Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật.

Thực tế cho thấy, với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì quan hệ HĐDS cũng ngày càng đa dạng, rộng mở, đặc biệt là sau khi hợp nhất các loại hợp đồng kinh tế – thương mại – dân sự từ khi BLDS năm 2005 có hiệu lực. Khi soạn thảo hợp đồng, các chủ thể dựa trên quy định của pháp luật dân sự và thực tế nhu cầu, khả năng, tình hình của họ để thoả thuận nội dung của HĐDS. Tuy nhiên, “cần phải nhìn nhận hợp đồng không phải là một giá trị bất biến mà nó là một công cụ linh hoạt, uyển chuyển. Quá trình thực hiện hợp đồng có thể phát sinh những tình tiết mà các bên cần phải xem xét”. Vì thế, “trên thực tế khi ký hợp đồng, các bên không thể tiên liệu trước được tất cả các tình huống vi phạm hợp đồng dẫn tới quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng”. không phải chủ thể nào cũng nắm vững và vận dụng hợp lý các quy định của pháp luật dân sự trong giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng và họ cũng khó dự liệu hết những diễn biến tình hình xảy ra nên những thoả thuận về đơn phương chấm dứt hợp đồng thường thiếu và không hợp lý, thậm chí nhiều hợp đồng còn không có thoả thuận về ĐPCDHĐ. Vì thế khi có những vấn đề phát sinh một bên muốn chấm dứt hợp đồng gặp ít nhiều khó khăn, nhiều vụ việc dẫn đến tranh chấp phức tạp phải yêu cầu TAND giải quyết vừa tốn kém thời gian, tiền của mà có khi không thuyết phục

Trong khi đó, thực trạng quy định của pháp luật về ĐPCDHĐDS cũng có nhiều bất cập. Mặc dù ở nước ta, việc điều chỉnh quan hệ HĐDS bằng pháp luật đã diễn ra từ lâu, song nó chỉ được hoàn thiện hơn và phát triển mạnh khi nước ta bước vào công cuộc đổi mới với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ tính từ năm 1989 đến nay Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều văn bản luật như: Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh HĐDS năm 1991, BLDS năm 1995, Luật Thương mại 1997, Luật Thương mại năm 2005, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 cũng như nhiều văn bản dưới luật như nghị định, thông tư để điều chỉnh các quan hệ HĐDS nói chung và đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự nói riêng. Tuy nhiên, do có những hạn chế về mặt khách quan, chủ quan mà những văn bản pháp luật đó chưa thực sự mang tính “chuẩn mực”, quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự còn nhiều bất cập, thiếu hợp lý. Đó là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thiếu sót, trục trặc, tranh chấp trong việc thoả thuận và thực hiện việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ở rất nhiều HĐDS cũng như việc áp dụng pháp luật giải quyết những vấn đề liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. Các đề xuất giải pháp. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng. 

Thứ nhất, về thời điểm chấm dứt hợp đồng, khoản 3 Điều 428 BLDS 2015 hiện hành quy định: “khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt”. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp bên vi phạm cố tình né tránh việc nhận thông báo chấm dứt của bên bị vi phạm. Trong trường hợp các bên trong hợp đồng là cá nhân thì càng dễ xảy ra tình trạng né tránh này. Khi biết một bên có ý định đơn phương chấm dứt hợp đồng, bên kia lấy lý do đi công tác nước ngoài hoặc bận việc hoặc vì một lý do hợp lý khác mà không kiểm tra email, trả lời điện thoại hay có mặt ở địa chỉ liên hệ để nhận được thông báo chấm dứt. Do đó để khắc phục tình trạng này, cần sửa đổi quy định trên như sau: “khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm có căn cứ cho rằng bên kia đã nhận được thông báo”.

Thứ hai, về các căn cứ đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. BLDS 2015 hiện hành quy định ba căn cứ, trong đó bao gồm: một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Tuy nhiên, trên thực tế phát sinh một số trường hợp, như có dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng bên kia có khả năng không thực hiện được nghĩa vụ chủ yếu của mình (chỉ sắp vi phạm mà chưa vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng) và các bên không có thỏa thuận về điều kiện này làm căn cứ cho việc đơn phương chấm dứt hợp đồng, pháp luật cũng không có quy định. Từ đó cho thấy, nhằm ngăn ngừa rủi ro và thiệt hại mà có khả năng cao sẽ xảy ra. Đồng thời giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm, chúng ta nên xem xét, bổ sung một căn cứ cho việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Theo đó, chỉ cần có dấu hiệu rõ ràng cho thấy bên kia có khả năng không thực hiện được nghĩa vụ chủ yếu của mình theo hợp đồng hoặc có căn cứ rõ ràng cho thấy bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng thì bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, khoản 3 Điều 428 BLDS 2015 quy định: “các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện”. Quy định trên cho thấy, bên đã thực hiện nghĩa vụ chỉ có “quyền yêu cầu” bên vi phạm thanh toán phần nghĩa vụ, còn việc có thanh toán hay không thì Bộ luật dân sự chưa xác định. Quy định trên còn quá mơ hồ, có phần đảm bảo quyền lợi cho bên bị thiệt hại nhưng lại không rõ ràng, cũng như không quy định một cách cụ thể cho bên vi phạm hợp đồng về vấn đề thanh toán bồi thường thiệt hại.

Thứ tư, về hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, khoản 3 Điều 428 BLDS 2015 quy định: “các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện”. Quy định trên cho thấy, bên đã thực hiện nghĩa vụ chỉ có “quyền yêu cầu” bên vi phạm thanh toán phần nghĩa vụ, còn việc có thanh toán hay không thì Bộ luật dân sự chưa xác định. Quy định này là chưa hợp lý vì khi cá nhân bị thiệt hại thì đã có “quyền” yêu cầu bồi thường cho thiệt hại đó, bất kể là bồi thường trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Do đó, việc quy định bên đã thực hiện nghĩa vụ chỉ “có quyền yêu cầu” bồi thường như trên là không cần thiết. Nên quy định theo hướng khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng luật, có căn cứ rõ ràng rằng đã thực hiện một phần nghĩa vụ thì bên đó có quyền yêu cầu bên kia thanh toán và bên kia phải có nghĩa vụ thanh toán.

Thứ năm, về nghĩa vụ thông báo khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, BLDS 2015 cần quy định cụ thể hơn về thời điểm nhận thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng để tính thời điểm chấm dứt hợp đồng. Bên cạnh đó, BLDS 2015 cũng cần quy định về hình thức, cách thức gửi, nhận thông báo.

Thứ sáu, trong phần quy định về các loại hợp đồng thông dụng trong Bộ luật dân sự 2015 thì vẫn có nhiều loại hợp đồng không có quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Ví dụ như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản,…. Do đó, cần bổ sung quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đối với các loại hợp đồng này.

3.2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các quyết định về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.  Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

  • a) Hoàn thiện pháp luật liên quan

Cần bổ sung quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với một số hợp đồng dân sự thông dụng khác và một số hợp đồng dân sự không thông dụng. Ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng vận chuyển tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cần cụ thể hóa về chấm dứt hợp đồng dân sự tại các luật có liên quan đến hợp đồng dân sự như: Luật Nhà ở, Luật Các tổ chức tín dụng… và các Nghị định hướng dẫn thi hành. Nội dung của các văn bản pháp luật về cùng một vấn đề phải không chồng chéo, mâu thuẫn với nhau.

Cần nghiên cứu ban hành hướng dẫn quy định giới hạn trần mức phạt vi phạm khi chấm dứt hợp đồng.

Cần hướng dẫn, chấp nhận thỏa thuận của các bên về một mức bồi thường thiệt hại cố định khi chấm dứt hợp đồng ngay thời điểm ký kết hợp đồng, đó có thể là một khoản tiền nhất định hoặc là một cách tính thiệt hại được dự liệu trước.

Cần ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Điều 420 theo hướng hạn chế tối đa việc lợi dụng điều khoản này làm chấm dứt hợp đồng. Các chủ thể áp dụng pháp luật chỉ được áp dụng trong các trường hợp thật sự ngoại lệ, hiếm hoi mà sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tiếp tục.

Cần quy định rõ các căn cứ xác lập, xác định mức bồi thường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp chấm dứt hợp đồng làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Cần bổ sung thêm các quy định tính khoản lãi trong hợp đồng vay tài sản khi xử lý hậu quả pháp lý chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng vay tài sản.

Cần quy định hướng dẫn áp dụng giải quyết hậu quả việc chấm dứt hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân./.

  • Ban hành các án lệ mẫu trong xử lý.

Qua một thời gian thực hiện, hiện nay vẫn tồn tại những bất cập trong nhận thức về án lệ và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng án lệ ở Việt Nam như sau: Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Thứ nhất, số lượng án lệ ở Việt Nam chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét xử. Hiện nay, chúng ta chỉ có 43 án lệ đã được công bố, con số này còn quá khiêm tốn so với số lượng bản án, quyết định hàng năm của TAND các cấp đã công bố (763.343 bản án). Số lượng án lệ quá ít là khó khăn không nhỏ trong việc giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng. Không những vậy, số lượng án lệ được công bố cũng chỉ tập trung vào lĩnh vực luật dân sự và luật kinh doanh, thương mại chiếm đến 35 án lệ, các lĩnh vực pháp luật khác chiếm số lượng rất ít, cụ thể lĩnh vực luật hình sự chiếm 6 án lệ, lĩnh vực luật hành chính chỉ có 2 án lệ. Do là chế định mới, một số Tòa án chưa quan tâm đúng mức đến việc rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án lệ nên còn chậm trễ trong việc gửi báo cáo kết quả rà soát, phát hiện các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án lệ về Tòa án nhân dân tối cao

Pháp luật Việt Nam cần có các án lệ mẫu trong việc xử lý các vụ việc liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự. Từ đó để tạo nên sự thống nhất giữa các bản án, đồng thời xây dựng lên các án lệ tính hệ thống cũng như nâng cao chất lượng xét xử của các bản án nói chung và các bản án về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân nói riêng. Lâu nay ta chỉ quan tâm một chiều đến việc đưa án lệ vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Tác giả cho rằng, ngoài việc đưa án lệ vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, thì chính những cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu cần tích cực đưa các kết quả nghiên cứu của mình về án lệ để phục vụ cho ngành Tòa án. Những nghiên cứu về kinh nghiệm nước ngoài, những bình luận về các án lệ đã công bố, những nghiên cứu về định hướng, chiến lược phát triển ngành Tòa án v.v… sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, giúp hoạt động xét xử đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, cũng như giúp hoạt động đào tạo không xa rời thực tiễn, thoát ly thực tiễn. Như vậy, xây dựng án lệ và áp dụng án lệ là nhu cầu tất yếu trong hoạt động áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Tuy đã có những văn bản hướng dẫn sơ khai từ Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, nhưng đến năm 2016[20], nước ta mới có những án lệ đầu tiên. Do thời gian áp dụng án lệ còn ngắn, nên việc áp dụng án lệ vẫn còn nhiều mới mẻ và gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục những hạn chế, bất cập, cần trao quyền nhiều hơn cho Tòa án, quan niệm lại về nguồn án lệ trong hệ thống các loại nguồn pháp luật, cụ thể hóa và đồng bộ hóa những quy định còn chưa rõ về án lệ và tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án thông qua việc đào tạo thẩm phán, tích cực công bố các kết quả nghiên cứu về án lệ, phục vụ cho ngành Tòa án.

  • Nâng cao trình độ của các cơ quan trong việc giải quyết các tranh chấp về đơn phương chấm đứt hợp đồng.

Các cơ quan tiến hành giải quyết tranh chấp là nắm một vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi những người trong cơ quan tiến hành phải là những người có năng lực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm với khả năng sáng tạo, độc lập và dám chịu trách nhiệm. Để giải quyết các vấn đề một cách chính xác cũng như hoạt động một cách khách quan đòi hỏi các cá nhân phải thực sự có trình độ cao, có khả năng phân tích, đánh giá và đưa các quyết định chính xác, từ đó mới có nâng cao trình độ giải quyết vụ việc của các cơ quan tiến hành. Chúng ta cần phải tìm và xây dựng một đội ngũ thích hợp, đủ tâm, đủ tầm và phải đảm bảo tính minh bạch, khách quan, độc lập khi giải quyết các tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

  • Tuyên truyền phổ biến nâng cao ý thức của các chủ thể trong việc thực hiện hợp đồng dân sự.

Mỗi công dân đều có khả năng là chủ thể trong giao dịch dân sự nên việc phổ biến pháp luật trở nên hết sức cần thiết. Có rất nhiều cách để phổ biến pháp luật như tuyên truyền miệng, qua các hệ thống truyền thanh cơ sở, báo in, báo hình, tài liệu pháp luật,… Tuy nhiên, bản thân chúng lại mang những hạn chế nhất định cho việc tiếp cận pháp luật của công dân. Tuyên truyền miệng mang lại độ bao phủ rất cao đồng thời tính linh hoạt của chúng đem lại hiệu quả khá tốt nhưng tính chính xác lại bị giảm đi rất nhiều. Về các hệ thống truyền thanh, báo in, báo hình, tài liệu pháp luật thì mang lại nguồn thông tin tương đối chính xác tuy nhiên thì mức độ phổ biến và được người dân tiếp cận còn nhiều hạn chế. Để khắc phục những điều này, tác giả cho rằng pháp luật Việt Nam nên có một phương tiện đại chúng thống nhất, một hệ thống pháp luật đầy đủ mà mọi người đều có thể dễ dàng tiếp cận được Đồng thời, nên đưa một phần vào trong việc giảng dạy của nhà trường để học sinh, sinh viên biết về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình khi tham gia các hoạt động xã hội. Các tổ chức hành nghề cũng nên có trách nhiệm giải thích cho các công dân khi họ tham gia vào các giao dịch dân sự để có thể tự bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời cũng có trách nhiệm hơn khi tham gia giao dịch dân sự. Các cơ quan chính quyền địa phương có thể lồng ghép các buổi học tập pháp luật với các cuộc họp thôn, bản, tổ dân phố để người dân trước tiên là biết đến pháp luật nói chung cũng như các vấn đề giao dịch dân sự nói riêng. Như vậy, việc nâng cao ý thức của công dân sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm pháp luật đối với từng cá nhân cũng như với xã hội. Từ đó, có thể hạn chế các mâu thuẫn, tranh chấp không đáng có xảy ra. 

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả xin đưa ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, tác giả nhận thấy đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trước hết là một “quyền” dân sự của con người. Mà đã là quyền dân sự thì không thể bị tùy tiện giới hạn bởi luật, ngoại trừ những trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe của cộng đồng. Bên cạnh đó, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là một trong những biện pháp để xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng của bên vi phạm hợp đồng, chế định này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bên bị vi phạm. Đồng thời thúc đẩy các bên trong quan hệ hợp đồng thực hiện đúng những gì đã thỏa thuận, vì nếu không thực hiện đúng thì sẽ gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi. Về căn cứ, “quyền” đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng xuất phát từ thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, các bên có thể tự do thỏa thuận về căn cứ, điều kiện để thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng miễn là thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội. Về hệ quả pháp lý, vì đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là chấm dứt nửa chừng việc thực hiện hợp đồng nên các bên phải có trách nhiệm thanh toán cho nhau những nghĩa vụ mà mỗi bên đã thực hiện và không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng.

Thứ hai, qua quá trình phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, tác giả nhận thấy các quy định về vấn đề này, đặc biệt là trong Bộ luật dân sự 2015, đã được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện hơn so với các quy định của pháp luật trước đây. Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích, so sánh thì thấy vẫn còn tồn tại một số bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh tốt hơn về vấn đề đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích thực trạng của việc áp dụng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng thông qua việc trích dẫn và bình luận một số bản án trên thực tế trong thời gian gần đây.

Thứ ba, từ việc phân tích thực trạng quy định của pháp luật, tác giả nhận thấy còn nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý trong quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Trên cơ sở đó, tác giả có đề xuất, kiến nghị một số phương hướng và giải pháp để bổ sung, sửa đổi pháp luật về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong tình hình hiện nay. Mặc dù đây mới chỉ là những thiển kiến mang tính cá nhân, nhưng đã thể hiện được sự cố gắng của tác giả trong quá trình nghiên cứu về đề tài này.

Thứ tư, tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về các hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt hợp đồng. Do vấn đề về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có ít người nghiên cứu, ít tài liệu tham khảo và do hiểu biết của tác giả còn hạn chế nên rất mong các Thầy, Cô, bạn bè thông cảm bỏ qua những thiếu sót của luận văn, góp ý, sửa đổi để luận văn này ngày một hoàn thiện và có giá trị hơn. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464