bá hiệu quả, bạn đừng quên sử dụng tối đa 5 công cụ khác là: logo, hình tuợng, khẩu hiệu, nhạc hiệu, bao bì.

Thực trạng chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay là hạn chế về năng lực tài chính; chi phí dành cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu không được đầu tư xứng đáng, trong khi, đó là một kế hoạch dài hơi và không ngừng nghỉ, không chỉ đơn thuần là thiết kế một mẫu logo ấn tượng hay một khúc nhạc hiệu đi vào lòng người hoặc một sản phẩm dịch vụ độc đáo nhưng không đầu tư và tiếp tục làm mới nó. Nói chung để xây dựng thương hiệu, không phải ngày một ngày hai mà là cả một chặng đường dài song hành với doanh nghiệp, tồn tại song song và gắn liền với doanh nghiệp. Thậm chí ngay cả khi doanh nghiệp mất đi nhưng thương hiệu vẫn còn.

Lý do cho sự đầu tư chưa thỏa đáng này vẫn là do hạn hẹp về tài chính lại khó tiếp cận với nguồn vố vay từ các ngân hàng do không có tài sản thế chấp thỏa đáng và chưa minh bạch về giấy tờ, hóa đơn. Thêm nữa là cho nhận thức và định hướng kinh doanh của giám đốc và đội ngũ quản lý. Ít vốn, lại chứa đựng nhiều rủi ro, nhỏ lẻ, manh mún nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó thuê được người tài để xây dựng các chiến lược và định hướng xây dựng thương hiệu cho công ty. Nói như vậy, không phải các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có cách nào để xây dựng thương hiệu. Họ vẫn có thể khẳng định được mình nếu như có chiến lược rõ ràng, phù hợp và tận dụng được thế mạnh của riêng mình.

Hầu hết các SME không có chiến lược xây dựng thương hiệu hiệu quả

Không chỉ các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nước ngoài mới chú trọng việc xây dựng thương hiệu rất quan trọng và là mục tiêu dài hạn và ngay trong bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng nhận thức được rằng việc xây dựng thương hiệu mang lại cho họ nhiều lợi ích mà các giải pháp kinh doanh, marketing khác không làm được. Theo khảo sát mới đây của Bộ Công Thương, có tới 95% trong số hơn 100 doanh nghiệp được hỏi trả lời rằng cần thiết phải xây dựng và phát triển thương hiệu. Hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng, thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh doanh, là tài sản vô hình có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mới chỉ có 20% DN hiểu được rằng xây dựng thương hiệu cần bắt đầu từ đâu, số còn lại đều rất lúng túng khi đưa ra một kế hoạch phát triển thương hiệu. Do vậy, thương hiệu của hầu hết các doanh nghiệp hiện nay mới chỉ dừng ở mức độ để phân biệt chứ chưa được thương mại hoá. Thực trạng này xuất phát từ nhận thức của chính các doanh nghiệp, cho rằng việc có một cái tên, một logo đẹp, được đăng ký bảo hộ, là hoàn thành việc xây dựng thương hiệu… nhưng thực chất việc xây dựng, phát triển thương hiệu là phải làm cho cái tên đó trở lên có ý nghĩa, có tác động mạnh tới tâm lý và hành vi của người tiêu dùng và quan trọng hơn, phải có giá trị thương mại. Đây là công việc lâu dài, mang tính chiến lược của doanh nghiệp, bao gồm việc định hướng chiến lược cho hệ thống thương hiệu, việc quảng bá và định vị thương hiệu và các hệ thống quản lý nhằm bảo vệ và phát triển thương hiệu.

Hoặc một số sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường nhưng chưa thực sự nổi bật do các doanh nghiệp chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu của mình, kinh phí dành cho việc xây dựng và quảng bá thương hiệu chưa được đầu tư đúng mức. Trong khi đó, một số sản phẩm được coi là có chỗ đứng lại gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì và bảo vệ thương hiệu.

Với quy mô nhỏ cả về tài chính lẫn nguồn nhân lực, các SMEs luôn bị hạn chế trước mọi quyết định kinh doanh. Thêm vào đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những tế bào chịu tác động mạnh nhất từ lạm phát và suy thoái kinh tế. Nếu không có một năng lực cạnh tranh vững vàng, nguy cơ sụp đổ là rất cao.

Có rất nhiều giải pháp cho doanh nghiệp để xây dựng thương hiệu. Chẳng hạn như, thành lập một phòng chuyên xây dựng các chiến lược quản lý và bảo vệ thương hiệu với các nhân viên có kinh nghiệm trong nghề; hay như thuê một công ty chuyên cung cấp giải pháp thương hiệu cho doanh nghiệp; thậm chí cả giám đốc và nhân viên công ty cũng có thể họp bàn đưa ra những giải pháp xây dựng và quảng bá thương hiệu một cách hợp lý và phù hợp với công ty nhất. Điều mấu chốt ở đây không phải là bao nhiều tiền mà giải pháp đưa ra có phù hợp với công ty, có tận dụng được thế mạnh của công ty và tạo ra sự khác biệt hay không?

Mặt khác, trên thực tế có nhiều doanh nghiệp ý thức rõ tầm quan trọng của thương hiệu, sẵn sàng đầu tư, nhưng lại thiếu kinh nghiệm và sự tư vấn cần thiết. Các công ty Việt Nam khi xây dựng thương hiệu thường chỉ nhìn “ngắn hạn”, đầu tư là muốn thấy kết quả ngay, không nghiên cứu khách hàng mục tiêu cũng như không theo dõi thị trường và sức khỏe thương hiệu.

Nhiều doanh nghiệp còn mang tâm lý kinh doanh “sơ khai”, tức chỉ cần làm sản phẩm tốt là “hữu xạ tự nhiên hương”, phân phối thường theo dòng chảy tự nhiên và thích tự làm mọi việc vì nghĩ mình làm sẽ tốt hơn. Trong khi đó, các công ty đa quốc gia thường đầu tư trên 15% doanh số cho thương hiệu, phân phối có chiến lược và thuê các đơn vị chuyên môn thực hiện.

Xây dựng và phát triển một thương hiệu mạnh là rất khó khăn và tốn kém vì vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn, thông điệp quảng cáo ngày càng rối và văn hóa tiêu dùng ngày càng cao. Nói như vậy để thấy doanh nghiệp không thể không đầu tư, nhưng quan trọng hơn là phải biết đầu tư hiệu quả

Đầu tư vào thương hiệu và xây dựng thương hiệu có thể tốn rất nhiều tiền những cũng có thể chẳng tốn một xu. Điều đó tùy thuộc vào chiến lược và khả năng của doanh nghiệp và đội ngũ lãnh đạo. Vì để có một thương hiệu và trở thành một thương hiệu mạnh, thương hiệu phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí đặt ra để đánh giá thương hiệu chứ không chỉ căn cứ vào số tiền đầu tư vào quảng. Với những tiêu chí này, doanh nghiệp có thể xây dựng được một chiến lược bài bản. Cùng với chi phí đầu tư xứng đáng, một doanh nghiệp nhỏ có thể hướng tới một giá trị thương hiệu lớn. Và giá trị lớn trước hết là tạo dựng được lòng tin của khách hàng, đưa hình ảnh doanh nghiệp vào tâm trí họ và tạo ra giá trị cho chính họ.

Vòng đời của sản phẩm có thể ngắn, nhưng vòng đời thương hiệu không hẳn đã như vậy. Có khi, sản phẩm và doanh nghiệp có thể mất đi nhưng thương hiệu thì vẫn còn bởi vì thương hiệu không chỉ gắn liền với doanh nghiệp mà còn là những tình cảm, cảm xúc và trải nghiệm của khách hàng. Tuy nhiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như lại thất bại ngay trong giai đoạn đầu tiên của vòng đời thương hiệu, giai đoạn hình thành thương hiệu. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Khi tham gia vào lĩnh vực dịch vụ, nhiều doanh nghiệp thất bại ngay trong giai đoạn đầu tiên của vòng đời thương hiệu vì không xác định được khách hàng mục tiêu, những người sẽ trả chi phí cho dịch vụ của họ và trải nghiệm thương hiệu của họ một cách đầy đủ nhất. Chẳng như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ làm đẹp như chăm sóc da, trang điểm, tắm hơi, matxa, thư giãn, bấm huyệt… cần xác định khách hàng mục tiêu mình nhắm tới là những đối tượng thế nào, độ tuổi, sở thích… từ đó đưa ra các hình thức dịch vụ, giá cả, phương thức thanh toán…

Giai đoạn thứ hai của thương hiệu, có thể là giai đoạn rất dễ dàng những cũng có thể là giai đoạn hết sức khó khăn, đó là giai đoạn thiết lập sự nhận biết của khách hàng về thương hiệu. Đây là giai đoạn doanh nghiệp phải tạo dựng các yếu tố sẽ gắn liền với thương hiệu như tên, nhãn hiệu, hình ảnh, mầu sắc, khẩu hiệu, logo, nhạc hiệu … để tạo nên một sự nhận biết về thương hiệu và gợi nhớ đến thương hiệu.

Nhiều công ty nghi rằng họ có một thương hiệu tốt trong khi thực tế cái mà họ có chỉ là một sự công nhận cái tên hàng hóa của họ. Đó có thể chỉ là một cái biển rất to treo trước công ty, một tờ giấy được dán hoặc in trên sản phẩm, hay một tập hồ sơ miêu tả dịch vụ. Một cái tên sẽ trở thành một thương hiệu khi người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm đến các thuộc tính và lợi ích hữu hình hoặc vô hình mà họ nhận được từ sản phẩm đó. Khi sự liên tưởng này càng nhiều thì người tiêu dùng sãn sàng trả một mức giá cao cho sản phẩm và trung thành với sản phẩm đó.

Về vấn đề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thì càng đáng lưu ý đối với các SME tham gia kinh doanh các mặt hàng dịch vụ. Hàng hóa dịch vụ không có hình hài cụ thể nên dễ dàng bị bắt chước. Thêm vào đó luật pháp mới chỉ quy định đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho các hàng hóa hữu hình chứ chưa đưa ra quy định bảo hộ cho hàng hóa vô hình. Đây cũng là một trong những khó khăn của của các doanh nghiệp dịch vụ, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Xây dựng một thuơng hiệu, ngoài việc xây dựng và thực hiện một chiến luợc quảng bá hiệu quả, còn có các công cụ khác có thể vận hành tốt một thương hiệu, đó là: logo, hình tuợng, khẩu hiệu, nhạc hiệu. Nhưng hình như các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không coi đó là công việc của mình. Họ cho rằng những doanh nghiệp lớn, dư giả về tiền bạc mới cần chú đến các yếu tố đó. Khi thành lập và khi xây dựng thương hiệu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như chỉ chú ý tới việc đăng ký một cái tên công ty sao cho không trùng, dễ nhớ và phần nào đó gợi đến sản phẩm dịch vụ họ cung cấp là xong, hay cùng lắm họ có thiết kế một biểu tượng, logo và không để tâm tới các yếu tố khác cũng có thể tạo nên sự độc đáo, ấn tượng khác biệt cho họ. Lấy đơn cử một ví dụ, ngân hàng An Bình (ABBank) tạo ấn tượng bằng đoạn nhạc hiệu nhẹ nhàng, du dương và đầy ý nghĩa “ mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, chọn những yếu thương chọn những nụ cười. Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống. Vì đất nước cần một trái tim”. Đoạn nhạc ấy xuất hiện trong các mẩu quảng cáo trên đài, trên truyền hình. Đoạn nhạc ấy được cài cả thành nhạc chờ điện thoại mỗi khi khách hàng gọi điện tới số của ngân hàng và các chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng. Đoạn nhạc ấy gắn liền với hình ảnh ngân hàng và họ đã tạo ra sự khác biệt, một cách đi vào lòng khách hàng riêng mà các ngân hàng khác như Vietinbank, Sacombank, Agribank, ANZ, HSBC… chưa có và chưa thực hiện.

Chính vì những thực trạng trên, dẫn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ nói riêng:

  • Không có một hình ảnh thương hiệu thống nhất và nhận được sự chấp nhận và yêu mến của công chúng. các chương trình quảng bá thương hiệu không đồng bộ, không tạo được hiệu quả sâu rộng, không tạo lập được một hình ảnh thương hiệu cụ thể
  • Không xác định được giá trị của thương hiệu
  • Không khai thác và phát triển được các giá trị thương hiệu đã có

2.2. Nguồn lực công nghệ thông tin Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu còn rất hạn chế về mặt cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và ứng dụng thương mại điện tử.

Về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các SMEs, Hiệp hội Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội cho biết, trong 132.000 SMEs ở Việt Nam, chỉ có hơn 5.000 doanh nghiệp sử dụng Internet, nghĩa là có tới gần 90% doanh nghiệp đứng ngoài “cuộc chơi” thương mại điện tử. Chưa tới 10% doanh nghiệp có trang web nhưng thông tin chỉ đơn thuần là giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm, ít có giao dịch và thanh toán trực tuyến. Chỉ có 10% doanh nghiệp quan tâm đến thương mại điện tử và khoảng 7–8% doanh nghiệp bắt đầu triển khai mạng thương mại. Kết quả thăm dò ý kiến năm 2002 của Quỹ Phát triển Chương trình Mêkông đối với 100 SMEs ở Việt Nam cho thấy 48% doanh nghiệp sử dụng Internet chỉ để gửi và nhận email, khoảng 33% doanh nghiệp có kết nối Internet nhưng không dùng để hỗ trợ kinh doanh

Công nghệ thông tin thực sự đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế giới. Trong kinh doanh, công nghệ thông tin mở ra một phương thức kinh doanh mới và mở ra vô vàn cơ hội cho các doanh nghiệp. Công nghệ thông tin không chỉ được hiểu đơn thuần là việc sử dụng máy tính và nối mạng internet mà còn được hiểu theo hướng kiến trúc hạ tầng công nghệ thông tin đầy đủ và đồng bộ. Trong đó ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh là một thành tựu vô cùng to lớn không chỉ của ngành công nghệ thông tin mà cả trong hoạt động kinh doanh. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại hay còn gọi là thương mại điện tử ra đời và đang trở thành xu thế mới thay thế dần phương thức kinh doanh cũ với rất nhiều ưu thế nổi bật như nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…vv.

Ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả sẽ có tác động rất lớn đến nền kinh tế và chính doanh nghiệp vừa và nhỏ mới là đối tượng cần thiết nhất phải ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư và triển khai một cách có hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất, kinh doanh. Điển hình như Công ty cổ phần (CP) Xi-măng Bỉm Sơn, Công ty CP Mía đường Lam Sơn, Công ty CP Hàm Rồng, Công ty CP Thiết bị giáo dục Hồng Đức, hệ thống các ngân hàng, một số doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Nhiều doanh nghiệp với quy mô vừa và nhỏ (SMEs) đã thử kinh doanh bằng phương thức điện tử, nhưng kém hiệu quả. Đối tượng khách hàng chủ yếu nhỏ lẻ vẫn quen thanh toán theo phương thức truyền thống, bởi bản thân khách hàng cũng chưa ứng dụng công nghệ thông tin và cách thức thanh toán truyền thống xem ra vẫn có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tính toán một cách đơn giản, muốn in một hóa đơn bán hàng, cần phải mất ít nhất một tờ giấy, chưa kể chi phí cho điện, hao mòn máy, trong khi đó, chỉ cần hai nghìn đồng đã có thể mua được một quyển phiếu thu, dùng nửa tháng mới hết. Việc thanh toán qua mạng chưa đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp (cần nhấn mạnh đây là SMEs chứ không phải doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, họ đang rất cần phải bảo toàn vốn để có thể kiếm thêm lãi). Chỉ vài ví dụ nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh điện tử thôi cũng đã thấy còn rất nhiều khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Mặt khác, internet và công cụ công nghệ thông tin lại là một phương tiện vô cùng quan trọng và hiệu quả cho các kế hoạch xây dựng thương hiệu. Đặc biệt với SMEs vì giải pháp này giúp tối thiểu hóa đáng kể chi phí, giúp tạo dựng thương hiệu một cách nhanh chóng, linh hoạt và lại vô cùng hiệu quả. Bên cạnh hàng trăm nghìn cách để xây dựng thương hiệu thì phương pháp tạo dựng danh tiếng, quảng bá, quảng cáo … cho đến nay được coi là phong phú và hiệu quả nhất.

Theo kết quả điều tra 504 doanh nghiệp về tình hình ứng dụng thương mại điện tử do Bộ Thương mại tiến hành, trong số doanh nghiệp có website, có 32,8% bước đầu có tính năng hỗ trợ giao dịch thương mại điện tử như hỏi hàng, gửi yêu cầu hoặc đặt hàng trực tiếp.

Ngoài ra có đến 80% số doanh nghiệp chỉ đầu tư dưới 5% chi phí hoạt động triển khai thương mại điện tử. Cũng vì vậy mà 70% doanh nghiệp cho rằng thương mại điện tử đóng góp cho họ dưới 5% doanh thu năm. Bên cạnh đó, đa số doanh nghiệp đánh giá thương mại điện tử đã có tác dụng xây dựng hình ảnh công ty và mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng hiện có.

Các SMEs sở dĩ chưa ứng dụng thương mại điện tử vì những lý do sau:

Rào cản về nhận thức, nhân lực và ứng dụng: Tìm hiểu thêm về những thách thức đối với SMEs trong việc ứng dụng công nghệ thông tin thì thấy trước hết ở vấn đề nhận thức. rất nhiều doanh nghiệp khẳng định đã nhận thức rõ về việc ứng dụng công nghệ thông tin, song thực tế chỉ có số ít hiểu được đầy đủ điều này. “Đầy đủ” nghĩa là phải trả lời được cả 3 câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng; ứng dụng cái gì cho phù hợp với đặc thù của mình; ứng dụng như thế nào? Đa phần doanh nghiệp mới trả lời được câu hỏi thứ nhất, dẫn đến tình trạng đầu tư chưa đúng hướng hoặc còn hạn chế, phần lớn chi phí dành cho trang thiết bị, cơ sở hạ tầng chứ chưa chú trọng tới giải pháp, đào tạo.

Hạn chế về nguồn nhân lực. Chẳng phải giám đốc SMEs nào cũng có trình độ về công nghệ thông tin và quan tâm đúng mức tới công nghệ thông tin. Tuy nhiên cũng phải xét tới điều kiện đó là những doanh nghiệp lớn, còn với các SMEs, nhiều đơn vị chưa có cả máy fax, giám đốc phải lo từng ngày để trả lương đúng hạn cho nhân viên thì cũng khó nói tới việc ứng dụng công nghệ thông tin.

Khả năng cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin tốt cho SMEs còn hạn chế. Rất dễ tìm phần mềm kế toán nhưng khó tìm được những sản phẩm đặc thù như thiết kế cho ngành may, ngành cầu đường.

Chưa kể chất lượng sản phẩm không tốt, giá lại cao so với khả năng của SMEs. Theo một nghiên cứu về thị trường dịch vụ kinh doanh ở Việt Nam, hơn 70% doanh nghiệp ở Việt Nam (trong đó có cả SMEs) không thỏa mãn với các dịch vụ được cung cấp.

Internet ra đời, và phương thức kinh doanh mới đang dần dần trở nên phố biến và thay thế phương thức kinh doanh truyền thống. internet và thương mại điện tử đã mở ra một sân chơi mới cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, mở ra một thị trường ảo nhưng mua bán thật mà người ta thường nói là „đi chợ trên internet‟. Nói vậy để thấy tầm quan trọng thế nào của internet và thương mại điện tử đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng trong mọi lĩnh vực.

Đúng như đã nói, bây giờ người ta đang chuyển dần từ mua sắm truyền thống sang đi chợ trên internet. Người ta có thể xem hàng hóa, theo dõi chi tiết dịch vụ, trả giá, thanh toán, thậm chí nghe bình luận, chia sẻ kinh nghiệm, phản hồi mà ko cần đến tận nơi, không cần nhìn thấy mặt nhà cung cấp. Chính trên thị trường mới ấy lại là một cơ hội mới cho SMEs xây dựng thương hiệu.

2.3. Nguồn nhân lực Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực có kiến thức và năng lực định hướng xây dựng thương hiệu cho công ty.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải là điểm đến hấp dẫn của những cá nhân có có chuyên môn cao hoặc nhiều kinh nghiệm. Có rất nhiều lý do để những người có năng lực và nhạy bén từ chối vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ như lương thấp, ít cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc thiếu chuyên nghiệp, các chế độ lao động, khen thưởng không đầy đủ… Nói tóm lại thu hút nguồn nhân lực có trình độ là một vấn đề không kém phần nan giải đối với các doanh nghiệp SME.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó đa phần là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu, công ty cổ phần do cá nhân đứng ra tự thành lập thường có số lượng nhân viên rất ít ỏi, có khi một công ty chỉ có khoảng năm, bảy hoặc hơn chục người. Với mức lương trả không có khả năng cạnh tranh các doanh nghiệp vừa và nhỏ đa số rất khó thuê được những người có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm làm việc về thương hiệu. Nếu có họ có thể thue những sinh viên mới ra trường các chuyên ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, marketing… nhưng khi họ đã tạm thời đủ lông đủ cánh thì họ lại lập tức rời bỏ đi tìm chỗ khác tốt hơn, trả lương cao hơn. Mà không hẳn là thuê sinh viên đã dễ. Nhiều công ty phải đến từng trường đại học để đăng ký tuyển dụng nhưng không khi nào đạt nguyện vọng, vì hầu hết đối tượng đều được các doanh nghiệp nước ngoài “đặt hàng” trước. Hỗ hỗ trợ kinh phí bồi dưõng kiến thức cho sinh viên ngay từ nhưng năm học đầu tiên.(Nguồn: www.Lantabrand.com )

Trong cuộc cạnh tranh tìm người tài, thì phần thắng luôn thuộc về các doanh nghiệp lớn, các công ty liên doanh hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Nguyên nhân bởi chính sách lương và thưởng của họ trội hơn; cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc chuyên nghiệp vốn được coi là thế mạnh của họ.

Vì thế tình trạng một người phải đảm nhiệm một vài chức vụ, một vài vị trí ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất bình thường. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc và thành công của công ty. Và việc khi người tài bỏ đi hết thì công ty phải tạm ngừng hoạt động cũng không phải là quá xa lạ. Tác hại hơn là khi lãnh đạo và nhân viên thiếu kiến thức về thương hiệu, thì những định hướng sai lầm, những chiến lược kế hoạch không phù hợp không những sẽ làm lãng phí nguồn vốn doanh nghiệp và nghiêm trọng hơn doanh nghiệp có thể bị phá sản bởi những sai lầm.

Cái khó nọ chồng chất cái khó kia. Đó là những lý do mà doanh nghiệp vừa và nhỏ mặc dù rất muốn nhưng cũng không thể và không đủ khả năng xây dựng thương hiệu. Nhân viên kinh doanh, marketing, PR thì hầu như ở doanh nghiệp nào cũng có nhưng nhân viên thực sự am hiểu về thương hiệu và có khả năng vạch ra những định hướng, những chiến lược xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp thì lại thực sự khan hiếm. Muốn làm gì thì đều phải bắt nguồn từ con người, nhưng ngay cả vấn đề con người các SME còn gặp rất nhiều khó khăn, cản trở thì nhưng vấn đề khác như xây dựng thương hiệu vẫn chỉ là mục tiêu xa vời.

Tóm lại: Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chưa có thương hiệu và đang đứng trước nguy cơ cạnh tranh rất lớn từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và cạnh tranh trên thương trường thì phải nhanh chóng xây dựng cho sản phẩm doanh nghiệp của mình một thương hiệu mạnh. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay, khả năng tiếp cận thị trường kém là do doanh nghiệp không có một thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh. Hiện Việt Nam đang diễn ra tình trạng nhiều sản phẩm dịch vụ của các công ty có chất lượng tốt, giá rẻ nhưng lại khó cạnh tranh với sản phẩm dịch vụ cùng loại trên thị trường cả nước ngoài lẫn nội địa. Quả thực đúng như vậy.. Thương hiệu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp và xúc tiến thương mại, tạo cơ hội cho doanh nghiệp thâm nhập và chiếm lĩnh mở rộng thị trường. Để trở nên nổi bất, tất nhiên trong lĩnh vực nào cũng rất khó, càng khó hơn khi các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ và với số vốn cũng như kinh nghiệm hạn hẹp.

Mỗi một thương hiệu từ khi xây dựng cho tới khi tồn tại, phát triển, mở rộng và khẳng định được tên tuổi cũng như vị trí của mình đều trải qua 5 giai đoạn như đã nêu trên. Tuy nhiên để thự hiện được tốt các giai đoạn và xây dựng được hình ảnh thương hiệu mình đến đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

Theo số liệu năm 2023-2007 các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang chiếm tới 95% số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước. Năm 2008, theo số liệu của bộ Kế hoạch và đầu tư, cả nước ta có khoảng 350.000 doanh nghiệp trong đó có tới 95% là SMEs. Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhiều rào cản được rỡ bỏ, thị trường thế giới sẽ rộng mở cho các sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì thế, trong những năm trở lại đây số lượng doanh nghiệp được mở ra với quy mô vừa và nhỏ ngày một tăng cao. Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng quy mô về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2 tỷ đồng/doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung vào các ngành thương mại, sửa chữa động cơ, xe máy (chiếm 40,6% doanh nghiệp của cả nước), tiếp đến là các ngành chế biến (20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngành còn lại như kinh doanh tài sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%).

Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất ít được biết đến do chưa có một thương hiệu mạnh. Các doanh nghiệp này có thể cung cấp sản phẩm dịch vụ rất tốt, các gói sản phẩm đưa ra cũng không thua kém gì các doanh nghiệp lớn nhưng lại chưa thu hút được nhiều khách hàng vì chưa có thương hiệu. Với những khách hàng lần đầu tiên trải nghiệm thì lo lắng chất lượng dịch vụ có đáp ứng được nhu cầu và làm họ thỏa mãn không, những khách hàng đã từng sử dụng thì thiếu tin tưởng và tò mò muốn trải nghiệm sản phẩm của một doanh nghiệp khác. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Lấy đơn cử một ví dụ, hai công ty cùng cung cấp dịch vụ di chuyển đi lại là công ty cổ phần Mai Linh và công ty cổ phần taxi Thăng Long. Hai công ty cùng ở Hà Nội, cung tham gia cung cấp dịch vụ vận chuyển và đi lại cho khách hành. Giá dịch vụ đều giống nhau là 10 nghìn đồng cho km đầu tiên và 8 nghìn đồng cho 20 km tiếp theo, đi đường càng dài, giá càng giảm đối với xe nhỏ 4 chỗ ngồi. nhưng theo điều tra, 100 người được hỏi thì có tới 90 người chọn Mai Linh. Đơn giản vì cái tên Mai Linh đã quá quen thuộc với họ, dịch vụ họ đưa ra lại chu đáo, tận tình. Khi có nhu cầu muốn gọi taxi thì ngay lập tức họ nhớ tới Mai Linh và thậm chí nhớ luôn số điện thoại. Điều đó không có nghĩa là công ty taxi Thăng Long cung cấp dịch vụ không tốt, mà đơn giản chỉ vì họ chưa thực sự xây dựng được một thương hiệu mạnh. 10% còn lại chọn Thăng Long có thế là do họ tò mò, hoặc không quan trọng đi hãng nào chẳng được miễn là đến nơi, hoặc muốn thử công ty mới.

Vì vậy, đặc biệt trong cung cấp dịch vụ, thứ hàng hóa mà thường được trải nghiệm thông qua cảm giác của khách hàng, nếu không tạo dựng được lòng tin và gây dựng được thương hiệu, sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp khi cạnh tranh với chính các doanh nghiệp trong nước chứ chưa nói gì đến các công ty liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài.

Theo quy định của WTO, Việt Nam đã mở cửa 11/12 ngành trong lĩnh vực dịch vụ và trên 160 tiểu ngành cho các nhà phân phối nước ngoài, do đó, với quy mô lớn, mạng lưới phân phối toàn cầu và có tính chuyên nghiệp cao, các công ty nước ngoài sẽ là những đối thủ lớn, đe doạ sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam. Các công ty tài chính, bảo hiểm thi nhau chạy đua vào thị trường Việt Nam. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài cũng chính thức được thành lập, thì ngay lập tức đã có ngân hàng ANZ, HSBC… các công ty du lịch, vận tải cũng muốn tìm chỗ đứng trong thị trường béo bở này. Điều này còn làm các công ty, doanh nghiệp lớn của Việt Nam lao đao chưa nói gì tới các doanh nghiệp vốn đã bé nhỏ cả về tiềm lực và kinh tế. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, cùng sự suy thoái toàn cầu có ảnh hưởng lớn đến các SMEs Việt Nam.

Thông thống kê của cục Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ( Bộ kế hoạch và Đầu tư) thì năm 2008 có khoảng 65,3 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ được khai sinh, thì bình quân một quý có khoảng 7700 SME ngừng hoạt động. Quý I năm 2009 trung bình vẫn có khoảng 2500 SME ngừng hoạt động. Đa số lý do là họ không có đủ khả năng cạnh tranh, không đủ vốn và không có cơ hội làm ăn.

Năm 2008, Hiệp Hội Doanh Nghiệp vừa-và-nhỏ đưa ra cảnh báo rằng 20% doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, 60% đang khó khăn đình trệ và chỉ có 20% số doanh nghiệp là thích nghi với lạm phát, thậm chí tìm được cơ hội phát triển ngay trong thời kỳ lạm phát.

Trong 5 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thương hiệu được đánh giá ở vị trí quan trọng hơn cả năng lực tài chính khi có tới 90% ý kiến lựa chọn, bên cạnh các yếu tố chất lượng sản phẩm, khả năng tài chính, năng lực lãnh đạo và chính sách – chiến lược PR/Marketting. Tuy nhiên, một con số tương tự lại cho thấy kết quả khác đáng thất vọng. Hai nguyên nhân được xác định là hạn chế nhất trong năng lực cạnh tranh lại chính là thiếu chiến lược phát triển thương hiệu và thiếu quan tâm đến hoạt động PR (cùng chiếm trên 98% ý kiến xác định).

3. Bảo vệ thương hiệu Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Xây dựng thương hiệu, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi mà họ vừa bị hạn chế bởi nguồn vốn vừa bị hạn chế bởi nguồn nhân lực và rất nhiều các hạn chế khác đã là một hành trình dài hơi và vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, sau khi đã hoàn thành được chặng đường gian lao ấy, xậy dựng được một thương hiệu cho mình thì việc quản trị, duy trì và bảo vệ nó còn khó khăn hơn ngàn lần. Riêng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia trong lĩnh vực dịch vụ mà nói, việc bảo vệ thương hiệu càng khó do tính chất loại hàng hóa họ cung cấp không có hình dạng cụ thể, không có một thước đo chuẩn thậm chí hành lang pháp lý của Việt Nam còn rất lỏng lẻo thì còn khó khăn hơn rất nhiều.

3.1. Bảo vệ sở hữu trí tuệ

Việc bảo vệ thương hiệu bao gồm khía cạnh xác lập quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) và thực thi quyền SHTT. Việc xác lập quyền SHTT được thực hiện theo Luật về SHTT 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Như được quy định trong Điều 6, Luật sở hữu trí tuệ 2022, nhãn hiệu được bảo hộ trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký Cục SHTT cấp, trong khi đó tên thương mại được bảo hộ trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó.

Tham gia đăng ký sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp sẽ được nhà nước bảo vệ quyền lợi như độc quyền ý tưởng, kiểu dáng, nhãn hiệu, loại hình, thông tin sáng chế sản phẩm… Thậm chí, doanh nghiệp có thể phòng tránh được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã vận dụng rất thành công quyền sở hữu trí tuệ trong việc chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh của các đối thủ kinh doanh.

Lợi ích từ việc tham gia đăng ký sở hữu trí tuệ đã rõ nhưng cho đến nay vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến vấn đề này, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện cả nước có khoảng gần 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động tham gia đăng ký sở hữu trí tuệ. Nguyên nhân là do nhận thức các chủ doanh nghiệp còn hạn chế; nhân lực, tài chính còn thiếu và nhất là việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ cả doanh nghiệp và nhà nước còn yếu19.

Việc không đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp tự đẩy mình vào những rủi ro như mất thương hiệu, mất quyền sáng chế, mất quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và đặc biệt sẽ bị cạnh tranh không lành mạnh

Hầu hết mọi SME đều có tên thương mại hoặc một hay nhiều nhãn hiệu và phải xem xét việc bảo hộ chúng. Hầu hết các SME đều có các thông tin kinh doanh bí mật có giá trị, từ danh sách khách hàng đến chiến lược bán hàng đều có thể được bảo hộ. Một số lượng lớn doanh nghiệp đã xây dựng nhiều kiểu dáng sáng tạo độc đáo. Nhiều doanh nghiệp đã tạo ra, hoặc hỗ trợ trong việc xuất bản, phổ biến hoặc bán lẻ tác phẩm được bảo hộ. Một số doanh nghiệp có thể sáng tạo hoặc cải tiến sản phẩm hoặc dịch vụ.

Giá trị của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) thường không được đánh giá đầy đủ và tiềm năng của nó để tạo ra các cơ hội cho lợi ích trong tương lai không được các doanh nghiệp vừa và nhỏ đánh giá đầy đủ. Tuy nhiên, khi quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ pháp lý và nhu cầu về sản phẩm và/ hoặc dịch vụ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tồn tại trên thị trường, quyền sở hữu trí tuệ sẽ trở thành tài sản kinh doanh có giá trị.

Quyền sở hữu trí tuệ có thể tạo ra thu nhập cho SME thông qua li-xăng, bán hoặc thương mại hóa các sản phẩm hoặc dịch vụ được bảo hộ quyền SHTT mà có thể nâng cao đáng kể thị phần hoặc làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Quyền sở hữu trí tuệ có thể nâng cao giá trị và trị giá doanh nghiệp trong mắt của nhà đầu tư và các tổ chức tài chính. Trong trường hợp bán, sáp nhập hoặc mua lại, tài sản trí tuệ có thể làm tăng đáng kể giá trị doanh nghiệp và đôi khi, đó chính là tài sản đầu tiên và thực sự có giá trị.

Do đó, chiến lược sử dụng tài sản trí tuệ có thể nâng cao căn bản tính cạnh tranh cho SME. Các SME phải chắc chắn rằng họ sẵn sàng đối mặt với thách thức và áp dụng các biện pháp khai thác tài sản trí tuệ và bảo hộ chúng bất cứ ở đâu. Giống như tài sản hữu hình, tài sản trí tuệ phải đạt được và duy trì, được tính toán, định giá, giám sát chặt chẽ và quản lý cẩn thận nhằm có được nhiều giá trị nhất. Tuy nhiên, trước khi việc này được thực hiện, trước tiên các SME phải nhận thức được giá trị của quyền sở hữu trí tuệ và bắt đầu nhìn nhận chúng như một tài sản kinh doanh có giá trị.

Một vấn đề đặc biệt quan trọng bảo hộ pháp lý quyền sở hữu trí tuệ khác là chúng biến các tài sản vô hình thành các tài sản độc quyền, cho dù chỉ trong một thời gian nhất định. Các quyền này cho phép SME đạt được quyền sở hữu đối với tài sản vô hình và khai thác tối đa các tài sản này. Tóm lại, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ làm cho tài sản vô hình “trở nên hữu hình” bằng cách biến chúng thành các tài sản độc quyền có giá trị có thể trao đổi thương mại được trên thị trường. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Nếu các ý tưởng đổi mới, các kiểu dáng sáng tạo và thương hiệu mạnh của SME không được bảo hộ pháp lý bằng các quyền sở hữu trí tuệ thì chúng có thể được sử dụng tự do và rộng rãi bởi các doanh nghiệp khác mà không hề có sự hạn chế nào. Tuy nhiên, khi được bảo hộ sở hữu trí tuệ, chúng sẽ tạo ra giá trị nhất định đối với doanh nghiệp vì khi chúng trở thành các quyền tài sản mà không thể bị thương mại hóa hoặc sử dụng nếu không có sự cho phép của công ty.

Dần dần, các nhà đầu tư, các nhà môi giới chứng khoán và các nhà tư vấn tài chính nhận thức được thực tế này và bắt đầu đánh giá cao tài sản trí tuệ. Các doanh nghiệp trên toàn thế giới cũng ngày càng nhận thức được giải trị tài sản trí tuệ của họ và đôi khi đã đưa chúng vào các bản cân đối tài chính của mình. Nhiều doanh nghiệp, bao gồm SMEs, đã bắt đầu tiến hành kiểm toán công nghệ và sở hữu trí tuệ thường xuyên. Trong một số trường hợp, các doanh nghiệp đã nhận thấy rằng trên thực tế tài sản trí tuệ của họ giá trị hơn tài sản hữu hình của họ. Điều này thường nhận thấy tại các công ty hoạt động trong các lĩnh vực có hàm lượng tri thức và có tính sáng tạo cao hoặc các công ty có tên tuổi lớn hoạt động trong lĩnh vực mang tính tri thức và sáng tạo cao, hoặc các doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng.

Có thể nói, thương hiệu là tên, là hồn doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp thờ ơ với việc bảo hộ thương hiệu của doanh nghiệp mình, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu cần tầm nhìn và cái tâm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, để các thương hiệu Việt có thể tồn tại với thời gian. 3.2. Quản trị, duy trì và bảo vệ thương hiệu

Đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ thực chất là nhằm bảo hộ thương hiệu trên khía cạnh pháp lý, nhằm đảm bảo rằng các yếu tố sở hữu trí tuệ của thương hiệu được pháp luật bảo hộ sẽ không bị xâm phạm hoặc “ăn cắp” bởi bất cứ một tổ chức cá nhân nào khác. Tuy nhiên, xét về khía cạnh thị trường thì thương hiệu của doanh nghiệp có được bền vững, có được dài lâu hay không còn phụ thuộc và chiến lược bảo quản trị, bảo vệ thương hiệu xuất phát từ chính doanh nghiệp.

Tuy nhiên, xây dựng thương hiệu đã là một chặng đường dài và đầy những khó khăn, nhưng khi đã tạm định hình được thương hiệu và sự nhận biết thương hiệu thì doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thường lơ là việc quản trị thương hiệu và bảo vệ thương hiệu dài lâu. Việc bảo vệ thương hiệu cần được đặc biệt chú trọng khi thương hiệu đã vượt qua giai đoạn thứ nhất và thứ hai của ṿng đ ời thương hiệu, bước vào giai đoạn thứ 3 và các giai đoạn tiếp theo nữa. Bảo vệ thương hiệu không chỉ là bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ khỏi sự xâm phạm của các đối thủ cạnh tranh và còn là bảo vệ sự nhận biết, trải nghiệm của khách hàng với thương hiệu, bảo vệ sự trung thành của khách hàng với thương hiệu để thương hiệu tồn tại bền lâu, đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.

Đối với thương các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thương hiệu thường phải đối mặt với những nguy cơ cơ bị lạc hậu, không giữ được tính cách đề ra, không duy trì được khả năng làm khách hàng hài lòng, bị thương hiệu khác vượt trội hơn… Vì thế doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải: luôn luôn đổi mới để không bị lạc hậu và lãng quên bằng các biện pháp truyền thông “nhắc nhở”, phải giữ được tính cách đặc trưng mà tạo được ấn tượng đặc biệt với người tiêu dùng, và không được chủ quan khi đưa ra quyết định với thương hiệu; Thận trọng khi mở rộng thương hiệu: Rõ ràng thương hiệu tạo ra sẽ tạo tiền đề tốt khi muốn mở rộng theo ngành hàng, theo nhóm hàng…có liên quan hoặc không liên quan. Tuy nhiên có thể nó sẽ dẫn đến việc hạ thấp giá trị thương hiệu. Phải giữ được tính cách đặc trưng. Có những thương hiệu tồn tại hàng chục năm mà không thay đổi hoặc mở rộng, không phải vì họ lười biếng; Trong quá trình hiện tại, nhiều nhà lãnh đạo đã quên đi một việc rất đơn giản là hợp thức hoá thương hiệu. Đó là bài học đắt giá khi tham gia vào quá trình hội nhập.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về chi phí, nên họ hầu như không thuê các nhân viên chuyên xây dựng chiến lược xây dựng và bảo vệ thương hiệu và hình ảnh thương hiệu trong lòng khách hàng. Các doanh nghiệp SME hầu như không thuê tư vấn và luật sư về thương hiệu để có thể lựa chọn dễ dàng các giải pháp trong khi ngày một khó khăn trong việc tạo ra thương hiệu mớivà quản trị thương hiệu ấy. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chưa quen nhiều với việc bỏ ra những chi phí này. Thậm chí họ cho rằng chi phí đó là không cần thiết, lẵng phí nguồn vồn hữu hạn lại không mang lại lợi ích gì. Tuy nhiên có một khẳng định rằng: Đó không phải là một chi phí mất trắng và vô ích.

3.3. Bảo vệ thương hiệu trên internet Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Trong thời đại công nghệ số, doanh nghiệp có thể xây dựng thương hiệu qua internet thì cũng cần thiết phải quan tâm tới vấn đề bảo vệ thương hiệu trên internet

Từ những chiến dịch tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng hay từ chính kinh nghiệm làm ăn của mình, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng của thương hiệu (nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ) và dành cho thương hiệu một sự đầu tư xứng đáng trong chiến lược kinh doanh. Để dễ nhớ, thu hút sự chú ý và đồng thời tiếp thị cho chính mình, các chủ thể thường đăng ký tên miền theo tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa hoặc các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả… thuộc sở hữu của họ.

Trong các hình thức đó, tên miền đã được biết đến như thương hiệu trên Internet của doanh nghiệp. Một đặc trưng của thương hiệu là tính duy nhất trên một phạm vi lãnh thổ nào đó, thường là một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia có công nhận đăng ký thương hiệu của nhau. Tên miền cũng có đặc tính tương tự, và hơn thế, tên miền còn là duy nhất trên toàn thế giới. Hơn thế nữa, tên miền cùng với nội dung website đi kèm đem lại cho người đọc rất nhiều thông tin về doanh nghiệp đó. Điều này mang tính bổ trợ đặc biệt cần thiết cho những thương hiệu mới “trình làng” hoặc chưa để lại ấn tượng sâu đậm nơi người tiêu dùng. Sử dụng địa chỉ thư điện tử mang tên miền doanh nghiệp vừa mang tính chuyên nghiệp, vừa thể hiện sự quan tâm đối với việc phát triển thương hiệu.

Thông thường, các công ty hay cá nhân lấy cắp nhãn hiệu, thương hiệu và tên miền đều nhằm vào mục đích trục lợi cá nhân. Bởi vì, như chúng ta đều biết, đăng ký một tên miền chỉ mất vài chục USD, song khi bán lại thì chắc chắn cái giá phải là hàng ngàn USD; còn đăng ký sở hữu một nhãn hiệu hay thương hiệu chỉ mất chi phí chừng 1200- 1500 USD, nhưng nếu mua lại phải tốn khoảng 50 ngàn đến hàng trăm ngàn USD, tuỳ vào kết quả thương lượng giữa hai bên.

Về tên miền trên mạng Internet, nhiều doanh nghiệp đã sớm có ý thức trong việc đăng ký và bảo vệ, nhưng riêng đối với sở hữu thương hiệu và nhãn hiệu thì vấn đề rắc rối hơn nhiều, nhất là với các thương hiệu uy tín, bởi thương hiệu là một trong những yếu tố kinh doanh quan trọng bậc nhất, không thể thay đổi một sớm một chiều được. Điều khó cho các công ty là những người vi phạm sở hữu thương hiệu hay sở hữu bản quyền nhãn hiệu hàng hoá thường lại chính là các đối tác kinh doanh của họ. Những đối tác này đã có thời gian khá dài tìm hiểu về công ty, nắm bắt được các điểm mạnh và điểm yếu của công ty, sau đó họ mới “xuất chiêu” lấy cắp sở hữu bản quyền thương hiệu.

Khi phương thức kinh doanh mới ra đời cũng là lúc doanh nghiệp cần thay đổi phương thức xây dựng và bảo vệ thương hiệu truyền thống. Mặc dù, phương thức này còn khá mới mẻ và thực sự là thách thức đối với các SME nhưng để phát triển và hòa nhập được với tốc độ phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Nếu như doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tận dụng phương thức mới này trong việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu thì đó lại trở thành thế mạnh và thuận lợi của “những người bé nhỏ”. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xây dựng thương hiệu tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về DN vừa và nhỏ tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464