Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Các nguyên tắc cơ bản về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con có mối liên quan mật thiết với nhau và được xác định theo một số nguyên tắc sau:

Một là, nguyên tắc quyền gắn liền với nghĩa vụ. Quyền của cha mẹ trong xã hội hiện đại được thừa nhận chủ yếu nhằm tạo điều kiện để cha mẹ thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với con. Suy cho cùng, trong các quyền của cha mẹ đều có yếu tố nghĩa vụ và ngược lại, các nghĩa vụ của cha mẹ đều thể hiện quyền cha mẹ. “Bởi vậy, Luật hôn nhân và gia đình, khi mô tả quyền cha mẹ, thường sử dụng cụm từ “quyền và nghĩa vụ”. Quyền đi trước, nhằm nhấn mạnh sự thay đổi triệt để về quan điểm của người làm luật hiện đại đối với quyền cha mẹ so với người làm luật thời cổ”. Bởi lẽ dù cha mẹ có thực hiện quyền của cha mẹ đối với con thì mục đích hướng tới vẫn là vì lợi ích của con chứ không xuất phát từ lợi ích của cha mẹ.

Hai là, nguyên tắc bình đẳng giữa các con. Khi xây dựng chế định quyền của cha mẹ, luật chỉ dựa vào sự tồn tại của quan hệ cha mẹ-con. Luật không phân biệt tính chất của quan hệ đó tùy theo tính chất của mối quan hệ giữa cha và mẹ, cũng như tính chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và con. Bởi vậy, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân hợp pháp, từ quan hệ hôn nhân trái pháp luật, từ quan hệ chung sống như vợ chồng, thậm chí, từ các mối quan hệ “qua đường” giữa cha và mẹ, đều được đối xử ngang nhau. Tuy nhiên, về phương diện thực hiện quyền cha mẹ, sự bình đẳng phải được hiểu theo nghĩa tương đối: con không sống chung với cha mẹ dưới một mái nhà không thể đặt dưới sự kiểm soát, giám sát của cha mẹ cũng như không thể thụ hưởng việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cha mẹ trong cùng những điều kiện như con sống chung với cha mẹ.

Ba là, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các con. Cha, mẹ khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình không được làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần và đạo đức của các con. Pháp luật không thể quy định một cách chi tiết cách hành xử của cha mẹ, bắt buộc cha mẹ phải thực hiện việc nuôi dạy con như thế nào nhưng pháp luật nghiêm cấm sự lạm dụng quyền của cha mẹ và xử lý nghiêm khắc trong trường hợp cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Bốn là, nguyên tắc quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được thực hiện chung, liên tục và trực tiếp. Thực hiện chung có nghĩa là cha, mẹ không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách phân tán, độc lập mà có sự trao đổi, hợp tác và thống nhất dựa trên thiên chức của người làm cha, làm mẹ trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng giữa cha và mẹ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con. Thực hiện trực tiếp có nghĩa là cha mẹ phải là những chủ thể tích cực nhất trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với con, không thể ủy quyền hoặc giao phó cho người khác thực hiện thay quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc và cùng chịu trách nhiệm khi con xảy ra thiệt hại ở bên ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.2. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ đối với con

Đối với con chưa thành niên, cha mẹ có quyền quyết định chế độ pháp lý về nhân thân của con theo quy định của pháp luật. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 hiện hành và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015) đã kế thừa, phát triển và cụ thể hóa các quy định về quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ đối với con để phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay.

2.2.1. Quyền và nghĩa vụ khai sinh, đặt họ tên, xác định tôn giáo, dân tộc, quốc tịch, nơi ở của con

Một trong những quyền cơ bản của con người là quyền được khai sinh, theo quy định tại Điều 30 Bộ luật dân sự 2015 “Cá nhân sinh ra có quyền được khai sinh”. Việc khai sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn bởi vì thông qua nó, sự tồn tại của mỗi người với tư cách là một công dân sẽ được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý. Từ đó các quyền khác mới được đảm bảo và thực hiện. Do đó, có thể xem quyền được khai sinh là một trong những quyền cơ bản của trẻ em. Tuy nhiên do trẻ em lúc mới sinh ra hoàn toàn non nớt cả về thể chất lẫn trí tuệ nên không thể tự mình thực hiện quyền này nếu không có sự hỗ trợ từ cha mẹ hoặc người thân trong gia đình. Vì vậy tuy Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định về vấn đề này song trong mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con thì vấn đề này cần phải được đề cập đến. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

2.2.2. Quyền và nghĩa vụ thương yêu, trông nom, chăm sóc, bảo vệ con

Quyền và nghĩa vụ này được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định khá đầy đủ tại Điều 69:

  1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
  2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
  4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Như vậy “thương yêu, trông nom, chăm sóc, bảo vệ con” vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha mẹ. Là quyền của cha mẹ đối với con bởi lẽ không ai có thể ngăn cản hoặc tước đi quyền được yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con cái từ phía cha mẹ ngoại trừ trường hợp đặc biệt, vì lợi ích của con mà quyền này bị hạn chế theo một quyết định hoặc một bản án của Tòa án. Ngược lại nó cũng là nghĩa vụ của cha mẹ bởi vì cha mẹ không có quyền từ chối trách nhiệm trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con do mình sinh ra. Nếu vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ này, cha mẹ có thể bị Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Có thể nói, đây là những nghĩa vụ tối thiểu mà pháp luật cũng như đạo đức xã hội đặt ra đối với cha mẹ vì lợi ích và sự phát triển lành mạnh của con. Thực chất đây không phải là những quy định mới về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con mà ở đây các nhà làm luật quy định rõ hơn về đối tượng mà cha mẹ có quyền và nghĩa vụ thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ là “con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Mặt khác, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ “Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự” vào điều luật quy định một cách khái quát về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ.

2.2.3. Quyền và nghĩa vụ giáo dục con Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng nhất tức là tập hợp các biện pháp mà cha mẹ có quyền và có nghĩa vụ thực hiện nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của con về trí tuệ, tài năng và nhân cách. Vì vậy, đây là quyền và nghĩa vụ hết sức quan trọng và không thể thiếu của cha mẹ nhằm hình thành nhân cách, trang bị tri thức cho con tạo dựng cuộc sống trong tương lai. Quyền và nghĩa vụ giáo dục của cha mẹ đối với con được Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định như sau:

  1. Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

  1. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con.
  2. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Quyền được học tập là một trong những quyền cơ bản nhất của trẻ em. Bởi lẽ trẻ em có được học tập, giáo dục tốt thì mới có thể tạo dựng được cuộc sống vững chắc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Với tầm quan trọng đó, trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng như trong hệ thống pháp luật Việt Nam, giáo dục trẻ em không những là quyền mà còn là bổn phận của cha mẹ, của nhà trường và toàn xã hội. Việc giáo dục trẻ em để trở thành công dân có ích cho xã hội thuộc trách nhiệm từ nhiều phía nhưng quan trọng trước tiên phải kể đến là vai trò của gia đình. Gia đình là nền tảng giáo dục của trẻ em. Những tri thức đầu tiên mà trẻ nhận được từ khi sinh ra xuất phát từ cha, mẹ và những người thân trong gia đình. Không những thế, một gia đình êm ấm, cha mẹ hòa thuận yêu thương con cái là điều kiện tốt và là tấm gương để giáo dục con trẻ.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền và nghĩa vụ giáo dục của cha mẹ tại Điều 72. Ngoài những nội dung đã được nhắc tới trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định này được sửa đổi, bổ sung “quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa” của con mà cha mẹ có nghĩa vụ phải tôn trọng. Có thể nói đây là một trong những quyền hết sức cơ bản của con cần được cha mẹ ghi nhận và tôn trọng. Bởi lẽ, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày một nâng cao và đa dạng hơn. Không chỉ dừng lại ở nhu cầu ăn no, mặc ấm; mà trẻ em ngày nay được Nhà nước và xã hội trao cho rất nhiều cơ hội để tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế và văn hóa tạo sân chơi lành mạnh cho các em và giúp các em thể hiện bản thân, rèn luyện kỹ năng sống tự lập. Đó có thể là: những hành động cụ thể, thiết thực trong những ngày lễ lớn của dân tộc hay các lễ hội của từng vùng miền; tham gia các game show truyền hình; tham gia các hoạt động vì môi trường, vì cộng đồng; giúp đỡ trẻ em nghèo, người già neo đơn; tham gia hoặc tự mình phát triển các hoạt động kinh tế phù hợp với lứa tuổi… Đặc biệt là ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, việc các em tham gia và phát triển các hoạt động kinh tế cần được tạo điều kiện và khuyến khích. Tất cả những quyền tham gia các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hóa, cha mẹ có nghĩa vụ phải tôn trọng sự lựa chọn của con.

2.2.4. Quyền và nghĩa vụ đại diện cho con Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Cha mẹ là người đại diện đương nhiên (đại diện theo pháp luật), người quản lý tài sản của con chưa thành niên.

Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Đại diện có hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Điều 137 Bộ luật dân sự 2015 quy định cha mẹ là người đại diện theo pháp luật với con chưa thành niên.

Quyền và nghĩa vụ đại diện của cha mẹ đối với con được Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”.

Quy định này được hiểu là nếu con chưa thành niên thì cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật một cách đương nhiên (trừ trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền đại diện theo pháp luật cho con theo quyết định của Tòa án). Nếu con đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự thì không phải cha, mẹ là người đại diện đương nhiên của con mà tùy từng trường hợp cụ thể cha mẹ mới có thể là người đại diện theo pháp cho con luật như: con chưa có vợ, chồng, con hoặc có vợ, chồng, con nhưng họ không đủ điều kiện làm người giám hộ hoăc đại diện thì cha, mẹ có đủ điều kiện sẽ là người đại diện theo pháp luật của con.

Là người đại diện theo pháp luật, cha mẹ không chỉ đại diện cho con trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà còn có vai trò quan trọng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của con cũng như thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ con khi các quyền dân sự của con bị xâm phạm. Những việc cha, mẹ làm khi đại diện cho con đều phải xuất phát từ lợi ích của con. Nếu cha mẹ lạm quyền, phá tán tài sản của con, ép buộc con làm những việc trái pháp luật… thì có thể bị hạn chế quyền của cha, mẹ với con, không được làm đại diện theo pháp luật của con trong một thời gian theo quyết định của Tòa án.

Về vấn đề đại diện cho con, Khoản 2,3,4, Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã điều chỉnh bổ sung thêm một số nội dung cho cụ thể và rõ ràng hơn. Đó là:

  1. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  2. Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ.
  3. Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật dân sự.

2.3. Quyền và nghĩa vụ về tài sản của cha mẹ đối với con Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc quản lý, định đoạt tài sản riêng của con

Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta quy định theo nguyên tắc cha mẹ và con đều có quyền độc lập về tài sản. Luật hôn nhân và gia đình một lần nữa đã khẳng định: “Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.” [, Điều 75, khoản 1]. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì căn cứ xác lập tài sản riêng của con là: tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác. Ngoài ra, khoản 1 Điều 75 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn bổ sung thêm một căn cứ khác trong việc xác lập tài sản riêng của con đó là: “Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con”. Tuy con có tài sản riêng nhưng với những trường hợp con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự, vì lợi ích của con, tài sản đó phải được cha, mẹ quản lý.

Quyền và nghĩa vụ quản lý tài sản riêng của con được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại Điều 76 như sau:

  1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
  2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
  3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
  4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Như vậy theo quy định nêu trên thì cha, mẹ có nghĩa vụ giao lại tài sản cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu như giữa cha mẹ và con không có thỏa thuận khác. Quy định này nhằm đảm bảo cho quyền quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của con. Ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi trở lên các em đã có nhận thức tương đối đầy đủ và đã có ý thức, trách nhiệm đối với tài sản riêng của mình. Không ít trường hợp ở độ tuổi này các em đã góp vốn kinh doanh từ tài sản của mình. Vì vậy quy định này là cần thiết và hợp lý nhằm tạo ra sự chủ động cho các em trong việc quản lý, sử dụng tài sản của mình một cách hiệu quả nhất. Mặt khác nhằm đảm bảo tính khách quan, tránh trường hợp cha mẹ tẩu tán tài sản riêng của con cũng như nhằm đảm bảo lợi ích của con, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ thì trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản của con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý.

2.3.2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra

Bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự, theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Nghĩa vụ của cha, mẹ trong việc bồi thường thiệt hại do con gây ra được quy định tại Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật dân sự”. Đây là trách nhiệm bổ sung của cha, mẹ, dựa trên cơ sở lỗi của cha, mẹ vì đã thiếu trách nhiệm trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến việc con gây thiệt hại cho người khác.

Từ những quy định nêu trên thì việc bồi thường thiệt hại của cha mẹ do con gây ra được xác định như sau:

Con từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

Con chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự 2015. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường [Điều 586 Bộ luật dân sự 2015].

Như vậy theo quy định của pháp luật trường hợp con đã thành niên có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác, dù còn ở chung với cha mẹ thì về nguyên tắc cha mẹ không phải bồi thường những thiệt hại đó bằng tài sản của cha mẹ. Con đã thành niên phải tự bồi thường bằng tài sản riêng của mình. Nếu con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ mà có công sức đóng góp vào tài sản chung của gia đình thì phần công sức đóng góp đó được coi là tài sản của con. Tài sản riêng của con (nếu có) chưa đủ để bồi thường thì có thể trích phần tài sản của con trong khối tài sản chung của gia đình để bồi thường. Trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự và cha mẹ đang phải nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý thì cha mẹ phải bồi thường những thiệt hại do con đó gây ra cho người khác. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc bồi thường thiệt hại do con gây ra là sự thể chế hóa các quy định của Bộ luật dân sự 2015. Khi xác định việc bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.

2.4. Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và cấp dưỡng  của cha, mẹ đối với con trong một số trường hợp khác Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

2.4.1. Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con

Nuôi dưỡng là việc một người đảm bảo các nhu cầu vật chất cho người khác để người này tồn tại và phát triển. Việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng không chỉ đòi hỏi phải có yếu tố vật chất mà còn cần thiết phải có yếu tố không gian, có nghĩa là người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng phải sống chung với nhau. Nghĩa vụ nuôi dưỡng là nghĩa vụ tài sản chỉ phát sinh giữa các chủ thể có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng với nhau. Nghĩa vụ này mang tính chất tự nhiên, xuất phát từ sự gắn bó thiêng liêng của yếu tố huyết thống nên từ khi sinh con ra, cha mẹ đã dành cho con sự yêu thương chăm sóc và nuôi dưỡng con đến khi con trưởng thành. Khi cha mẹ già yếu, đau ốm không có khả năng lao động thì các con chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Người Việt Nam từ xa xưa đã tồn tại ý thức “trẻ cậy cha, già cậy con” nên cách xử sự trên tồn tại như một tất yếu. Cách xử sự mang tính nhân văn và hợp với lẽ tự nhiên đó được nhà làm luật nâng lên thành nghĩa vụ có tính pháp lý và quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha, mẹ và con là nghĩa vụ có đi có lại nhưng không mang tính chất đồng thời và tuyệt đối, không mang tính chất đền bù tương đương. Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha, mẹ và con luôn gắn với nhân thân của mỗi chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác và cũng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác. Về nguyên tắc, một người chỉ có quyền được nuôi dưỡng khi họ không có khả năng tự đảm bảo cuộc sống của mình. Do vậy, nghĩa vụ của cha mẹ là nuôi dưỡng con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Con đã thành niên có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình thì cha mẹ không có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Con chưa thành niên và con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự được xác định rõ ràng theo quy định tại Bộ luật dân sự. Đối với việc xác định con đã thành niên bị tàn tật thì căn cứ vào Pháp lệnh về Người tàn tật. Theo đó, con đã thành niên bị tàn tật là con bị khiếm khuyết một bộ phận nào đó trên cơ thể dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng tham gia vào quá trình lao động. Con đã thành niên không có khả năng lao động là con bị mắc bệnh nan y, bệnh hiểm nghèo dẫn đến không có sức khỏe để lao động; con đã thành niên nhưng đang phải học tập trong các trường phổ thông, trung học, đại học mà phải dành toàn bộ thời gian cho việc học tập nên không thể tham gia lao động tạo thu nhập…

2.4.2. Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu định nghĩa về cấp dưỡng như sau:

Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu (Khoản 24 Điều 3 LHN&GĐ 2014).

Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại Điều 107:

  1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

  1. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Có thể nói, chế định cấp dưỡng trong Luật hôn nhân và gia đình là chế định quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc củng cố nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng có khiếm khuyết về thể chất và không có khả năng nuôi sống bản thân. Luật hóa chế định cấp dưỡng nhằm đảm bảo cho con những điều kiện về vật chất để được phát triển tốt nhất, nhất là trong các trường hợp đang diễn ra tương đối phổ biến trong xã hội hiện nay như: cha mẹ ly thân, ly hôn, sinh con ngoài giá thú…

2.4.3. Quyền và nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế đối với con riêng của vợ hoặc của chồng

Hiện nay có nhiều cặp vợ chồng kết hôn và sống chung với con riêng của một bên hoặc của cả hai bên đã có trong quan hệ hôn nhân trước. Do vậy, tình trạng bố dượng, mẹ kế sống chung với con riêng của bên kia là tương đối phổ biến. Xét trên cơ sở của quan hệ huyết thống thì giữa bố dượng, mẹ kế đối với con riêng của bên kia không phải là quan hệ cha – con, mẹ – con. Tuy nhiên do bố dượng là chồng của mẹ, mẹ kế là vợ của cha nên thực tế trong nhiều gia đình những người này vẫn gọi nhau và đối xử với nhau như cha, mẹ, con. Bên cạnh đó cũng có không ít gia đình lại có sự phân biệt đối xử giữa con chung, con riêng khi họ cùng chung sống dưới một mái nhà. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con riêng và bố dượng, mẹ kế. Luật hôn nhân và gia đình quy định bố dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình như đối với con đẻ. Bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau.

2.4.4. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ đối với con dâu, con rể Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Hiện nay không chỉ có cha mẹ đẻ – con đẻ sống chúng dưới một mái nhà mà trong nhiều gia đình cha mẹ chồng, cha mẹ vợ chung sống với con dâu, con rể, đặc biệt khu vực thành thị do vấn để hạn hẹp về chỗ ở. Để phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam với đặc trưng là giàu tình thương yêu, hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình đồng thời gắn nghĩa vụ và trách nhiệm của các thành viên với nhau trong việc tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau trong cuộc sống, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định thêm về quyền, nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng. Theo đó: “Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này” (Điều 80 LHN&GĐ 2014).

Quy định này được hiểu là giữa cha mẹ chồng, cha mẹ vợ đối với con dâu, con rể nếu sống chung với nhau thì có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, quyền và nghĩa vụ của con; quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng; quyền và nghĩa vụ giáo dục con. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, sự ra đời của nó là thật sự cần thiết và có ý nghĩa hết sức to lớn. Là cần thiết bởi vì nó tạo ra hành lang pháp lý trong quan hệ giữa cha mẹ chồng, cha mẹ vợ với con dâu, con rể – một vấn đề quan trọng mà ở những Luật hôn nhân và gia đình trước đây còn bỏ ngỏ. Nó có ý nghĩa to lớn bởi vì quy định này góp phần đảm bảo cuộc sống ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần giữa các thành viên trong gia đình, nhất là đối với những người già yếu mà đang sống cùng con dâu, con rể. Thật khó hình dung ra được khi cha mẹ chồng, cha mẹ vợ già yếu, thậm chí không có thu nhập sẽ như thế nào nếu thiếu đi sự quan tâm chăm sóc, phụng dưỡng của con dâu, con rể cùng sống chung với mình, ngược lại cha mẹ chồng, cha mẹ vợ cũng có thể quan tâm, giúp đỡ, chăm sóc, giáo dục con dâu con rể, giúp các con tạo lập cuộc sống ổn định, vững chắc. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

2.4.5. Quyền và nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi đối với con nuôi

Vấn đề về quyền và nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi đối với con nuôi được quy định tại Điểu 74 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi…”. Hiện nay vấn đề này được quy định chi tiết, cụ thể hơn tại Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó:

  1. Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Trong trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án thì quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  1. Quyền, nghĩa vụ của cha đẻ, mẹ đẻ và con đã làm con nuôi của người khác được thực hiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi.
  2. Quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt. Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ không còn hoặc không có đủ điều kiện để nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi và chỉ định người giám hộ cho con theo quy định của Bộ luật dân sự.

Như vậy theo quy định này, kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật nuôi con nuôi thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Điều này thể hiện sự nhất quán của pháp Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam dựa trên nguyên tắc “không phân biệt đối xử giữa các con”.

Về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và người con được cho làm con nuôi được xác định như sau: Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi. Quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt. Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ không còn hoặc không có đủ điều kiện để nuôi con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Tòa án giải quyết việc chấm dứt nuôi con nuôi và chỉ định người giám hộ cho con theo quy định của Bộ luật dân sự. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

2.5. Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên

Những quyền về nhân thân và tài sản của cha mẹ đã nêu ở phần trên có thể bị hạn chế theo quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

  1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
  2. Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
  3. Phá tán tài sản của con;
  4. Có lối sống đồi trụy;
  5. Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
  6. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Thực chất biện pháp này là chế tài của Luật hôn nhân và gia đình áp dụng đối với hành vi phạm tội của cha mẹ, hoặc hành vi có lỗi xâm phạm đến lợi ích của con. Khi áp dụng biện pháp này, Tòa án cần cân nhắc thận trọng, chỉ quyết định tước quyền này của cha mẹ đối với con trong trường hợp thật cần thiết vì lợi ích của con. Tội phạm thực hiện đối với người con nào thì chỉ hạn chế quyền đối với người con đó; nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì trước khi ra quyết định Tòa án cần tham khảo ý kiến của con. Quy định này khẳng định trách nhiệm của cha mẹ nhằm đảm bảo cha, mẹ phải thực hiện tốt các nghĩa vụ của họ đối với con để bảo vệ quyền lợi của con nói chung, con chưa thành niên nói riêng.

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành thì căn cứ để Tòa án đưa ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên là: Cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con; Cha, mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ có hành vi phá tán tài sản của con; Cha, mẹ có lối sống đồi trụy, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy bởi vì đối với con trong giai đoạn vị thành niên, cha, mẹ là người có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự phát triển và trưởng thành của con cái. Tuy vậy trong cuộc sống đôi khi những giá trị đạo đức bị coi nhẹ hơn những lợi ích vật chất, có không ít các bậc cha, mẹ vì lợi ích trước mắt mà xem thường trách nhiệm của mình đối với con cái. Nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên bị vi phạm một cách nghiêm trọng. Ở nhiều gia đình, cha mẹ dùng uy quyền để ép buộc con phải nghe theo đồng thời khi cần có thể sẵn sàng dùng tới vũ lực hoặc có những lời lẽ xúc phạm để buộc con phải làm những việc theo ý muốn của mình. Có những trường hợp khác cha, mẹ lại xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội như bán hàng cấm, trộm cắp, mại dâm… để thu lợi bất chính. Đây là những hành vi cần được ngăn chặn kịp, trừng trị kịp thời bảo đảm cho trẻ chưa thành niên được sống trong môi trường giáo dục tốt để các em có thể phát triển lành mạnh về thể chất và trí tuệ và đạo đức, không bị lôi kéo vào con đường phạm tội.

Để phù hợp với tình hình thực tế và phát huy tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức xã hội, hiện nay những người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định lại tại Điều 86 như sau: Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

  1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
  2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên: a) Người thân thích;
  3. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  4. Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  5. Hội liên hiệp phụ nữ.
  6. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Như vậy theo quy định này thì những người được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 86 nêu trên có quyền trực tiếp yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác cũng có quyền yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Tuy nhiên họ chỉ có quyền gián tiếp yêu cầu Tòa án thông qua Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ. Việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên được quyết định theo thủ tục chung về tố tụng dân sự.

Về hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên:

  1. Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.
  2. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây:
  3. Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;
  4. Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;
  5. Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.
  6. Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con (Điều 87 LHN&GĐ 2014). Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

Đây không phải là chế tài đối với người bị hạn chế quyền của cha, mẹ mà chỉ là hệ quả của việc tước một phần quyền của cha, mẹ và tuy quyền của cha, mẹ đối với con luôn gắn liền với nghĩa vụ nhưng việc hạn chế quyền không có nghĩa là hạn chế cả nghĩa vụ. Có nghĩa là trong trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền thì cha, mẹ vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với con chưa thành niên. Khi Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên thì trong một số trường hợp con được giao cho người giám hộ trông nom, chăm sóc, giáo dục và quản lý tài sản riêng. Ngoài trường hợp cha, mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại khoản 2 nêu trên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định bổ sung thêm hai trường hợp khác mà việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ khi cha mẹ bị hạn chế quyền đó là:

Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên (Khoản 2 Điểm b, c Điều 87 LHN&GĐ 2014).

Thời hạn hạn chế quyền của cha, mẹ không ngắn hơn quá 1 năm và không dài hơn quá 5 năm (Điều 41 LHN&GĐ 2014). Khi thời hạn hạn chế quyền của cha, mẹ đã hết thì việc khôi phục quyền của cha mẹ là đương nhiên chứ không cần thủ tục về xóa án tích như đối với án hình sự. Riêng trường hợp cha, mẹ muốn xin rút ngắn thời hạn hạn chế quyền thì phải do Tòa án xem xét, quyết định.

Có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định khá chi tiết và đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cha, mẹ đối với con dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em. Những quy định của pháp luật đã tạo hành lang pháp lý vững chắc đồng thời ràng buộc trách nhiệm của cha mẹ, hướng cha mẹ tới những ứng xử chuẩn mực trong việc nuôi dạy con cái. Mặt khác những quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nhằm tạo ra môi trường nuôi dạy tốt nhất để con trẻ phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn trí tuệ, trang bị cho con trẻ những hành trang vững chắc để tạo lập cuộc sống cho bản thân, cho gia đình và góp phần xây dựng đất nước.

Mặc dù vẫn còn tồn tại một số điểm bất hợp lý nhưng những quy định tiến bộ về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đã góp phần không nhỏ xóa đi những tư tưởng lạc hậu trong quan hệ cha, mẹ – con; về sự bất bình đẳng mối quan hệ giữa vợ – chồng trong việc nuôi dạy con vốn đã ăn sâu trong tư tưởng người Việt Nam do xã hội phong kiến để lại. Bên cạnh đó, việc luật hóa quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con đã góp phần xây dựng gia đình Việt Nam giàu truyền thống văn hóa nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu hội nhập, nhằm xây dựng xã hội Việt Nam ngày một giàu đẹp, văn minh. Khóa luận: Nội dung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực tiễn quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464