Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Một số giải pháp mang tính tiền đề cho hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
3.1.1. Mô hình của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Trong giai đoạn đầu xây dựng lại mô hình doanh nghiệp XHTN có hiệu quả, uy tín tại Việt Nam thì chỉ nên thành lập doanh nghiệp XHTN trong nước, hoạt động XHTN chủ yếu tập trung vào những đơn vị phát hành trong nước. Việc làm này nếu thực hiện tốt sẽ là một thành công lớn, rút ngắn khoảng cách tương quan so sánh về sự phát triển giữa thị trường tài chính Việt Nam so với các nước trong khu vực và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp XHTN theo từng bước. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2004, sau hai năm thí điểm đề án xếp hạng tín dụng doanh nghiệp thành công thì đến nay tại Việt Nam cũng đã có một số doanh nghiệp thành lập phát triển về lĩnh vực XHTN, nhưng trong suốt thời gian hoạt động qua vẫn chưa thực sự tạo được hiệu quả cũng như tạo được dấu ấn riêng uy tín trên thị trường, chưa mang lại sự tin tưởng trong cộng đồng các nhà đầu tư.
Nên để tránh lặp lại sai lầm của các doanh nghiệp XHTN đang hoạt động trong nước, thì các quy định pháp luật trong thời gian sắp tới phải có cái nhìn bao quát và toàn cảnh hơn, không chỉ đơn thuần là quy định cho hiện tại mà còn phải nhìn về tương lai khi mà Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và nhu cầu hội nhập về tài chính của Việt Nam ngày càng sâu rộng hơn. Vì thế trong bước đi kế tiếp, pháp luật nên chấp thuận cho việc đăng ký và hoạt động của các doanh nghiệp XHTN liên doanh và các doanh nghiệp XHTN nước ngoài đầu tư phát triển dịch vụ XHTN tại Việt Nam. Theo nhiều ý kiến, thì đây luôn được xem là bước đi thận trọng vì nguy cơ bị phụ thuộc và vấn đề nắm quyền chi phối kết quả XHTN của các doanh nghiệp XHTN luôn là vấn đề quan tâm của các tổ chức phát hành công cụ nợ trong nước. Nhưng mọi việc đều có thể giải quyết nếu pháp luật Việt Nam nghiên cứu lập ra một lộ trình về thời gian thích hợp cho sự xuất hiện doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam.
Trong giai đoạn này, mô hình doanh nghiệp XHTN thích hợp nhất với Việt Nam đó là công ty cổ phần có sự tham gia có lựa chọn các cổ đông chiến lược nước ngoài. Thành phần cổ đông phải đa dạng và không một cổ đông nào nắm quyền chi phối đối với việc hình thành và hoạt động của doanh nghiệp XHTN. Theo kinh nghiệm ở một số nước như Thái Lan và Malaysia tỷ lệ sở hữu của tất cả các cổ đông được quy định ngang nhau (Thái Lan: 5%, Malaysia: 4,9%). Ngoài việc hỗ trợ các doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam trong việc nâng cao chuyên môn nghiệp vụ XHTN như thu thập thông tin, tổng hợp dữ liệu, phân tích và đưa ra báo cáo xếp hạng tín nhiệm đáng tin cậy thì các cổ đông chiến lược nước ngoài đến từ các tổ chức XHTN nổi tiếng trên thế giới sẽ góp phần củng cố niềm tin, nâng cao uy tín của doanh nghiệp XHTN Việt Nam đối với các nhà đầu tư, hay chỉ đơn giản là góp phần mở rộng thêm nguồn vốn thì cũng đã hỗ trợ cho sự phát triển bước đầu của doanh nghiệp XHTN Việt Nam rất nhiều. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Hầu hết các doanh nghiệp XHTN ở các nước đều không có sự tham gia đồng sở hữu của các tổ chức thuộc chính phủ như Ủy ban chứng khoán nhà nước, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nước, Tổng cục thống kê, … nhưng với đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, cơ chế vận hành của nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự tham gia quản lý của nhà nước nên sự tham gia của tổ chức thuộc Chính phủ vào doanh nghiệp XHTN là cần thiết. Tuy nhiên, quyền kiểm soát hay tỷ lệ sở hữu của các tổ chức này không được chi phối so với các loại hình tổ chức tham gia vào doanh nghiệp XHTN khác nhằm tránh sự nghi ngờ về tính công bằng, minh bạch, độ tin cậy cũng như ý kiến chủ quan trong quá trình xếp hạng. Ngoài ra, các cổ đông chiến lược trong nước như các định chế tài chính như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư,… cũng là thành phần không thể thiếu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp XHTN. Vì các cổ đông trong nước sẽ am hiểu văn hóa, phong tục tập quán trong nước cũng như thuận tiện hơn trong việc liên hệ làm việc với cơ quan chức năng, góp phần quan trọng trong việc tạo lập thị trường. Pháp luật cũng nên quy định không có sự phân biệt đối xử giữa các cổ đông trong nước và nước ngoài về tỷ lệ sở hữu. Nguyên tắc phân bổ tỷ lệ sở hữu là tùy thuộc vào vai trò của từng nhà đầu tư trong việc hình thành sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp XHTN.
Để mô hình doanh nghiệp XHTN như đã phân tích ra đời nhận được sự hưởng ứng tích cực từ chủ thể trong xã hội thì đòi hỏi môi trường hoạt động cho doanh nghiệp XHTN phải khả thi và điều kiện tiên quyết hàng đầu là khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp XHTN phải được ban hành chi tiết, chặt chẽ thể hiện đúng vị trí là một định chế tài chính cao cấp của doanh nghiệp XHTN.
3.1.3. Giới hạn việc thành lập doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Là loại hình doanh nghiệp đòi hỏi khắt khe về chuẩn mực và chất lượng hoạt động, nhưng theo nhiều chuyên gia tài chính, các yêu cầu này chưa được đặt ra thỏa đáng trong văn bản pháp luật quy định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp XHTN.
Hiện nay Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và nhiều văn bản pháp luật về tài chính chứng khoán ngân hàng đều không cấm việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp XHTN và dịch vụ XHTN, tuy nhiên một số hoạt động đánh giá tín nhiệm từ Trung tâm thông tin tín dụng CIC ( thuộc Ngân hàng nhà nước ) hay của 1 số doanh nghiệp đều hết sức sơ sài, không đủ sức tin cậy cho giới đầu tư, thậm chí một số hoạt động còn gây tác hại cho thị trường tài chính hoặc làm cho nhà đầu tư nhỏ lẻ và dân chúng hiểu nhầm. Để đi đánh giá năng lực tài chính của một tổ chức, những người đi đánh giá phải thật sự giỏi, có kinh nghiệm quốc tế, khách quan độc lập, không vụ lợi và không bao giờ chiều chuộng, thỏa hiệp với doanh nghiệp ( chính là tổ chức đi thuê và trả tiền dịch vụ ).
Việc thành lập doanh nghiệp XHTN mới mà đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực, có kinh nghiệm quốc tế cao có phải là câu chuyện đánh đố hay không ? Câu trả lời là hoàn toàn không và đây là kinh nghiệm thành lập doanh nghiệp XHTN của các nước trong khu vực và các quốc gia đang phát triển.
Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng không nên có nhiều doanh nghiệp XHTN vì như vậy sẽ dẫn tới tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời không đảm bảo chất lượng dịch vụ, với thị trường tài chính Việt Nam, chỉ cần 02 doanh nghiệp XHTN là đủ, ngoài ra còn có sự tham gia của doanh nghiệp XHTN toàn cầu khi thực hiện các dịch vụ tín nhiệm đơn lẻ.
Ngay từ năm 2004, nhóm chuyên gia của VAFI, IFC và NOMURA securities Institute đã từng khuyến nghị Bộ Tài chính nên thành lập 02 doanh nghiệp XHTN như sau: Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- 01 doanh nghiệp XHTN nội địa thành lập theo Luật Doanh nghiệp, có cổ đông sáng lập là doanh nghiệp XHTN có uy tín hàng đầu trong khu vực chuyên phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- 01 doanh nghiệp XHTN mang tầm vóc của 1 doanh nghiệp XHTN toàn cầu hoạt động dưới dạng chi nhánh hoặc doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài [31].
Các quy định pháp luật hiện tại, thiếu vắng các quy định nhằm định hình mô hình cạnh tranh có tính đặc thù theo thông lệ quốc tế cho các doanh nghiệp XHTN. Với điều kiện đặt ra khá dễ trong thành lập doanh nghiệp XHTN, liệu có xuất hiện trào lưu đua nhau thành lập công ty XHTN? Trong khi đó, vì tính chất đặc thù của dịch vụ XHTN, nên không thể để cho các doanh nghiệp tự do cạnh tranh, bởi điều này sẽ dẫn đến kết quả XHTN khó đảm bảo khách quan, trung thực, đủ tin cậy. Đây là lý do giải thích tại sao, các nước thường chọn mô hình cạnh tranh “song mã”. Theo đó, cùng với cho phép một trong các hãng XHTN uy tín trên thế giới hoặc khu vực đặt văn phòng đại diện, các nước thường lập thêm một công ty XHTN nội địa. Tuy mang tính chất nội địa, nhưng với đặc thù đòi hòi rất cao về trình độ nhân sự và công nghệ, doanh nghiệp XHTN này vẫn cần thu hút các hãng xếp hạng tín nhiệm có uy tín trên thế giới tham gia với tư cách là cổ đông chiến lược, nắm cổ phần chi phối. Cổ đông này sẽ là chủ thể chính chuyển giao nhân sự và công nghệ, đảm bảo cho doanh nghiệp XHTN hoạt động khách quan, trung thực, độc lập. Điều này giải thích tại sao trên quy mô toàn cầu, cũng chỉ có 3 hãng xếp hạng tín nhiệm lớn là Fitch, Moody’s và Standard&Poor’s. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia… chỉ có một công ty XHTN nội địa hoạt động.
Tuy nhiên với các tiêu chí trên chỉ là điều kiện cần cho việc ra đời dịch vụ xếp hạng tín nhiệm trên lãnh thổ Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng với những thị trường tài chính đang phát triển thì sẽ không thể thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược tham gia bỏ vốn vì đầu ra còn ít, cộng với thói quen doanh nghiệp Việt Nam thường không thích xếp hạng tín nhiệm, vì vậy để doanh nghiệp XHTN ra đời và hoạt động, Chính phủ các nước đều phải tạo lập môi trường hoạt động cho doanh nghiệp XHTN để khuyến khích kêu gọi đầu tư từ các tổ chức XHTN nổi tiếng trên thế giới.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
3.2.1. Đối tượng được xếp hạng tín nhiệm.
Trong giai đoạn đầu, để tập trung chuyên môn phát triển hiệu quả thì các doanh nghiệp XHTN ở Việt Nam không thể thực hiện việc XHTN đối với nhiều đối tượng như các doanh nghiệp XHTN phát triển nước ngoài đã thực hiện, mà chỉ nên tập trung vào một số đối tượng chính phù hợp với nền kinh tế Việt Nam. Điều này phụ thuộc nhiều vào khả năng của doanh nghiệp XHTN và góp phần tạo dựng uy tín ban đầu của doanh nghiệp XHTN. Tuy nhiên, đối tượng xếp hạng không được quá hẹp vì như vậy sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp XHTN.
3.2.2. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm.
3.2.2.1. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm chung cho các doanh nghiệp
Xếp hạng tín nhiệm là một công việc phức tạp. Các loại hình công ty khác nhau, thuộc các ngành nghề khác nhau đòi hỏi phải có hệ thống chỉ tiêu đánh giá khác nhau. Các yếu tố đánh giá bao gồm các chỉ tiêu định tính và định lượng.
- Phương pháp định lượng:
Phương pháp định lượng (thông tin tài chính) phải xác định được kế hoạch trả nợ gốc và lãi; xác định những yếu tố quyết định ảnh hưởng đến dòng tiền; tính toán dự báo dòng tiền của đối tượng được xếp hạng tín nhiệm thông qua bốn (04) chỉ tiêu tài chính cơ bản sau: Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Chỉ tiêu thanh khoản:
Khả năng thanh toán hiện hành: (tài sản lưu động/nợ ngắn hạn) Thông qua chỉ tiêu này cho biết đối tượng được XHTN có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt để đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn, do đó nó đo lường khả năng trả nợ của đối tượng được XHTN. Chỉ tiêu này thể hiện một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu tài sản lưu động. Khi hệ số này giảm chứng tỏ khả năng trả nợ ngắn hạn của đối tượng được XHTN giảm và ngược lại. Tuy nhiên, khi hệ số này tăng quá cao thì lại cho thấy đối tượng XHTN không sử dụng hiệu quả tài sản lưu động, điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của đối tượng được XHTN.
Chỉ tiêu thanh toán nhanh: ((tài sản lưu động – hàng tồn kho)/nợ ngắn hạn) Chỉ tiêu này đánh giá khả năng trả nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt, không bao gồm hàng tồn kho (chậm chuyển đổi sang tiền mặt hơn so với các loại tài sản lưu động khác).
- Chỉ tiêu hoạt động:
Chỉ tiêu luân chuyển hàng tồn kho: (giá vốn hàng bán/hàng tồn kho bình quân) là số vòng quay hàng tồn kho.
Chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân: (doanh thu thuần/khoản phải thu bình quân) Hệ số này thể hiện tốc độ thu nợ, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động, chính sách bán chịu của đối tượng được XHTN.
Doanh thu trên tổng tài sản: (doanh thu thuần/tài sản) Chỉ tiêu này thể hiện một tài sản đem lại bao nhiêu doanh thu thuần.
- Chỉ tiêu cân nợ:
Chỉ tiêu nợ phải trả trên tổng tài sản: (nợ phải trả/tài sản) thể hiện mức độ xoay chuyển tình thế trên tài sản bằng nợ vay. Trong giai đoạn phát triển tốt thì việc sử dụng nhiều nợ vay sẽ có lợi cho đối tượng XHTN. Nhưng khi hoạt động kinh doanh suy thoái, không hiệu quả thì việc sử dụng nợ vay sẽ là một gánh nặng cho đối tượng XHTN.
Chỉ tiêu nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu: (nợ phải trả/vốn chủ sở hữu) thể hiện có bao nhiêu đồng nợ vay tham gia cùng với một đồng vốn chủ sở hữu. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Chỉ tiêu thu nhập:
Chỉ tiêu thu nhập trước thuế trên doanh thu: (lợi nhuận/doanh thu thuần) cho biết một đồng doanh thu thuần tạo ra bao nhiêu phần trăm lợi nhuận.
Chỉ tiêu thu nhập trước thuế trên tổng tài sản: (lợi nhuận/tài sản) cho biết một đồng tài sản được đầu tư tạo ra bao nhiêu phần trăm lợi nhuận.
Chỉ tiêu thu nhập trước thuế trên vốn chủ sở hữu: (lợi nhuận/vốn chủ sở hữu) cho biết một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu phần trăm lợi nhuận
- Phương pháp định tính:
Chỉ tiêu định tính – thông tin phi tài chính phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro về kinh doanh của doanh nghiệp. Khi thực hiện phương pháp định tính phải đánh giá các yếu tố sau:
- Tình hình kinh tế vĩ mô và các yếu tố rủi ro vĩ mô có ảnh hưởng đến tổ chức phát hành công cụ nợ và công cụ nợ:
Như đã đề cập đến ban đầu thì tổ chức phát hành công cụ nợ và công cụ nợ là một thành phần không thể tách rời của nền kinh tế. Do vậy môi trường kinh tế có tác động mạnh mẽ đến khả năng phát triển và tìm kiếm lợi nhuận của đối tượng XHTN bao gồm các yếu tố như lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, tỷ lệ GDP. Bên cạnh đó vấn đề về môi trường văn hóa xã hội cũng tiềm ẩn rủi ro ảnh hưởng đến đối tượng XHTN khi có sự thay đổi về cơ cấu dân cư, thói quen tiêu dùng hoặc là niềm tin đầu tư. Một vấn đề quan trọng không thể không đề cập đến trong yếu tố vĩ mô đó là môi trường chính trị – pháp luật. Vì sự ổn định về chính trị, chính sách phát triển và hệ thống pháp lý là những yếu tố có liên quan mật thiết đến hoạt động kinh doanh trong hiện tại và khuynh hướng thay đổi tương lai. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Vị trí, thị phần của đối tượng được xếp hạng tín nhiệm trên thị trường kinh doanh:
Vị trí xếp hạng hiện tại của đối tượng XHTN trên thị trường tài chính nói chung và trên thị trường nợ nói riêng. Thị phần là liên quan đến môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, thị phần của tổ chức phát hành công cụ nơ là tỷ số giữa doanh số bán ra của tổ chức phát hành và tổng doanh số bán của ngành.
- Khả năng, kinh nghiệm, trình độ quản lý và tính trung thực của bộ máy lãnh đạo của đối tượng được xếp hạng tín nhiệm:
Đây là yếu tố quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của đối tượng XHTN trên thị trường, quyết định khả năng vay vốn và luân chuyển vốn linh hoạt và xét về lâu dài thì đây còn là yếu tố quyết định khả năng duy trì hoạt động của đối tượng XHTN.
- Văn hóa làm việc, mô hình quản trị và quản lý nhân sự:
Văn hóa làm việc là hệ thống những giá trị chung, những niềm tin, những tập quán của doanh nghiệp và chúng tác động qua lại với cơ cấu chính thức để hình thành nên những chuẩn mực hành động. Như vậy, khi đối tượng XHTN có nền văn hóa vững mạnh với những giá trị riêng đặc sắc, chứng tỏ đối tượng XHTN có một truyền thống tốt và có uy tín tốt trên thương trường. Mô hình quản trị hợp lý thể hiện qua việc mô hình đó có phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp hay không và có phù hợp với quy luật phát triển của loại hình doanh nghiệp hay không. Chính sách quản lý nhân sự sẽ được đánh giá trên các phương diện như: chính sách tuyển dụng và sử dụng nhân sự, chính sách động viên và đãi ngộ nhân viên, chính sách đào tạo.
- Chính sách quản lý trong sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính:
Đánh giá yếu tố này sẽ phản ánh nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức. Nói một cách khác, cho biết kế hoạch quản trị nguồn vốn (bao gồm vốn tiền mặt, vốn, tài sản và các quan hệ tài chính phát sinh như: khoản phải thu – khoản phải trả), nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Chính sách quản lý trong sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính quyết định sự tồn tại và phát triển, kiểm soát trực tiếp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng XHTN. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
- Phương pháp XHTN phải được tiến hành căn cứ vào các tài liệu cơ bản sau:
Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán hay còn gọi là báo cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chính, cho biết tình trạng tài sản của công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối tháng. Đây là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một khối vốn (tài sản) được bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ đông). Tài sản tương đương với nợ và vốn cổ đông nên bản cân đối tài khoản là bản liệt kê các hạng mục sao cho hai bên đều bằng nhau. Không giống với bản báo cáo kết quả kinh doanh là bản cho biết kết quả của các hoạt động trong một khoảng thời gian, bản cân đối kế toán cho biết tình trạng các sự kiện kinh doanh tại một thời điểm nhất định.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp (hay còn gọi là bảng báo cáo lãi lỗ) phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của daonh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và hoạt động khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác, tình hình thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay báo cáo dòng tiền mặt là một loại báo cáo tài chính thể hiện dòng tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý hay năm tài chính). Báo cáo này là một công cụ giúp nhà quản lý tổ chức kiểm soát dòng tiền của tổ chức.
Kế hoạch đầu tư của tổ chức phát hành công cụ nợ: bao gồm những hoạch định về chiến lược và mục tiêu kinh doanh cụ thể không chỉ ở hiện tại mà còn phát triển lâu dài của các đối tượng XHTN.
3.2.2.2. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Như đã phân tích ở trên thì tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc siêu nhỏ ở Việt Nam là rất lớn, chiếm khoảng 74% tống số doanh nghiệp hiện đang hoạt động. Một phương pháp đánh giá tín nhiệm phù hợp giành cho DNVVN cần phải đánh giá toàn diện được thông số 3 loại rủi ro: kinh doanh, quản lý và tài chính.
Cách tiếp cận phân tích thông tin của DNVVN khác biệt so với các doanh nghiệp khác ở những điểm cụ thể sau:
- c) Đánh giá rủi ro kinh doanh: Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Rủi ro kinh doanh đối với các DNVVN có nguyên nhân xuất phát từ chính đặc trưng của chúng – quy mô nhỏ. Hơn nữa, các DNVVN thường là các nhà cung cấp Cấp II hoặc Cấp III đầu vào cho các công ty sản xuất lớn – có địa lý cao hơn và tập trung khách hàng vào hoạt động kinh doanh của họ. Tăng trưởng kinh doanh của DNVVN do đó gắn liền với sự tăng trưởng của khách hàng của họ – chính là những doanh nghiệp lớn hơn. Các doanh nghiệp nhỏ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ không tổ chức cũng như khu vực có tổ chức. Vì vậy, nó trở nên rất quan trọng đối với các DNVVN phân biệt và có lợi thế cạnh tranh so với những người chơi khác trên thị trường để tồn tại và phát triển. Khi phân tích những yếu tố rủi ro kinh doanh, những yếu tố sau đây là vô cùng quan trọng: cơ sở vật chất, sản phẩm, việc mua bán, nhân lực, quy trình kinh doanh, hiệu suất, chiến lược kinh doanh và chính sách.
- Đánh giá rủi ro quản trị:
Khả năng quản trị được đánh giá dựa vào các yếu tố then chốt sau:
Hồ sơ năng lực của nhà quản lý: Những nhà quản lý có kinh nghiệm chuyên sâu liên quan đến ngành nghề kinh doanh sẽ luôn có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp mới thành lập. Nhà quản lý hiểu được xu hướng kinh doanh và nhạy bén với sự phát triển và công nghệ. Họ cũng cần có mối quan hệ tốt với nhà cung cấp và khách hàng để giảm được rủi ro về mặt cạnh tranh.
Hoạch định chiến lược và xây dựng chính sách: kế hoạch chiến lược giúp làm rõ những mục tiêu với khung thời gian thực hiện dài hơn 1 năm. Những định hướng này hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và tầm nhìn của nhà quản lý. Khi một DNVVN có một kế hoạch rõ ràng, việc tổ chức có quỹ đạo cụ thể, nhân viên có ý thức thì mục tiêu cuối cùng có khả năng cao là sẽ thực hiện được hiệu quả.
Lên kế hoạch và triển khai: Một nhà quản lý tốt sẽ tạo nên những kế hoạch và triển khai hiệu quả.
- e) Đánh giá rủi ro tài chính:
Rủi ro tài chính có thể được phân tích dựa vào báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Những yếu tổ giúp đánh giá rủi ro bao gồm:
- Doanh thu
- Lợi nhuận biên
- Lợi nhuận
- Giá trị ròng
- Tính thanh khoản
Quản lý vốn lưu động (bốn khía cạnh quan trọng của quản lý vốn lưu động là quản lý hàng tồn kho, quản lý tiền mặt, quản lý nợ và quản lý các khoản phải thu)
Tuy nhiên có thể trong giai đoạn đầu để khuyến khích DNVVN với việc tham gia vào việc XHTN để nâng cao tính cạnh tranh của mình thì doanh nghiệp XHTN cũng nên có chính sách ưu đãi về giá riêng so với các doanh nghiệp lớn khác.
3.2.3. Giải quyết vấn đề xung đột lợi ịch và đảm bảo tính độc lập Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
3.2.3.1. Giải quyết xung đột lợi ích
Nguyên nhân gốc rễ cho việc các doanh nghiệp XHTN được thúc đẩy phát hành các đánh giá tín dụng cao đối với các đối tượng được xếp hạng chính là do xung đột lợi ích. Xung đột nảy sinh trong trường hợp các công cụ nợ của doanh nghiệp bắt buộc cần phải được đánh giá trước khi phát hành ra thị trường dẫn tới việc các chủ thể tiếp cận các doanh nghiệp XHTN để đánh giá các công cụ nợ của họ để bán ra thị trường, và các tổ chức phát hành trả tiền cho doanh nghiệp XHTN. Ngoài ra, xung đột lợi ích còn có thể phát sinh từ mối quan hệ ràng buộc kinh tế giữa doanh nghiệp XHTN với các chủ thể liên quan trong thị trường, làm ảnh hưởng đến tính trung thực của kết quả XHTN.
Vì lẽ đó, để ngăn ngừa và hạn chế xung đột lợi ích, pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp XHTN cần đảm bảo các nội dung sau:
Thiết lập, duy trì và thực thi các tài liệu và chính sách, thủ tục kiểm soát để xác định, quản lý, tiết lộ và loại bỏ bất kỳ xung đột lợi ích thực tế hoặc tiềm ẩn nào có thể ảnh hưởng đến phương pháp xếp hạng tín dụng, sự phân tích và ra quyết định của nhân viên, tính chính xác của kết quả XHTN;
Ngăn chặn các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp XHTN và/hoặc người có liên quan của doanh nghiệp XHTN với tổ chức được XHTN hoặc có công cụ nợ được XHTN và/hoặc bên có liên quan của chủ thể này trừ hợp đồng cung cấp dịch vụ XHTN giữa doanh nghiệp XHTN và chủ thể, đối tượng được XHTN;
Cấm các nhân viên trực tiếp tham gia XHTN có mối quan hệ kinh tế với chủ thể được XHTN hoặc công cụ do tổ chức này phát hành và/hoặc các bên có liên quan của chủ thể này; Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Trong cấu trúc quản trị của doanh nghiệp XHTN phải có Ban kiểm soát hoặc ít nhất có 1 nhân viên độc lập nắm giữ vị trí này. Thành viên trong Ban kiểm soát hoặc nhân viên độc lập sẽ không tham gia XHTN. Trong số các nhiệm vụ được giao thì Ban kiểm soát/ nhân viên độc lập sẽ có nhiệm vụ đảm bảo tính độc lập, ngăn chặn các xung đột lợi ích xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ XHTN;
Doanh nghiệp XHTN phải đăng ký phí dịch vụ XHTN với cơ quan quản lý về lĩnh vực này và phí không phụ thuộc và kết quả XHTN;
Chính sách lương và các khoản lợi ích mà nhân viên của doanh nghiệp XHTN được hưởng không phụ thuộc vào doanh thu hoặc kết quả XHTN;
Doanh nghiệp XHTN phải công khai thông tin liên quan đến xung đột lợi ích trên phương tiện thông tin đại chúng;
Doanh nghiệp XHTN phải xây dựng và công khai hệ thống thang điểm XHTN và ý nghĩa của chúng, trong đó phải nêu rõ khả năng thanh toán, độ rủi ro thanh toán tương ứng với mỗi hệ số tín nhiệm;
Các phương pháp, công thức, thuật toán được sử dụng để XHTN cũng cần phải được công khai;
XHTN được thực hiện theo một quy trình minh bạch, có thể kiểm soát, phát hiện và xử lý sai sót. Kết quả XHTN có thể bị khiếu nại bởi những chủ thể có liên quan. Khi có khiếu nại, doanh nghiệp XHTN phải có trách nhiệm xem xét lại kết quả XHTN và có văn bản trả lời các bên liên quan.
Các đề xuất về cải cách cần thiết để giải quyết các vấn đề xung đột lợi ích bao gồm giảm rào cản gia nhập, buộc doanh nghiệp XHTN phải chịu trách nhiệm về xếp hạng của họ, có CRA người đóng thuế, cấm tuyệt đối việc thỏa thuận về kết quả XHTN làm cho việc đánh giá có lợi hơn, dịch vu tư vấn có lợi hơn. Tuy nhiên, phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa mâu thuẫn lợi ích, theo quan điểm của tác giả, là phải buộc các doanh nghiệp XHTN chịu trách nhiệm pháp lý cho các xếp hạng không đáng tin cậy của họ, mà các nhà quản lý dường như đang còn chưa quy định rõ.
3.2.3.2. Đảm bảo tính độc lập Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Liên quan đến vấn đề độc lập, mặc dù các nhà quản lý ở Mỹ và EU đã giải quyết vấn đề này nhưng sự thỏa hiệp về độc lập là do cơ cấu quyền sở hữu và quyền sở hữu lâu dài của các quan hệ kinh doanh của các công ty phát hành với cùng một doanh nghiệp XHTN. Giải quyết vấn đề độc lập đòi hỏi phải khắc phục xung đột lợi ích.
3.2.4. Quy định về hệ thống thang điểm xếp hạng tín nhiệm.
Các doanh nghiệp XHTN cần xác định rằng khách hàng của mình chính là các nhà đầu tư chứ không phải các tổ chức phát hành công cụ nợ mặc dù trên thực tế chính những tổ chức này trả tiền phí dịch vụ. Hệ quả của việc một doanh nghiệp XHTN xem các tổ chức phát hành công cụ nợ là đối tượng khách hàng chính của mình thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng kết quả XHTN không minh bạch và kết quả này chủ yếu đáp ứng yêu cầu và quyền lợi của tổ chức phát hành công cụ nợ.
Trong nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, các doanh nghiệp XHTN muốn đạt được hiệu quả cao thì pháp luật cần phải quy định cụ thể các tiêu chí bắt buộc phải đảm bảo trong quá trình hoạt động XHTN:
3.2.4.1. Quá trình xếp hạng minh bạch
Dẫn lời của ông Steven Maijoor – Chủ tịch Cơ quan Chứng khoán và các thị trường Châu Âu nhấn mạnh: “Việc xếp hạng tín nhiệm trên thị trường tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giúp các nhà kinh doanh xác định và khắc phục được những điểm yếu của mình. Tuy nhiên, hoạt động xếp hạng tín nhiệm chỉ thực sự có ý nghĩa nếu nó được thực hiện công bằng với chất lượng cao” [25].
Quá trình xếp hạng phải tuân thủ các bước cơ bản rõ ràng theo quy định riêng của từng doanh nghiệp XHTN trên nền tảng các quy định chung của pháp luật. Điều quan trọng là pháp luật cần phải bổ sung biện pháp chế tài đối nghiêm khắc, cũng như quy định phải có cơ quan kiểm tra thường xuyên về việc các doanh nghiệp XHTN có thông báo công khai quá trình xếp hạng trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp hay thông qua các ấn phẩm định kỳ không? Vì thực tế hiện nay, các doanh nghiệp XHTN đã thành lập ở Việt Nam hầu như không thông báo công khai quá trình xếp hạng, trong suốt thời gian hoạt động gần 10 năm với 3 doanh nghiệp XHTN mà chỉ có một vài ấn phẩm xếp hạng tín nhiệm được xuất bản, nhưng đều không tạo được sự tin tưởng. Điều này tạo nên bất cập là làm cho XHTN xa rời ngày càng xa rời thị trường tài chính.
3.2.4.2. Xây dựng hệ thống thang điểm Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Đây được xem là vấn đề cốt lõi trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp XHTN. Tuy nhiên, hiện tại các văn bản pháp luật vẫn chưa có cái nhìn toàn cảnh về việc xây dựng hệ thống thang điểm xếp hạng tín nhiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Vào năm 2002, Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN đã quy định cụ thể về cách tính điểm, hệ thống bậc tín nhiệm, nhưng đó hệ thống thang điểm đó được dùng chủ yếu trong việc xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp là đối tác của ngân hàng, sau này khi các doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam thành lập cũng dựa trên quy định nền tảng là Luật Doanh nghiệp và có “sự kết hợp” giữa hệ thống thang điểm trong quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN với hệ thống thang điểm của các tổ chức XHTN nổi tiếng trên thế giới hay là theo các thang điểm của tổ chức liên kết tài trợ cho doanh nghiệp trong việc phát triển XHTN. Nên dù có đến 3 doanh nghiệp XHTN đã và đang hoạt động, nhưng pháp luật Việt Nam chưa có văn bản quy định thống nhất trong việc sử dụng hệ thống thang điểm xếp hạng tín nhiệm.
Việc quy định cụ thể hệ thống thang điểm sẽ hỗ trợ doanh nghiệp XHTN không chỉ trong việc mở rộng XHTN mà còn giúp cho các doanh nghiệp XHTN có định hướng phát triển cụ thể, như việc lên kế hoạch, tổ chức hội thảo, tập huấn cho các chuyên viên về việc sử dụng hệ thống thang điểm một cách chính xác và hiệu quả. Góp phần tạo được sự thống nhất trong hệ thống XHTN tại Việt Nam, từ đó tạo ra chuẩn mực để ngay cả một cá nhân bất kỳ cũng có thể so sánh nhận thức rõ hơn về các kết quả XHTN. Quan trọng nhất là từng bước củng cố niềm tin về XHTN trong suy nghĩ của các nhà đầu tư và tất cả các chủ thể trong xã hội.
Tuy nhiên học tập từ bộ Nguyên tắc CRA IOSCO của Uỷ ban Chứng khoán Quốc tế thì doanh nghiệp XHTN cần xác định ý nghĩa của từng loại trong thang điểm đánh giá của mình và áp dụng các loại này một cách nhất quán trên tất cả các chủ thể được đánh giá. Doanh nghiệp cần công bố các định nghĩa rõ ràng về các loại bậc điểm trong thang điểm đánh giá.
Hiện nay ở Việt Nam, mới chỉ có duy nhất trung tâm thông tin tín dụng CIC có hệ thống thang điểm bậc xếp hạng tín nhiệm một cách cụ thể và chặt chẽ nhất.
Bảng 4: Bảng chuẩn xếp hạng tín dụng của CIC[15, tr.27]
- Loại tối ưu: Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả cao. Khả năng tự chủ tài chính rất tốt. Triển vọng phát triển lâu dài, tiềm lực tài chính mạnh. Lịch sử vay trả nợ tốt. Rủi ro thấp nhất.
- Loại ưu: Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và ổn định. Khả năng tự chủ tài chính AA tốt, triển vọng phát triển tốt. Lịch sử vay trả nợ tốt. Rủi ro thấp.
- Loại tốt: Tình hình tài chính ổn định, hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Lịch sử A vay trả nợ tốt. Rủi ro tương đối thấp.
- Loại khá: Hoạt động tương đối hiệu quả, tình hình tài chính ổn định, có hạn chế BBB nhất định về tiềm lực tài chính. Rủi ro trung bình
- Loại trung bình khá: Doanh nghiệp hoạt động tốt trong hiện tại nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động lớn trong kinh doanh do sức ép cạnh tranh. Tiềm lực tài chính trung bình. Rủi ro trung bình.
- Loại trung bình: Doanh nghiệp hoạt động chưa có hiệu quả, khả năng tự chủ tài B chính thấp. Rủi ro tương đối cao
- Loại trung bình yếu: Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thấp, năng lực quản lý CCC kém, khả năng trả nợ thấp, tự chủ về tài chính yếu. Rủi ro cao.
- Loại yếu: Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, tự chủ tài chính yếu kém. CC Khả năng trả nợ ngân hàng kém. Rủi ro rất cao.
- Loại yếu kém: Doanh nghiệp hoạt động yếu kém, thua lỗ kéo dài, không tự chủ về C tài chính. Năng lực quản lý yếu kém, có nợ quá hạn. Rủi ro rất cao.
3.2.4. Quy định xếp hạng tín nhiệm bắt buộc. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Pháp luật Việt Nam trong thời gian qua không đề cập đến việc XHTN là bắt buộc, nên hầu hết các doanh nghiệp vẫn thực hiện theo hình thức XHTN là tự nguyện, có nghĩa là các tổ chức phát hành công cụ nợ hay các doanh nghiệp có quyền quyết định thuê dịch vụ XHTN hay không trước mỗi đợt phát hành công cụ nợ, do là tự nguyện nên thường chỉ có các doanh nghiệp hay tổ chức XHTN lớn mới thuê dịch vụ XHTN để củng cố thêm niềm tin đối với các nhà đầu tư.
Một số nước trên thế giới áp dụng hình thức XHTN tự nguyện là Mỹ, Nhật Bản. Không cùng chung quan điểm với Mỹ và Nhật Bản nên Hàn Quốc, Malaysia, Trung Quốc, Philippines lại áp dụng hình thức XHTN bắt buộc. Như vậy có thể thấy đa phần các nước phát triển trong khu vực ASEAN đều áp dụng hình thức XHTN bắt buộc. Tuy nhiên đây không phải là lý do chính để khuyến nghị xây dựng XHTN tại Việt Nam theo hướng bắt buộc, mà bên cạnh lý do có nhiều ưu điểm khi áp dụng hình thức đã được các nước phát triển trong khu vực áp dụng thì cần phải nhìn nhận vấn đề là XHTN bắt buộc thể hiện nhiều ưu điểm nổi bật vượt trội so với hình thức XHTN tự nguyện khi áp dụng tại Việt Nam. Có thể kể đến các ưu điểm sau:
Việc XHTN bắt buộc sẽ tạo nên sự minh bạch thông tin trên toàn thị trường, vì dù là tổ chức phát hành công cụ nợ có quy mô lớn hay nhỏ thì việc rủi ro khi huy động vốn thông qua các công cụ nợ cũng sẽ gây ảnh hưởng nhất định đến một số chủ thể trong xã hội. Khi đã xem XHTN như một định chế tài chính cao cấp trên thị trường, góp phần xóa đi rào cản thông tin bất cân xứng khi tiến hành đầu tư thì pháp luật cần phải có quy định cụ thể để hiện thực hóa vai trò đó của doanh nghiệp XHTN. Và đó chỉ có thể là hình thức XHTN bắt buộc. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Ngoài ra, việc XHTN bắt buộc còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, khi các đối tượng được XHTN luôn phải cố gắng, nỗ lực hoạt động kinh doanh có hiệu quả để có mức xếp hạng tín nhiệm an toàn. Bảo vệ các nhà đầu tư còn ít kinh nghiệm cũng như tạo nguồn thu hợp lý ban đầu cho các doanh nghiệp XHTN.
Quan điểm của Ngân hàng thế giới là ngày càng mở rộng phạm vi phải XHTN thì càng tốt để tăng cường tính công khai minh bạch của tổ chức phát hành, tăng cường thông tin cho các nhà đầu tư nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2002, đến nay đã hơn 10 năm thuật ngữ “Xếp hạng tín nhiệm” có mặt tại Việt Nam, cũng có nhiều doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam đi vào hoạt động. Nhưng kết quả mang lại không khả quan, khi các doanh nghiệp XHTN luôn phải đón nhận nhiều phản ứng trái chiều, đa số là không đồng ý với các kết quả xếp hạng tín nhiệm của trong các báo cáo của các doanh nghiệp này. Vẫn biết là ngay cả Moodys hay Standard & Poor – những tập nổi tiếng thế giới trong những lĩnh vực XHTN- cũng phải thừa nhận rằng, khi đánh giá 1.000 doanh nghiệp mà đạt tới hệ số tín nhiệm A, vẫn có tới 0,2% doanh nghiệp bị phá sản cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận có sai sót.Nhưng chỉ có thể dừng lại ở chừng mực nào đó, còn các doanh nghiệp XHTN Việt Nam khi đưa ra ấn phẩm bị hầu hết các đối tượng được XHTN phản đối kết quả, và đứng trước sự cáo buộc không trung thực khi không tiếp xúc lấy thông tin từ các đối tượng XHTN mà vẫn có thể xếp hạng tín nhiệm. Đến cả NHNN cũng lên tiếng không công nhận, thì đó thật sự đã đến lúc các doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam nên nhìn lại năng lực của doanh nghiệp, xây dựng lại hệ thống quy trình xếp hạng tín nhiệm mang tính chất tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn phải phù hợp với đặc điểm thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp XHTN cần rất nhiều sự hỗ trợ từ môi trường pháp lý là những quy định pháp luật cụ thể, chặt chẽ để có thể phát triển loại hình doanh nghiệp XHTN ở Việt Nam theo hướng tối ưu và thống nhất. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
3.2.5. Quy định cụ thể các trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa mâu thuẫn lợi ích, theo quan điểm của tác giả, là phải buộc các doanh nghiệp XHTN chịu trách nhiệm pháp lý cho các xếp hạng không đáng tin cậy của họ, mà các nhà quản lý dường như đang còn chưa quy định rõ.
Nghi định số 88/2014/NĐ-CP ngày 26/09/2014 chỉ nói đến việc doanh nghiệp XHTN sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh tại Điều 25.5 khi doanh nghiệp XHTN thực một trong các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7 gồm:
- Sửa chữa, tẩy xóa, giả mạo các tài liệu trong hồ sơ đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
- Sửa chữa, tẩy xóa, giả mạo Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
- Cho thuê, hoặc chuyển nhượng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
- Cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm khi không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định tại Nghị định này.
- Đòi hỏi hoặc nhận tiền hoặc nhận bất kỳ lợi ích nào từ tổ chức được xếp hạng tín nhiệm ngoài khoản chi phí dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đã được thỏa thuận trong hợp đồng xếp hạng tín nhiệm đã ký kết.
- Sử dụng kết quả xếp hạng tín nhiệm và kết quả phát hành công cụ nợ của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm để làm căn cứ xác định chi phí dịch vụ xếp hạng tín nhiệm.
- Thông đồng, móc nối với tổ chức được xếp hạng tín nhiệm làm ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng tín nhiệm.
- Làm sai lệch kết quả xếp hạng tín nhiệm.
- Công bố thông tin về kết quả xếp hạng tín nhiệm khi không có hợp đồng xếp hạng tín nhiệm với tổ chức được xếp hạng tín nhiệm.
Đây là một điểm mà cần phải được bổ sung bằng các nghị định hoặc các thông tư hướng dẫn thi hành sau này vì chúng ta biết hoạt động cũng như kết quả của hoạt động xếp hạng tín nhiệm có ảnh hướng lớn đến thị trường tài chính, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng nếu hoạt động không minh bạch, đúng đắn. Ngoài trách nhiệm dân sự, doanh nghiệp XHTN có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính do các hành vi vi phạm pháp luật của mình trong quá trình thực hiện hoạt động XHTN. Bên cạnh đó, trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật cấu thành tội phạm thì người quản lý doanh nghiệp XHTN có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Bộ Luật Hình sự năm 2015 cũng đã thừa nhận truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Vì vậy, doanh nghiệp XHTN cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán theo quy định tại Điều 75.2 và Điều 209 Bộ luật Hình sự năm 2015 [11] trong trường hợp doanh nghiệp XHTN công bố thông tin không trung thực liên quan đến hệ số XHTN.
3.3. Các giải pháp mang tính bổ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
3.3.1. Phổ cập kiến thức pháp luật về doanh nghiệp đinh mức tín nhiệm
Bất cứ một quy định pháp luật nào muốn được xã hội hưởng ứng tích cực và nghiêm chỉnh chấp hành theo thì cũng luôn cần phải có sự chuẩn bị từng bước để phổ biến, thông tin truyền thông rộng rãi về quy định pháp luật đó đến tất cả mọi người. Việc làm này đòi hỏi phải có sự phối hợp của tất cả các cấp chính quyền, từ cơ quan soạn thảo ban hành quy phạm pháp luật đến cơ quan duyệt thông qua văn bản quy phạm pháp luật sau đó là đến cơ quan thi hành và giám sát thực hiện quy phạm pháp luật phải có kế hoạch cụ thể, hợp lý để tổ chức những buổi tuyên truyền phổ biến hoặc thông qua các phương tiện thông tin truyền thông nhằm tăng cường nhận thức về ý nghĩa và sự cần thiết của XHTN đối với không chỉ các doanh nghiệp hay nhà đầu tư mà còn là tất cả các chủ thể khác trong xã hội. Có thể thông qua nhiều hình thức cụ thể như sau:
Tổ chức nhiều diễn đàn, hội thảo lấy ý kiến của các chủ thể trong xã hội từ khi bắt đầu có dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề XHTN, ngay cả sau khi dự thảo được thông qua cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo về doanh nghiệp XHTN và mời các tổ chức tài chính trong nước, ngoài nước tham gia hoặc là các doanh nghiệp có uy tín trong nước, các công ty niêm yết, … để tăng thêm phần khẳng định tầm quan trọng của doanh nghiệp XHTN.
Tăng cường các buổi trao đổi về pháp luật, cập nhật thông tin về các doanh nghiệp XHTN áp dụng pháp luật trong từng giai đoạn như thế nào trong các chương trình chuyên về pháp luật, kinh tế – tài chính trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Kêu gọi những công ty đại chúng, kinh doanh hiệu quả tiến hành thực hiện các dịch vụ của doanh nghiệp XHTN như đánh giá xếp hạng doanh nghiệp, tuyên truyền ý nghĩa của các dịch vụ XHTN.
Công bố rộng rãi trên báo chí và các phương tiện thông tin khác về kết quả xếp hạng tín nhiệm. Hiện nay thì việc làm này thu hút được sự quan tâm của rất nhiều chủ thể trong xã hội, thể hiện qua công cụ đếm lượt truy cập trên các trang báo điện tử có đăng bản tin về kết quả XHTN một doanh nghiệp bất kì là rất nhiều. Thông qua việc cập nhật thông tin về xếp hạng tín nhiệm, có thể là nâng bậc hoặc hạ bậc tín nhiệm doanh nghiệp, thì tất cả các chủ thể trong xã hội sẽ hiểu hơn về vị trí vai trò của XHTN và tích cực tìm hiểu pháp luật về XHTN và doanh nghiệp XHTN. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Xem xét việc quy định hỗ trợ một phần ngân sách riêng để phục vụ vào mục địch phổ cập pháp luật về doanh nghiệp XHTN đến với toàn xã hội. Vì tầm quan trọng của doanh nghiệp XHTN không còn nằm trong biên giới một quốc gia riêng lẻ mà sức ảnh hưởng của nó đang lan rộng ra toàn thế giới.
Cần phải có những quy định cơ bản và tối thiểu nhằm đảm bảo tính độc lập nhất định của các tổ chức này ngay từ thời điểm đầu thành lập. Hệ thống pháp luật cần phải được điều chỉnh theo hướng tăng cường công khai thông tin, từ từ áp dụng những chuẩn mực quốc tế thông dụng về XHTN nhằm tạo một môi trường thông tin minh bạch và thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp XHTN. Ngoài ra, cần đưa ra các chính sách pháp luật nhằm khuyến khích và ưu đãi đối với ngành XHTN.
Doanh nghiệp XHTN cũng có yêu cầu hoạt động đặc thù đó là tính độc lập, để đảm bảo tính khách quan và chính xác của thông tin. Vì vậy, hệ thống pháp luật cần được thiết lập một cách phù hợp, trong đó chú trọng củng cố sự độc lập của quá trình XHTN.
3.3.2. Xây dựng cơ chế cung cấp thông tin.
Một trong những nhu cầu cấp bách đối với Việt Nam là tăng cường hơn nữa tính công khai và cung cấp những thông tin đáng tin cậy, đặc biệt là về các ngân hàng và doanh nghiệp, nhằm hạn chế nguy cơ dẫn đến thất bại của thị trường tài chính. Nền kinh tế của Việt Nam bị các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong những nền kinh tế nghèo nàn thông tin nhất trên thế giới. Mặc dù đã có thêm nhiều số liệu thống kê mới về các doanh nghiệp nhà nước trong những năm gần đây, song nhiều số liệu thống kê vẫn chưa nhất quán và chưa hoàn chỉnh, do vậy không thể dựa vào những số liệu này để đánh giá thực trạng kinh doanh lỗ lãi và tình hình tài chính của các doanh nghiệp. Lý do chủ yếu của tình trạng thiếu số liệu đáng tin cậy xuất phát từ hệ thống kế toán thiếu nhất quán và không đầy đủ của Việt Nam trong những năm trước đây. Vì vậy, cần phải khẩn trương và đồng loạt tiến hành kiểm toán một cách chính xác và độc lập đối với các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng để Nhà nước có thông tin đáng tin cậy làm cơ sở để đưa ra những quyết định về cải cách và chính sách phát triển, cũng như giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đưa ra các quyết định về đầu tư đúng đắn. Để thực sự giúp ích cho nhà nước và thị trường, công tác kiểm toán độc lập phải dựa trên những thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cần xây dựng một cơ chế công bố thông tin về các doanh nghiệp rõ ràng và minh bạch theo đúng quy chuẩn quốc tế. Cơ chế này phải nêu rõ được những nội dung sau:
- Trách nhiệm của các doanh nghiệp, tổ chức trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan có trách nhiệm của Nhà nước.
- Nội dung của thông tin cần cung cấp.
- Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trong việc tiến hành điều tra khảo sát về thị trường.
- Trách nhiệm của đơn vị trực tiếp quản lý và cung cấp hệ thống thông tin.
- Quyền lợi của các doanh nghiệp và tổ chức trong sử dụng thông tin.
Thông tin trên thị trường tài chính rõ ràng, minh bạch sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
Kết luận chương 3
Pháp luật không những là công cụ quản lý mà còn là hành lang để tạo điều kiện cho thị trường tài chính phát triển. Một hệ thống pháp luật tiến bộ và hiệu quả không những tạo ra các thành quả kinh tế mà còn góp phần hạn chế rủi ro. Đối với hoạt động của doanh nghiệp XHTN, đây là một hoạt động rất cần thiết cho sự phát triển của thị trường tài chính nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Trên cơ sở sự nghiên cứu, phân tích đã trình bày ở các chương trước, tác giả đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm trong thời gian tới.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
Qua quá trình nghiên cứu,phân tích và tổng hợp, đề tài đã từng bước chỉ ra yêu cầu thiết yếu của thị trường tài chính lúc này là có sự xuất hiện của doanh nghiệp XHTN hoạt động có hiệu quả, uy tín để giải quyết bài toán về huy động vốn. Do đó, cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể chi tiết về vấn đề hoạt động của doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam.
Việc phân tích các tài liệu về quá trình hình thành và phát triển của loại hình doanh nghiệp XHTN trên thế giới đã khẳng định sự cần thiết, tầm quan trọng của doanh nghiệp XHTN đối với thị trường tài chính Việt Nam. Trên cơ sở đó, tìm hiểu khuôn khổ pháp lý quy định về vấn đề thành lập và hoạt động của doanh nghiệp XHTN tại Việt Nam. Các phân tích về tình hình thực trạng pháp luật thành lập và hoạt động của doanh nghiệp XHTN ở Việt Nam trong thời gian qua đã đưa ra cái nhìn tổng quan về những khởi sắc bước đầu trong việc phổ biến XHTN rộng rãi nhưng cũng đi kèm với những hạn chế có thể nói là chưa thành công trong việc xây dựng mô hình doanh nghiệp XHTN uy tín khi từ năm 2004 đến nay có ba doanh nghiệp XHTN thành lập nhưng hiện tại chỉ mới có duy nhất một doanh nghiệp được thành lập theo Nghị định số 88/2014/NĐ-CP. Các doanh nghiệp thành lập trước đó thì cũng hoạt động với số lượng ấn phẩm XHTN quá ít, các đánh giá chưa tạo được niềm tin đối với thị trường. Phần thực tiễn áp dụng các quy phạm đã chỉ ra nguyên nhân của việc cơ chế XHTN chưa thật sự đi vào cuộc sống không chỉ là do hiện tại quy mô của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhỏ mà còn là do việc áp dụng một cách máy móc mô hình doanh nghiệp XHTN thành công tại các nền kinh tế phát triển vào nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam nên việc bất cân xứng khi đi vào hoạt động là điều khó tránh khỏi, dẫn đến việc các doanh nghiệp, các nhà đầu tư không mặn mà với công cụ này.
Việt Nam có nhiều thuận lợi cho sự phát triển của loại hình doanh nghiệp XHTN khi phân tích các yếu tố về môi trường pháp lý và yêu cầu cấp thiết của thị trường tài chính. Nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn từ những khó khăn mang yếu tố khách quan do sự hạn chế của các văn bản pháp luật đến những khó khăn mang yếu tố chủ quan do tâm lý của các tổ chức phát hành chưa quen với việc phải được XHTN. Thông qua các đánh giá về thuận lợi và khó khăn từ thực trạng tại Việt Nam kết hợp với bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình doanh nghiệp XHTN thành công, luận văn đã đề xuất phương hướng xây dựng pháp luật về thành lập và hoạt động doanh nghiệp XHTN có uy tín chất lượng.
Để không ngừng đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, giải quyết bài toán về huy động vốn, khuyến khích sử dụng hình thưc huy động vốn trực tiếp thì cần nhanh chóng xóa đi khoảng cách thông tin bất cân xứng trên thị trường bằng việc chuẩn bị cho việc tái xuất hiện của doanh nghiệp XHTN hoạt động hiệu quả tại Việt Nam. Và để doanh nghiệp XHTN có thể hoạt động hiệu quả chúng ta phải giải quyết được vấn đề về cách giải quyết xung đột lợi ích không chỉ bằng những quy định mang tính chất tạo khuôn khổ hoạt động mà còn là những quy định nêu rõ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp XHTN.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do vấn đề nghiên cứu còn khá mới mẻ, sự giới hạn về thời gian, tài liệu còn hạn chế nhất là những tài liệu về thực tiễn nên khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để rút kinh nghiệm và bổ khuyết cho việc nghiên cứu sau này. Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm
Pingback: Khóa luận: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm
Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm
Khóa luận: Giải pháp pháp luật doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm