Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

II. Đánh giá các điều kiện xây dựng và phát triển Bancassurance ở Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ thời gian qua

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh dịch vụ Bancassurance ở Việt Nam

Bancassurance đã xuất hiện ở Việt Nam trong một thời gian khá dài, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào mang tính điều chỉnh hoạt động Bancassurance. Thực tế cho thấy, khi thực hiện một hoạt động mới mẻ như Bancassurance, các ngân hàng và công ty bảo hiểm vẫn chưa nghiên cứu, tìm hiểu rõ chính sách, cách làm của mình có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không; mặt khác cũng chưa có quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động này. Đây là một bất cập làm cho các ngân hàng và các công ty bảo hiểm lúng túng trong việc áp dụng Bancassurance và phần nào hạn chế sự phát triển của kênh phân phối này tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân hàng hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004); còn các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo Luật Kinh doanh bảo hiểm 2001 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Hai hệ thống văn bản pháp luật đó điều chỉnh hành vi kinh doanh của ngân hàng và bảo hiểm, căn cứ vào đó, quan hệ hợp tác giữa ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm được tiến hành trong đời sống kinh tế.

1.1. Luật Kinh doanh bảo hiểm 

1.1.1. Giới thiệu chung

Luật Kinh doanh bảo hiểm có 9 chương, 129 điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2001. Luật được ban hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế-xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.1.2. Quy định về khả năng tham gia cung cấp các dịch vụ ngân hàng của doanh nghiệp bảo hiểm Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Luật quy định, ngoài việc tự quyết đầu tư trong phạm vi vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp bảo hiểm có thể mua cổ phiếu ngân hàng hoặc cho vay như một ngân hàng thương mại. “Cơ quan quản lý Nhà nước đã có nhiều quy định để quản lý các doanh nghiệp bảo hiểm về vốn chủ sở hữu, ký quỹ, trích lập dự phòng nghiệp vụ, chỉ tiêu giám sát, xử phạt hành chính, phê duyệt và đăng ký sản phẩm. Nhưng rất tiếc là hoạt động đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm lại chưa có hướng dẫn cụ thể”, theo Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam Phùng Đắc Lộc.

Ông Lê Quang Bình, Vụ trưởng Bảo hiểm (Bộ Tài chính) cũng khẳng định lâu nay đã có cơ sở pháp lý chung cho hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp bảo hiểm, song hướng dẫn cụ thể cho từng lĩnh vực thì lại chưa có. “Là cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động bảo hiểm, chúng tôi thừa nhận quyền đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành, song để họ được tham gia vào những lĩnh vực cụ thể ngoài bảo hiểm phải có sự hướng dẫn và quản lý của các cơ quan liên quan. Lâu nay, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn cho vay ủy thác qua ngân hàng, nay để được vay trực tiếp phải chờ hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước”.

Theo ông Phùng Đắc Lộc, cũng vì chưa được hướng dẫn cụ thể, các doanh nghiệp bảo hiểm phải tự mò mẫm hoặc chủ động hỏi ý kiến cơ quan chức năng để thực hiện. Bảo Việt nhân thọ trước đây có ý định cho người tham gia bảo hiểm vay khi gặp khó khăn, nhưng lại bị cơ quan thanh tra kết luận là làm sai nguyên tắc vì áp dụng lãi suất thấp hơn ngân hàng. Bảo Minh thì đề nghị đối tác tiếp nhận đầu tư đi đăng ký tài sản đảm bảo, nhưng câu trả lời là chưa có hướng dẫn đối với doanh nghiệp bảo hiểm. Thậm chí có nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp bảo hiểm không được phép cho vay vì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng.

1.2. Luật các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi 2004 Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

1.2.1. Giới thiệu chung

Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 12/12/1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1998 quy định tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, để củng cố và nâng cao hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ năm đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng.

1.2.2. Quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm

“Điều 74 Luật các tổ chức tín dụng 1997 quy định về  kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm:

Tổ chức tín dụng được lập công ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng được cung ứng các dịch vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật.”

Tuy nhiên, luật không quy định rõ những nghiệp vụ nào tổ chức tín dụng đương nhiên được làm, những nghiệp vụ nào phải xin phép, nghiệp vụ nào phải thành lập công ty; việc góp vốn đầu tư thành lập công ty con và các loại hình công ty khác để thực hiện hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các lĩnh vực khác chưa được quy định rõ ràng, nhất là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng mẹ và công ty con.

1.3. Các luật điều chỉnh gián tiếp khác và văn bản dưới luật

1.3.1. Trong phần Phụ lục của

Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động bao thanh toán của các Tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quy định: dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm nằm trong danh mục các dịch vụ tài chính – ngân hàng. Cụ thể các dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm này là:

  • Bảo hiểm trực tiếp (kể cả đồng bảo hiểm):
  • Nhân thọPhi nhân thọ
  • Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm;
  • Trung gian bảo hiểm, như môi giới và đại lý;
  • Dịch vụ phụ trợ cho bảo hiểm, như tư vấn, dịch vụ đánh giá xác suất và rủi ro và dịch vụ giải quyết khiếu nại.

1.3.2. Quy định về các hoạt động liên quan đến tín dụng mà các doanh nghiệp bảo hiểm được phép tiến hành: Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

“ Điều 13, Nghị định 43 ban hành 1/8/2001 về đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ:

Đối với bảo hiểm phi nhân thọ:

  • Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng không hạn chế,
  • Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm,
  • Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính tín dụng tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

Đối với kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ:

  • Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng không hạn chế,
  • Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm,
  • Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.”

Ngoài ra, các Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật phá sản… và các thông tư như Thông tư của Bộ Tài chính số 111/2005/TT-BTC ngày 13 tháng 12 năm 2005 hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.v.v. điều chỉnh quá trình hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm tất nhiên có ảnh hưởng đến việc tính toán thu chi và các quyết định hợp tác của doanh nghiệp bảo hiểm.

Như vậy, chưa có quy định nào về việc hình thành một doanh nghiệp bảo hiểm trong ngân hàng và ngược lại. Luật Các tổ chức tín dụng chỉ có một điều khoản nói về việc ngân hàng được quyền cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhưng Luật Kinh doanh bảo hiểm lại không có điều khoản nào nói về việc các doanh nghiệp bảo hiểm được quyền cung ứng dịch vụ ngân hàng. Xét về mặt pháp lý, quan hệ hợp tác giữa ngân hàng và bảo hiểm mới chỉ được điều chỉnh theo một chiều: ngân hàng đươc kinh doanh bảo hiểm còn doanh nghiệp bảo hiểm không thể kinh doanh dịch vụ ngân hàng. Trong khi đó, trên thực tế, các công ty bảo hiểm đã tìm cách tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng. Trừ trường hợp tập đoàn Bảo Việt được thành lập Ngân hàng Bảo Việt (BAOVIET BANK) (chính thức đi vào hoạt động ngày 14 tháng 01 năm 2009), đã có Prudential mở rộng sang lĩnh vực tín dụng cá nhân với sự ra đời của Công ty Tài chính Prudential Việt Nam (Pru-Finance) vào ngày 09 tháng 10 năm 2001. Song nếu như lĩnh vực hoạt động của BAOVIET BANK bao gồm kinh doanh các nghiệp vụ như huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, các hoạt động khác theo quy định của pháp luật chứ không phải phục vụ cho việc kinh doanh bảo hiểm; thì Pru-Finance cũng chỉ là một tổ chức phi ngân hàng với chức năng sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm. Công ty Tài chính Prudential hiện đang cung cấp các sản phẩm: Vay tiêu dùng cá nhân, Vay mua nhà, Vay hỗ trợ mua sắm, phục vụ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam.

Trong tương lai sẽ còn có nhiều công ty bảo hiểm và ngân hàng có kế hoạch thành lập các ngân hàng và các công ty bảo hiểm trực thuộc để phát triển thành các tập đoàn tài chính – ngân hàng hay tài chính – bảo hiểm lớn mạnh, do đó việc ban hành các quy định điều chỉnh các hoạt động này đang được đặt ra một cách thiết yếu.

Tuy nhiên, hiện nay chế độ quản lý Nhà nước về bảo hiểm ngày càng được hoàn thiện hơn làm cơ sở pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động lành mạnh và người dân tin tưởng doanh nghiệp bảo hiểm hơn. Thị trường bảo hiểm Việt Nam sau hơn hai năm gia nhập WTO đã có những hình ảnh đậm nét của một ngành sẵn sàng hội nhập và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Chế độ quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được hoàn thiện hơn để củng cố và phát triển thị trường bảo hiểm.

2. Khả năng đáp ứng của nhà cung cấp dịch vụ Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Có thể nói, việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng trên thị trường Việt Nam không phải trực tiếp xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, vì nhận thức của khách hàng Việt Nam đối với kênh phân phối này còn hạn chế (sẽ phân tích ở mục 3); mà xuất phát từ nhận thức của chính các công ty bảo hiểm cũng như ngân hàng nhằm đem đến một công cụ tiện ích và tiết kiệm thời gian, nguồn lực cho khách hàng, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này. Và khả năng của nhà cung cấp dịch vụ hiện nay hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu còn thấp của khách hàng. Tuy nhiên, chúng ta phải xét chiều ngược lại. Lượng khách hàng mua bảo hiểm qua ngân hàng còn thấp do nhận thức của họ về loại hình dịch vụ này chưa cao, cũng chính là do khả năng tuyên truyền, quảng bá của đơn vị cung cấp còn hạn chế. Sự hợp tác còn sơ khai của ngân hàng và bảo hiểm, cũng như trình độ cơ sở hạ tầng công nghệ còn kém phát triển khiến cho Bancassurance chưa thu hút được lượng khách hàng xứng đáng với tiềm năng và những tiện ích mà nó mang lại.

Các ngân hàng và công ty bảo hiểm khi tìm kiếm đối tác luôn muốn có một sự hợp tác uy tín, góp phần nâng cao hình ảnh của hai bên nên những cái “bắt tay” trong những năm đầu của Bancassurance tại Việt Nam hiện nay đều đảm bảo được phần nào về mặt chất lượng và năng lực. Các công ty bảo hiểm nhân thọ mới gia nhập thị trường đều xác định sẽ mở rộng mạng lưới phân phối qua ngân hàng nhưng đang ở bước đầu thăm dò. Còn các công ty đã có chỗ đứng trên thị trường đều đã hợp tác với các ngân hàng uy tín và có mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc: Prudential hợp tác với Ngân hàng Standard Chartered,

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB); Bảo Việt hợp tác với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng ngoài quốc doanh (VPBank), Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC)…

Dù chưa được thử thách thực sự nhưng các nhà cung cấp dịch vụ Bancassurance vẫn đang tích cực chuẩn bị để phát triển kênh ngân hàng thành một kênh phân phối bảo hiểm hiệu quả và tạo nên sự khác biệt trong tương lai.

3. Nhận thức của khách hàng về loại hình dịch vụ này

Người viết đã tiến hành một cuộc khảo sát đối với 50 người có những giao dịch thường xuyên với ngân hàng và đồng thời, sở hữu hợp đồng bảo hiểm, bao gồm nhiều đối tượng: nội trợ, doanh nhân, công chức, sinh viên… Những phân tích sau được thực hiện dựa trên kết quả thu được từ việc yêu cầu các đối tượng này trả lời 7 câu hỏi trắc nghiệm:

Bạn có biết về kênh phân phối bán bảo hiểm qua ngân hàng không?

Hình 1. Tỷ lệ người biết Bancassurance

Trong số những người được hỏi, 70% trả lời có biết ngân hàng mình giao dịch cung cấp dịch vụ Bancassurance. Họ biết về các loại hợp đồng bảo hiểm ngân hàng cung cấp và có nghe nói về công ty bảo hiểm mà ngân hàng hợp tác. Tuy nhiên, 30% số người trả lời tỏ ra lạ lẫm với dịch vụ này và không biết gì về các dịch vụ bảo hiểm cung cấp bởi ngân hàng của họ.

Bạn đã bao giờ mua bảo hiểm từ ngân hàng mình giao dịch chưa?

Hình 2. Tỷ lệ người mua bảo hiểm ở ngân hàng của họ

Trong số những người tham gia khảo sát, chỉ có 33% đã mua bảo hiểm từ ngân hàng, còn lại 67% người trả lời chưa hề mua bảo hiểm từ ngân hàng của họ. Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Đơn bảo hiểm được mua nhiều nhất là bảo hiểm liên quan đến khoản vay, có thể là bảo hiểm nhà ở hoặc bảo hiểm xe cơ giới. 63% số người được khảo sát nói họ mua bảo hiểm cho khoản vay từ ngân hàng. Chỉ có 23% mua bảo hiểm tiền gửi bởi đó là một phần của chương trình gửi tiền. Chỉ 18% mua bảo hiểm nhân thọ từ ngân hàng và 42% mua các danh mục khác.

Hình 4. Lý do mua bảo hiểm ở ngân hàng

80% nói rằng họ mua bảo hiểm vì lí do an toàn. 65% nói là vì họ tin vào ngân hàng mà mua bảo hiểm. Trong khi đó, 40% số người nói rằng uy tín của công ty bảo hiểm cũng là một yếu tố quan trọng. Chỉ 28% cho rằng tiết kiệm là lí do khiến họ mua bảo hiểm.

Bạn sẽ chọn hình thức phân phối bảo hiểm nào để mua bảo hiểm Hình 5. Hình thức phân phối bảo hiểm được lựa chọn

50% chọn đại lý vì họ cung cấp những dịch vụ phù hợp với từng cá nhân. 20% mua bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm bởi niềm tin đối với công ty. 23% nói rằng họ mua bảo hiểm từ ngân hàng bởi thương hiệu và niềm tin đối với ngân hàng. Chỉ 7% số người được hỏi mua bảo hiểm từ người môi giới.

90% số người tham gia cho rằng ngân hàng nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động và chiến lược bán hàng của mình sẽ thành công nhất trong lĩnh vực này. 70% bầu cho ngân hàng tư nhân với chính sách tiếp thị cạnh tranh và chất lượng dịch vụ tốt. Ngân hàng Nhà nước nhận được ít sự ủng hộ nhất do khả năng tiếp cận thị trường chậm.

Bạn có nghĩ Bancassurance sẽ có triển vọng tốt đẹp?

Hình 7. Ý kiến về triển vọng phát triển của Bancassurance tại Việt Nam

95% mọi người nói họ tin Bancassurance sẽ có một tương lai tươi sáng bởi tiềm năng to lớn của ngành bảo hiểm ở Việt Nam. Nhưng 5% tin rằng với sự xuất hiện của các công nghệ mới như ATM’s, Internet banking…, bán bảo hiểm qua ngân hàng sẽ không còn chỗ đứng.

  • Mặc dù khái niệm Bancassurance khá đơn giản về mặt lí thuyết, nhưng trong thực tế còn lâu mới có thể trở nên phổ cập.
  • Hầu hết mọi người có nhận thức về Bancassurance và cho rằng ngân hàng của mình bán nhiều sản phẩm bảo hiểm khác nhau. Nhưng vẫn còn một số ít không biết đến khái niệm này.
  • Cũng có thể nhận thấy rằng các ngân hàng có rất nhiều cơ hội bán sản phẩm bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm cũng có cơ hội tận dụng mạng lưới ngân hàng.
  • Ngoài ra, khách hàng có nhiều niềm tin đối với ngân hàng và vì sự tin tưởng đó mà họ mua các sản phẩm bảo hiểm từ ngân hàng.
  • Thương hiệu của ngân hàng cũng như hình ảnh các công ty bảo hiểm rất quan trọng nên ngân hàng và bảo hiểm phải chọn cho mình đối tác thích hợp để hợp tác. Điều này sẽ giúp cải thiện hình ảnh của họ trong tâm trí khách hàng.
  • Cuộc khảo sát cũng chỉ ra rằng ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài có tương lai tốt đẹp hơn với Bancassurance. Nhưng ngân hàng quốc doanh cũng đang cố gắng tham gia cạnh tranh.
  • Kinh doanh bảo hiểm có thể còn con đường dài phía trước khi phần lớn dân số vẫn chưa có nhận thức đúng về bảo hiểm. Mặt khác, điều này cho thấy các công ty bảo hiểm có một thị trường tiềm năng lớn trong các năm tới.
  • Các ngân hàng thất bại trong việc cung cấp các dịch vụ cá nhân hóa mà các đại lý làm rất tốt. Vì vậy, đây sẽ là khu vực mà ngân hàng phải cải thiện. Họ nên cung cấp các dịch vụ hậu mãi cho khách hàng.
  • Ngày nay, ngân hàng đang cố gắng cung cấp mọi dịch vụ và từng dịch vụ một cho khác hàng. Bằng việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm, ngân hàng có thể thêm một dịch vụ vào danh mục của mình.

III. Tình hình kinh doanh và sử dụng kênh phân phối Bancassurance trong lĩnh vưc bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam thời gian qua Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

1. Giới thiệu chung về thị trường dịch vụ Bancassurance nhân thọ

Như đã nói ở trên, trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay, ngoài Bảo Việt Nhân thọ, tất cả nhà cung cấp đều là các công ty nước ngoài đến từ những tập đoàn bảo hiểm lớn trong khu vực và trên thế giới, nơi Bancassurance đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Các công ty nước ngoài này đến Việt Nam đều nhận định Bancassurance sẽ là một kênh phân phối hiệu quả thay thế cho kênh phân phối truyền thống hiện nay và đã từng bước kết hợp tên tuổi mình với hệ thống các ngân hàng uy tín. Tuy nhiên, chính Bảo Việt mới là người đi tiên phong trong việc đa dạng hóa kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm tới khách hàng qua việc hợp tác với các ngân hàng từ rất sớm; gần đây nhất, Bảo Việt Nhân thọ đã bổ sung vào danh sách ngân hàng đối tác của mình Ngân hàng Standard Chartered. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đều đang tiến hành mở rộng mạng lưới phân phối sang ngân hàng.

Không thể nói thị trường Bancassurance nhân thọ nước ta đang phát triển sôi động khi thông tin về các thỏa thuận hợp tác xuất hiện không nhiều và đều được đăng báo như những bước đặt nền móng đầu tiên trong khi đây đã là một kênh phân phối quan trọng và phổ biến của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới. Ngay các website chính thức của các công ty bảo hiểm nhân thọ cũng không có nhiều thông tin về bán bảo hiểm qua ngân hàng dù có đề cập tới.

Các dịch vụ Bancassurance chưa hẳn đã thiết lập được một thị trường ở Việt Nam mà chỉ là một kênh phụ trong mạng lưới phân phối của công ty bảo hiểm, khi hệ thống đại lý vẫn còn giữ vai trò to lớn trong điều kiện hiểu biết của người dân về bảo hiểm nhân thọ còn thấp; và cũng chỉ là một biện pháp mở rộng và hoàn thiện danh mục sản phẩm của ngân hàng cũng như tránh rủi ro cho chính bản thân ngân hàng trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính của mình.

2. Tình hình kinh doanh kênh phân phối Bancassurance tại các ngân hàng Việt Nam Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Các ngân hàng Việt Nam tiếp cận với sản phẩm bảo hiểm từ chính nhu cầu cần được bảo hiểm. Không chỉ quan tâm đến các sản phẩm bảo hiểm chuyên biệt như bảo hiểm trách nhiệm phát hành lần đầu ra công chúng (IPO), bảo hiểm trọn gói rủi ro cho tổ chức ngân hàng, bảo hiểm tín dụng thương mại, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp các tổ chức tín dụng… mà các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cung cấp, các ngân hàng còn tính đến khả năng rủi ro đối với việc trả nợ của khách hàng từ những rủi ro từ nhân thân của họ. Đó chính là những gì mà bảo hiểm nhân thọ có thể khắc phục. Và hợp tác với các công ty bảo hiểm nhân thọ là một giải pháp tối ưu của ngân hàng để hạn chế rủi ro. Cùng với mục đích đa dạng hóa sản phẩm, ngân hàng đã trở thành một nhà phân phối bảo hiểm nhân thọ.

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng hoạt động tại Việt Nam đều đã ít nhiều “lấn sân” sang lĩnh vực bảo hiểm nhưng chỉ một số ít ngân hàng thể hiện rõ ràng là kênh phấn phối bảo hiểm nhân thọ, còn phần lớn vẫn coi bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm bổ sung để hạn chế rủi ro mà thôi. Tại các trụ sở chi nhánh ngân hàng, việc quảng bá sản phẩm bảo hiểm tới khách hàng chưa hiệu quả.

Đến cuối năm 2005, doanh thu phí bảo hiểm qua hệ thống ngân hàng của Việt Nam chưa đạt 1,5% tổng doanh thu phí, trong khi đó tỷ lệ này ở Hồng Kông là 45%, Singapore là 18%, Malaysia là 12%, Ấn Độ là 20%, Thái Lan là 12%. Điều này cho thấy hoạt động Bancassurance ở Việt Nam còn kém rất xa so với các nước lân cận.

3. Tình hình sử dụng kênh phân phối Bancassurance tại các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam

Dù tất cả các doanh nghiệp đều có mục tiêu phát triển kênh phân phối qua ngân hàng nhưng hiện nay trên thị trường Việt Nam, mới chỉ có 6 doanh nghiệp sử dụng kênh phân phối này. Đó là Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Prévoir Việt Nam, Manulife Việt Nam, Prudential, AIG Việt Nam, ACE Life Việt Nam và Bảo Việt nhân thọ:

Prévoir Việt Nam liên kết với các ngân hàng Sacombank, ACB và Habubank (Ngân hàng thương mại cổ phần nhà);

  • Manulife Việt Nam hợp tác với Ngân hàng ACB để phân phối sản phẩm An Phúc Gia và liên kết với ngân hàng Đông Á trong dịch vụ thanh toán phí bảo hiểm qua ngân hàng;
  • Prudential hợp tác với Ngân hàng Standard Chartered, HSBC…;
  • AIG Việt Nam hợp tác phân phối các loại hình bảo hiểm nhân thọ, bao gồm cả dòng sản phẩm liên kết giữa bảo hiểm nhân thọ và các khoản vay ngân hàng với Ngân hàng Việt Nam Thương Tín (VietBank);
  • ACE Life Việt Nam hợp tác với Sacombank phân phối các sản phẩm Kế hoạch Tiết kiệm Đảm bảo, Kế hoạch Tiết kiệm Tích lũy Đảm bảo, Kế hoạch Tín dụng Bảo tín – Vay Tín chấp, kế hoạch Tiết kiệm Đảm bảo liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng; và
  • Bảo Việt nhân thọ hợp tác với hàng loạt ngân hàng như: Agribank, HSBC, Standard Chartered, VPBank, Techcombank…

Các công ty còn lại đang trong giai đoạn quan sát thị trường và từng bước triển khai hệ thống phân phối qua ngân hàng. Cathay Life chủ trương sẽ mở rộng bảo hiểm nhóm và bảo hiểm liên kết ngân hàng bằng cách cộng tác với Ngân hàng Indovina và ngân hàng Cathay United (Việt Nam) cùng khách hàng của họ. Với hai kênh phân phối qua hệ thống đại lý và kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng thương mại, Great Eastern có mạng lưới hoạt động rộng khắp trong khu vực với trụ sở chính tại Singapore và hơn 50 văn phòng hoạt động tại các nước Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Brunei và chắc chắn không thể bỏ qua mạng lưới ngân hàng Việt Nam trong việc phân phối sản phẩm của mình trong thời gian tới…

4. Đánh giá tình hình kinh doanh và sử dụng kênh phân phối Bancassurance trong lĩnh vưc bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam thời gian qua Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Thuận lợi

Kênh phân phối Bancassurance đã hình thành và phát triển trong thời gian qua chính là nhờ tầm nhìn của các công ty bảo hiểm nhân thọ. Không chỉ nhận thấy tiềm năng to lớn của bảo hiểm nhân thọ ở thị trường 83 triệu dân với 60% dân số dưới độ tuổi 30 và chỉ 5% tham gia bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm này từ kinh nghiệm ở các thị trường khu vực và trên thế giới đã ngay lập tức thấy được hệ thống ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam có ý nghĩa thế nào trong việc phổ biến và phân phối sản phẩm của họ ra thị trường.

Thứ hai, chính là ý thức đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng đã khiến các ngân hàng tham gia vào mối quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm. Đa dạng hóa danh mục sản phẩm để tiến tới mô hình “siêu thị một cửa”, các ngân hàng đồng thời tìm giải pháp hạn chế rủi ro cho chính mình và tăng lợi nhuận từ khoản chia hoa hồng và phí bảo hiểm thu được.

Và lí do cho tất cả những động thái này chính là sự cạnh tranh ngày càng tăng trong cả thị trường bảo hiểm nhân thọ và ngân hàng. Sự đổ bộ của hàng loạt doanh nghiệp nước ngoài, nhận thức ngày càng tăng của người tiêu dùng, xu hướng mở rộng sản phẩm tiến tới một vài trùng lặp của hai định chế tài chính này thời gian gần đây buộc ngân hàng và bảo hiểm phải phối hợp tìm ra một kênh liên kết chung, đó là Bancassurance. Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Bancassurance phát triển trong thời gian qua chính là do thuận lợi mà môi trường kinh tế phát triển năng động của Việt Nam mang lại.

Khó khăn

Do hoạt động Bancassurance mới ở giai đoạn đầu nên các ngân hàng và các Công ty bảo hiểm chưa nhận thức đầy đủ lợi ích từ Bancassurance, chưa có cam kết song phương mạnh mẽ, cũng như chưa có kinh nghiệm trong việc lựa chọn cách làm phù hợp bởi đặc điểm của mỗi thị trường mỗi khác, không thể bê nguyên mô hình đã phát triển ở châu Âu hay các nước châu Á khác vào Việt Nam. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng chưa sẵn sàng thay đổi phương thức quản lý, kinh doanh, do vậy khó có thể phù hợp với việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm.

Trong chiến lược kinh doanh của nhiều ngân hàng thương mại hiện nay vẫn còn nhiều chỗ trống cho các sản phẩm bảo hiểm, nhưng nhiều ngân hàng chưa thực sự chú ý khai thác. Ngược lại, trong chiến lược của nhiều công ty bảo hiểm, sự kết hợp giữa bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng chưa rõ nét.

Sản phẩm bảo hiểm nhìn chung chưa phù hợp với việc bán qua ngân hàng. Cho đến nay, có rất ít sản phẩm chuyên biệt để bán qua ngân hàng. Hiện nay, trên 90% doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của thị trường Việt Nam là từ các sản phẩm tiết kiệm, do vậy tạo ra sự cạnh tranh trực tiếp đối với tiết kiệm ngân hàng. Đấy cũng là một trong những lý do khiến ngân hàng không mấy mặn mà trong việc bán sản phẩm bảo hiểm.

Mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ cao, nhưng cơ bản vẫn còn thua xa so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, do vậy chưa tạo được cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động Bancassurance. Nhiều chi nhánh ngân hàng chưa đủ nguồn lực (công nghệ, nhân lực), đặc biệt còn thiếu không gian dành cho việc giới thiệu và bán sản phẩm bảo hiểm.

Hệ thống ngân hàng vẫn e ngại trong việc chia sẻ thông tin. Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có quy định rõ ràng về việc bảo vệ dữ liệu cũng như chưa có hướng dẫn về việc các ngân hàng được làm gì. Điều này dẫn đến sự e dè của ngân hàng trong hoạt động Bancassurance.

Hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào khách hàng là các doanh nghiệp; khách hàng cá nhân chưa được coi trọng đúng mức. Quan trọng hơn, các ngân hàng Việt Nam chưa có “sự trung thành” cao của khách hàng. Do vậy, lượng khách hàng tiềm năng cho bảo hiểm không dồi dào. Bên cạnh đó, dữ liệu về khách hàng của ngân hàng hiện nay còn khá sơ sài nên việc trợ giúp cho việc khai thác bảo hiểm còn hạn chế.

Khách hàng còn ít hiểu biết về các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng. Đến nay, phần đông khách hàng chưa quen hoặc không biết việc sản phẩm bảo hiểm có thể được bán tại ngân hàng. Mặc dù số lượng khách hàng gửi tiết kiệm ở các ngân hàng Việt Nam rất lớn, nhưng phần lớn dân chúng chưa có tài khoản ngân hàng, những người có tài khoản thì đa phần chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, phần đông dân chúng vẫn chưa quen tập quán bảo hiểm, còn các công ty bảo hiểm chưa tạo lập được uy tín, hình ảnh mạnh mẽ trong dân chúng.

Các ngân hàng và công ty bảo hiểm Việt Nam chưa giải quyết tốt các vấn đề cần thiết của hoạt động Bancassurance như: đào tạo đội ngũ bán hàng, thù lao, cách thức tiếp cận với khách hàng… Trên thực tế, việc đào tạo về nghiệp vụ bảo hiểm cho nhân viên ngân hàng mới được thực hiện ở mức sơ sài và nội dung đào tạo cho nhân viên ngân hàng không có khác biệt nhiều so với đào tạo đại lý nên dễ gây nhàm chán đối với người học.

Còn thiếu sự nhất quán từ trên xuống dưới của các ngân hàng trong việc thực hiện thỏa thuận. Trên thực tế, công ty bảo hiểm kí thỏa thuận chung với trụ sở chính ngân hàng nhưng khi triển khai tại các chi nhánh ngân hàng thường gặp khó khăn, chẳng hạn, các chi nhánh không áp dụng đúng mức phí, mức thù lao đã thỏa thuận, không cung cấp không gian, dữ liệu khách hàng.

Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động Bancassurance ở Việt Nam còn nhiều bất cập làm cho các ngân hàng và các công ty bảo hiểm lúng túng khi áp dụng. Thực tế cho thấy, khi thực hiện một chính sách, cách làm mới (ví dụ như bancassurance), các ngân hàng và công ty bảo hiểm chưa nghiên cứu, tìm hiểu rõ chính sách, xem cách làm của mình có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không. Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát chuyển bảo hiển nhân thọ tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464