Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn thực hiện pháp luật về an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát chung về phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Vị trí địa lý:

  • Phường Phương Đông nằm ở phía tây thành phố Uông Bí, có vị trí địa lý:
  • Phía đông giáp các phường Thanh Sơn và Yên Thanh
  • Phía tây giáp thị xã Đông Triều
  • Phía nam giáp phường Phương Nam và thành phố Hải Phòng
  • Phía bắc giáp xã Thượng Yên Công.
  • Phường Phương Đông có diện tích 23,98 km².

Thông tin chung:

  • Tên cơ quan: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể – chính trị phường Phương Đông
  • Địa chỉ: Khu Tân Lập 1, phường Phương Đông, Thành phố Uông Bí
  • Điện thoại: 0203.3854.468
  • Fax: 0203.3854.468
  • E-mail: Ủy ban nhân dânphuongdong
  • Ảnh Trụ sở phường Phương Đông

Giới thiệu chung

Phường Phương Đông được thành lập theo Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 24/8/2011 trên cơ sở xã Phương Đông trước đây. Nằm ở phía Tây Nam thành phố Uông Bí, phía Đông giáp phường Thanh Sơn và phường Yên Thanh, phía Nam giáp phường Phương Nam, phía Bắc giáp xã Thượng Yên Công, phía Tây giáp xã Phạm Hồng Thái, huyện Đông Triều [17].

Tổng diện tích đất tự nhiên là: 2.397,81 ha, được chia thành 12 khu dân cư gồm 3.958 hộ với trên 15.000 nhân khẩu định cư ổn định. Phường có hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện: có đường Quốc lộ 18A, Quốc lộ 10 chạy qua, có đường đi Yên Tử, đây là điều kiện rất thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và đô thị, phường có điều kiện phát triển kinh tế đa dạng ngành nghề như: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch – dịch vụ, sản xuất nông nghiệp chăn nuôi, thuỷ sản [17].

Văn hoá – Xã hội ngày được nâng lên, 12/12 khu có nhà sinh hoạt cộng đồng, có 01 trường Mầm non Phương Đông – Chuẩn cấp độ I; 02 trường Tiểu học Phương Đông A, Phương Đông B – Chuẩn cấp độ II; 01 trường Trung học cơ sở – Chuẩn cấp độ I [14]. Địa chỉ trụ sở Đảng uỷ – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân và các đoàn thể phường tại Khu Tân Lập – phường Phương Đông – thành phố Uông Bí – tỉnh Quảng Ninh [17]. Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Cơ cấu tổ chức của Phường gồm có tổ chức Đảng, đoàn thể chính trị – xã hội, khối Chính quyền gồm có 7 ban ngành trực thuộc. Tổng số cán bộ công chức, nhân viên hợp đồng Ủy ban nhân dân phường 32 đ/c, trong đó 22 cán bộ công chức, 10 cán bộ không chuyên trách và hợp đồng.

Trong đó:

  • Trình độ chuyên môn: Trên đại học: 03; Đại học: 13; Trung cấp, Cao đẳng: 04.
  • Trình độ Lý luận chính trị: Cao cấp, cử nhân: 02; Sơ cấp, Trung cấp: 19.

Cơ sở vật chất: Ủy ban nhân dân phường Phương Đông được xây dựng kiên cố, có 2 dãy nhà 2 tầng, với 20 phòng làm việc, 01 phòng họp nhỏ, 01 hội trường lớn, 01 gara để xe. Tại các phòng làm việc đều được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất đáp ứng tốt nhu cầu làm việc như: Tủ đựng tài liệu, bàn ghế, máy tính, máy in, máy phôtô, mạng Internet [17]…

2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

  • Trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng

Thực trạng thực hiện chế độ trợ cấp thường xuyên tại phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh được thể hiện qua báo cáo đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP năm 2022 và năm 2023.

TT Đối tượng Hệ số trợ cấp Số lượng Kinh phí (1.000đ)
Nam Nữ
1 Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng 4 3 62,100
a) Dưới 04 tuổi 1 13,500
b) Từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi 3 3 48,600
2 Người đơn thân thuộc hộ nghèo, cận nghèo đang nuôi con 2 16,200
3 Người cao tuổi 28 106 723,600
3.1

Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại điểm a khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng

28 106 723,600
Trong đó: thuộc diện hộ nghèo
4 Người khuyết tật 86 72 1,595,700
4.1 Người khuyết tật đặc biệt nặng 13 29 540,000
a) Dưới 16 tuổi 6 1 94,500
b) Từ 16 đến 60 tuổi 5 5 108,000
c) Từ đủ 60 tuổi trở lên 2 23 337,500
4.2 Người khuyết tật nặng 73 43 1,055,700
a) Dưới 16 tuổi 9 2 118,800
b) Từ 16 đến 60 tuổi 46 27 591,300
c) Từ đủ 60 tuổi trở lên 18 14 345,600
  Tổng: Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.   118 183 2,397,600

Bảng 2.2.1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông (số liệu tính đến thời điểm 10/12/2022)

Báo cáo đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông (số liệu tính đến thời điểm 10/12/2023) như sau:

TT Đối tượng Hệ số trợ cấp Số lượng Kinh phí (1.000đ)
Nam Nữ
1 Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng 2 3 59,000
a) Dưới 04 tuổi 14,000
b) Từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi 2 3 45,000
2 Người đơn thân thuộc hộ nghèo, cận nghèo đang nuôi con 3 36,000
3 Người cao tuổi 25 104 774,000
3.1

Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại điểm a khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng

25 104 774,000
Trong đó: thuộc diện hộ nghèo
4 Người khuyết tật 94 81 1,977,000
4.1 Người khuyết tật đặc biệt nặng 16 35 717,000
a) Dưới 16 tuổi 5 75,000
b) Từ 16 đến 60 tuổi 7 9 192,000
c) Từ đủ 60 tuổi trở lên 4 26 450,000
4.2 Người khuyết tật nặng 78 46 1,260,000
a) Dưới 16 tuổi 9 4 156,000
b) Từ 16 đến 60 tuổi 49 27 684,000
c) Từ đủ 60 tuổi trở lên 20 15 420,000
Tổng:   121 191 2,846,000

Bảng 2.2.2. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông (số liệu tính đến thời điểm 10/12/2023) Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Qua báo cáo thống kê đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông ta thấy rằng:

Đối với đối tượng là trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng so với năm 2022 thì năm 2023 có số người giảm hơn. Cụ thể đối tượng từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi có 5 người và không có đối tượng dưới 4 tuổi, ít hơn năm 2022: 2 đối tượng, trong đó có 1 đối tượng là trẻ em dưới 4 tuổi và 1 đối tượng từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi.

  • Đối tượng là người đơn thân thuộc hộ nghèo, cận nghèo đang nuôi con: năm 2023 có số lượng người tăng thêm. Cụ thể năm 2023 có 3 đối tượng và năm 2022 có 2 đối tượng.
  • Đối tượng là người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại điểm a khoản 5 mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng. Năm 2023 tổng số đối tượng giảm so với năm 2022, cụ thể năm 2023 có 25 đối tượng nam và 104 nữ; năm 2022 có 28 đối tượng nam và 106 đối tượng là nữ.
  • Đối tượng là người khuyết tật năm 2023 có tổng 175 đối tượng, năm 2022 có tổng 158 đối tượng. Cụ thể:

Năm 2023 đối tượng là người khuyết tật đặc biệt nặng có 16 đối tượng nam và 35 đối tượng nữ, năm 2022 có 13 đối tượng nam và 29 đối tượng nữ. Như vậy, năm 2023 có số lượng người người khuyết tật đặc biệt nặng tăng lên so với năm 2022.

Trong đó:

  • Đối tượng người khuyết tật dưới 16 tuổi năm 2023 có 5 người, năm 2022 có 7 người. 
  • Đối tượng là người khuyết tật từ 16 đến 60 tuổi năm 2023 có 16 người, năm 2022 có 10 người.
  • Đối tượng là người khuyết tật từ đủ 60 tuổi trở lên năm 2023 có 30 người, năm 2022 có 25 người.
  • Năm 2023 đối tượng là người khuyết tật nặng có 78 đối tượng nam và 46 đối tượng nữ, năm 2022 có 73 đối tượng nam và 43 đối tượng nữ. Như vậy, năm 2023 có số lượng người khuyết tật nặng tăng lên so với năm 2022.

Trong đó:

  • Đối tượng người khuyết tật dưới 16 tuổi năm 2023 có 13 người, năm 2022 có 11 người.
  • Đối tượng là người khuyết tật từ 16 đến 60 tuổi năm 2023 có 76 người, năm 2022 có 73 người.
  • Đối tượng là người khuyết tật từ đủ 60 tuổi trở lên năm 2023 có 35 người, năm 2022 có 32 người.
  • Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022 là 301 người, năm 2023 là 312 người.
  • Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2023 tăng so với năm 2022.

Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông

Theo bảng tổng hợp đối tượng hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông trong năm 2022 như sau:

 

TT

 Đối tượng Hệ số trợ cấp Số lượng Kinh phí (1.000đ)
Nam Nữ
1

Trẻ em dưới 16 tuổi, thuộc một trong các trường hợp (quy định tại điểm a, b, c, d, đ khoản 1 Điều 2, Nghị quyết 21/2021/NQ-HĐND)

  5 5 81,000
1.1

Trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng (Phụ lục 02a, Phụ lục 02b – ban hành kèm theo Nghị quyết số 21).

a) Dưới 04 tuổi 2.5
b) Từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi 1.5 5 5 81,000
2 Người cao tuổi     1 5,400
2.1

Người từ đủ 70 tuổi đến dưới 80 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng.

1,0 1 5,400

Bảng 2.2.3. Tổng hợp đối tượng hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022 Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Có 2 đối tượng là trẻ em từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 70 tuổi đến dưới 80 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng được hưởng trợ cấp xã hội.

Mức kinh phí và hệ số trợ cấp rõ ràng theo quy định của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và luật ngân sách nhà nước.

Số lượng người hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông trong năm 2022 ở mức trung bình. Với tổng 11 đối tượng, trong đó có 5 đối tượng nam và 6 đối tượng nữ.

Theo bảng tổng hợp đối tượng hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông trong năm 2023 như sau:

 TT  Đối tượng Hệ số trợ cấp Số lượng Kinh phí (1.000đ)
 Nam  Nữ
1 Trẻ em dưới 16 tuổi, thuộc một trong các trường hợp (quy định tại điểm a, b, c, d, đ khoản 1 Điều 2, Nghị quyết 21/2021/NQ-HĐND)   5 4 81,000
1.1 Trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng (Phụ lục 02a, Phụ lục 02b – ban hành kèm theo Nghị quyết số 21).
a) Dưới 04 tuổi 2.5
b) Từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi 1.5 5 4 81,000

Bảng 2.2.4. Tổng hợp đối tượng hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông năm 2023

  • Có 1 đối tượng là trẻ em từ đủ 04 tuổi đến dưới 16 tuổi được hưởng trợ cấp xã hội.
  • Mức kinh phí và hệ số trợ cấp rõ ràng theo quy định của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và luật ngân sách nhà nước.

Số lượng người hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND trên địa bàn phường Phương Đông trong năm 2023 ở mức thấp hơn so với năm 2022. Với tổng 9 đối tượng, trong đó có 5 đối tượng nam và 4 đối tượng nữ, không có đối tượng nào thuộc diện người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội.

Kết quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội về chế độ an sinh thường xuyên tại cộng đồng trên địa bàn Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Qua báo cáo đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022 và năm 2023 Phường Phương Đông đã đạt được những kết quả sau:

Phường đã thực hiện đúng đối tượng được hưởng của chính sách an sinh thường xuyên tại cộng đồng. Đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc cơ bản pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Phường Phương Đông đã thống kê, hỏi thăm các đối tượng và gia đình họ để kịp thời hỗ trợ, động viên, hỏi thăm, giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

Hầu như tất cả các đối tượng thuộc diện hưởng trợ cấp đều được điều tra, xác minh đầy đủ, tìm đúng người, hiệu quả, kịp thời.

Phần báo cáo về đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng làm chi tiết, đầy đủ, có số liệu qua các năm để kịp thời phân tích, so sánh, tìm ra những hạn chế, từ đó tiến hành thanh tra, kiểm tra, đề xuất giải pháp đảm bảo theo hướng tích cực.

Mức hưởng hỗ trợ đạt mức chuẩn an sinh xã hội theo quy định của Nghị định 20/2021/NĐ-CP.

Phường Phương Đông cũng chủ động trong việc tổ chức, cũng như thực hiện Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Như vậy, cho thấy việc đôn đốc, sát sao của lãnh đạo trong việc quan tâm đến các đối tượng cần sự an sinh xã hội. Đặc biệt đối tượng là trẻ em, người cao tuổi đã được quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn.

  • Trợ giúp xã hội khẩn cấp Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Theo báo cáo tổng hợp an sinh xã hội khẩn cấp, đột xuất, mai táng phí trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022:

  • Không có đối tượng thuộc diện hỗ trợ người bị thương nặng, an sinh lương thực trong năm 2022.
  • Hỗ trợ chi phí mai táng gồm có 22 người thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng quy định tại Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, mức kinh phí 198,000 đồng.
  • Nhóm các đối tượng khác; hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa; đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng trong năm qua không có trường hợp nào.

Theo báo cáo tổng hợp an sinh xã hội khẩn cấp, đột xuất, mai táng phí trên địa bàn phường Phương Đông năm 2023:

Trên địa bàn phường có 4 người được hỗ trợ thuộc đối tượng người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc do các lý do bất khả kháng khác tại nơi cư trú với mức kinh phí hỗ trợ 80,000 đồng.

10 người thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng quy định tại Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP được hỗ trợ chi phí mai táng, với mức kinh phí hỗ trợ 100,000 đồng.

1 người từ đủ 70 tuổi trở lên đến dưới 80 tuổi không có lương hưu, không được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng và chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo các chính sách khác thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng theo nghị quyết số Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND với mức kinh phí 8,000 đồng.

Không có hộ, người được an sinh lương thực; hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở và đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng.

Phường cũng có bảng biểu báo cáo tổng hợp an sinh xã hội khẩn cấp, đột xuất, mai táng phí trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022 và năm 2023 nguồn lực hỗ trợ như sau:

TT Nguồn lực hỗ trợ Đơn vị
1 Gạo Tấn
  Trong đó:
  + Trung ương cấp Tấn
  + Địa phương Tấn
  + Huy động Tấn
2 Tổng kinh phí 1000 đ
  Trong đó:
  + Ngân sách Trung ương cấp 1000 đ
  + Ngân sách địa phương 1000 đ
  + Huy động (bao gồm cả hiện vật quy đổi) 1000 đ

Kết quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội về chế độ an sinh xã hội khẩn cấp trên địa bàn Phường Phương, Thành phố Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh

Năm 2023 có số người hưởng an sinh xã hội khẩn cấp (15 người) thấp hơn năm 2022 (22 người). Số người hưởng an sinh xã hội khẩn cấp chủ yếu là hỗ trợ chi phí mai táng, người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng, tuổi không có lương hưu, không được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng và chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo các chính sách khác thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng theo nghị quyết số Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND. Không có trường hợp cần hỗ trợ lương thực, sửa chữa, làm nhà ở.

Phường đã đảm thực hiện mức hưởng đúng với quy định của pháp luật về mức chuẩn an sinh xã hội và hệ số hưởng quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP và luật ngân sách nhà nước. Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Các đối tượng thuộc diện được hưởng an sinh khẩn cấp được phát hiện kịp thời, đúng đối tượng, đúng nguyên tắc, đạt hiệu quả. Đặc biệt sau khi đại dịch Covid 19 xảy ra, phường đã thực hiện tốt trong việc kiểm soát dịch bệnh, các gia đình cần được an sinh cũng được thực hiện kịp thời, giúp ổn định cuộc sống trên địa bàn phường.

  • Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng

Chính sách đối với hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (người nuôi dưỡng) theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022 gồm 77 người được hưởng chế độ, cụ thể được thể hiện qua bảng dưới đây:

TT Đối tượng Hệ số trợ cấp Số lượng Kinh phí (1.000đ)
Nam Nữ
1

Hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng (quy định tại khoản 1 Điều 20, Nghị định 20/2021/NĐ-CP)

5 2 62,100
a) Nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ dưới 4 tuổi   1 13,500
b) Nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi 5 1 48,600
2

Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng (quy định tại điểm c khoản 2 Điều 20, Nghị định 20/2021/NĐ-CP)

32 38 378,000
Tổng:   37 40 440,100

Bảng 2.2.5. Tổng hợp chế độ đối với hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (người nuôi dưỡng) theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022 Trong đó:

  • Hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng có 7 trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ dưới 4 tuổi; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng 70 trường hợp.

Mức kinh phí: Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

  • Đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ dưới 4 tuổi là 13,500 đồng;
  • Đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi là 48,600 đồng;
  • Đối với hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng là 378,000 đồng.

Việc thực hiện chính sách đối với hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (người nuôi dưỡng) theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2023 gồm 87 người được hưởng chế độ, cụ thể như sau:

TT Đối tượng Hệ số trợ cấp Số lượng Kinh phí (1.000đ)
Nam Nữ
1 Hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng 4 1 45,000
a) Nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ dưới 4 tuổi  
b) Nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi 4 1 45,000
4 Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng 32 50 492,000
Tổng: 36 51 537,000

Bảng 2.2.6. Tổng hợp chế độ đối với hộ gia đình, cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (người nuôi dưỡng) theo nghị định số 20/2021/NĐ-CP trên địa bàn phường Phương Đông năm 2023 Trong đó:

Hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng gồm có 5 người thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi, với mức kinh phí 45,000 đồng;

Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng gồm có 82 hộ, với mức kinh phí 492,000 đồng.

Như vậy, năm 2023 có số lượng hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thấp hơn so với năm 2023.

Năm 2023, số hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng cao hơn so với năm 2022.

  • Kết quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội về chế  độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng

Năm 2023 có số lượng người hưởng chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (87 người) tăng so với năm 2022 (77 người).

Số cá nhân, hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng đa số là những người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng trong đó hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng (quy định tại điểm c khoản 2 Điều 20, Nghị định 20/2021/NĐ-CP) chiếm tỉ lệ cao nhất.

Phường đã thực hiện an sinh đúng đối tượng, mức hưởng, đảm bảo nguyên tắc theo quy định của pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Đa số những người khuyết tật nặng gần như họ gặp khó khăn trong việc sinh hoạt cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, để giúp họ có cái nhìn tốt hơn về cuộc đời, có một cuộc sống tốt hơn thì việc cơ quan chức năng, phường Phương Đông đã đặc biệt quan tâm đến những hộ gia đình đang trực tiếp chăm sóc người khuyết tật đó. Phần nào cũng hỗ trợ, động viên tinh thần họ, giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

  • Chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội

Kết quả thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn phường Phương Đông năm 2022:

  • Tổng số người khuyết tật chia theo dạng tật: 215 người (104 nam, 111 nữ)
  • Tổng số người khuyết tật chia theo mức độ khuyết tật: 211 người (121 nam, 90 nữ)
  • Số người cao tuổi khuyết tật: 90 người (40 nam, 50 nữ)
  • Số NKT đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm: 18 người (11 nam, 7 nữ)
  • Số NKT đang hưởng trợ cấp người có công: 10 người (8 nam, 2 nữ)
  • Số NKT đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng: 160 người (86 nam, 74 nữ). Trong đó số người khuyết tật đặc biệt nặng là nữ giới từ đủ 60 tuổi chiếm số lượng cao (25 người). Người khuyết tật nặng thuộc nhóm từ 16 – 60 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với tổng số 73 người được hưởng chính sách an sinh xã hội.
  • Số NKT đang được nuôi dưỡng trực tiếp và có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (hộ gia đình trực tiếp nuôi dưỡng hoặc nhận nuôi dưỡng NKT đặc biệt nặng): 73 người (31 nam, 39 nữ)
  • Số NKT trên địa bàn có thẻ Bảo hiểm y tế: 186 người (104 nam, 82 nữ)

Kết quả thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn phường Phương Đông năm 2023:

  • Tổng số người khuyết tật chia theo dạng tật: 266 người (130 nam, 136 nữ)
  • Tổng số người khuyết tật chia theo mức độ khuyết tật: 252 người (132 nam, 120 nữ)
  • Số người cao tuổi khuyết tật: 103 người (46 nam, 57 nữ)
  • Số NKT đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm: 23 người (15 nam, 8 nữ)
  • Số NKT đang hưởng trợ cấp người có công: 12 người (9 nam, 3 nữ)
  • Số NKT đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng: 175 người (94 nam, 81 nữ). Trong đó số người khuyết tật nặng chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm với 124 người trên tổng số 175 người được hưởng chính sách an sinh xã hội.
  • Số NKT đang được nuôi dưỡng trực tiếp và có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng (hộ gia đình trực tiếp nuôi dưỡng hoặc nhận nuôi dưỡng NKT đặc biệt nặng): 782 người (32 nam, 50 nữ)
  • Số NKT trên địa bàn có thẻ Bảo hiểm y tế: 196 người (108 nam, 88 nữ)

Kết quả thực hiện pháp luật an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Năm 2023 số người khuyết tật hưởng chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sở an sinh xã hội, nhà xã hội theo quy định của Nghị định 20/2021/NĐ-CP tăng so với năm 2022.

Phường đã thực hiện đúng đối tượng hưởng, mức hưởng, đảm bảo nguyên tắc về chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cơ sỏ an sinh xã hội, nhà xã hội theo quy định của Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

  • Đa số những người khuyết tật không có hộ gia đình nuôi dưỡng, chăm sóc đều được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở nhà xã hội trên địa bàn phường.
  • Những người khuyết tật đều được đánh giá đúng mức độ khuyết tật, từ đó đưa ra các giải pháp hợp lí tại các cơ sở nhà ở xã hội.
  • Bên cạnh đó họ vẫn được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, giáo dục, tạo điều kiện việc làm, bảo hiểm y tế.

2.3. Hạn chế và nguyên nhân trong việc thi hành pháp luật trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội tại Phường Phương Đông, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

2.3.1. Hạn chế

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội vẫn còn những hạn chế:

Thứ nhất, tiêu chí xác định đối tượng hiện tại không nhất quán và không bao gồm tất cả các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và việc thực hiện một số chế độ chính sách chưa đảm bảo, kém tính hiệu lực.

Tiêu chí xác định đối tượng hiện nay chưa nhất quán, đôi khi “nghèo” là tiêu chí xác định đối tượng (trẻ em nhiễm HIV/AIDS, người  nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động;…) mới được hưởng trợ cấp, đôi khi tiêu chí để hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội dựa trên độ tuổi và mức độ thiếu thu nhập. Ví dụ: người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc khuyết tật, hoặc tình trạng đơn thân…

Tuy số lượng đối tượng được hưởng chính sách an sinh xã hội ngày càng tăng, bên cạnh đó vẫn chưa bao phủ hết các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội cần được giúp đỡ như: người dân có thu nhập thấp trên địa bàn; một số nhóm dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn; Các hộ nông dân mất phương tiện sản xuất do đô thị hóa hoặc công nghiệp hóa, không thể chuyển đổi nghề nghiệp, phải di cư lên thành phố để tìm việc làm, gặp nhiều khó khăn về lương thực, nhà ở và đời sống như tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bảo hiểm y tế…

Liên quan đến việc thực hiện một số chế độ chính sách chưa đảm bảo điển hình là việc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế cho đối tượng bảo trợ xã hội kém, số lượng ít, đặc biệt trong báo cáo hàng năm không thấy đề cập tới, và hầu như không có.

Thứ hai, công tác quản lý nhà nước còn hạn chế

Công tác thống kê, rà soát nắm đối tượng hưởng chính sách trên địa bàn phường chưa thực sự thường xuyên, chặt chẽ, còn bỏ sót đối tượng; chế độ báo cáo chưa được thực hiện tốt. Việc thiết lập, quản lý hồ sơ chưa thực sự khoa học, một số hồ sơ còn thiếu thông tin, thông tin chưa đầy đủ, chưa đảm bảo theo quy định.

Quy trình thủ tục tiếp nhận, giải quyết chế độ cho một số đối tượng chưa tuân thủ các mốc thời gian theo quy định; công tác xét duyệt trợ cấp xã hội, xác định mức độ khuyết tật của Hội đồng có lúc có nơi còn cảm tính, một số nơi có biểu hiện nể nang.

Mạng lưới các cơ sở hiện nay trên địa bàn phường thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Cơ sở vật chất của nhiều cơ sở bảo trợ xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ cho đối tượng bảo trợ xã hội. Phần lớn cán bộ, nhân viên làm việc tại trung tâm chưa được đào tạo về công tác xã hội.

Công tác quản lý đối tượng, cập nhật thông tin, lập hồ sơ biến động tăng, giảm đối tượng, điểu chỉnh chế độ hưởng tại một số đơn vị cấp xã chưa kịp thời;….

Công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện các chính sách xã hội còn tồn tại hạn chế: Còn nhiều nơi chưa tiến hành thanh tra, kiểm tra, gây ra tình trạng thiếu sót trong công tác giám sát thực hiện chính sách an sinh xã hội ở một số nơi; công tác thanh tra, kiểm tra chưa sát sao, thiếu sự quyết tâm trong việc đốc thúc các nơi gửi báo cáo giải quyết sau khi phát hiện sai phạm.

Thứ ba, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức thực hiện chính sách còn hạn chế.

Thể hiện ở việc thiếu linh hoạt trong việc xử lý các tình huống giải quyết trợ cấp cho người dân. Một bộ phận lớn công chức mất ý chí, làm việc hời hợt, sợ khó khăn, sợ khổ, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống. Một số nhà lãnh đạo, quản lý, trong đó có nhà quản lý cấp chiến lược, thiếu hình mẫu, uy tín, năng lực, phẩm chất thấp, không đáp ứng được nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, chủ nghĩa cá nhân. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn chậm đổi mới, chưa gắn chặt lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch, chức danh.

Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện.

Thứ tư, các loại hình cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập chưa được quan tâm đúng mức. Đội ngũ nhân viên, cộng tác viên chưa được đào tạo chuyên môn về công tác xã hội; Cơ sở không được hỗ trợ đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất dẫn đến không tương thích. Ngoài trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng, các cơ sở công lập còn được hỗ trợ tài chính cho việc chăm sóc y tế, vệ sinh và các chi phí khác của các đối tượng, nhưng các cơ sở ngoài công lập chỉ nhận hỗ trợ tài chính hàng tháng cho các đối tượng. Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Thứ năm, trợ cấp đột xuất, khắc phục rủi ro, thiên tai có lúc, có nơi chưa kịp thời (nguồn ngân sách) và chưa công bằng, hợp lý (nguồn cộng đồng đóng góp ủng hộ).

Cụ thể, mức hỗ trợ, nguồn kinh phí, tài trợ vẫn rất thấp, đa phần đều theo tính mặt bằng chung và thay đổi chậm hơn so với biến động giá cả thị trường. Các quy định về nguồn hỗ trợ kinh phí không ngừng được bổ sung, mở rộng, huy động tối đa khả năng tài chính của Nhà nước và các địa phương, tuy nhiên cơ chế tự cân đối ngân sách cũng tạo ra sự chênh lệch, chênh lệch giữa các địa phương trong việc phân bổ ngân sách cho các hoạt động an sinh. Sự tham gia, hỗ trợ của các cá nhân, cộng đồng, tổ chức xã hội đối với ngân sách ngày càng tăng nhưng tỷ lệ tham gia tự nguyện hỗ trợ chưa cao.

Thứ sáu, thủ tục, trình tự giải quyết chế độ cho người dân còn rườm rà, kéo dài.

Điển hình là tình trạng trả lời các đơn đăng kí của người dân bị chậm, da số đều vào các ngày nghỉ đẩy lùi đến tuần làm việc tiếp theo. Quy trình, giấy tờ yêu cầu xác minh hoàn cảnh của người hưởng chính sách đôi lúc còn máy móc, rập khuôn. Trong trường hợp người dân đã làm mất giấy tờ, hoặc có sự thay đổi về quản lý đối với loại giấy tờ cần xác minh, việc này sẽ gây khó khăn cho người dân trong việc đi xin lại các giấy tờ đã mất hoặc mất thời gian di chuyển để thực hiện các thủ tục giữa các phòng, ban.

2.3.2. Nguyên nhân Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Thứ nhất, nguyên nhân của việc không thống nhất trong tiêu chí xác định người yếu thế là do thiếu rà soát, kiểm tra, đánh giá thường xuyên việc thực hiện pháp luật đối với các đối tượng tổng quát trên cả địa bàn. Việc nắm bắt thông tin, tình hình cuộc sống của người dân còn chậm trễ, chưa có sự bổ sung các đối tượng, cũng như vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống, để kịp thời bổ sung các đối tượng cần an sinh.

Các tiêu chí xác định đối tượng Bảo trợ xã hội còn khắt khe, nhiều đối tượng khó khăn chưa được thụ hưởng, đây là nguyên nhân của việc chưa đảm bảo mức độ bao phủ đối tượng. Các đối tượng nghèo cần đến sự an sinh, nhưng phải đảm bảo các điều kiện không có khả năng lao động, không có người chăm sóc, không có nguồn thu nhập.

Sự gia tăng nhanh chóng các đối tượng mỗi năm đa phần là do rủi ro tự nhiên, nghèo, bệnh tật nên không có sự lựa chọn cho bản thân mình như tuổi già, tàn tật, thiên tai, mồ côi… cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, trong khi đó, nguồn lực của Nhà nước không lớn nên không đủ khả năng cho việc mở rộng đối tượng cũng như nâng cấp mức trợ cấp cho các đối tượng đảm bảo điều kiện sống cơ bản của con người.

Thứ hai, công tác quản lý nhà nước hạn chế xuất phát từ tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh. Cán bộ, công chức chưa chủ động nắm bắt thông tin, trì trệ trong việc cập nhật hồ sơ, cập nhật kiến thức mới trong công tác quản lý, dẫn đến công tác xã hội còn lạc hậu lỗi thời.

Đối với các cơ sở an sinh xã hội ngoài công lập đa số là tự phát, dẫn đến tình trạng chưa đủ nguồn kinh phí, nguồn lực, thiếu sự thống nhất quản lý, cũng như kiến thức về công tác xã hội. Dẫn đến tình trạng bị kẻ gian lạm dụng trục lợi, gây ra hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với người dân mà còn đối với nhà nước.

Thứ ba, mức lương cho các cán bộ, công chức, viên chức còn thấp, chưa thỏa mãn được nhu cầu cuộc sống của họ cũng là một phần hạn chế trong việc thực hiện công tác xã hội. Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Tình trạng quan liêu, tự tư, tự lợi dẫn đến việc an sinh công tác an sinh khẩn cấp còn chưa được kịp thời, gây ra tình trạng đối tượng hưởng không đúng, có những đối tượng nhờ vào việc thân quen để hưởng chế độ, trong khi đáng lẽ những người đủ điều kiện họ lại không được hưởng.

Thứ tư, công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục người dân chỉ dừng lại ở mức qua loa, làm cho có, chưa thực sự hiệu quả. Chưa có các chương trình tổ chức, giáo dục cho người dân biết về quyền lợi chính sách an sinh xã hội. Chưa áp dụng tiến bộ khoa học thông tin vào việc tổ chức như: tuyên truyền thông qua mạng internet, đài… Cơ sở vật chất của các cơ sở an sinh xã hội còn thiếu thốn, diện tích chật hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng tiếp nhận thực tế cũng như chưa đáp ứng yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng cho các đối tượng.

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phòng ngừa tai nạn, thương tích trong lao động, giao thông,… có lúc, có nơi chưa được quan tâm, hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền các chính sách về công tác Bảo trợ xã hội có lúc có nơi chưa được thường xuyên.

Thứ sáu, nguyên nhân dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian giải quyết thủ tục, hồ sơ cho người hưởng chế độ đó là việc đổi mới tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước còn bộc lộ một số bất cập. Các cơ quan thực hiện điều chỉnh cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Hiến pháp, pháp luật và thực hiện tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế theo các nghị quyết của Đảng còn chậm; một số quy định về chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan thực hiện công tác an sinh xã hội chưa thực sự phù hợp. Bên cạnh đó, có tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức né tránh, đùn đẩy công việc; sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám tham mưu, đề xuất xử lý công việc, không quyết định xử lý các công việc thuộc thẩm quyền cũng là nguyên nhân dẫn đến quá trình xử lý công việc bị kéo dài, gây lãng phí thời gian, nguồn lực, cơ hội phát triển, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác an sinh xã hội.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Trong chương này, tác giả đã tiến hành tổng hợp, thống kê số liệu về đối tượng hưởng các chính sách an sinh xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn phường Phương Đông hai năm 2022 và 2023.

Từ những bảng tổng hợp số liệu về đối tượng bảo trợ xã hội tại phường Phương Đông qua các năm 2022 và năm 2023, phần nào ta cũng thấy được công tác thực hiện pháp luật bảo trợ xã hội tại đây. Từ đó, phân tích, nhận xét, để thấy rõ được kết quả, ưu điểm mà đã đạt được, đồng thời cũng nhìn nhận những hạn chế trong công tác an sinh xã hội trong thời gian qua. Làm cơ sở để kiến nghị giải pháp khắc phục, đưa pháp luật về an sinh xã hội đến gần hơn với những người yếu thế trên địa bàn phường Phương Đông nói riêng và góp phần nào vào việc thực hiện hiệu quả pháp luật an sinh xã hội trên cả nước. Khóa luận: Thực tiễn an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp an sinh xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464