Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Pháp luật Việt Nam rất coi trọng, bảo vệ quyền con người, những giá trị nhân thân của con người ngày càng nâng cao, điều này được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật. Tại Hiến pháp năm 1992 và mới nhất là Hiến pháp năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014) khoản 1 Điều 14 có quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Trên nền tảng của Hiến pháp, các quyền con người được thể hiện thông qua các quy định chi tiết tại nhiều bộ luật, luật trong đó Bộ luật Dân sự 2005 được coi là đạo luật gốc quy định tương đối toàn diện, cụ thể và bao quát. Đặc biệt những quy định mới về quyền nhân thân của cá nhân đã đánh dấu một bước tiến mới quan trọng, mang tính chất tiến bộ, văn minh và hiện đại hoá nhận thức và điều chỉnh những mối quan hệ xã hội đang phát sinh trong giai đoạn hiện nay. Quyền nhân thân được quy định tại Mục 2, Chương III đoạn thứ I “Những quy định chung” của Bộ luật Dân sự 2005 bao hàm một số lượng lớn về quyền nhân thân của cá nhân. Trong đó, quyền xác định lại giới tính là một quyền mới vô cùng quan trọng của cá nhân lần đầu tiên được quy định tại Điều 36: “Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính”.
Để cụ thể hoá quyền trên, 3 năm sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 đưa quyền xác định lại giới tính trở thành một quyền nhân thân quan trọng, ngày 05/08/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/NĐ-CP về xác định lại giới tính, áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh những trường hợp xác định giới tính trở lại đúng phạm vi pháp luật quy định. Nghị định 88/NĐ-CP đã một lần nữa nhấn mạnh quyền xác định lại giới tính là một quyền nhân thân có điều kiện và chỉ được áp dụng với đối tượng: khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác (Khoản 1 Điều 1 Nghị định 88/NĐ-CP). Đặc biệt, Nghị định 88/NĐ-CP đã coi việc khuyết tật về giới tính cũng như mong muốn được xác định lại giới tính là nhu cầu có tính tự nguyện, là quyền riêng tư của từng người. Vì vậy, theo nội dung của Nghị định, việc thực hiện quyền xác định lại giới tính “phải được thực hiện trên nguyên tắc công bằng, khách quan và trung thực”. Được hiểu là bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào cũng không có quyền bắt buộc người có khuyết tật về giới tính phải xác định lại giới tính bằng biện pháp can thiệp y học, nếu không phải do chính bản thân người khuyết tật thực hiện. Và những cá nhân được thực hiện xác định giới tính phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định giới tính của mình. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Quyền này hiện nay vẫn được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015, là cơ sở pháp lý cần thiết cho việc thể chế hoá các quy định liên quan trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Sau 10 năm triển khai thực hiện, nhằm điều chỉnh những điểm không hợp lý, Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 hoàn thiện thêm quy định đối với quyền xác định lại giới tính với nội dung ở Điều 36: “Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Quy định trên có ý nghĩa quan trọng, thể hiện qua việc có sự điều tiết kịp thời của các nhà làm luật về những vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống xã hội, đặc biệt là việc thay đổi giới tính một cách tuỳ tiện thực tiễn đang diễn ra hiện nay. Vấn đề xác định giới tính của cá nhân đã có quy phạm pháp luật điều chỉnh và được pháp luật công nhận, bảo hộ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1. Quy định pháp luật về quyền xác định lại giới tính tại Việt Nam hiện nay.
Ngày 05/08/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/NĐ-CP về xác định lại giới tính, áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Với 05 Chương 17 Điều, Nghị định là văn bản pháp lý duy nhất ở Việt Nam quy định trực tiếp về quyền xác định lại giới tính cụ thể bao gồm về: phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc xác định lại giới tính, hành vi bị cấm trong việc xác định lại giới tính… Như vậy, cho đến nay, Chính phủ vẫn chưa có Nghị định nào quy định hướng dẫn cụ thể, chi tiết Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền xác định lại giới tính thay thế cho Nghị định số 88/NĐ-CP về xác định lại giới tính. Việc sử dụng Nghị định số 88/NĐ-CP có thể hướng dẫn các chủ thể nắm bắt và hiểu nội dung quy định về quyền xác định lại giới tính theo Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành.
2.1.1. Điều kiện đối với chủ thể
- Điều kiện về biểu hiện bệnh lý
Căn cứ theo Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi thì cá nhân có trách nhiệm xác định đúng giới tính. Xác định lại giới tính là một quyền nhân thân của cá nhân, tại đây sẽ có sự can thiệp của y học và của cơ quan chức năng có thẩm quyền với mục đích xác định đúng giới tính đối với một cá nhân nếu như cá nhân bị các khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Một là, có khuyết tật bẩm sinh về giới tính: Có khuyết tật bẩm sinh về giới tính được định nghĩa là những dị dạng ở cơ quan sinh dục của một cá nhân ngay sau khi sinh ra, thể hiện qua một trong các trường hợp như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật Cụ thể như sách “Di truyền y học” nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ba trường hợp này được hiểu như sau:
Nam lưỡng giới giả nữ (hay gọi là giới mập mờ với dị sắc đồ giống nam hoặc lưỡng giới giả nam) là những người có tinh hoàn (có thể bình thường hay dị tật hay không có), bộ gen (NST) của nhóm người này thông thường có NST Y: 46, XY; 47 XXY hoặc 47, XYY tuy nhiên cơ quan sinh dục ngoài thì không thành hình hoàn chỉnh, không phân biệt nam hay là nữ. Các dị tật có thể xảy ra tại cơ quan sinh dục bên trong hoặc bên ngoài dưới các hình thức khác như: Nam có tử cung nhưng không kìm hãm nổi quá trình tăng trưởng của ống Muller; Nam có dị tật ngực lệch; Nam có dị tật lỗ tiểu lệch; Giảm sản tuyến sinh dục: tuyến sinh dục giảm sản hoặc tuyến sinh dục dưới dạng một dải thô sơ. Người thuộc trường hợp này có thể do những nguyên nhân sau: có vấn đề ở tinh hoàn, hai tinh hoàn bình thường tiết ra hormone nam nhưng nếu hai tinh hoàn không được cấu tạo đầy đủ thì sẽ dẫn tới hiện tượng nam tính hóa kém. Một số nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng này trong đó có loạn sản tuyến sinh dục đơn thuần trên người có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY – có vấn đề ở sự tạo thành testosteron được tạo nên thông qua nhiều bước mà mỗi bước lại cần có những enzym khác nhau. Thiếu hụt bất cứ enzym nào cũng có thể dẫn đến việc điều tiết không đủ testosteron và gây ra một hội chứng khác ở người có giới tính mơ hồ nhưng vẫn có nhiễm sắc đồ 46,XY. Nhiều dạng khác của bệnh quá sản bẩm sinh tuyến thượng thận có thể rơi vào loại này – có vấn đề với việc sử dụng testosteron nghĩa là một số người vẫn tiết đủ lượng testosteron nhưng vẫn có giới tính mơ hồ với nhiễm sắc đồ 46,XY. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác [21, tr31-33].
Nữ lưỡng giả nam (cũng gọi là lưỡng tính giả nữ) là nhóm người có buồng trứng, một người có nhiễm sắc thể số giống nữ 46, XX tuy nhiên cơ quan sinh dục nữ vẫn giống nam, chủ yếu là trong quá trình phôi thai, thai nhi nữ đã phơi nhiễm rất mạnh với hormone nam ngay cả lúc mới sinh ra. Môi to và môi bé của cơ quan sinh dục nữ khít với nhau nên trông giống với bìu còn âm vật thì phát triển trông giống với tinh hoàn. Thường vẫn có tử cung và hai vòi trứng bình thường. Bệnh này có thể do nhiều nguyên nhân: thường gặp nhất là quá sản bẩm sinh tuyết thượng thận – Người mẹ dùng hormone nam (như testosterone) trong thời gian mang thai – Người mẹ có khối u tiết ra hormone nam; những khối u thường gặp nhất là những khối u buồng trứng. Vì thế những người mẹ sinh con có giới tính không rõ nam hay nữ và nhiễm sắc đồ 46,XX cần được kiểm tra trừ khi đã tìm ra nguyên nhân khác rõ ràng – Thiếu hụt enzym aromatase, trường hợp này có khi đến độ tuổi dậy thì mới phát hiện ra. Aromatase là enzym trong điều kiện bình thường chuyển hormone nam thành hormone nữ. Quá nhiều aromatase có thể dẫn đến có quá nhiều hormone nữ estrogen và quá ít dẫn đến trẻ có nhiễm sắc đồ 46,XX và có giới mơ hồ. Đến tuổi dậy thì, những đứa trẻ 46,XX nhưng đã từng được nuôi dậy như con gái có thể bắt đầu có những đặc tính của con trai [21, tr33-34].
Lưỡng giới thật là những người tại cùng một thời điểm có cả tinh hoàn và buồng trứng thuộc dạng vô sinh hoặc dị sản. Những trường hợp này có thể sống nhưng khó thụ thai và suy giảm về chức năng sinh dục do các hormone nam giới đã lấn át chức năng của các hormone nữ giới và ngược lại. Được biểu hiện dưới ba dạng: Lưỡng giới xen kẽ là một bên có buồng trứng, bên kia có tinh hoàn; Lưỡng giới hai bên là khi hai bên cùng có tuyến sinh duc kết hợp buồng trứng – tinh hoàn và Lưỡng giới một bên là một bên có buồng trứng hoặc tinh hoàn, bên kia có tuyến tổng hợp. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Hai là, giới tính chưa được định hình chính xác: Giới tính chưa được định hình chính xác được hiểu là: “Nhiễm sắc thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hoá hoàn toàn do đó chưa thể xác định chính xác là nam hay nữ”. Đây là trường hợp nhiễm sắc thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hoá hoàn toàn do đó không thể xác định chính xác là nam hay nữ.
Như vậy, điều kiện để việc xác định lại giới tính có thể diễn ra là phải có người trưởng thành thuộc ít nhất một trong hai nhóm người khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc chưa thể định hình đúng được giới tính. Có thể nói giới tính là một quyền nhân thân có điều kiện. Điều kiện này biểu hiện ở việc, mỗi cá nhân chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi và chỉ khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khi và chỉ khi thoả mãn ít nhất một trong hai điều kiện trên họ mới có quyền đề nghị y học xác định lại giới tính đúng đối với mình. Với điều kiện trên người ta có thể hiểu rằng, xác định lại giới tính không đồng nghĩa với việc chuyển đổi giới tính một cách tự do, phải thuộc phạm vi được luật pháp cho phép thì việc xác định lại giới tính mới có thể diễn ra. Điều trên cũng đúng với truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt Nam cùng thực trạng phát triển kinh tế – xã hội đất nước ta trong điều kiện hiện tại.
- Điều kiện về độ tuổi
Đối với điều kiện về độ tuổi hiện nay chưa có một văn bản hiện hành hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên để nắm được chủ thể đạt độ tuổi luật định có thể tham khảo dựa trên Nghị định 88/2008/NĐ-CP và Thông tư 29/2010 TT-BYT quy định có ba biểu mẫu khác nhau tương ứng với 03 độ tuổi để xác định lại giới tính như sau:
Đối với người chưa đủ 16 tuổi sẽ do cha, mẹ hoặc người giám hộ đứng tên làm đơn hộ (Theo mẫu tại Phụ lục số 01);
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự mình làm đơn nhưng phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ ( Theo mẫu tại Phụ lục số 02);
Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên thì có thể tự mình làm đơn mà không cần có sự đồng ý của cha, mẹ (Theo mẫu tại Phụ lục số 03).
Trong khi các bác sĩ khám và chữa trị cho những trẻ em có khuyết tật về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chắc chắn cũng cần phải xem xét độ tuổi tiến hành phẫu thuật, về cơ bản các bác sĩ khuyên họ nên xác định lại giới tính từ lứa tuổi sớm nhất (điểm b, khoản 3 Điều 9 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP). Vì tiến hành khi trẻ còn bé thì khi lớn lên các em sẽ không nhớ đến quá khứ của mình cũng như dễ dàng cho việc xác định giới tính.
- Điều kiện về ý chí nguyện vọng của chủ thể Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện. Trong mọi trường hợp người cần xác định lại giới tính phải có đơn đến cơ sở khám chữa bệnh đề nghị xác định lại giới tính nếu không có đơn thì cơ sở y tế không được quyền tiến hành xác định lại giới tính đối với cá nhân. Đặc biệt, qua sự tham khảo Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 đối với vấn đề xác định lại giới tính đã coi việc khuyết tật về giới tính cũng như quyền được xác định lại giới tính là vấn đề có tính cá nhân, là quyền riêng tư của từng người. Vì vậy, theo tinh thần của nghị định và Bộ luật Dân sự 2015 việc thực thi quyền này cần “phải được tiến hành trên nguyên tắc công bằng, khách quan và minh bạch” có nghĩa là không bất kỳ một cá nhân tập thể nào có quyền ép buộc người có khuyết tật về giới tính phải xác định đúng giới tính bằng biện pháp y tế nếu không phải do chính người ấy thực hiện và người được xác định giới tính phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật vì việc đã xác định lại giới tính của mình.
Như vậy, với những căn cứ nêu trên chúng ta có thể hiểu, xác định lại giới tính không đồng nghĩa với việc thay đổi giới tính một cách tuỳ ý chỉ tuân theo khung luật pháp quy định thì việc thay đổi giới tính mới được diễn ra. Việc này sẽ đúng với truyền thống đạo lý cao đẹp của cha ông ta nhưng cũng phải theo kịp với xu thế tiến bộ và văn minh của thế giới.
2.1.2. Điều kiện đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính
Theo đó, về điều kiện để một cơ sở khám, chữa bệnh có thể can thiệp nhằm xác định lại giới tính được cấp phép và đủ điều kiện của Bộ y tế thì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, ngoại trừ Thông tư 29/2010 TT-BYT. Vậy nên, có thể tham khảo hướng dẫn chủ thể như sau:
Thứ nhất, về cơ sở vật chất:
Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa ngoại, sản, nhi của Nhà nước tuyến tỉnh hoặc bệnh viện đa khoa, chuyên khoa hạng một tuyến trung ương hoặc bệnh viện khác có điều kiện tương tự;
Có phòng xét nghiệm di truyền tế bào và di truyền phân tử. Trường hợp cơ sở khám, chữa bệnh không có phòng xét nghiệm riêng thì phải có hợp đồng thực hiện xét nghiệm với cá nhân, tổ chức có phòng xét nghiệm di truyền tế bào và di truyền phân tử hợp pháp; Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Phòng (buồng) thăm khám xác minh lại nam nữ được sắp xếp riêng rẽ, bí mật.
Thứ hai, về điều kiện trang thiết bị y tế: phải có bộ dụng cụ phẫu thuật phù hợp cho phẫu thuật tạo hình và phẫu thuật thẩm mỹ.
Thứ ba, điều kiện về Nhân sự:
Phải có tối thiểu 01 bác sĩ chuyên khoa nội tiết, 01 bác sĩ chuyên khoa ngoại, các bác sĩ chuyên khoa phải có trình độ thạc sĩ hoặc tối thiểu 05 năm kinh nghiệm trong chẩn đoán, chữa trị những khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác;
Nếu cơ sở khám, chữa bệnh không có bác sĩ chuyên khoa nội tiết thì có thể ký kết hợp đồng với bác sĩ có đầy đủ tiêu chuẩn theo hướng dẫn ở điểm a khoản trên.
Quy định về các điều kiện khám, chữa bệnh, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, nhân sự được nêu trong các văn bản trên đã tương đối đầy đủ và phù hợp về mặt pháp lý cũng như thực tiễn trước đó. Qua đây có thể thấy, các cơ sở y tế nào mới được phép và không được phép can thiệp để xác định lại giới tính cho cá nhân.
Những người có kinh nghiệm, trình độ, bằng cấp như nào mới được khám và điều trị cho một người có khuyết tật giới tính. Điều này đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng để cá nhân có khuyết tật về giới tính và cả các cơ sở y tế có điều kiện để khám và điều trị cho những người muốn tìm lại giới tính của mình. Chính vì vậy, qua việc tham khảo quy định tại Thông tư số 29/2010/TT-BYT để hướng dẫn chi tiết hơn một số điều của Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về các điều kiện để một cơ sở, khám chữa bệnh có thể can thiệp để xác định lại giới tính cũng là một nền tảng vững chắc xây dựng nên các văn bản pháp lý về quyền xác định lại giới tính hiện nay.
2.1.3. Nguyên tắc xác định lại giới tính Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
- Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình
Để đảm bảo quyền nhân thân Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận cá nhân có quyền xác định lại giới tính. Mục tiêu cao nhất của Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 nhằm hướng tới việc xác định lại giới tính “Đảm bảo quyền được sống theo đúng giới tính của mình”. Theo quy định thì người mắc khuyết tật bẩm sinh về giới tính, người giới tính không được định hình chính xác được quyền xác định lại giới tính của mình bằng việc nhờ cậy đến can thiệp của y học – phẫu thuật, dùng hormone, can thiệp nội tiết tố sau phẫu thuật…
Như vậy, có thể thấy rằng ngoài việc đã có sự thay đổi về mặt nhận thức, Nhà nước đã chính thức thừa nhận vấn đề “tế nhị” này thì chính sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đem đến cơ hội, tạo nên hạnh phúc cho những người vốn bị xem là bất hạnh – do có khiếm khuyết về giới tính. Đây là điều mà trước đây, những người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính, người giới tính chưa được định hình chính xác có muốn cũng khó, thậm chí không thể thực hiện được.
- Việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính
Theo quy định của luật pháp Việt Nam, quá trình xác định lại giới tính cần phải được thực hiện dựa trên cơ sở khoa học, khách quan, công bằng và hợp lý. Như vậy, theo quy định của nguyên tắc, không một cơ quan, đơn vị nhà nước có thẩm quyền yêu cầu người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính không được định hình chính xác phải tiến hành xác định lại giới tính bằng biện pháp can thiệp y tế, nếu không phải là tự thân, ý chí của người khuyết tật thôi thúc, họ mong ước được quay trở lại đúng với giới tính, đúng với con người thật.
Bên cạnh đó, người được xác định lại giới tính phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính của mình. Vì thế, phụ huynh và người giám hộ cũng sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính của con hoặc người được giám hộ. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
- Giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính
Theo quy định, khoản 2 Điều 10 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định: Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin khác về đời tư mà người bệnh đã cung cấp cho cơ sở y tế trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp họ tự nguyện cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật…Do đó, các bên có liên quan đều phải giữ kín các thông tin liên quan về họ; trừ một số trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định cụ thể: trường hợp có văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thực hiện nghĩa vụ về người đã được xác định lại giới tính cung cấp tài liệu cần thiết phục vụ việc kiểm tra, giám định, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính của họ. Bất kỳ ai cung cấp thông tin liên quan việc xác định lại giới tính của người khác hoặc phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính sẽ bị áp dụng hình phạt theo quy định của pháp luật.
Như vậy, pháp luật Việt Nam thể hiện rất rõ tính tôn trọng nguyên tắc tự nguyện khi thực hiện quyền xác định lại giới tính, điều này rất quan trọng và đây là nền tảng cho việc thực hiện quyền xác định lại giới tính. Chúng ta đều biết rằng vấn đề về giới tính là một vấn đề hết sức nhạy cảm nên các nhà làm luật cũng đã rất thận trọng để soạn thảo ra những quy định vừa mang tính chặt chẽ về mặt pháp lý nhưng cũng không kém phần nhân văn đối với những người kém may mắn khi bị khuyết tật giới tính bẩm sinh hay giới tính chưa được định hình chính xác để giúp họ được trở về với đúng giới tính thật mà được pháp luật công nhận, bảo vệ về mặt quyền và lợi ích của mình.
2.1.4. Các hành vi bị cấm khi xác định lại giới tính Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Về các hành vi bị cấm khi xác định lại giới tính, căn cứ theo Điều 4 Nghị định 88/2008/ NĐ – CP đã từng được quy định trước đây và Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế đã đưa ra một số hành vi như sau:
Thứ nhất, thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính
Những người đã hoàn thiện về giới tính được định nghĩa là những người hoàn toàn khoẻ mạnh, có cơ quan sinh dục phát triển bình thường (theo xét nghiệm của y tế) được xác định là nam hay nữ giới, có các cặp nhiễm sắc thể giới tính xác định là XY hoặc XX, có hình thái bên ngoài tương đồng với cấu trúc bên trong cơ thể. Theo quy định, cá nhân chỉ được quyền xác định lại giới tính sau khi người đó được xác định có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác dựa trên những tiêu chí y tế nhất định. Người không có khuyết tật bẩm sinh về giới tính, giới tính đã được xác định rõ ràng mà đã cố ý nhờ sự can thiệp của y tế để chuyển đổi giới tính nhằm đáp ứng như ý muốn cá nhân hoặc nhằm mục đích vụ lợi (để trốn tránh trách nhiệm nghĩa vụ quân sự, cưới chồng giàu có…) hoặc để trốn tránh sự trừng trị của pháp luật được pháp luật tuyệt đối nghiêm cấm và có thể bị xử phạt theo các quy định của pháp luật. Việc ngăn cấm thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính nhằm ngăn ngừa những hành vi chuyển đổi giới tính vì các quan điểm tâm lý sai lệch, đạo đức xã hội hoặc nhằm mục đích khác (trốn tránh trách nhiệm pháp lý, gian lận trong thi đấu…).
Thứ hai, thực hiện việc xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Xác định lại giới tính là một quá trình rất phức tạp, diễn ra trong một khoảng thời gian dài, nó trực tiếp tác động vào cơ thể, ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí cả tính mạng con người. Do đó, bên cạnh việc ghi nhận quyền này thì pháp luật cũng đã quy định khá nghiêm ngặt về điều kiện của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính. Theo đó, những cơ sở y tế không có đủ điều kiện y tế mà vẫn thực hiện xác định lại giới tính thì sẽ bị xử lý theo các quy định của pháp luật. Như tại Khoản 2 Điều 45 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế áp dụng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi: “Xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc sở y tế”. Có thể nói đây là những quy định nhằm đảm bảo cho những người xác định lại giới tính có những điều kiện tốt như cơ sở vật chất, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ, chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ tham gia,… bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho họ, tránh được rủi ro trong quá trình thực hiện. Mặt khác, các quy định đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng có thể quản lý, hỗ trợ các cơ sơ khám chữa bệnh đáp ứng được phép của Bộ Y tế, Sở Y tế thực hiện can thiệp y tế để xác định lại giới tính hoạt động có hiệu quả nhất. Đồng thời hạn chế và kiểm soát chặt chẽ hoạt động thiếu nghiêm túc của các cơ sở y tế không đáp ứng được các điều kiện theo luật định. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Thứ ba, tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác
Việc xác định lại giới tính là vấn đề tế nhị, liên quan trực tiếp với một con người cụ thể nên luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Một trong những vấn đề pháp lý đã nói ở trên là việc giữ bí mật toàn bộ các tài liệu liên quan đến người đã xác định lại giới tính, ngoại trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ để thực hiện việc nghiên cứu, xác minh, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính. Theo quy định này thì bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có hành vi tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người đã xác định lại giới tính sẽ phải chịu các chế tài theo quy định của pháp luật. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được xác định lại giới tính, tại điểm a khoản 1 Điều 45 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định áp dụng mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: “Tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác,…”.
Thứ tư, phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ nguyên tắc bình đẳng trong giao dịch dân sự: “Mọi người, tổ chức đều bình đẳng, không được vì bất cứ lí do nào mà phân biệt đối xử và được pháp luật bảo vệ như nhau đối với các quyền nhân thân và tài sản”. Các hành vi đối xử đối với người đã xác định lại giới tính sẽ bị pháp luật lên án. Cụ thể theo điểm b khoản 1 Điều 45 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định áp dụng mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: “Phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính,…”. Người có hành vi phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính ngoài hình thức xử phạt như trên thì họ cũng bị khắc phục hậu quả, buộc công khai xin lỗi những người đã xác định sai giới tính do phân biệt đối xử.
Như vậy, tại Điều 4 Nghị định 88/2008/ NĐ – CP đã đưa ra các quy định nghiêm ngặt đối với các hành vi bị cấm khi xác định lại giới tính là tương đối phù hợp so với thực tiễn trước đó. Chính vì vậy, qua việc tham khảo quy định tại Nghị định số 88/2008/NĐ-CP lại một lần nữa tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho việc ban hành bổ sung các văn bản dưới luật về quyền xác định lại giới tính nhằm hướng dẫn các chủ thể nắm bắt và hiểu nội dung quy định tại Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 hiện nay.
2.1.5. Trình tự, thủ tục xác định lại giới tính
- Các thủ tục can thiệp y tế của việc xác định lại giới tính
Dưới góc độ tham khảo Nghị định 88/2008/NĐ-CP đã từng quy định về trình tự, thủ tục xác định lại giới tính. Trong đó, thủ tục can thiệp y tế của việc xác định lại giới tính gồm hai bước như sau:
Thứ nhất, thủ tục đề nghị xác định lại giới tính. Tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP quy định về thủ tục đề nghị xác định lại giới tính. Theo đó, thủ tục này gồm hai bước:
Bước 1, người đề nghị xác định lại giới tính gửi đơn đề nghị xác định lại giới tính đến cơ sở khám, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Theo đó, tính đến nay, trên cả nước có 03 cơ sở y tế đã được công nhận đủ điều kiện can thiệp y tế để xác định lại giới tính có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận y tế đó là Bệnh viện Nhi Trung ương; Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Bệnh viện Nhi đồng 2 – Thành phố Hồ Chí Minh (theo Công văn số 2315/HTQTCT-HT ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Cục hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực – Bộ Tư pháp).
Bước hai, sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho người đề nghị xác định lại giới tính trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý hồ sơ. Nếu không đồng ý thì phải trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản.
Thứ hai, thủ tục can thiệp của y tế để xác định lại giới tính. Tại Điều 9 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP đã quy định khá chi tiết về thủ tục can thiệp y tế để xác định lại giới tính:
Bước một, trên cơ sở bệnh án yêu cầu xác định lại giới tính, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiến hành việc khám lâm sàng (hình thái các cơ quan sinh dục ngoài và trong; làm xét nghiệm xác định nhiễm sắc thể giới tính), cận lâm sàng (tuỳ theo từng tình huống cụ thể, các cán bộ chuyên môn có thể tiến hành các kỹ thuật khám cận lâm sàng như: siêu âm, xét nghiệm, chụp X quang, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ; xét nghiệm nội tiết hoặc xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính và sinh thiết xác định cơ quan sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng) nhằm xác định lại giới tính.
Bước hai, sau khi có kết luận khám lâm sàng và cận lâm sàng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần tiến hành hội chẩn với sự tham dự của các cán bộ chuyên môn nhằm có quyết định thích hợp trong việc điều trị xác định lại giới tính.
Bước ba, điều trị xác định lại giới tính. Trên cơ sở nguyện vọng của người xác định lại giới tính, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sẽ xác định giới tính để có biện pháp điều trị thích hợp.
Như vậy, qua Nghị định 88/2008/NĐ-CP có thể thấy pháp luật Việt Nam thể hiện sự tôn trọng các cá nhân mắc khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác qua các thủ tục can thiệp y tế khi thực hiện quyền xác định lại giới tính. Đây là một trong những khâu quan trọng và thực tiễn cho thấy quy định này khá đầy đủ và phù hợp, là nền tảng cho việc thực hiện quyền xác định lại giới tính sau này. Giới tính là một vấn đề rất nhạy cảm vậy nên các nhà làm luật cũng đã hết sức cẩn trọng để đưa ra những điều luật cũng như các trình tự, thủ tục vừa mang tính chất nghiêm ngặt về mặt pháp luật nhưng cũng không kém phần nhân văn nhằm giúp đỡ họ được quay về với đúng giới tính thực đã được luật pháp.
- Thủ tục pháp lý của việc xác định lại giới tính Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Việc xác định đúng giới tính của cá nhân không chỉ có ý nghĩa đối với việc phát triển nhân cách của một người và có tác dụng đối với việc thực hiện quyền dân sự, quyền con người của cá nhân khi họ có một giới tính mới phù hợp với mình. Nếu một người chỉ được phẫu thuật nhằm lấy lại đúng giới tính của mình về phương diện sinh học nhưng vẫn không được pháp luật công nhận, xã hội tôn trọng thì việc can thiệp của y tế đã hết ý nghĩa với người đó. Do đó theo điểm b Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 155/2018/NĐ-CP quy định về Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế áp dụng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính như sau “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp giấy chứng nhận y tế (Phụ lục 04) cho người đã được xác định lại giới tính theo mẫu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”. Đối với những người đã xác định được giới tính ở nước ngoài hoặc đã tiến hành ở Việt Nam trước khi Nghị định số 88/2008/NĐ-CP có hiệu lực thì phải có giấy chứng nhận đã xác định được giới tính của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trước đó và đến trực tiếp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế xác định lại giới tính đã được khám bệnh và cấp giấy chứng nhận y tế. Giấy chứng nhận sẽ là cơ sở pháp lý đăng ký khai sinh đối với người đã được xác định lại giới tính. Hiện nay tiếp cận theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 quy định thì cá nhân sau khi đã tiến hành can thiệp y tế được cấp giấy chứng nhận y tế, người được xác định lại giới tính phải làm thủ tục đăng ký xác định lại giới tính tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi thuộc địa phận của huyện mà đương sự đã đăng ký khai sinh trước kia. Hồ sơ bao gồm: tờ khai đăng ký việc xác định lại giới tính, bản chính giấy khai sinh của người cần xác định lại giới tính và giấy chứng nhận y tế.
Như vậy, có thể thấy rằng thủ tục thực hiện xác định lại giới tính đã hướng dẫn tương đối cụ thể, thủ tục đơn giản, nhanh gọn tạo điều kiện thuận tiện cho những người có mong muốn xác định lại giới tính tự tin tiến hành đính chính giấy tờ hộ tịch để sống thật giới tính của mình. Tuy nhiên, việc hướng dẫn cụ thể các quy định, trình tự xác định lại giới tính hiện nay là điều cần thiết phải ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 và cụ thể hóa tại các Văn bản quy phạm pháp luật liên quan là việc làm tất yếu để mỗi cá nhân có thể được đảm bảo quyền lợi của mình khi thực hiện xác định lại giới tính.
2.1.6. Hậu quả pháp lý của việc xác định lại giới tính Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Mỗi cá nhân sau khi xác định được giới tính của bản thân sau khi trở lại đời sống thông thường, tất nhiên họ cần phải đồng ý và được bảo hộ lợi ích chính đáng của mình theo pháp luật, do đó sẽ phát sinh các hậu quả pháp lý của việc xác định lại giới tính. Chính vì vậy, như đã đề cập ở trên thì hậu quả của việc xác định lại giới tính sẽ có hai tình huống xảy ra:
Thứ nhất, giới tính sau khi được xác định vẫn như đã ghi trong giấy khai sinh và các giấy tờ khác;
Thứ hai, sẽ có sự thay đổi giới tính trong giấy khai sinh và các giấy tờ khác (Nữ sang nam và nam sang nữ).
Như vậy, khi ta phân tích về hậu quả pháp lý của vấn đề xác định giới tính thì cũng đồng thời là phân tích hậu quả pháp lý gây ra đối với trường hợp thứ hai, khi bản thân con người thay đổi giới tính thì sẽ có những vấn đề đối với quyền lợi và nghĩa vụ sẽ bị thay đổi, và nếu như trường hợp thứ nhất giữ nguyên giới tính cũ thì sẽ không có sự phát sinh, thay đổi đối với trách nhiệm cũng như quyền lợi của bản thân. Vậy, con người khi xác định được giới tính sẽ có thể xuất hiện, thay đổi về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với một số trường hợp nhất định như sau:
- Quyền thay đổi họ tên, cải chính hộ tịch công khai trên toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng
Sau khi được xác định lại giới tính, cá nhân được cải chính hộ tịch: Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người đã hoàn thành việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ được cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, có quyền nhân thân tương ứng với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan. Về thẩm quyền giải quyết được quy Luật Hộ tịch 2014 thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết việc cải chính hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật hộ tịch. Còn về việc thay đổi họ tên: Người sau khi được xác định lại giới tính có quyền được thay đổi họ, tên của mình trừ khi việc thay đổi họ, tên cũ có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng trong cuộc sống sinh hoạt sau khi đã được xác định lại giới tính theo điểm e khoản 1 Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
- Quyền được tôn trọng và giữ bí mật đời tư
Theo quy định của pháp luật, đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác, trước và sau khi được thực hiện quyền xác định lại giới tính vẫn được đảm bảo bình đẳng về quyền nhân thân với các người khác. Có nghĩa là họ có quyền được bảo vệ danh dự, uy tín, sự tôn trọng, quyền được giữ bí mật đời tư,… trừ khi có văn bản của cơ quan chức năng có thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin để phục vụ việc tiến hành xác minh, điều tra truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính.
- Quyền được kết hôn và nhận nuôi con nuôi
Sau khi giới tính của cá nhân đã được định hình lại để đúng với giới tính hợp pháp và duy nhất của bản thân, cá nhân có quyền kết hôn theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 39) và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 9) cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, sẽ được công nhận và bảo vệ.
- Sự chuyển đổi về một số quyền lao động, nghĩa vụ quân sự
Theo Luật Nghĩa vụ quân sự 2015: Công dân Nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ độ tuổi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám đến hai mươi lăm tuổi (Điều 30). Như vậy, tham gia nghĩa vụ quân sự không những là quyền mà còn là trách nhiệm của công dân, nhưng quyền và nghĩa vụ lại chỉ dành cho đối tượng công dân là nam giới. Do đó, nếu một người trước đây là nam giới đã đi nghĩa vụ quân sự nhưng sau này xác định được giới tính họ là nữ thì vấn đề đi nghĩa vụ quân sự có thể bị huỷ bỏ. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề suy luận từ các điều khoản của luật pháp về xác định giới tính và luật nghĩa vụ quân sự. Thực tế để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của công dân, chúng ta cần sửa đổi hoặc bổ sung các điều khoản như người đã xác định được giới tính có quyền thực hiện nghĩa vụ quân sự không? Hoặc một người đang tham gia nghĩa vụ quân sự nhưng họ được xác định có giới tính là nữ vậy họ có được quyền nhập ngũ tiếp hay không. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Trong quan hệ lao động, cũng có sự điều chỉnh khi một người được xác định lại giới tính. Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 thì mỗi cá nhân có quyền: Làm việc; được lựa chọn nghề nghiệp, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử, cưỡng ép lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc (Điều 5). Xét theo quy định hiện hành thì không được lấy việc chênh lệch giới tính mà phân biệt đối xử, có thái độ kỳ thị đối với người lao động. Điều này, nói rộng hơn là nếu một người được xác định đúng giới tính có thể từ nữ giới trở thành nam giới thì họ cũng được đối xử bình đẳng như bao người khác. Tuy nhiên, bắt nguồn từ đặc thù của cấu trúc tâm sinh lý của từng giới mà Bộ luật Lao động đã có những quy định các quyền lợi phù hợp với mỗi giới khác nhau về mức tuổi nghỉ hưu, thời gian nghỉ ngơi, chế độ, trợ cấp xã hội… Riêng về phụ nữ, vì cấu trúc tâm sinh lý họ có thiên chức làm vợ, làm mẹ, họ tốn nhiều thời giờ trong quá trình có bầu và nuôi con nhỏ. Vì thế, Bộ luật Lao động đã có riêng Chương X đề cập đến “Những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới”, trong đó đã quy định rất rõ ràng về các quyền được sắp xếp việc làm cho thích hợp với giới tính, các quyền lợi khi mang bầu, quyền được đối xử công bằng… việc quy định này mang tính chất nhân đạo đối với luật pháp Việt Nam, khuyến khích và bảo vệ các lao động nữ. Vì vậy, một lao động đang là nam giới được xác minh vẫn là nữ giới thì họ cũng được thụ hưởng các quyền giống lao động nữ. Đây quả thực là một tiến bộ mới của luật pháp Việt Nam, khẳng định quyền bình đẳng cho nam và nữ, xoá bỏ cơ chế trọng nam khinh nữ của xã hội cũ.
Như vậy, từ các quy định ở Điều 36 của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành cho đến các Văn bản quy phạm pháp luật gồm Nghị định số 88/2008/NĐ-CP, Thông tư số 29/2010/TT-BYT và các văn bản gồm Thông tư, Báo cáo của các Bộ Tư pháp, Ngành Y tế trước đây đã góp phần làm bật lên khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh của Việt Nam trong vấn đề công nhận và định hình chính xác giới tính của từng người và tạo thuận lợi để những cơ sở khám chữa bệnh thực hiện can thiệp y tế, chỉnh hình đối với những người có khuyết tật bẩm sinh giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác.
Do đó, trên bình diện pháp lý cũng như thực tiễn, các chế định của pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính của cá nhân có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ khẳng định quyền con người, quyền công dân của một cá nhân mà hơn hết đã giúp cho biết bao nhiêu con người có khuyết tật về giới tính ổn định được cuộc sống. Tạo sự ổn định trong xã hội, giúp họ có được niềm tin vào cuộc sống, vào những giá trị cao đẹp trong xã hội… và hơn cả là niềm tin vào pháp luật, vào Đảng và Nhà nước.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền xác định lại giới tính của cá nhân Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Quyền xác định lại giới tính mới lần đầu được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2005 và tiếp tục được phát triển trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015 có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Quy định này đã cho phép được xác định đúng giới tính đối với những người mắc khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Sự xuất hiện của những điều luật trên được đánh giá cao là một tiến bộ mới, có ý nghĩa nhân văn và nhân đạo sâu sắc đối với luật pháp Việt Nam. Điều này tạo ra cơ hội giúp những người thiếu may mắn được xác định đúng bản thân mình và có niềm tin tưởng vào cuộc đời mới. Ý nghĩa lớn lao của đạo luật trên đã thu hút hàng trăm, hàng nghìn người tìm đến các cơ sở y khoa nhằm xác định lại giới tính của họ. Tuy nhiên, số lượng người đến nhờ can thiệp xác định lại giới tính ở các cơ sở thăm khám, chữa bệnh có điều kiện lại rất hiếm hoi. Mà trên thực tế xác định: Hiện bình quân 2.000 đứa trẻ em sinh ra thì có 1 trẻ có bộ phận sinh dục không phù hợp với bộ nhiễm sắc thể. Và tiếp đó trung bình cứ 11.000 người thì có 1 người có khuyết tật về giới tính hoặc giới tính không rõ ràng [23]. Với tỷ lệ trẻ có khuyết tật nhiễm sắc thể giới tính nêu trên thì nhu cầu được xác định lại giới tính là không nhỏ. Tuy nhiên, trên thực tế tại các bệnh viện, các Cơ sở khám, chữa bệnh được phép can thiệp xác định lại giới tính cho trẻ có quá ít các đối tượng được can thiệp xác định lại giới tính. Bác sĩ Nguyễn Thị Hoàn (nguyên trưởng khoa Chuyển hóa Nội tiết và di truyền Bệnh viện Nhi Trung ương) cho biết: Theo dữ liệu của phần mềm lưu trữ Bệnh viện hàng năm Bệnh viện Nhi Trung ương thu nhận khoảng 40 đến 70 cháu có dấu hiệu bất thường về giới tính.
Đây là những ca được chuẩn đoán khi bệnh nhân tự đến thăm khám hoặc từ tuyến dưới đưa lên. Còn tại cộng đồng có nhiều người dân không biết, không phát hiện kịp thời nên số lượng trẻ không được phát hiện còn tương đối lớn. Con số ước tính ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Từ Dũ điều trị khoảng trên 150 ca, tại Huế là vài chục ca [25]. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 PGS.TS Lê Tấn Sơn cho biết thêm, từ năm 1994 đến giờ các bệnh viện trong ngành mới tiến hành được các can thiệp y tế liên quan về dị tật bẩm sinh bộ phận sinh dục. Trong hơn 20 năm vừa qua, một số bệnh viện (trong đó có Bệnh viện Nhi Đồng 2) đã tiến hành những can thiệp y khoa quan trọng để xác định rõ ràng giới tính của bệnh nhi. Tuy nhiên, mãi đến sau này, Bệnh viện Nhi Đồng 2 mới được cho phép can thiệp trên phương diện pháp lý để tái xác định giới tính bằng “Giấy chứng nhận y khoa đã xác định được giới tính” [26]. Như vậy, có thể thấy rằng con số trên là quá nhỏ so với thực tế số người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác đang sống ở cộng đồng. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Theo đánh giá tại số liệu nêu trên thì tỷ lệ người mắc khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính không được định hình chính xác mà đã đến các cơ sở khám chữa bệnh có đủ điều kiện thực hiện can thiệp y tế để sống đúng với giới tính của mình là không nhiều so với thực tế còn số lượng người thực hiện xác định được giới tính về mặt pháp lý lại vô cùng hiếm. Theo số liệu của Sở Tư pháp các quận, huyện, Phòng Tư pháp các tỉnh Thành phố trực thuộc Trung Ương thì trong nhiều năm qua, số người dân đề nghị đính chính thông tin hộ tịch để xác định lại giới tính cực kỳ hiếm. Ngay cả ở thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà người dân được cung cấp chất lượng dịch vụ y tế cao, điều kiện khám chữa bệnh có chất lượng, mức độ hiểu biết luật pháp cao như vậy thì số lượng trên cũng không lớn. Trên thực tế, số người đề nghị cải chính giấy tờ hộ tịch để xác định lại giới tính chỉ khoảng dưới 1%, nhiều quận huyện tỷ lệ này là 0%, thường gặp trường hợp chỉ có ghi nhầm trên giấy tờ (đáng lẽ ghi nam nhưng cán bộ hộ tịch đã ghi nhầm là nữ), còn việc cho phép cải chính lại hộ tịch, giới tính đối với trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh về giới hoặc giới tính chưa được xác định đúng thì hầu như rất hiếm. Vì thế, đối với các trường hợp khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác có nhu cầu xác định lại giới tính và thực hiện nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch theo Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 là không nhiều và hầu như không được công khai do dữ liệu cá nhân được giữ kín. Việc thống kê các trường hợp xác định lại giới tính đều rất khó khăn, chỉ được phép sử dụng con số để ước lượng, thực tế không có con số chính xác đối với các trường hợp trên. Những trường hợp như vậy là rất hiếm gặp trên thực tế do một số lý do nhất định, tuy nhiên gần đây có một số trường hợp điển hình về việc xác định lại giới tính cho trẻ và bệnh nhân đã trưởng thành. Cụ thể như sau: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Vào tháng 07/2019, tại Bệnh viện Nhi đồng 2 gần đây đã tiếp nhận một ca bé 6 tuổi mắc chứng đái thấp thể năng. Người nhà vì nhầm lẫn bộ phận sinh dục nam nên đã đăng ký khai sinh giới tính nữ cho bé. Suốt nhiều năm, bé đã được cha mẹ nuôi dưỡng giống một bé gái. Tuy nhiên, sau khi người nhà tắm rửa bé, họ phát hiện ra rằng con gái mình có tinh hoàn giống con trai và có xu hướng thích tham gia vào các hoạt động thể chất, không thích quần áo và đồ chơi giống như các bé gái khác. Sau khi khám và kiểm tra tại Bệnh viện Nhi đồng 2, người nhà mới phát hiện ra giới tính thật sự của con mình. Theo TS.BS Phạm Ngọc Thạch, Chủ tịch hội đồng xác định giới tính Bệnh viện Nhi đồng 2, Phó giám đốc bệnh viện, những khiếm khuyết bẩm sinh như dị tật lỗ tiểu thấp, tinh hoàn ẩn, phì đại tuyến tiền liệt, chậm phát triển giới tính…là nhóm bệnh lý dễ gây hiểu nhầm giới tính ngay lúc trẻ mới sinh. Nhiều trường hợp trẻ sinh sống với giới tính lệch lạc suốt vài năm mới được chẩn đoán và điều trị khi bước đầu có dấu hiệu tâm lý khác biệt với giới và hình dáng bên ngoài. Trẻ cũng dễ mắc rối loạn tâm sinh lý do tự ti với giới tính hoặc bị bắt nạt. Không những thế, có một số trường hợp giới tính mới được xác định sau khi họ đã qua tuổi dậy thì, cũng tác động rất nhiều đối với đời sống, việc làm và gia đình [27].
Tiếp đến, vào tháng 12/2021, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức đã thực hiện thành công ca phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng phần ruột non tự thân trên một người bệnh nữ không có âm đạo. Chị N.T.T (29 tuổi, quê tại Lạng Sơn) tuy có một gương mặt ưa nhìn cộng với chiều cao lý tưởng của một siêu mẫu tuy nhiên do tự ti về khuyết điểm nên chị không bao giờ dám nhận lời yêu bất cứ ai. Để khắc phục khuyết điểm của các kỹ thuật tạo hình âm đạo cũ. Đây là một kĩ thuật phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp của các bác sĩ giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực sinh dục niệu, thiết bị tiên tiến nên mới được thực hiện thành công tại một số ít bệnh viện uy tín trên thế giới. Đến nay, Khoa Phẫu thuật Hàm mặt – Tạo hình – Thẩm mỹ của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã thực hiện nhiều thành công ca phẫu thuật xác định lại giới tính để tạo hình cơ quan sinh dục như tạo hình dương vật, hậu môn, âm hộ…đối với các trường hợp có rối loạn về giới tính. Theo y văn, tạo hình âm đạo là phẫu thuật áp dụng khi phụ nữ không có âm đạo vì các dị tật bẩm sinh hoặc gặp phải các hội chứng MRKH và hội chứng AIS, có khối u ở xương chậu do chấn thương và giúp người bệnh xác định được giới tính là nữ. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Dương Trọng Hiến, Trưởng khoa Phẫu thuật Cấp cứu Tiêu hoá, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đoạn ruột trước kia được lấy theo kỹ thuật mỗ mở và hiện nay được lấy theo phương pháp nội soi với nhiều lợi thế vượt trội về khả năng phục hồi nhanh chóng hơn do người bệnh ít đau đớn hơn, ăn uống được sớm hơn, thao tác dưới nội soi chuẩn xác, ruột được khâu nổi giúp hạn chế tối đa các tai biến hậu mỗ do rò, loét đường phẫu thuật, tắc ruột hậu mỗ… được tiến hành bởi đội ngũ bác sĩ giỏi trong chuyên ngành phẫu thuật nội soi tiêu hoá của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Trường hợp gần nhất được yêu cầu xác định lại giới tính có thể kể đến như: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Đầu năm 2023, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tiếp nhận ca của cháu N.T.D (2 tuổi, ở Hà Nội) bị nhầm lẫn giới tính là nữ, vì cơ quan sinh dục có lỗ đái vẹo thấp ở tầng sinh môn, bìu chẽ đôi còn dương vật bị khuất ở 2 bên bìu, cho nên trông như âm đạo, nhưng hai tinh hoàn chưa thể xuống bìu mà lại ở trong ống bẹn. Đó là nguyên nhân khiến ngay sau khi sinh ra trẻ đã bị nhầm lẫn giới tính. Sau khi được đội ngũ bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thăm khám và làm xét nghiệm xác định giới tính gồm xét nghiệm gen di truyền, gen biệt hoá tinh hoàn, xét nghiệm gen nội tiết tố… cháu N.T.D được xác định là nam. Để trả lại giới tính thực cho bệnh nhi và để trẻ yên tâm suốt quá trình khôn lớn, đội ngũ bác sĩ phẫu thuật do PGS.TS. BS Nguyễn Việt Hoa – Trưởng phòng Phẫu thuật Nhi và Trẻ sơ sinh – chỉ huy đã phẫu thuật hạ tinh hoàn 2 bên dưới bẹn khi cháu và phẫu thuật tạo hình niệu đạo đưa đường tiểu thấp ở dưới tầng sinh môn đến chóp quy đầu cho cháu khi 2 tuổi. Sau hơn 10 ngày phẫu thuật, cháu N.T.D đã tháo ống thông tiểu và có đi tiểu như các trẻ trai khoẻ mạnh. Theo kế hoạch, sau khi phẫu thuật thành công, gia đình sẽ làm các giấy tờ nhằm thay đổi họ tên và giới tính trên giấy tờ cho cháu. PGS.TS. BS Nguyễn Việt Hoa cho biết, Bệnh viện đã phẫu thuật rất nhiều ca thành công. Nhiều trường hợp đến thăm khám bệnh từ ngay lúc lọt lòng nên không phải sửa tên, thay đổi sổ hộ tịch: “Việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời đã giúp cháu T.D. (nay đã đổi tên thành Q.C.) mang đúng giới tính thật, giúp cháu sống tự tin và chuẩn bị tâm lý để đi học với các bạn đồng trang lứa” [28].
Như vậy, có thể nói rằng trên thực tế tại các bệnh viện, các Cơ sở khám, chữa bệnh được phép can thiệp xác định lại giới tính thì có quá ít các trường hợp được can thiệp xác định lại giới tính. Với tỷ lệ trẻ có khuyết tật về giới tính đã nêu ở trên thì nhu cầu được xác định lại giới tính là không nhỏ. Theo tìm hiểu từ các trang phương tiện truyền thông đại chúng và phân tích từ số liệu ước tính thực tế, sở dĩ người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác không đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế có đủ điều kiện để xác định lại giới tính của mình và cũng rất ít trường hợp đến xin cải chính lại hộ tịch sau khi xác định lại giới tính là do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, là vì không hiểu biết hoặc hiểu biết rất mơ hồ về giới tính của mình. Đây là một trong những lý do quan trọng và trực tiếp đưa đến hiện tượng trên. Giới tính là một trong những điều có thể coi là bí ẩn lớn nhất của cơ thể con người, người ta có thể phô diễn, thậm chí làm bộc lộ ra nhiều phần bên trên thân thể mình tuy nhiên giới tính là thứ khó lòng mà bộc lộ rõ ràng nhất. Đặc biệt, với những người đã có khuyết tật về giới tính thì họ luôn cố gắng che giấu, với tâm lý tự ti, mặc cảm, khi phải chia sẻ sự thật về giới tính không bình thường của mình cho người đối diện nên họ luôn phải sống trong sự mặc cảm và xấu hổ như vậy thay vì đến các trung tâm khám chữa bệnh để tìm hiểu về tình trạng của mình. Đây là một thói quen đã hình thành và ăn sâu vào tâm thức của người Việt Nam từ lâu đời, chúng ta không có thói quen đi khám bệnh định kì 6 tháng một lần theo khuyến nghị của Hội y khoa mà phải chờ đến lúc phát bệnh mới đi khám, nhiều người khi nhận bệnh thì đã muộn màng. Việc khám và điều trị bệnh giới tính cũng không phải ngoại lệ. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Như vậy, do không hiểu biết hoặc hiểu biết rất mù mờ về giới tính của mình, cùng với tâm lý ngại ngùng, xấu hổ vì bị người khác hay biết được giới tính của mình nên không ít người đã âm thầm cam chịu và sống với giới tính giả tạo của mình suốt bao năm trời mà không hề đi đến Bác sĩ để chữa trị và khẳng định lại giới tính của mình.
Thứ hai, do sự chê bai của xã hội, của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp với những người có khuyết tật về giới tính. Có nhiều người nhận thức rất rõ ràng được về bệnh lý của mình, họ xác định rõ mình là người mắc bệnh tâm thần, họ không phải là nam giới cũng không phải là nữ giới như mọi người thường nghĩ. Nhưng vì họ sợ gia đình ngăn cản, sợ bạn bè, đồng nghiệp kỳ thị, sợ xã hội khinh thường và cho là kẻ biến thái, là kẻ bệnh hoạn nên họ cố tồn tại, cố cam chịu với bệnh lý của mình chứ không cần có sự hỗ trợ của y học mới xác định được giới tính của mình. Chính việc kỳ thị giới tính đã sinh ra tâm lý tự ti, mặc cảm khi người xung quanh nhận biết được giới tính của mình, đã có không ít người có khuyết tật về giới tính đành sống khép mình trong “cái vỏ bọc” không đúng với giới tính và cũng có quá nhiều người tìm đến các địa chỉ cần can thiệp trước khi đã quá muộn hoặc khi họ đã thật sự trưởng thành.
Thứ ba, thực tế cho thấy chi phí cho cuộc phẫu thuật để xác định lại giới tính tương đối tốn kém. Việc xác định lại giới tính phải can thiệp bằng phẫu thuật vì cần phải qua một quy trình thăm khám, làm xét nghiệm, khám tâm lý… do đó, chi phí cho một cuộc phẫu thuật phải tốn đến vài triệu, chục triệu đồng tuỳ thuộc theo lứa tuổi và tình trạng bệnh của bệnh nhân. Các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân xác định lại giới tính càng sớm càng tốt, vì tuổi đời càng trẻ càng dễ dàng thực hiện phẫu thuật để bệnh nhân có khả năng hoà nhập với cộng đồng nhanh. Tuy nhiên, bắt nguồn từ sự không hiểu biết, hiểu biết mơ hồ về giới tính của chính mình, của cha mẹ và thái độ kỳ thị của xã hội cho nên họ không đưa con cái mình đi phẫu thuật sớm. Khi đã lớn thì quá trình phẫu thuật cũng lâu hơn và phức tạp hơn, chi phí tốn kém thêm mà gia đình thì không có khả năng để chi trả họ đành phải chấp nhận con cái mình tồn tại hết cuộc đời với giới tính không rõ ràng như vậy.
Thứ tư, do tâm lý e sợ việc phải phẫu thuật ở các Bệnh viện tư nhân của người bệnh. Trao đổi với những người đã phẫu thuật ở các bệnh viện trên có thể thấy, họ mong muốn phẫu thuật tại Bệnh viện nhà nước vì thủ tục đơn giản, không nhất thiết phải có hộ khẩu, không phải nộp đơn từ hay phải có giấy chấp thuận của bố mẹ. Trường hợp nếu có khả năng về tài chính thì họ lại sang nước ngoài thực hiện phẫu thuật hoặc đến Thái Lan – đất nước được mệnh danh là thiên đường chuyển giới của thế giới. Những người dân này cũng không tin cậy vào tay nghề của các bác sĩ tại Việt Nam hai nữa là tâm lý sính ngoại của người Việt cho nên sự an toàn đối với cơ thể cũng khó đảm bảo cho nên họ không tiến hành phẫu thuật để xác định lại giới tính ở Việt Nam.
Như vậy, với những nguyên nhân nêu trên có thể nói việc xác định lại giới tính tại Việt Nam giai đoạn vừa qua cũng có nhiều hạn chế. Bên cạnh việc nhận thức hạn chế của người dân, thì bản thân các quy định pháp luật đối với quyền xác định lại giới tính và việc thực thi các quy định pháp luật trên thực tiễn cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế và không thực thi được quyền xác định lại giới tính của người dân trên thực tế.
2.3. Đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền xác định lại giới tính Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
2.3.1. Ưu điểm
Theo quan niệm truyền thống, loài người chỉ có hai giới tính, đó là nam và nữ. Tuy nhiên, trong thời đại mới này khái niệm giới tính đã mở rộng hơn và có sự hiện diện của giới tính thứ ba được coi là ái nam ái nữ, thậm chí là có thêm trường hợp giới tính thứ tư được gọi là không có giới tính. Ngày nay, không còn hiếm bắt gặp các trường hợp nhiều đứa trẻ sinh ra không được hoàn thiện về giới tính như bao người, bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Vậy cho nên, không có sự nhầm lẫn giữa việc xác định giới tính thai nhi với việc xác định lại giới tính mới chính là một việc cần thiết và nên làm. Bên cạch sự công nhận về phương diện kinh tế, pháp lý, về phương diện khoa học thì điều căn bản và thiết yếu nhất của việc xác định đúng giới tính là được luật pháp cho phép và công nhận. Chính vì vậy mà luật pháp Việt Nam cũng đã có những quy định nhằm điều chỉnh vấn đề giới tính, vấn đề xác định lại giới tính được quy định lần đầu tiên tại Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2005 nay đã được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng ở Điều 36. Quyền xác định lại giới tính xuất hiện đã mang ý nghĩa cùng những ưu điểm nhất định, cụ thể như sau: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Thứ nhất, cho phép những người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính và chưa định hình chính xác về giới tính được xác định lại giới tính của mình. Các quy định là cơ sở pháp lý cần thiết cho phép các chủ thể thuộc trường hợp khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác được thực hiện quyền theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật liên quan. Đây được xem là chỗ dựa về phương diện pháp lý và có tính chất quyết định trong vấn đề giúp những cá nhân mắc khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác quay lại và được sống phù hợp với giới tính của mình. Đó cũng là căn cứ để chủ thể có thẩm quyền xử lý tranh chấp liên quan đến việc xác định lại giới tính. Đồng thời thể hiện rõ sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài, thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, thể hiện sự vươn lên, sự đổi mới của Việt Nam đối với tiến bộ xã hội. Quyền khẳng định những giá trị thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc mang đậm nét đặc trưng của pháp luật Việt Nam, đạo đức công dân. Việc quy định quyền xác định lại giới tính của công dân tại Bộ luật Dân sự 2005 và được sửa đổi theo quy định Bộ luật Dân sự 2015 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành đã thể hiện chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước luôn coi trọng, bảo đảm quyền bình đẳng của mỗi công dân. Quyền xác định lại giới tính có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với xã hội nói chung và đối với những người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác nói riêng.
Thứ hai, với giá trị và lợi ích lớn lao của bộ luật đem lại sẽ có hàng trăm, hàng nghìn người tìm đến các trung tâm y khoa mong muốn được khẳng định lại giới tính của mình. Từ đó, cuộc đời của họ sẽ có nhiều đổi thay theo chiều hướng tích cực. Trước hết là về phương diện quan hệ xã hội, họ có thể sinh sống và làm việc nếu được mọi người đối đãi đúng với giới tính thực của mình. Còn về phương diện xã hội, họ sẽ được thụ hưởng đầy đủ quyền lợi và có các lựa chọn phù hợp với giới tính thật sự của mình. Việc thừa nhận quyền lựa chọn giới tính sẽ xoá đi sự kì thị và phân biệt chủng tộc giữa những người có khuyết tật về giới tính. Điều này mở ra một bầu không khí xã hội công bằng và bình đẳng hơn, cho phép họ hoà nhập vào xã hội một cách tự do và bình đẳng.
Thứ ba, quyền xác định lại giới tính được quy định rõ tại Bộ luật Dân sự 2015 giúp pháp luật Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện và nâng cao. Trên thế giới ngày nay, có hàng trăm quốc gia đã cho phép xác định lại giới tính.Việt Nam cũng là một trong các quốc gia tham gia vào Công ước về quyền con người. Việc công nhận quyền xác định lại giới tính cũng phần nào phản ánh sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế khi mà việc chuyển đổi giới tính đang thu hút được sự chú ý lớn từ phía các cơ quan pháp luật của các quốc gia trên thế giới.
2.3.2. Hạn chế Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
- Trong quy định pháp luật
Thứ nhất, việc xác định lại giới tính và thay đổi giới tính là hai vấn đề rất khác biệt nhau. Tại Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau: Cá nhân có quyền xác định rõ giới tính. Và Điều 37 có nội dung như sau: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì biện pháp xác định lại giới tính chỉ được phép thực hiện đối với những trường hợp giới tính của con người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác, bắt buộc cần có sự can thiệp của y học để xác định đúng giới tính. Tức là sự chuyển đổi giới tính đối với trường hợp này bắt nguồn từ đặc tính sinh lý cá nhân. Và chính quy định nói trên đã khiến nảy sinh những vấn đề, mà thực chất là những câu hỏi vẫn không ai có thể giải đáp một cách chuẩn xác được. Đó là: Tiêu chí để xác định một giới tính bị khuyết tật là như thế nào? Tiêu chí để xác định khuyết tật từ bẩm sinh mà không phải chủ ý là như thế nào? Cá nhân sẽ phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn như thế nào thì mới được chuyển đổi giới tính?
Thứ hai, nguyên nhân về hoàn thiện pháp luật, một hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ và thống nhất sẽ dẫn đến các cách hiểu và vận dụng khác nhau, một điều luật thiếu cụ thể và không có sự quy định rõ ràng cũng có sự ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền. Sau khi Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ban hành quy định cụ thể Về xác định lại giới tính thì cho đến hiện tại vẫn chưa có các văn bản dưới luật nào nhằm hướng dẫn cụ thể và chi tiết về các nguyên tắc, trình tự, thủ tục… quyền xác định lại giới tính được quy định tại Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015 gây ra nhiều khó khăn trong việc thực hiện và đảm bảo quyền. Thực tế việc hiện nay vẫn chưa có các văn bản dưới luật cụ thể quy định về việc xác định lại giới tính mà vẫn phải tham khảo với các văn bản trước đó cùng với các điều luật quy định trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch,… Đây được coi là một thiếu sót lớn đối với sự nhất quán giữa quy định của các văn bản dưới luật mà hiện nay cần khắc phục để mỗi cá nhân có thể thực hiện quyền của mình một cách công bằng và chính xác. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Thứ ba, các quy định pháp luật còn chưa bao quát được hết các trường hợp có thể xác định lại giới tính. Pháp luật hiện nay mới quy định hai đối tượng để xác định lại giới tính là khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác bộc lộ những khiếm khuyết, chưa thể áp dụng vào thực tiễn. Quan hệ xã hội rất đa dạng, phong phú, nó luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng do vậy các quy phạm điều chỉnh chỉ đúng trong một giai đoạn nhất định. Quy định về xác định lại giới tính cũng vậy. Việc pháp luật hiện hành chỉ quy định có hai trường hợp được xác định lại giới tính đó là khuyết tật bẩm sinh về giới tính và giới tính chưa được định hình chính xác là chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, khi mà khoa học kỹ thuật nói chung và y học nói riêng ngày càng phát triển con người phát hiện ra những bệnh mới trong đó có các bệnh về giới tính. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không thuộc hai trường hợp nêu trên như cơ thể biến đổi hình dạng, xuất hiện các triệu chứng biến đổi giới tính hoặc do môi trường tác động dẫn đến những bất thường về giới tính, họ phải chịu đựng những biến đổi về tâm sinh lý, chịu sự kì thị, xa lánh của mọi người. Do vậy, nếu pháp luật chỉ quy định về hai trường hợp như hiện nay thì những người này không được phép xác định lại giới tính, đời sống trở nên vô cùng khó khăn vì không được sống thật với giới tính của mình.
Một vấn đề khác cũng cần lưu ý đó là sự biến đổi về tâm sinh lý. Nếu trường hợp có khuyết tật về giới tính với những biểu hiện bất thường về hình dạng bên ngoài với cấu tạo bên trong thì được xác định lại giới tính. Vậy những bất thường về tâm sinh lý của chính bản thân người đó thì có được xác định lại giới tính hay không? Nếu ta không nhắc đến những trường hợp đua đòi, kém hiểu biết hoặc cố tình muốn chuyển đổi giới tính của mình để thỏa mãn bản thân hoặc thực hiện những hành vi trái pháp luật mà chỉ nói tới trường hợp hoàn toàn bình thường về giới gen học, được khai sinh ngay khi đẻ ra là trai hay gái, cơ thể hoàn toàn bình thường theo giới tính đã xác định nhưng tâm sinh lý luôn sống trong dằn vặt họ là giới tính khác chứ không phải giới tính đang định hình. Có thể cho rằng đây là một dạng bệnh lý, trong cơ thể họ luôn cảm thấy bức bối, có những đòi hỏi, thôi thúc thực sự về giới tính của mình (rối loại bản sắc giới). Chúng ta có thể hiểu bản sắc giới là cảm nhận của mỗi người thấy mình thuộc giới nào đó. Rối loạn bản sắc giới là trạng thái mà một người khi đã được xác định là thuộc giới đó (thông thường dựa trên cơ quan sinh dục ngoài) nhưng lại phát triển hành vi ứng xử, tính cách, cảm xúc theo giới đối lập hoặc cảm thấy không thích hợp với vai trò giới mà xã hội quy định cho họ. Bệnh rối loạn bản sắc giới còn có nhiều giả định nhưng là một cái gì đó tồn tại thực sự, không phụ thuộc vào giới sinh học. Hiện nay pháp luật nước ta chưa đề cập đến trường hợp này. Như vậy, có thể thấy về phạm vi điều chỉnh quyền xác định lại giới tính của Việt Nam hiện nay vẫn còn quá hạn hẹp. Trong xu hướng phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay thì việc mở rộng các trường hợp được quyền xác định lại giới tính là hợp lý, có hiệu quả thực tế đối với một số lượng người không nhỏ muốn xác định lại giới tính.
- Trong thực tiễn thực hiện Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
Thứ nhất, xác định lại giới tính là một quyền nhân thân có điều kiện. Điều này thể hiện ở chỗ, một người chỉ được quyền đề nghị xác định lại giới tính của mình khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Đây là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là người bị khiếm khuyết về giới tính phải có sự “can thiệp y tế” của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Một vấn đề đặt ra, sau khi can thiệp, cá nhân được quyền thay đổi và xác định lại giới tính. Tuy nhiên, vì kinh phí tương đối cao, việc xác định lại giới tính cần phải can thiệp bằng phẫu thuật do phải trải qua một quy trình thăm khám, làm xét nghiệm, khám tâm lý… Vì vậy, chi phí cho một cuộc phẫu thuật phải tốn đến vài triệu, chục triệu đồng tuỳ thuộc theo lứa tuổi và tình trạng bệnh của bệnh nhân. Điều đó gây ra ảnh hưởng đến sức khoẻ nếu điều trị qua nhiều cuộc phẫu thuật. Từ những nguyên nhân trên dẫn đến một số trường hợp cá nhân không thể giải phẫu xác định lại giới tính, tuy nhiên họ vẫn mong muốn được sửa đổi giấy tờ hộ tịch thì pháp luật có chấp nhận hay không?
Thứ hai, việc tuyên truyền các quy định của pháp luật đến người dân để biết về quyền xác định lại giới tính và thực hiện quyền này trên thực tế còn nhiều hạn chế.
Quyền xác định lại giới tính được quy định tại Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2005 và tiếp tục được kế thừa tại Điều 36 Bộ luật Dân sự 2015. Quyền xác định lại giới tính sau 10 năm thực hiện không phải là dễ dàng, việc quy định cá nhân có quyền xác định lại giới tính đã được nhắc đến rất nhiều lần tại các buổi thảo luận của Quốc hội, và thông qua thảo luận, trao đổi sau đó, quyền xác định lại giới tính chính thức được công nhận và ban hành. Tuy nhiên, sau khi được ban hành vẫn tồn tại hạn chế về một khâu rất quan trọng để luật được đi vào thực tế đời sống đó là tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích luật cùng các văn bản pháp luật có liên quan để người dân có thể biết và thực hiện được các quy định của điều luật này. Cũng có thể do việc xác định lại giới tính khá nhạy cảm với nền văn hoá Á Đông nên dẫn đến cản trở việc tuyên truyền, phổ cập quy định của pháp luật đến người dân. Có thể thấy, mỗi một văn bản pháp luật ra đời sẽ tác động không nhỏ đối với cuộc sống của con người, việc giúp họ nhận thức rõ và thực hiện đúng đắn theo quy định của pháp luật là điều cần thiết vì thế mỗi một văn bản pháp luật được ra đời đều thấy có rất nhiều nguồn thông tin, cách thức khác nhau nhằm tuyên truyền, ví dụ: Luật giao thông đường bộ được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng qua những phóng sự truyền hình, bằng những hội thi viết tìm hiểu pháp luật… hay Luật Bảo hiểm mới ra đời, Luật Kinh doanh bất động sản, các quy định về nghiêm cấm hút thuốc lá, Pháp lệnh Bảo vệ môi trường, các quy định về thị trường chứng khoán… đều được tuyên truyền rất mạnh mẽ nhưng tuyệt nhiên chưa có một thông tin tuyên truyền nào về quyền xác định lại giới tính của cá nhân. Chưa có một bản tin truyền hình, các tờ rơi, tờ gấp, các cuộc thi tìm hiểu…về quyền xác định lại giới tính có chăng là một số bài báo, bài phỏng vấn của phóng viên cho những người xây dựng Luật, Nghị định, Thông tư nói về nội dung của các văn bản này. Thực tế, thì không phải ai cũng có thời gian, có điều kiện mua báo điện tử hoặc truy cập intrenet để tìm hiểu về thông tin pháp luật mới. Đấy cũng là nguyên nhân vì sao 10 năm trước có quá ít người dân hiểu biết đến quyền xác định lại giới tính tại Việt Nam. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật về quyền xác định lại giới tính

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
