Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Tình hình thực hiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại Việt Nam
Việc nhận nuôi con nuôi hiện nay đang ngày càng phổ biến tại Việt Nam và pháp luật nước ta còn dành riêng hẳn có hẳn Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định đầy đủ từ nguyên tắc giải quyết, thứ tự ưu tiên để lựa chọn gia đình, thủ tục nhận nuôi con nuôi bao gồm những gì, hồ sơ chuẩn bị ra sao, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người nhận nuôi con nuôi và người con nuôi cần có. Điều này cho ta thấy sự quan tâm tới vấn đề nhận nuôi con nuôi của pháp luật nước ta và việc bảo vệ lợi ích cho trẻ em được nhận làm con nuôi luôn được đặt lên hàng đầu.
2.1.1. Tình hình nhận nuôi con nuôi trên cả nước hiện nay
Việc nuôi con nuôi được xem là một sự kiện pháp lý đặc biệt nên hầu như số lượng vụ việc rất ít. Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, sự phối hợp của các ban, liên ngành trong công tác nhận nuôi con nuôi, giải quyết vụ việc nhận nuôi con nuôi đặt lợi ích của trẻ em lên hàng đầu nên trong những năm gần đây đã tạo nên những hiệu quả thể hiện bằng những kết quả chung đáng ghi nhận trên địa bàn cả nước ta, cụ thể như sau:
- Cụ thể hoá các chính sách của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nhận nuôi con nuôi và vấn đề trẻ em.
- Ưu tiên nhận nuôi con nuôi trong nước để tạo môi trường gia đình gốc cho trẻ em được nhận nuôi.
- Khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác nuôi con nuôi, qua đó có thể đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng.
- Trong bối cảnh những năm gần đây mặc dù dịch bệnh Covid-19 hoành hành và hậu Covid-19 thì nhà nước vẫn tạo điều kiện thuận lợi để quy trình giao nhận con nuôi trong nước và nước ngoài được đảm bảo an toàn, hiệu quả và thông suốt.
- Các cơ quan địa phương đã phối hợp với Bộ Tư pháp tuyên truyền, phổ biến các Công ước quốc tế, pháp luật về nuôi con nuôi và các văn bản thi hành tới người dân như: Công ước La Hay năm 1993, Luật Nuôi con nuôi 2010, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP,…
- Bên cạnh đó là các nhiệm vụ được đặt ra tại các chương trình như: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình công tác xã hội 2021-2030,… được tổ chức với nhiều hình thức và cách tiếp cận đa dạng,
Nguyên tắc ưu tiên nhận nuôi con nuôi trong nước luôn được quan tâm và chú trọng nên số lượng nhận trẻ em làm nuôi con nuôi trong nước đang ngày càng tăng dần qua các năm và số lượng vụ việc nhận nuôi con nuôi trong nước nhiều hơn số lượng vụ việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài một phần do tính chất vụ việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có phần phức tạp hơn. Trên cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp ngày 07 tháng 03 năm 2023 có bài viết về tình hình thực hiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi tại nước ta năm 2022, trong đó có nêu lên số liệu thực tế các vụ việc nhận nuôi con nuôi giai đoạn 2021-2022 như sau : Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
Số liệu thực tế năm 2021:
- Tổng số vụ việc nhận nuôi con nuôi trên toàn quốc năm 2021 là: 2.456 trường hợp.
- Trong đó ghi nhận 2.321 trường hợp nhận nuôi con nuôi trong nước.
- Đã giải quyết 135 trường hợp nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Số liệu thực tế năm 2022:
- Tổng số vụ việc nhận nuôi con nuôi trên toàn quốc năm 2022 là 3.051 trường hợp
- Trong đó ghi nhận 2.908 trường hợp nhận nuôi con nuôi trong nước, tăng 587 trường hợp so với cùng kỳ năm 2021;
- Đã giải quyết 143 trường hợp nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tăng 8 trường hợp so với cùng kỳ năm 2021;
- Số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được giải quyết làm con nuôi tăng hơn so với cùng kỳ năm 2021 với tỷ lệ tăng là 6,25%
- Một số địa phương đã có những chuyển biến tích cực trong công tác nuôi con nuôi như: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Dương, Hải Dương, Phú Thọ, Khánh Hoà.
Số liệu thực tiễn cụ thể về kết quả đăng ký nhận nuôi con nuôi tại riêng một địa phương là Quận Hà Đông trong giai đoạn 2021 – 2023 được thể hiện qua bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1: Bảng thể hiện kết quả đăng ký nuôi con nuôi trên địa bàn quận Hà Đông giai đoạn 2021-2023 (vụ việc)
| Năm | Tổng số vụ việc nhận nuôi con nuôi | Số vụ việc nhận nuôi con nuôi trong nước | Số vụ việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài |
| 2021 | 7 | 7 | 0 |
| 2022 | 3 | 3 | 0 |
| 2023 | 6 | 6 | 0 |
Nguồn: Phòng Tư pháp – UBND quận Hà Đông
Qua bảng 2.1 ta có thể thấy được sự thay đổi của việc đăng ký nhận nuôi con nuôi sẽ ảnh hưởng bởi tình hình thực tế như thế nào khi giai đoạn 2021-2023 là giai đoạn nước ta bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 và hậu đại dịch nên việc đăng ký nhận con nuôi đã có phần hạn chế hơn, nhưng qua bảng ta vẫn thấy tuy không nhiều nhưng vẫn diễn ra các vụ việc nhận nuôi con nuôi và các vụ việc nhận nuôi con nuôi trong nước diễn ra nhiều hơn các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Qua đó, ta có thể thấy rằng, nước ta vẫn luôn chú tâm trong việc khuyến khích nhận nuôi con nuôi trong nước, chú trọng môi trường gia đình gốc cho trẻ em. Mặc dù gặp khó khăn khi đại dịch hoành hành nhưng những vụ việc đăng ký nhận nuôi con nuôi vẫn diễn ra có thể thấy qua số liệu các năm vẫn có những vụ đăng ký nhận nuôi con nuôi trên địa bàn quận như: năm 2021 là 7 trường hợp, năm 2022 là 3 trường hợp, năm 2023 là 6 trường hợp.
Thông qua số liệu tại một địa phương trong nước ta và số liệu trên cả nước, ta có thể thấy rằng, nước ta vẫn luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho việc đăng ký nhận nuôi con nuôi đặc biệt là nhận nuôi con nuôi trong nước với mục đích quan trọng nhất là đảm bảo lợi ích, tạo môi trường sống thuận lợi cho trẻ em được nhận làm con nuôi.
2.1.2. Vụ việc nhận con nuôi cụ thể Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
Tuy trong thực tế, tuy việc nuôi con nuôi rất phổ biến và trong số đó có rất nhiều trường hợp và vì nhiều lí do cụ thể mà họ không đăng ký nhận nuôi con nuôi, một số trường hợp cũng chấm dứt quan hệ nuôi dưỡng sau khi nhận nuôi con nuôi một thời gian. Hầu hết do nhận thức người dân còn khá sơ sài, họ nghĩ việc nhận nuôi con nuôi chỉ trên danh nghĩa còn nhận nuôi con thì sẽ là con mình. Thủ tục nhận nuôi cũng mất khá nhiều thời gian, thủ tục rườm rà mà người dân ngại đăng ký. Sau khi nuôi con nuôi một thời gian lại vì không đủ kinh tế để tiếp tục thì bỏ rơi con nuôi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần trẻ em được nhận nuôi.
Qua thời gian tìm hiểu, trong thời gian gần đây nhất vào tháng 10 năm 2021 đã diễn ra một vụ việc “chấm dứt việc nuôi con nuôi” tiêu biểu tại huyện Đông Anh – Thành phố Hà Nội. Vụ việc đã phần nào cho ta thấy rằng người dân đã tiếp cận được với pháp luật về nuôi con nuôi, hồ sơ, thủ tục và phải được pháp luật thừa nhận như thế nào. Cụ thể vụ việc như sau:
Trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi của Bà Ngô Thị M, sinh năm 1962, hiện đang sinh sống tại thôn L, xã X, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Do bà M không kết hôn với ai và ở một mình nên ngày 24/4/2995 đã nhận nuôi anh Lưu Đ, sinh ngày 15/01/1988 tại Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi suy dinh dưỡng tại Thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Sau đó, bà M đã làm thủ tục nhận con nuôi theo đúng quy định, được sự đồng ý của trung tâm cũng như đại diện của gia đình anh Đ là Lưu Hữu M – bác ruột của anh Đ. Sau khi hoàn toàn và được cơ quan có thẩm quyền cho phép, bà M đón anh Đ về ở với bà M và bố đẻ bà M tại thôn L, xã X, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đến năm 2000 thì bố đẻ bà M mất, bà M và anh Đ sống cùng nhau tại nhà đất do bố mẹ bà M để lại.
Theo lời khai của bà M, trong quá trình sinh sống, bà M đã chăm sóc, nuôi dưỡng yêu thương anh Đ như con ruột và cho anh Đ đi học như những bạn cùng trang lứa, nhưng đến lớp 5 anh Đ đã bỏ học đi bán báo dạo, sau đó mang đi chơi cờ bạc hết và khi hết tiền đòi bà M trả nợ hộ mình. Bà M đã mua xe máy cho anh Đ 3 lần nhưng đều bị anh Đ bán đi chơi cờ bạc hết. Cuối năm 2014, gia đình mẹ đẻ anh Đ ở tỉnh Hưng Yên đến xin nhận lại anh Đ và bà M đã tạo điều kiện để anh Đ và gia đình gặp nhau nhưng anh Đ vẫn ở cùng bà M. Gia đình mẹ đẻ xin việc cho anh Đ ở Hưng Yên nhưng anh Đ làm được một thời gian thì bỏ việc về ở với bà M và từ đó không có công việc ổn định nào cả. Bà M đã cưới vợ là chị T cho anh Đ mà không có sự giúp đỡ từ gia đình mẹ đẻ nhưng chứng nào tật nấy, anh Đ “cắm” cả xe của chị Đ và bán bò của gia đình vợ để tiêu xài và sau đó Chị T và anh Đ đã ly hôn. Sau một thời gian thì anh Đ tái hôn với chị Dương Thị P ở huyện Đ tỉnh Nghệ An nhưng lần này bà M không đứng ra tổ chức đám cưới cho anh Đ và Chị P nữa. Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
Năm 2015, sau khi có con thì hai anh chị dắt nhau về ở chung với bà M và đưa con cho bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khoảng 1 năm thì anh Đ, chị P bắt bà M bán đất đưa tiền cho hai anh chị nhưng bà M không đồng ý, sau đó hai anh chị đã có hành vi đánh đập hành hạ bà M và đưa theo con đi nơi khác ở. Đến năm 2018 thì anh chị lại về xin lỗi và mong muốn ở cùng đến tháng 2/2019, hai anh chị lại tiếp tục đánh dập, chửi bới bà M đồi bà M bán đất, trong suốt thời gian đó, anh Đ không tu chí làm ăn chỉ ăn chơi, đánh sâm đánh phỏm cả đêm. Sau đó, bà M đã về nhà cháu ruột là chị Ngô Thị P nương nhờ từ đầu năm 2019 đến nay để tránh bị anh Đ bạo hành nhưng anh Đ vẫn tới nhà bà M đánh đập, phá cổng, đập phá đồ đạc mặc cho bà M đã nhiều lần báo cáo chính quyền.
Do tuổi cao và hiện bà M đang mắc bệnh tim, tiểu đường, huyết áp cao cộng với việc anh Đ liên tục bạo hành, doạ giết. Anh Đ không sửa chữa sai lầm, không sống đúng đạo làm con nên bà M đề nghị Toà án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa bà M và anh D.
Về phần phân chia tài sản, bà M không có yêu cầu về việc chia tài sản.
Về phía anh D, anh D khai rằng: anh D được bà M nhận nuôi vào năm 1995, sau khi được nhận nuôi, bà M có cho anh D đi học nhưng chỉ học đến lớp 5 vì bà M không đủ tiền đóng học cho anh. Trong thời gian chung sống, bà M đã nhiều lần đánh đập, vắt sức lao động, anh Đ đi làm thì bà M cầm hết tiền và không đưa anh giữ. Anh đi bán báo dong kiếm tiền thì một phần đưa mẹ và một phần anh giữ để chi tiêu.
Sau đó 3 năm thì bà M cưới hỏi đàng hoàng cho anh với chị T người cùng làng, nhưng do mâu thuẫn giữa bà M với chị T, nên chị T đòi ra ở riêng nhưng anh không đồng ý và hai anh chị đã ly hôn. Sau đó, anh đã đăng ký kết hôn và chung sống với chị P, nhưng do bà M không đồng ý và không tổ chức đám cưới nên anh chỉ làm vài mâm cơm đơn giản. Sau khi cưới, hai anh chị sống chung với bà M và sinh được hai con là Lưu Gia H sinh năm 2016 và Lưu Gia H sinh năm 2017, trong khoảng thời gian đó, bà M không chăm sóc và cũng không chăm khi con dâu sinh cháu. Do mâu thuẫn giữa bà M và chị P, và nghe xúi quẩy từ bên ngoài nên bà M đuổi hai vợ chồng anh ra khỏi nhà từ t3/2018 đến nay.
Bà M bị tiểu đường, anh Đ đã chăm sóc và anh cam đoan không có bất kỳ hành vi ngược đãi, đánh đập, chửi bới nào như bà M đã trình bày. Và anh M không đồng ý việc chấm dứt nuôi con nuôi theo yêu cầu của bà M
Về tài sản: anh Đ yêu cầu toà giải quyết cho anh D về phần đất ở và phần đất nông nghiệp
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Toà án huyện Đông Anh thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về mối quan hệ nuôi con nuôi giữa bà M và anh Đ: khi nhận con nuôi, bà M đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật về nhận nuôi con nuôi, nhưng trong quá trình làm con nuôi của bà M, anh Đ đã bạo hành về thể xác cũng như tinh thần của bà M khi hai bên có mâu thuẫn, ép buộc bà M bán đất và chia tiền cho anh. Cùng đó, xét thấy anh Đ đã thành niên, sức khoẻ thể chất và tinh thần ổn định, anh cũng đã có gia đình riêng và có thể tự lập kinh tế nên yêu cầu “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” của bà M được chấp nhận do phù hợp với qui định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi 2010.
Vì các lẽ trên, Toà án huyện Đông Anh đưa ra quyết định:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị M, chấm dứt việc nuôi con của bà Ngô Thị M và anh Lưu Đ.
- Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi là bà Ngô Thị M và con nuôi là anh Lưu Đ chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định của bản án.
Qua hồ sơ bản án nêu trên, ta có thể thấy rằng, việc nhận nuôi con nuôi và việc chấm dứt nuôi con nuôi hay các trường hợp khác phát sinh của vụ việc nhận nuôi con nuôi thì chỉ cần chuẩn bị đầy đủ theo quy định của pháp luật nếu đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật thì sẽ được chấp nhận. Nhưng việc khó khăn ở đây là cung cấp thông tin sao cho đầy đủ và việc xác minh các thông tin mà người khai đã nêu ra.
2.2. Kết quả đạt được khi thực hiện pháp luật về nhận nuôi con nuôi Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
2.2.1. Những kết quả đã đạt được
Về thể chế: Thể chế trong lĩnh vực nuôi con nuôi đang được tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện. Hệ thống về tổ chức nhận nuôi con nuôi tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu giải quyết việc nhận nuôi con nuôi của người dân.
Các chính sách của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nhận nuôi con nuôi và vấn đề trẻ em đang ngày càng được cụ thể hoá hơn. Nhà nước đang ngày càng tập trung thay đổi thể chế để phù hợp với tình hình nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay.
Bước đầu đã khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác nuôi con nuôi, qua đó có thể đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng.
Chất lượng thẩm định hồ sơ đang ngày càng được nâng lên, phù hợp hơn với nguyện vọng của trẻ em, bảo đảm được lợi ích của trẻ em.
Về sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức: Các cơ quan tổ chức có thẩm quyền từ trung ương tới địa phương, từ trong nước tới ngoài nước đều phối hợp ăn ý với nhau trong việc giải quyết các cụ việc nhận nuôi con nuôi. Các cơ quan có thẩm quyền của nước ta luôn ưu tiên việc nhận con nuôi trong nước để tạo môi trường gia đình gốc cho trẻ em được nhận nuôi nhưng không vì thế mà các trường hợp nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài lại bị lơ là. Pháp luật nước ta luôn song hành với pháp luật nước ngoài trong việc giải quyết các vụ việc nhận nuôi con nuôi đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài để đảm bảo tốt nhất lợi ích cho trẻ em được nhận làm con nuôi.
Các tổ chức xã hội cũng luôn được Nhà nước quan tâm và đề cao trong quá trình thực hiện các vụ việc nhận nuôi con nuôi. Luôn có sự kết nối giữa cơ quan chức năng với các tổ chức xã hội nhằm có được thông tin từ chính những tổ chức gắn liền với người dân và cũng là giúp cơ quan có thẩm quyền trong việc giám sát quá trình nhận nuôi con nuôi.
Nhận thức của người dân đối với pháp luật về nhận nuôi con nuôi càng ngày càng được nâng cao: Pháp luật về nhận nuôi con nuôi đang ngày càng được phổ biến rộng rãi tới người dân, góp phần vào việc giảm thiểu các vụ việc nhận nuôi con nuôi không thông qua pháp luật từ đó không xuất hiện các vụ việc lợi dụng, bóc lột hay thậm chí là buôn bán trẻ em.
Đa phần đã ngăn chặn những hành vi lợi dụng trẻ em: Các vụ việc nhận nuôi trẻ em để lại dụng hay để buôn bán nhằm chuộc lợi cá nhân là các hành vi đáng lên án và pháp luật nước ta đã ngăn chặn kịp thời bằng các điều luật xử phạt. Các hành vi lợi dụng, buôn bán trẻ em ngày càng giảm thậm chí ở một số địa phương không có trường hợp mua bán hay lợi dụng trẻ em nào qua các năm.
2.2.2. Nguyên nhân để đạt được những kết quả Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
Để đạt được những kết quả trên do xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, do nước ta có hệ thống tổ chức về nhận nuôi con nuôi tương đối hoàn chỉnh từ trung ương tới địa phương, sự phối hợp chặt chẽ từ các cơ quan có thẩm quyền với các tổ chức xã hội hay cơ quan nhà nước ta với cơ quan nước ngoài.
Thứ hai, do bộ máy chịu trách nhiệm các vụ việc nhận nuôi con nuôi có trách nhiệm, phân định thẩm quyền rõ ràng và tương đối đầy đủ như: Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp,… về cơ bản đáp ứng được nhu cầu nhận nuôi con nuôi của nước ta.
Thứ ba, nước ta đã và đang áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quy trình nhận nuôi con nuôi giúp người dân dễ dàng tiếp cận hơn.
Thứ tư, nguồn cán bộ, công chức đều được đào tạo chuyên môn đầy đủ, được phổ cập đầy đủ các kiến thức về nhận nuôi con nuôi.
Cuối cùng, do chính người dân nước ta có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức pháp luật đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc nhận nuôi con nuôi.
2.3. Các thách thức, vấn đề đặt ra và nguyên nhân
2.3.1. Các thách thức và vấn đề đặt ra
Luật Nuôi con nuôi 2010 có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2011, trong luật có quy định khá chi tiết và rõ ràng về điều kiện và thủ tục nhận nuôi con nuôi. Sau 13 năm kể từ ngày có hiệu lực và trải qua thực tế việc thực hiện pháp luật của người dân thì vẫn còn rất nhiều thách thức và vấn đề đang được đặt ra trong việc giải quyết nuôi con nuôi như sau:
Thứ nhất, về trình tự và thủ tục nhận nuôi con nuôi còn khá rườm rà và gây khó khăn cho người dân. Theo luật định, ngay từ khâu chuẩn bị hồ sơ, người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi đã cần chuẩn bị rất nhiều hồ sơ, việc cung cấp hồ sơ chứng minh để cơ quan có thẩm quyền xác minh cần rất nhiều thời gian để chuẩn bị các giấy tờ liên quan, sau đó lại lấy ý kiến của những người liên quan, nhưng đến khi không đủ điều kiện thì lại bị từ chối đăng ký, mặc dù có những điều kiện không hợp lệ ta có thể thấy ngay từ đầu. Mỗi bước thủ tục lại có những yêu cầu riêng và quy định riêng khiến cho việc hoàn thiện hồ sơ trở nên phức tạp và tốn nhiều thời gian. Trung bình, người nhận nuôi phải mất thời gian từ 6 tháng đến 1 năm để hoàn thành các thủ tục nhận nuôi con nuôi. Tiếp sau đó là quy trình nhận nuôi con nuôi giữa các địa phương lại có sự khác nhau dẫn đến sự lúng túng và khó khăn cho người nhận nuôi con nuôi, một số địa phương có những quy định chặt chẽ hơn, yêu cầu nhiều giấy tờ hơn khiến cho việc nhận nuôi con nuôi trở nên phức tạp hơn. Thủ tục đối với nhận con nuôi đã phức tạp thì nhận còn nuôi có yếu tố nước ngoài còn phức tạp hơn và chờ đợi thời gian lâu hơn nữa.
Thứ hai, về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi phải có điều kiện về kinh tế, sức khoẻ, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Việc đảm bảo điều kiện kinh tế là người nhận nuôi con nuôi phải chứng minh được bản thân có đủ điều kiện về tài chính, đảm bảo nguồn thu nhập để có thể chăm sóc cho con nuôi một môi trường sống ổn định. Cùng với đó, người nhận nuôi phải dành quỹ thời gian để quan tâm, chơi cùng trẻ, chăm sóc, dạy dỗ và giúp chúng có tư cách đạo đức tốt. Mặc dù chưa có quy định cụ thể nào về quỹ thời gian chơi với con, mức tối thiểu về mặt tài chính hay cụ thể về thu nhập để nuôi dạy con cho tốt hay cũng chưa có một chuẩn mực nào để xác định được đạo đức của một người là tốt. Trong cuộc sống, chúng ta bắt gặp không ít gia đình tuy không có nhà ở chỉ thuê trọ, làm công nhân nhưng cuộc sống của họ vẫn luôn hạnh phúc, êm ấm và vẫn tạm đủ để trang trải cho cuộc sống của gia đình. Ngược lại, có những gia đình có kinh tế khá giả, công việc ổn định thì gia đình không được êm ấm, hay cãi nhau, thường nói những lời nói thô tục, không có thời gian dành cho con cái, nhưng họ vẫn coi đó là hạnh phúc riêng của gia đình họ. Đối với một số người cuộc sống của họ là đầy đủ nhưng với những người khác cuộc sống đó vẫn túng thiếu nhiều thứ. Vậy như thế nào mới đủ để có thể đảm bảo cho một đứa trẻ có cuộc sống tốt? Như thế nào mới là chuẩn mực đạo đức, thước đo giá trị của một con người? Nhận nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý đặc biệt, cần có những điều kiện về mặt tài chính, đạo đức và ở mỗi nơi, mỗi người sẽ có một cách đánh giá riêng hình thành nên những điều kiện mà họ cho là đủ. Ví dụ họ có thể chứng minh bản thân có nhà cửa đầy đủ, có nguồn thu nhập cố định đủ để nuôi sống bản thân và con cái, công chức Tư pháp – Hộ tịch sẽ xem xét dựa trên yếu tố chủ quan. Về phẩm chất đạo đức sẽ được đánh giá thông qua ý kiến những người hàng xóm xung quanh, tổ trưởng tổ dân phố, đồng nghiệp cùng chỗ làm, nơi mà người nhận con nuôi sinh sống, lý lịch tư pháp xem cá nhân có án tích hay có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm các chức vụ nào không, chứ chưa có một quy định cụ thể nào về đạo đức của người nhận nuôi con nuôi như thế nào là tốt, là chuẩn mực. Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
Thứ ba, về việc đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Một số địa phương trong nước ta vẫn chưa thực sự quan tâm và thực hiện việc đánh giá nhu cầu của trẻ em để chuyển đổi hình thức chăm sóc trẻ em thay thế, trong đó có nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật, trong khi số lượng lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vẫn được nuôi dưỡng tập trung lâu dài ở các cơ sở bảo trợ xã hội trên cả nước. Một số quy định về bảo vệ quyền lợi của trẻ em được nhận nuôi chưa đầy đủ dẫn đến nguy cơ trẻ em bị xâm phạm quyền lợi. Việc đánh giá nhu cầu của trẻ em giúp ta hiểu được trẻ em thực sự cần gì và để đảm bảo tốt nhất quyền được vui chơi, học tập, những quyền lợi cơ bản của trẻ em đặc biệt là trẻ em được nhận làm con nuôi.
Thứ tư, bất cập khi xét về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi. Pháp luật về nuôi con nuôi quy định thì người được nhận làm con nuôi là người dưới 16 tuổi nhưng theo Điều Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi và người từ đủ 16 tuổi hay người chưa đủ 15 tuổi khi xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, ngoại trừ các giao dịch dân sự phục vụ việc nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, Vậy thì tại sao trẻ em được nhận làm con nuôi là người dưới 16 tuổi trong khi từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi có thể tự mình xác lập các giao dịch dân sự trừ các giao dịch có liên quan tới các lĩnh vực cần người đại diện đồng ý như động sản hay bất động sản? Qua đó ta có thể thấy sự bất cập trong xác định độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi của nước ta.
Thứ năm, về thông báo tình hình phát triển của trẻ em được nhận làm con nuôi và theo dõi việc nuôi con nuôi. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, từ sau khi được công nhận việc nuôi con nuôi thì cha, mẹ nuôi có trách nhiệm phải thông báo về tình trạng sức khoẻ, thể chất và tinh thần của con nuôi từ sau khi về chung sống với cha mẹ nuôi cứ 06 tháng một lần trong vòng 03 năm. Cùng lúc đó, cơ quan có thẩm quyền tại nơi cha mẹ nuôi thường trú phải có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát việc nuôi con nuôi của cha mẹ nuôi. Đây là một thủ tục cần thiết bởi khi đó, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi đã phát sinh và cha mẹ nuôi có nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng, tạo điều kiện cho con sinh sống, coi con nuôi như con ruột và làm tấm gương tốt cho con. Thế nhưng, ở một số địa phương trên nước ta vẫn còn hiện nước, cơ quan có thẩm quyền không đòi hỏi việc báo cáo của cha mẹ nuôi hoặc cha mẹ nuôi không có trách nhiệm thông báo tình hình việc nuôi con nuôi với cơ quan có thẩm quyền mà khi đó các địa phương đó cũng không có biện pháp xử lý nào. Vậy nên, đây là một vấn đề quan trọng có ảnh hưởng lớn tới quyền và lợi ích của trẻ em mà Luật nuôi con nuôi quy định.
Ngoài ra còn một số bất cập mà hiện nay thực tiễn thực thi pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta gặp phải như:
Trình độ dân trí chưa đồng đều tại các nơi vùng sâu vùng xa, người dân chưa được phổ cập rõ ràng về pháp luật nhận nuôi con nuôi nên vẫn còn trường hợp nhận nuôi con nuôi tự phát mà không có sự cho phép của pháp luật, dẫn tới vi phạm trong luật về nuôi con nuôi và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của người được nhận làm con nuôi.
Việc phổ cập pháp luật về nuôi con nuôi tới người dân vẫn còn hạn chế, chưa tiếp cận được trực tiếp tới người dân, nhân dân chưa có đủ thông tin và hiểu biết về quyền lợi và quy trình liên quan đến nhận nuôi con nuôi. Điều này dẫn đến việc thiếu nhận thức và sự chuẩn bị cần thiết cho các gia đình muốn nhận nuôi, cũng như khó khăn trong việc nhận biết và báo cáo các trường hợp xâm hại hoặc lạm dụng trẻ em. Mặc dù có quy định pháp lý rõ ràng nhưng việc thực thi và giám sát việc nhận nuôi vẫn còn gặp khó khăn.
Cần có sự tăng cường giám sát và kiểm tra định kỳ để đảm bảo rằng quyền lợi của trẻ em được bảo vệ và các gia đình nuôi dưỡng tuân thủ các quy định pháp luật. Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
2.3.2. Nguyên nhân hình thành nên các vấn đề
Các vấn đề trên được hình thành do cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, các nguyên nhân đó như sau:
Trước tiên do nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính thể chế pháp luật, bộ máy nhà nước ta:
Do pháp luật nước ta còn chưa cụ thể hoá các điều luật để thuận tiện với người dân, các điều luật còn rườm rà, chưa phù hợp hoàn toàn với thực tiễn nước ta hiện nay. Thời gian giải quyết vụ việc nhận nuôi con nuôi chưa hợp lý.
Chưa có đội ngũ cán bộ chuyên trách đảm nhận giải quyết vụ việc nhận nuôi con nuôi. Hiện nay vẫn do công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã và Phòng Tư pháp huyện đảm nhận. Các cơ quan, cán bộ này phụ trách rất nhiều phần việc nên nếu có vụ việc nhận nuôi con nuôi xảy ra đôi khi không thể giải quyết hợp lý được. Đội ngũ cán bộ chưa được phổ biến kĩ càng hay tập huấn nhiều về pháp luật nhận nuôi con nuôi.
Mặc dù có sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền với các tổ chức xã hội nhưng vẫn chưa có sự chặt chẽ, chưa phân công được nhiệm vụ cụ thể đối với các tổ chức xã hội.
Nhà nước ta chưa thực sự có điều luật nào quan tâm đến tâm tư, suy nghĩ của trẻ em đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em được nhận làm con nuôi.
Bên cạnh đó là một số nguyên nhân khách quan khác như:
Công nghệ thông tin chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, tiếp cận tới pháp luật nhận nuôi con nuôi còn rườm rà và ít thông tin.
Trình độ dân trí không đồng đều, vùng sâu vùng xa là vùng xuất hiện nhiều hiện tượng nuôi con nuôi tự phát nhưng họ lại không hoặc chưa được phổ cập hết kiến thức liên quan đến pháp luật về nhận nuôi con nuôi.
Do lịch sử phát triển về nhận nuôi con nuôi mới được quan tâm gần đây, trước đó vẫn là hình thức tự nhận con nuôi không cần qua pháp luật.
Những năm gần đây do đại dịch Covid-19 càng khiến việc thực hiện nhận nuôi con nuôi trở nên khó khăn cả trong nước lẫn ngoài nước, đặc biệt là quá trình nhận con nuôi. Khóa luận: Thực hiện Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp Pháp luật về nhận con nuôi tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp luật về Nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam hiện nay