Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3 hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở quận 3, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp

3.1.1. Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước và của ngành

3.1.1.1. Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước ta

Phát triển GD&ĐT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng Sản Việt Nam (từ 11/01/2011 đến 19/01/2011) đã thành công tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các sự kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đất nước 2011-2020. Đối với GD&ĐT, Nghị quyết Đại hội đã đặt ra yêu cầu mục tiêu nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm tới 2010-2015 “Phát triển, nâng cao chất lượng GD&ĐT, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức” [35]. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nước ta từ 2011-2020 nhấn mạnh “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh GD&ĐT” trong đó đặc biệt chú ý đến phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một bước đột phá chiến lược… Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV và CBQL là khâu then chốt” [35]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở nước ngoài, tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Đảng, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, kiên định mục tiêu dân tộc và chủ nghĩa xã hội, năng động và sáng tạo, ra sức thi đua quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Tại TP.HCM, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ IX (từ 05/10/2010 đến 08/10/2010) đã đề ra cho GD&ĐT nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ Thành phố là: Xây dựng nền giáo dục tiên tíến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao toàn diện chất lượng GD&ĐT đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt coi trọng giáo dục truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp. [32, tr.52, 53]. Chương trình hành động số 59-CTr/TU ngày 30/6/2010 của Thành ủy TP.HCM về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020, trong đó có nhiệm vụ “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng hiện đại, coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội; Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý Nhà nước đối với GD&ĐT, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; Đầu tư ngân sách gắn với đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư xây dựng hệ thống trường lớp theo quy hoạch, nhằm khai thác mạnh các nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển GD&ĐT”.

Tại Quận 3, TP.HCM. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận 3 lần thứ X (diễn ra từ ngày 06 đến 08/8/2010) nhiệm kỳ 2010-2015 đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng – phát triển và bảo vệ Quận 3 năm 2010-2015 đối với GD&ĐT là “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho HS và phát huy hiệu quả sự phối hợp 3 môi trường: Nhà trường, gia đình và xã hội. Kiện toàn bộ máy quản lý GD&ĐT, nâng cao chất lượng đội ngũ GV đạt chuẩn nghề nghiệp, theo hướng tăng cường kỷ luật, kỷ cương dạy và học, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp nhà giáo; nâng cao đời sống đội ngũ GV” [31, tr.19].

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương, định hướng và tầm nhìn chiến lược phát triển GD&ĐT trong 10 năm tới đến năm 2020, Đảng và Nhà nước cũng đã xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, đó là kim chỉ nam cho sự phát triển của GD&ĐT nước ta nói chung và Quận 3, TP.HCM nói riêng để làm cơ sở cụ thể hóa bằng những giải pháp phù hợp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng nhà giáo và giáo dục.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

3.1.1.2. Định hướng chiến lược phát triển giáo dục của ngành Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Trong những năm qua Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về giáo dục. Những văn bản này đã phát huy tác dụng điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục trong tình hình mới; có tác động sâu sắc, nhanh chóng tới việc nâng cao chất lượng tổ chức, hoạt động giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục, tạo hành lang pháp lý căn bản, không thể thiếu cho việc đẩy mạnh đổi mới quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam trong thời gian tới. Báo cáo tổng kết năm học 2009-2010 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2010-2011 của Bộ GD&ĐT có nêu “Xây dựng quy hoạch đội ngũ GV mầm non và phổ thông giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu“. [16, tr.28]. Trước đó, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 ban hành quy định đạo đức nhà giáo, tại điều 4 có quy định nhà giáo “Thực hiện thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu càng cao của sự nghiệp giáo dục” [11, tr.2], văn bản số 88NQ/BCSD quán triệt kết luận 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020, Bộ cũng chỉ đạo tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nay đã có Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 về Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với đặc thù của ngành là thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Thực hiện nghiêm túc quy định về đạo đức nhà giáo theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 [11, tr.21, 23] Bộ cũng đặt ra yêu cầu và một số giải pháp để “Tiếp tục đổi mới công tác QLGD nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục”.

Để nâng cao chất lượng và bảo đảm đủ số GV cho toàn hệ thống giáo dục. Tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học. Bộ GD&ĐT đã có văn bản số 3408/BGDĐT-GDTrH ngày 15/6/2010 triển khai tập huấn GV cốt cán và bồi dưỡng GV, CBQL giáo dục tại các địa phương nhằm thực hiện các Kế hoạch số 289/KH-GDTrH, 290/KH-BGDĐT, số 291/KH-BGDĐT ngày 07/6/2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về bồi dưỡng GV, CBQL giáo dục cấp THCS, THPT dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến

thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt Bộ đã ban hành Thông tư số 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 quy định chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học, Bộ cũng đã ban hành Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 quy định chuẩn nghề nghiệp GV THCS, chuẩn nghề nghiệp GV THPT. Đây là những quy định rất quan trọng để xây dựng chất lượng CBQL và nhà giáo.

Đối với ngành GD&ĐT TP.HCM, kế hoạch 5 năm 2011-2015 của Sở GD&ĐT TP.HCM khẳng định GD&ĐT Thành phố sẽ tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục nhằm tiến tới đổi mới toàn diện nhà trường và xây dựng nhà trường tiên tiến hội nhập quốc tế. Căn cứ yêu cầu của ngành và của địa phương, ngành GD&ĐT Thành phố tiếp tục thực hiện đổi mới toàn diện theo tinh thần thông báo số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị, từng bước hình thành một nền GD&ĐT tiên tiến, hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế tại TP.HCM [67, tr.31]. Kế hoạch số 2132/GDĐT-GDCN ngày 15/9/2010 của Sở GD&ĐT TP.HCM tổ chức Hội thảo khoa học “Xây dựng nhà trường tiên tiến, chất lượng cao thời kỳ hội nhập”. Hàng năm Sở GD&ĐT Thành phố đều có kế hoạch tổ chức và hướng dẫn các trường chuyên nghiệp, các Phòng GD&ĐT lập kế hoạch bồi dưỡng cho GV, trong đó tập trung bồi dưỡng sâu rộng về chuyên môn, về các lĩnh vực trong dịp hè.

3.1.2. Định hướng phát triển giáo dục Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Nghị quyết Đại hội Đảng viên Chi bộ Phòng GD&ĐT Quận 3, TP.HCM nhiệm kỳ XV (2010-2015) tổ chức ngày 14/5/2010 đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu phát triển GD&ĐT Quận 3 đến năm 2015 là: Đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đẩy mạnh thực hiện “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”; tiếp tục củng cố vững chắc chất lượng giáo dục các cấp; xây dựng đội ngũ GV đạt chuẩn và trên chuẩn, đủ về số lượng chuẩn hóa về trình độ đào tạo, vững vàng về tư tưởng chính trị nghiệp vụ sư phạm, giáo dục đạo đức ở tất cả các bậc học; xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới trường theo hướng đạt chuẩn quốc gia theo đề án đã được duyệt; đẩy mạnh tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục; tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, làm cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội hiểu được khó khăn và quyết tâm của ngành để cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục; tăng cường sự gắn bó chặt chẽ giữa nhà trường cũng như cộng đồng dân cư và địa phương. Quan tâm việc học tập của HS diện chính sách xã hội, con em gia đình nghèo, HS khuyết tật được hòa nhập trong các trường.

Về mặt chính quyền ngành GD&ĐT Quận 3, thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Quận 3 và Chi bộ Phòng GD&ĐT Quận 3 nhiệm kỳ 2010-2015, Phòng GD&ĐT Quận 3 đã xây dựng và lập chương trình hành động số 845/PGD-BC ngày 16/9/2010 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII), phương hướng phát triển GD&ĐT Quận 3 đến 2020. Phòng GD&ĐT đã lập kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục quận 3 giai đoạn 2010-2015 với nhiều mục tiêu cụ thể và phương hướng phát triển mạng lưới địa điểm trường học quận 3 đến 2020, phát triển toàn diện ngành giáo dục toàn quận đến 2015 yêu cầu chất lượng giáo dục phải thật sự nâng lên, phát triển cân đối giữa các ngành học, bậc học, lực lượng GV phải đồng bộ giữa các môn dạy, đảm bảo chất lượng về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất sư phạm, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học tích cực và toàn diện trong nhà trường, thực hiện tốt xã hội hóa GD&ĐT thông qua việc huy động các nguồn lực xã hội phát triển cho GD&ĐT, đa dạng hóa các loại hình trường học. Chương trình hành động đề ra những chỉ tiêu cụ thể [57]:

Phổ cập giáo dục

Toàn quận thực hiện PCGD tiểu học, PDGD THCS và PCGD THPT với chất lượng cao để đến 2020 ngành GD&ĐT quận 3 sẽ đạt những chỉ tiêu mặt bằng học vấn trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia về PCGD bậc THPT trong độ tuổi.

Giáo dục toàn diện

Đảm bảo 50% trẻ vào nhà trẻ, 70% vào mẫu giáo và 100% cháu 5 tuổi ra lớp học, 100% HS tiểu học được học 2 buổi/ngày, 80% HS THCS được học 2 buổi/ngày. Thực hiện đúng quy định về sĩ số HS/lớp theo từng cấp học, ngành học. Trước mắt tập trung giảm dần sĩ số HS trong các trường tiểu học, THCS các khu vực đông dân cư, ưu tiên giảm sĩ số HS/lớp ở các trường có điều kiện đạt chuẩn quốc gia.

  • Riêng về cấp THCS, phấn đấu đến cuối năm 2020 xây dựng 06/11 trường THCS tiên tiến hiện đại: Trường THCS Bàn Cờ, Lê Quý Đôn, Colette, Bạch Đằng, Kiến Thiết và Đoàn Thị Điểm. Phấn đấu xây dựng 03 trường THCS đạt chuẩn quốc gia: Trường THCS Bàn Cờ, Lê Quý Đôn và Đoàn Thị Điểm.
  • Hoàn thành chương trình đưa tin học vào nhà trường, tăng cường dạy ngoại ngữ, đảm bảo trang thiết bị dạy học đầy đủ, hiện đại để mọi HS đều có điều kiện thực hiện trong quá trình học tập; nâng cao điều kiện làm việc và nghiên cứu của GV để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; tăng cường công tác giáo dục hướng nghiệp; đạt đỉnh cao về xây dựng bầu không khí dân chủ, thân thiện, cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau; xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, khen thưởng hợp lý thúc đẩy mọi người nỗ lực làm việc.

Mỗi CBQL – GV – NV trong mỗi trường đều tự giác có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện quyền hạn của mình, đạt hiệu quả cao; HS luôn nhận được sư yêu thương, được quan tâm chăm sóc, mỗi ngày đến trường là một ngày vui.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đầy đủ cho hoạt động giáo dục; môi trường xanh, sạch, đẹp và an toàn.

Các chỉ tiêu trọng yếu trong kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục THCS Quận 3 giai đoạn 2010-2015

Bảng 3.1. Trường lớp, học sinh

Theo đồ án quy hoạch mạng lưới trường lớp Quận 3 đến năm 2020 đã được Quận và Thành phố phê duyệt, trong bảng 3.1 thể hiện giai đoạn đến năm 2015 có một trường được mở rộng diện tích và một trường xây dựng mới với diện tích tăng thêm là: 10564,6 m2, nhưng nhu cầu đất vẫn còn thiếu 24039 m2, cần có các kế hoạch vốn ngân sách để mở rộng trường và khuyến khích tăng xã hội hóa giáo dục nhằm thu hút vốn đầu tư. Đến giai đoạn 2015-2020 nhu cầu đất cần thêm là 66968 m2 nhưng chỉ mới đáp ứng được 54565.2 m2. Giai đoạn này đối với bậc THCS tại Quận 3 hoàn toàn không còn quỹ đất để quy hoạch phát triển mới. Do vậy, giải pháp duy nhất là có kế hoạch đầu tư vốn ngân sách để mở rộng 11 trường hiện hữu để rộng thêm diện tích sử dụng.

Cán bộ Quản lý giáo dục

Đến 2015, đội ngũ CBQL ngành giáo dục Quận 3 phải được đảm bảo đầy đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, công tác đề bạt luân chuyển, điều động bổ nhiệm, bổ nhiệm lại phải được thực hiện đúng theo quy định và quy trình; để nâng cao chất lượng toàn diện và trình độ đào tạo từng cá nhân, đội ngũ CBQL ngành phải có đủ phẩm chất chính trị và đạo đức, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, năng lực lãnh đạo và năng lực quản lý. Chỉ tiêu cụ thể CBQL THCS:

  • – 100% CBQL có trình độ trên chuẩn chuyên môn nghiệp vụ, trong đó phấn đấu đạt 20% CBQL có trình độ sau đại học.
  • – 100% CBQL được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trường học, trong đó phấn đấu 50% CBQL có trình độ từ cử nhân QLGD trở lên.
  • – 100% CBQL có trình độ tin học A trở lên, phấn đấu ít nhất 50% CBQL có trình độ tin học từ B trở lên, biết sử dụng thành thạo CNTT và khai thác thông tin phục vụ quản lý giảng dạy.
  • – 100% CBQL có trình độ ngoại ngữ từ A trở lên, phấn đấu ít nhất 50% CBQL có trình độ ngoại ngữ từ B trở lên, khuyến khích học thêm ngoại ngữ 2. Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3
  • – 90% CBQL có trình độ chính trị từ trung cấp trở lên, đảm bảo cán bộ quản lý trong độ tuổi quy định tham gia học lý luận chính trị cao cấp.
  • – 100% CBQL là Đảng viên.

Giáo viên

  • Đến năm 2015, ngành GD&ĐT Quận 3 phấn đấu tuyển dụng, bố trí đủ GV tất cả các bộ môn theo nhu cầu, đặc biệt đảm bảo bố trí đủ GV các môn Nhạc, Mỹ thuật, Thể dục. Đẩy mạnh nâng cao chất lượng GV theo hướng tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong dạy và học, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp nhà giáo. Tạo điều kiện cho GV được tham gia thi đua dạy tốt, học tập, bồi dưỡng, trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng GV đáp ứng yêu cầu phát triển của quận. Chỉ tiêu cụ thể:
  • – 100% GV có trình độ chuẩn chuyên môn nghiệp vụ, trong đó phấn đấu 90% GV có trình độ trên chuẩn.
  • – 100% GV có trình độ tin học từ A trở lên, trong đó phấn đấu 40% GV có trình độ tin học từ B trở lên. 100% GV biết sử dụng thành thạo và khai thác tốt CNTT phục vụ giảng dạy theo phương pháp đổi mới.
  • – 50% GV có trình độ ngoại ngữ từ A trở lên, trong đó phấn đấu 30% GV có trình độ ngoại ngữ từ B trở lên, không tính GV ngoại ngữ.
  • Phấn đấu có 20% GV, đảm bảo 100% cán bộ cốt cán, tổ trưởng chuyên môn đi học từ trung cấp chính trị trở lên, quan tâm tạo điều kiện đối với GV dạy Văn, Sử, Giáo dục công dân được đi học.
  • Cử 5% GV cốt cán diện quy hoạch CBQL đi học và bồi dưỡng các lớp nghiệp vụ quản lý họặc cử đi học cử nhân quản lý.

Sứ mệnh nhà trường THCS

Trường THCS thuộc một trong năm ngành học (giáo dục Mầm non, Tiểu học, Trung học, Giáo dục chuyên nghiệp, Giáo dục thường xuyên) của hệ thống giáo dục quốc dân, trường THCS hiện nay được thành lập nhằm mục tiêu phổ cập THCS và mục tiêu do bậc học đề ra là nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế và xã hội của từng địa phương. Trường THCS hiện nay đang hoạt động dưới 2 hình thức là công lập và ngoài công lập.

Qua định hướng chiến lược phát triển giáo dục của Đảng, Nhà nước và của ngành từ Trung ương đến địa phương. Căn cứ cơ sở lí luận về bồi dưỡng GV trường THCS như đã trình bày ở chương 1 và thực trạng bồi dưỡng GV THCS cũng như công tác quản lý bồi dưỡng GV của hiệu trưởng các trường THCS Quận 3, TP.HCM như ở chương 2, tác giả mạnh dạn đề xuất một số biện pháp với hy vọng rằng sẽ giúp hiệu trưởng tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý để xây dựng nâng cao chất lượng GV nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở bậc học này.

3.2. Các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

3.2.1. Biện pháp 1. Nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng giáo viên

Mục đích của biện pháp:

Nhận thức là một vấn đề có vai trò quyết định cho việc định hướng hành động. Nhận thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành nên mọi suy nghĩ và niềm tin để thúc đẩy chúng ta hành động. Do đó nếu chúng ta có nhận thức đúng thì hành động sẽ đúng, còn nếu nhận thức sai thì hành động sẽ sai và có thể dẫn đến hậu quả, trong giáo dục nếu hành động sai thì hậu quả khi xảy ra có thể trả giá bằng cả một thế hệ. Nói như thế để hiểu rằng, người CBQL nói chung, người hiệu trưởng nói riêng và GV cần phải có nhận thức thật đúng về nghề nghiệp mà mình đã chọn, nghề nghiệp cao quý đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Mục tiêu giáo dục trong thời kỳ mới là phát triển con người Việt Nam với đầy đủ bản lĩnh và phẩm chất tốt đẹp của một dân tộc và thời đại, đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Vì vậy bồi dưỡng GV phải được nghiêm túc nhận thức xem là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý của hiệu trưởng và của chính GV.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Để nâng cao nhận thức trong việc bồi dưỡng GV THCS, hiệu trưởng cần quan tâm đến những vấn đề sau:

  • Phải quán triệt đầy đủ chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản hướng dẫn chỉ đạo của ngành về bồi dưỡng GV. Quán triệt cho GV nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của việc bồi dưỡng, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm cho GV. Chủ động xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện, đồng thời tham mưu cho Đảng, chính quyền các cấp để được hỗ trợ, phối hợp thực hiện bồi dưỡng GV của trường.
  • Hiện nay giáo dục nước ta đã có những chủ trương lớn thay đổi cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp, cách đánh giá trong giáo dục, trong đó xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học tích cực đang được áp dụng các nước tiên tiến và ở Việt Nam. Vì vậy cần phải nghiêm túc quán triệt tinh thần thực hiện chỉ đạo của Bộ GD&ĐT theo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” [4], tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, đặc biệt quan tâm bồi dưỡng GV hướng đến đạt các yêu cầu về năng lực và phẩm chất GV theo quy định tại Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 quy định chuẩn nghề nghiệp GV THCS và Điều lệ trường trung học…

Chỉ khi nào có sự đồng bộ trong nhận thức từ hiệu trưởng đến GV về mối quan hệ biện chứng giữa bồi dưỡng GV với chất lượng đội ngũ GV, giữa chất lượng đội ngũ GV với chất lượng giáo dục và giữa chất lượng giáo dục với quá trình hình thành nhân cách HS thì khi ấy việc quản lý bồi dưỡng GV mới thật sự có hiệu quả.

3.2.2. Biện pháp 2. Điều chỉnh mục tiêu, phát triển chương trình, đổi mới phương pháp, phương tiện và cải tiến các hình thức bồi dưỡng giáo viên Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Mục đích của biện pháp:

Mục tiêu bồi dưỡng GV là chuẩn đích mà mọi hoạt động bồi dưỡng GV đều phải hướng tới. Việc điều chỉnh mục tiêu, phát triển chương trình, đổi mới phương pháp, phương tiện và cải tiến các hình thức bồi dưỡng GV là nhằm đảm bảo thực hiện cập nhật đầy đủ, kịp thời các nội dung chương trình bồi dưỡng theo quy định đồng thời kết hợp linh động và sáng tạo với điều kiện tình hình thực tế sao cho phù hợp. Việc phát triển chương trình, đổi mới phương pháp, phương tiện và cải tiến các hình thức bồi dưỡng GV vừa có tính tình thế, vừa mang tính chiến lược nhằm thực hiện đồng bộ hóa chuyên môn cho đội ngũ GV và đồng bộ hóa việc đổi mới chương trình thay sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đánh giá thi cử và đổi mới quan điểm đào tạo và bồi dưỡng GV.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

  • Mục tiêu bồi dưỡng GV có thể xem là đích cần đến của công tác bồi dưỡng GV, mục tiêu còn là tiền đề cho việc xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng GV, mục tiêu mang tính cụ thể hóa, định lượng hóa, tiêu chuẩn hóa và tính dự báo kết quả cao. Vì vậy trong quản lý, hiệu trưởng cần phải biết điều chỉnh mục tiêu bồi dưỡng GV của trường. Mục tiêu càng cụ thể, càng chi tiết rõ ràng, càng xác thực thì càng có nhiều khả năng chuyển hóa thành hiện thực, việc xây dựng chương trình càng có cơ sở vững chắc. Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3
  • Mục tiêu cụ thể về bồi dưỡng GV phải được hiệu trưởng xây dựng trên mục tiêu của ngành, mục tiêu của trường phải bám sát và hướng vào thực hiện mục tiêu của Phòng, Sở, Bộ GD&ĐT. Khi thực hiện, tùy điều kiện của trường mà xác định, xây dựng mục tiêu cụ thể thiết thực dựa vào các điều kiện phù hợp nhằm phục vụ việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.
  • Trong quá trình xây dựng mục tiêu, hiệu trưởng phải quan tâm đến chiến lược và tính linh động về quy mô, cấp độ và đối tượng thực hiện, nhất là chú trọng đề cao vai trò của tự bồi dưỡng trong chỉ đạo công tác quy hoạch bồi dưỡng GV của trường.
  • Giáo dục THCS hiện đang đứng trước những yêu cầu cấp bách vừa thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông vừa tiếp tục thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục THCS. Do vậy trong quản lý, hiệu trưởng cần phải coi trọng mục tiêu bồi dưỡng thay sách và bồi dưỡng chuẩn hóa cho GV trường, cần phải tập trung quan tâm nghiên cứu chương trình, đổi mới phương pháp, phương tiện và cải tiến hình thức bồi dưỡng cho GV, vì hiện nay cả nước đang ra sức thực hiện đồng bộ việc đổi mới chương trình thay sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh. Trọng điểm của đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, mà những nội dung này không thể tách rời với chương trình và sách giáo khoa, hiện tượng dạy học “đọc chép”, dạy tràn lan, nặng nề mấy năm qua dù đã có nhiều thay đổi tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều điều cần chỉnh sửa. Bởi vậy điều quan trọng là sau khi được bồi dưỡng về GV phải biết xây dựng bài giảng theo phương pháp mới, kỹ năng chuẩn bị bài giảng sao cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, sinh động mà hiệu quả. Muốn như vậy việc bồi dưỡng GV cũng cần tìm ra những cách thức bồi dưỡng để cải tiến phương pháp, nội dung, chương trình, hình thức bồi dưỡng, nên chú trọng vào các kỹ năng chứ không phải chỉ tập trung vào nội dung bồi dưỡng, việc bồi dưỡng cũng làm cho GV thấy hứng thú khi tiếp nhận những cái mới, chứ không phải áp đặt họ.
  • Quan điểm về đổi mới phương pháp bồi dưỡng GV: Ngày nay, lượng tri thức của nhân loại ngày càng mới và đồ sộ, sự “lão hoá” đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ với tốc độ nhanh chóng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên là sự hạn hẹp của quỹ thời gian với một bên là nhu cầu cập nhật, lĩnh hội tri thức. Để giải quyết mâu thuẫn này, chỉ có con đường là tìm kiếm cách học, cách tiếp cận và cách cập nhật lĩnh hội tri thức. Dạy học là yếu tố hết sức năng động của quá trình bồi dưỡng, trong đó, đổi mới phương pháp bồi dưỡng được coi là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng hiệu quả bồi dưỡng GV. Tuy nhiên cũng cần phải thống nhất rằng đổi mới phương pháp bồi dưỡng không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn những phương pháp bồi dưỡng đã có trước đây, mà trên cơ sở của những phương pháp truyền thống, từng bước áp dụng, bổ sung tìm ra cái mới cho những phương pháp tối ưu nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học viên; từng bước cải tiến phương pháp bồi dưỡng theo hướng chuyển từ quá trình bồi dưỡng thành quá trình tự bồi dưỡng, cần được đổi mới theo hướng tích cực hóa cho người học, coi trọng tự học, tự nghiên cứu tài liệu, giáo trình, đặc biệt đề cao khả năng tự vận dụng tri thức mới để trau dồi nghiệp vụ sư phạm hoặc vào việc xử lý các tình huống khó trong các bài học cụ thể trong chương trình.
  • Tiếp tục triển khai dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với từng đối tượng HS, tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy. Tập huấn và thực hành thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng khuyến khích tinh thần tự học và ý thức sáng tạo của HS. Triển khai thực hiện các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng dạy học 2 buổi/ngày.

3.2.3. Biện pháp 3. Xây dựng và điều chỉnh kế hoạch bồi dưỡng giáo viên Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Mục đích của biện pháp:

Xây dựng và điều chỉnh kế hoạch bồi dưỡng GV là nhằm giúp hiệu trưởng rà soát đội ngũ, chủ động trong việc dự báo và chuẩn bị các điều kiện hỗ trợ phục vụ bồi dưỡng GV, từ đó tính toán sắp xếp, bố trí, phân công công tác bồi dưỡng GV sao cho phù hợp nhằm mục tiêu là phát triển vững chắc số lượng và chất lượng GV. Việc này còn nhằm tạo điều kiện cho GV được tham gia bồi dưỡng nhưng vẫn đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường. Việc xây dựng, điều chỉnh kế hoạch nếu sắp xếp khoa học, hợp lý chẳng những không ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường mà còn làm tăng thêm hiệu quả và chất lượng giáo dục của trường.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

  • Hiệu trưởng phải nghiên cứu kỹ các văn bản quy định về GV và bồi dưỡng GV, nghiên cứu kết hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, kế tiếp rà soát đội ngũ GV của trường theo từng đối tượng, từng bộ môn, đánh giá năng lực và trình độ hiện có của họ và yêu cầu phát triển của trường, rà soát các nguồn lực hỗ trợ, phục vụ công tác bồi dưỡng GV, dự toán các điều kiện về kinh phí tổ chức, hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng GV.
  • Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV hàng năm, kế hoạch ngắn hạn, dài hạn theo các nội dung, chương trình của Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT. Bám sát kế hoạch, nội dung, chương trình của cấp trên nếu có thay đổi để áp dụng vào tình hình thực tế của trường và điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp, kế hoạch cần phải được bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện.
  • Việc lập kế hoạch bồi dưỡng GV là thực hiện hệ thống mục tiêu bồi dưỡng tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài lực), thời gian và không gian cần thiết cho việc hoàn thành mục tiêu. Như vậy để có phương án lập kế hoạch bồi dưỡng GV tốt nhất, việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch hiệu trưởng cần quan tâm dự báo tốt đến sự phát triển đội ngũ GV của trường trong một thời gian nhất định, phân tích mọi điều thuận lợi và khó khăn của trường. Khi dự báo, hiệu trưởng cần lưu ý đến đối tượng chưa đạt chuẩn nghề nghiệp (vì còn vài GV còn trong độ tuổi phải đi học đạt chuẩn) hoặc đối tượng có trình độ thấp nhất trong trường để cử bồi dưỡng trước, hiệu trưởng cũng cần quan tâm đến đối tượng GV nòng cốt của trường và GV có điều kiện học cao hơn (sau đại học).

Trong năm 2010, Phòng GD&ĐT Quận 3, TP.HCM đã xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục Quận 3 đến năm 2015, đã lập chương trình hành động đến năm 2020 và đã được UBND TP.HCM phê duyệt đồ án quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp Quận 3 đến năm 2020. Để đạt mục tiêu đề ra của ngành, hiệu trưởng phải bám sát kế hoạch và chương trình hành động của Phòng GD&ĐT với các chỉ tiêu cần đạt cả CBQL và GV như đã nêu trong phần 3.1.2, cần kết hợp nghiên cứu các văn bản chỉ đạo về bồi dưỡng để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho GV của trường mình, đồng thời nghiên cứu điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết để đảm bảo đạt được mục tiêu chung của ngành và của trường.

3.2.4. Biện pháp 4. Xây dựng và tăng cường các quy chế quản lý, hoạt động bồi dưỡng giáo viên Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Mục đích của biện pháp:

Quy chế quản lý, hoạt động bồi dưỡng GV trong trường là những quy định về nội dung công tác bồi dưỡng GV, những quy định đó được bàn bạc, thống nhất và được ghi cụ thể bằng những điều khoản nhằm quy định tối đa quyền lợi và trách nhiệm cá nhân và tổ chức trong trường để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng GV của trường cũng như công tác quản lý của hiệu trưởng.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

  • Trong quản lý nhà trường, để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch mục tiêu bồi dưỡng GV luôn được nghiêm túc, đầy đủ và đúng tiến độ thời gian quy định, hiệu trưởng cần xây dựng và lập quy chế quản lý và hoạt động bồi dưỡng GV. Do quy chế quy định những nội dung liên quan đến công tác bồi dưỡng cho GV mà hiệu trưởng là người tổ chức xây dựng và chịu trách nhiệm điều hành thực hiện. Vì vậy, quy chế cần phải được xây dựng chi tiết, rõ ràng, phân định trách nhiệm cụ thể từng cá nhân từ người đứng đầu cao nhất là hiệu trưởng đến từng GV và các thành phần liên quan nhằm đảm bảo đúng người đúng việc, không chồng chéo, không bỏ sót công việc trong thực hiện công tác bồi dưỡng GV.
  • Trước khi ban hành quy chế, hiệu trưởng cần phải vận dụng đầy đủ các căn cứ pháp lý quy định về bồi dưỡng GV, các chỉ tiêu cần đạt, các chế độ chính sách đối với GV tham gia bồi dưỡng rồi lập dự thảo, tổ chức bàn bạc, lấy ý kiến đóng góp của các cá nhân, đoàn thể trong trường, nhất là những cá nhân có liên quan đến việc tham gia bồi dưỡng và cá nhân tham gia hỗ trợ vì chính họ là người trực tiếp thực hiện.
  • Khi xây dựng quy chế bồi dưỡng GV, hiệu trưởng cần phải xác định chắc chắn mục tiêu cần đạt của công tác bồi dưỡng GV, xác định được các nguyên tắc bảo đảm thực hiện đúng quy định, quy định phạm vi điều chỉnh đối tượng liên quan, trình tự công tác tiến hành và các điều khoản thi hành.
  • Để xây dựng quy chế quản lý và hoạt động bồi dưỡng GV được chặt chẽ và có tính thực thi cao, việc thực hiện quy chế bồi dưỡng GV, hiệu trưởng phải quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân mà hiệu trưởng là người đầu tiên chịu trách nhiệm và tổ chức hoạt động trong nhà trường theo thẩm quyền từ lập kế hoạch đến quản lý điều hành, tổ chức thực hiện, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, phối hợp thực hiện… đến đề ra các biện pháp thực hiện và cuối cùng là phải có nhận xét đánh giá, sơ tổng kết rút kinh nghiệm. Quy chế phải quy định rõ trách nhiệm của GV là đối tượng tham gia bồi dưỡng từ thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của nhà giáo đến tham gia bồi dưỡng theo yêu cầu và kế hoạch đề ra.

Thực tế tại Quận 3 những năm gần đây cho thấy, các trường THCS đều có xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động trong nhà trường (theo Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 01/3/2000) và quy chế chi tiêu nội bộ trong nhà trường (theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005) của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước, Quy chế đánh giá, xếp loại HS THCS và HS THPT (Ban hành kèm theo Quyết định số 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/10/2006 của Bộ GD&ĐT), Điều lệ Trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)… Tuy nhiên về xây dựng quy chế quản lý, hoạt động bồi dưỡng GV, tác giả chưa thấy trường THCS nào tại Quận 3 thực hiện, chỉ thấy thực hiện bồi dưỡng GV bằng các kế hoạch lồng ghép vào kế hoạch chung hàng năm của hiệu trưởng. Vì vậy việc xây dựng quy chế quản lý, hoạt động bồi dưỡng GV là cần thiết vừa đảm bảo thực hiện kế hoạch đề ra vừa đảm bảo các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ đối tượng liên quan, nhất là đối với GV.

3.2.5. Biện pháp 5. Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chánh hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng GV THCS Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Mục đích của biện pháp:

Đảm bảo xây dựng các điều kiện CSVC, trang thiết bị trường học, phương tiện, đồ dùng dạy học và hỗ trợ nguồn tài chánh cho công tác bồi dưỡng GV là nhằm giúp cho công tác bồi dưỡng GV được thực hiện thuận lợi, đầy đủ, hiện đại, đồng thời giúp GV yên tâm thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng để mang lại kết quả cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Trong nội dung của Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ: Cơ sở vật chất – kỹ thuật và đồ dùng dạy học cần phải có kế hoạch cụ thể xây dựng đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học để thực hiện chương trình và phương pháp dạy học mới, trong đó sớm tổ chức các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm ở trường, tăng cường CSVC – kỹ thuật và đồ dùng dạy học trong hoạt động bồi dưỡng GV ở trường là những điều kiện, phương tiện thiết yếu đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng đem lại hiệu quả cao. Vì vậy:

  • Hiệu trưởng cần quan tâm đẩy mạnh đầu tư trang bị trang thiết bị máy móc hiện đại nhằm tăng cường ứng dụng CNTT trong dạy học và QLGD, tăng cường khai thác thông tin phục vụ dạy học. Tích cực áp dụng hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, họp, trao đổi công tác qua mạng Internet. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học bằng giáo án điện tử và sử dụng các văn bản điện tử trong hoạt động giáo dục và quản lý.
  • Hoạt động bồi dưỡng GV có những nét đặc thù riêng, do vậy, ngoài hệ thống CSVC thông thường, hiệu trưởng cần chú trọng trang bị hệ thống trang thiết bị phục vụ các lớp bồi dưỡng như: Hệ thống đèn chiếu, máy chiếu, video, màn hình, máy vi tính, các loại tài liệu băng – đĩa hình, các loại tranh, ảnh, giáo cụ trực quan, tăng cường xây dựng hệ thống các băng hình mẫu với các nội dung đa dạng, phong phú, phù hợp, thiết thực để nội dung chương trình bồi dưỡng sinh động, bổ ích, hứng thú tránh tình trạng bồi dưỡng GV “chay”. Đặc biệt trang bị hệ thống đường truyền qua Internet, việc này rất thích ứng loại hình bồi dưỡng từ xa cho GV vì việc mở trang Web trên mạng sẽ có ích cho việc tìm kiếm, chuyển tải các văn bản chỉ đạo, tài liệu tham khảo để tự tìm hiểu. Đây là giải pháp có giá trị về kinh tế và rất phù hợp với xu thế thời đại.
  • Không ngừng đầu tư, kêu gọi đầu tư xây dựng, sửa chữa trường lớp tạo môi trường giáo dục ngày ngày càng khang trang, văn minh, hiện đại, đáp ứng đầy đủ cho mọi hoạt động giáo dục ngày càng theo hướng chuẩn hoá, hiện đại, chất lượng cao, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới trong thời kỳ hội nhập khu vực và quốc tế. Đảm bảo thực hiện theo đúng đồ án đã được quy hoạch và được duyệt.
  • Để đảm bảo sử dụng hiệu quả trang thiết bị đầu tư, hiệu trưởng cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc sử dụng các trang thiết bị dạy học, tiếp tục hoàn thiện và khai thác hiệu quả các thiết bị dạy học, đầu tư xây dựng thư viện trường theo tiêu chuẩn.

Ngoài ra, hiệu trưởng cần có chính sách đầu tư ngân sách, quy định mức hỗ trợ kinh phí cho công tác bồi dưỡng GV, hỗ trợ kinh phí đi lại, lưu trú, thuê nhà ở theo chế độ hiện hành (nhất là đối với GV cốt cán thường xuyên được cử đi bồi dưỡng theo chương trình của Bộ và Sở GD&ĐT), cần có sự hỗ trợ kinh phí mua tài liệu học tập, tham khảo và mua vật liệu tự làm đồ dùng phục vụ cho học tập. Có chế độ và chính sách thi đua, khen thưởng thỏa đáng đối với GV có thành tích trong các kỳ bồi dưỡng GV. Mặt khác, hiệu trưởng còn phải tham mưu với các cấp lãnh đạo để xin ngân sách nhà nước hỗ trợ cho GV bồi dưỡng nhất là GV bồi dưỡng xa nhà.

3.2.6. Biện pháp 6. Huy động các nguồn lực hỗ trợ tham gia công tác bồi dưỡng GV THCS Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Mục đích của biện pháp:

Xây dựng đội ngũ GV vững mạnh là một trong những nội dung quản lý nguồn lực, nâng cao trình độ, năng lực sư phạm cho đội ngũ GV là cốt lõi xây dựng đội ngũ. Trong quản lý của hiệu trưởng, huy động các nguồn lực tham gia công tác bồi dưỡng GV là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài lực) nhằm đảm bảo tốt nhất phục vụ công tác bồi dưỡng cho GV.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Về nhân lực: Để huy động tốt nguồn nhân lực tham gia bồi dưỡng GV, hiệu trưởng cần quan tâm đến cán bộ giảng dạy tại các trường sư phạm, đội ngũ giảng viên là nòng cốt quyết định chất lượng của công tác bồi dưỡng cho GV, là những người tham gia vào việc thiết kế và cải tiến nội dung chương trình và trực tiếp chuyển tải nội dung bồi dưỡng vào đội ngũ GV thông qua phương pháp giảng dạy. Vì vậy, muốn cải tiến nội dung chương trình, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV THCS của trường mình thì cần quan tâm cử GV đến trường sư phạm để bồi dưỡng hoặc mời những giảng viên trường sư phạm về trường để tổ chức bồi dưỡng GV, đây là vấn đề mấu chốt căn bản nhất để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng GV.

Kế tiếp, những cán bộ chuyên viên chuyên môn cấp Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT là những người nắm bắt đầy đủ chủ trương giáo dục của Đảng, Nhà nước và chủ trương về đổi mới giáo dục và là những người quản lý chuyên môn ở cấp vĩ mô, hiệu trưởng cần quan tâm tìm các cơ hội và điều kiện có thể để mời những cán bộ chuyên gia này về trường tổ chức hội nghị chuyên đề, hoặc hội thảo, hoặc buổi tọa đàm cho GV có dịp được nắm bắt thêm về chủ trương quan điểm của Đảng, Nhà nước, những kinh nghiệm giáo dục do những cán bộ chuyên gia này truyền đạt nhằm giúp GV xác định rõ mục đích giáo dục để củng cố nhận thức của mình, đây là vấn đề vô cùng bổ ích để xác định đúng nhận thức làm động cơ phấn đấu học tập công tác của đội ngũ GV.

Tiếp theo, hiệu trưởng cũng cần quan tâm đến đối tượng những CBQL giỏi, cán bộ mạng lưới của ngành, GV giỏi cấp Quận và Thành phố, nên tạo điều kiện cho GV trường tham gia các chuyên đề của Quận hoặc mời những cán bộ mạng lưới và GV giỏi này về trường để báo cáo kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của họ để cho GV trường học hỏi. Thực hiện cách này sẽ giúp GV của trường có dịp tham khảo, tìm hiểu, so sánh và rút kinh nghiệm cho công tác, điều này sẽ tạo ra nhiều luồng thông tin tham khảo chuyên môn và là động lực tốt nhất để GV quyết tâm phấn đấu nhằm thi thố tài năng với các trường khác.

Vận dụng tốt lực lượng GV có kinh nghiệm tại chỗ là GV giỏi của trường. Vận động, khuyến khích hướng dẫn lẫn nhau giữa các GV trong trường. Đây là lực lượng nòng cốt của trường nhằm xây dựng đội ngũ bồi dưỡng tại chỗ, đặc biệt đối với GV mới thì chính những GV nòng cốt này là nguồn GV hướng dẫn tốt nhất tại trường. Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Luôn vận động và khuyến khích bằng nhiều hình thức cho chính GV tham gia bồi dưỡng để mỗi người phải nỗ lực phấn đấu tham gia học tập bồi dưỡng đạt kết quả tốt nhằm phục vụ tốt hơn nhiệm vụ của mình.

Về vật lực: Là sự quan tâm đầu tư CSVC cho trường nhằm phục vụ tốt cho công tác bồi dưỡng GV cũng như các hoạt động khác.

  • Hiệu trưởng cần quan tâm đẩy nhanh triển khai thực hiện tiến độ phát triển trường lớp theo hướng hiện đại và theo quy hoạch của Phòng GD&ĐT đã được Chủ tịch UBND Quận 3 phê duyệt (Quyết định số 718/QĐ-UBND ngày 21/7/2009 về phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết mạng lưới trường học trên địa bàn quận 3 đến năm 2020) nhằm thực hiện kiên cố hóa trường, lớp học theo Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
  • Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục, tăng cường huy động các nguồn lực phát triển giáo dục, các nguồn tài trợ hợp pháp để trang bị đầy đủ các trang thiết bị, CSVC tại trường (Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường) nhằm phục vụ các sinh hoạt chuyên môn: Hội thảo, xê-mi-na, các sinh hoạt chuyên đề ở cấp Quận, cấp trường và liên trường. Tăng cường mở rộng các hoạt động giao lưu, hội thảo chuyên đề bồi dưỡng GV, về công tác biên soạn tài liệu, bài giảng dùng cho bồi dưỡng GV… với các trường bạn.
  • Thực hiện kiểm tra, đánh giá về chất lượng và hiệu quả khai thác sử dụng thiết bị dạy học; tiếp tục hoàn thiện cơ chế và chính sách liên quan đến cung cấp và khai thác các thiết bị dạy học, đẩy mạnh phong trào tự làm và sử dụng thiết bị dạy học tại trường.

Về tài lực: Ngoài việc đầu tư kinh phí để mua sắm trang thiết bị CSVC – kỹ thuật và đồ dùng dạy học, hiệu trưởng cần quan tâm đến ngân sách đầu tư cho công tác xây dựng đội ngũ. Cần có những quy định mức hỗ trợ kinh phí cho GV THCS đi học bồi dưỡng phù hợp với sự cải tiến chế độ tiền lương hiện hành, tạo điều kiện cho GV tham gia bồi dưỡng được hỗ trợ kinh phí về nhiều mặt.

  • Ngoài những chính sách trên, hiệu trưởng cần có chế độ thi đua, khen thưởng thỏa đáng đối với những GV có thành tích tốt trong các kỳ bồi dưỡng. Đặc biệt quan tâm động viên, khen thưởng những GV có thành tích cao trong hoạt động bồi dưỡng và những GV có đề tài tự bồi dưỡng được đánh giá tốt.
  • Cần quản lý chặt chẽ các nguồn tài chánh, sử dụng đúng mục đích cho công tác bồi dưỡng tránh tình trạng tùy tiện lãng phí trong chi tiêu, cần công khai hóa và phổ biến rộng rãi trong toàn trường.
  • Để làm tốt công tác này, hiệu trưởng cần nắm bắt kế hoạch đào tạo bồi dưỡng của Phòng GD&ĐT một cách chặt chẽ, tham mưu các cấp lãnh đạo Quận có được hỗ trợ chính sách và kinh phí cho trường thực hiện công tác bồi dưỡng GV. Hiện nay tất cả các trường điều thực hiện quản lý tài chánh theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chánh đối với sự nghiệp công lập.

3.2.7. Biện pháp 7. Phối hợp các lực lượng tham gia công tác bồi dưỡng giáo viên Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Mục đích của biện pháp:

Phối hợp các lực lượng tham gia công tác bồi dưỡng GV là nhằm tranh thủ mọi nguồn nhân lực trong và ngoài trường, các ban ngành đoàn thể các cấp cùng tham gia công tác bồi dưỡng GV.

Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Quản lý công tác bồi dưỡng GV, là một hệ thống bao gồm các bộ phận, các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau, tương tác với nhau theo những quy luật nhất định, chính sự tương tác đó đã tạo nên tính toàn thể, đa dạng. Quá trình vận động trong mối quan hệ tương tác này đã tạo ra sự biến đổi, là điều kiện nảy sinh ra những yếu tố mới. Muốn tạo nên những yếu tố mới theo đúng mục tiêu đã định và hạn chế những bất lợi, các giải pháp quản lý đặt ra phải thường xuyên được cải tiến, đổi mới cho phù hợp. Cải tiến quản lý là vận dụng sáng tạo các chức năng quản lý vào công tác bồi dưỡng GV. Công việc này đòi hỏi liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều bộ phận và nhiều thành viên. Do vậy, việc cải tiến các giải pháp quản lý chỉ có thể tiến hành được khi xây dựng được cơ chế phối hợp trong quá trình quản lý công tác bồi dưỡng GV. Vì vậy, hoàn thiện cơ chế phối hợp quản lý để thực hiện công tác bồi dưỡng GV là vấn đề mấu chốt, là giải pháp có tính tác nghiệp kỹ thuật trong guồng máy quản lý công tác bồi dưỡng GV mà trước đây chưa thực hiện có hiệu quả.

  • Cụ thể, hiệu trưởng cần xây dựng quy chế phối hợp quản lý công tác bồi dưỡng GV, cần xác định cách thức tổ chức (sắp xếp, bố trí) và hoạt động phối hợp với nhau giữa các thành viên trong trường, giữa các bộ phận tham gia hoặc hỗ trợ công tác bồi dưỡng, phối hợp với các tổ chức cơ quan địa phương, các cơ quan giáo dục cùng tham gia hỗ trợ để tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng GV. Hiệu trưởng phải tích cực tham mưu cho Đảng, chính quyền các cấp, chủ động phối hợp với các cơ quan đơn vị, các tổ chức đoàn thể thực hiện các chương trình, kế hoạch bồi dưỡng cho GV.
  • Hiệu trưởng phải chủ động, tích cực đề xuất với các cấp có thẩm quyền những vấn đề có tính chiến lược cho phát triển giáo dục của trường. Phải bám sát thực tiễn, tìm tòi, phát hiện và nhân rộng mô hình tốt, giải quyết kịp thời dứt điểm những vướng mắc, phát sinh.

3.2.8. Biện pháp 8. Tổ chức sơ tổng kết, chia sẻ và rút kinh nghiệm

Mục đích của biện pháp:

Tổ chức sơ – tổng kết nhằm đánh giá lại quá trình thực hiện công tác quản lý bồi dưỡng GV, qua đó chia sẻ, rút kinh nghiệm những mặt nào được tổ chức quản lý tốt, mặt nào chưa tốt, đồng thời cũng là dịp để đánh giá bồi dưỡng GV, tuyên dương khen thưởng hoặc giúp đỡ họ phấn đấu vượt qua những khó khăn để tiếp tục tham gia bồi dưỡng phục vụ công tác.

Nội dung và cách thức tiến hành biện pháp:

  • Trong quá trình lập kế hoạch, triển khai thực hiện cho đến khi có kết quả bồi dưỡng GV, hiệu trưởng phải thu thập những thông tin về bồi dưỡng của GV để biết được GV tham gia bồi dưỡng như thế nào, kết quả đạt được ra sao.
  • Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng có đảm bảo tiến độ và đạt được yêu cầu đề ra hay không.
  • Thống kê toàn bộ quá trình chuẩn bị, tổ chức, triển khai, huy động các nguồn lực tham gia thực hiện.
  • Thực hiện tổ chức tuyên dương khen thưởng đối với các cá nhân, tập thể tham gia học tập, bồi dưỡng tốt, đồng thời rút kinh nghiệm điều chỉnh đối với cá nhân tham gia chưa đạt yêu cầu.
  • Tổ chức sơ tổng kết và rút kinh nghiệm để triển khai công tác bồi dưỡng tiếp theo được tốt hơn.

3.3. Tổ chức thực hiện các biện pháp Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Các biện pháp đề xuất trên có quan hệ biện chứng và hỗ trợ với nhau trong quá trình tương tác để tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh và thống nhất. Quản lý công tác bồi dưỡng GV của hiệu trưởng là một hệ công việc được vận hành trong mối quan hệ hữu cơ theo quy trình chặt chẽ. Do vậy, việc tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý cần được tiến hành đồng bộ và nhất quán. Khi thực hiện một biện pháp này thì phải đặt trong sự chi phối và hướng tới hỗ trợ cho việc thực hiện các biện pháp khác. Nếu độc lập hóa việc thực hiện bất kỳ một biện pháp nào đó thì chẳng những không có tác dụng tăng cường quản lý mà còn tạo khó khăn cho việc đem lại kết quả cho ngay chính biện pháp đó.

Trong quá trình quản lý, hoạt động bồi dưỡng GV đôi khi có những vấn đề nảy sinh không mong muốn làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng, nhưng cũng có những yếu tố thuận lợi được phát hiện có thể làm tăng hiệu quả công tác bồi dưỡng. Do vậy, các biện pháp nêu trên chỉ có tính độc lập tương đối trong quản lý. Bởi lẽ, mỗi biện pháp như vậy đều bao hàm những vấn đề rất cụ thể, có thể xem nội dung là một nhóm các biện pháp nhỏ:

  • Nhóm (3.2.1) là nhóm biện pháp nhận thức, ký hiệu chữ số ;
  • Nhóm (3.2.2), (3.2.3), (3.2.4) là nhóm biện pháp xây dựng – điều chỉnh, ký hiệu chữ số ‚, ƒ, „;
  • Nhóm (3.2.5) là nhóm biện pháp phát triển, ký hiệu số …;
  • Nhóm (3.2.6) là nhóm biện pháp huy động, ký hiệu chữ số †;
  • Nhóm (3.2.7) là nhóm biện pháp phối hợp, ký hiệu chữ số ‡;
  • Nhóm (3.2.8) là nhóm biện pháp chức năng, ký hiệu số ˆ.

Sơ đồ 3.2. Mối quan hệ giữa các biện pháp

Theo sơ đồ 3.2 trên, nói một cách tương đối, có thể coi biện pháp  là tâm điểm của hệ biện pháp. Các biện pháp khác hợp thành nhóm biện pháp tác nghiệp kỹ thuật luôn có mối quan hệ hỗ trợ với nhau và chịu ảnh hưởng chi phối của biện pháp . Tuy nhiên, tùy từng thời điểm và điều kiện cụ thể, mỗi biện pháp lại thể hiện tính chất, vai trò khác nhau, khi thì biện pháp này là cấp thiết và giữ vai trò then chốt, biện pháp khác có vai trò hỗ trợ và ngược lại.

3.4. Kiểm chứng sự nhận thức về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

3.4.1. Kiểm chứng sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên THCS trong giai đoạn hiện nay

Như trong chương 2 đã trình bày thực trạng về công tác quản lý bồi dưỡng GV THCS tại Quận 3 TP.HCM, tác giả đã tham khảo ý kiến 28 CBQL và 254 GV về một số nội dung cơ bản trong việc quản lý và thực hiện bồi dưỡng GV nhằm xác định tính thực tiễn, qua đó cần thiết phải tăng cường công tác quản lý bồi dưỡng GV thể hiện nhu cầu và nhiệm vụ chung của công tác nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cụ thể như:

  • Khi hỏi về “Mức độ quan tâm đến công tác bồi dưỡng GV như thế nào để nâng cao trình độ phục vụ công tác giảng dạy tốt hơn?” trong bảng khảo sát thì có 25/28 CBQL (89.3%) và 227/254 GV (89.4%) cho ý kiến là rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng GV.
  • Khi lấy ý kiến câu hỏi: “Với trình độ và kiến thức hiện có của GV hiện nay có đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy trong trường THCS hay không?”, nội dung này được 28/28 CBQL (100%) và 247/254 GV (97.2%) cho rằng đáp ứng tốt nhưng GV cần phải được bồi dưỡng thêm.
  • Về khảo sát “Mức độ đánh giá cần thiết GV phải bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm” thì có 28/28 CBQL (100%), 209/254 GV (82.3%) cho rằng GV cần thiết phải được bồi dưỡng.
  • Về lấy ý kiến cho rằng “GV có cần thiết phải đi học nâng chuẩn trình độ không?” thì có 27/28 CBQL (96.4%), 202/254 GV (79.4%) có ý kiến là GV cần thiết phải đi học nâng chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
  • Về lấy ý kiến “GV có cần thiết phải học tập nâng cao trình độ chính trị không?” có 27/28 CBQL (96.4%) và 191/254 GV (85.2%) cho rằng GV cần thiết phải đi học chính trị. Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3
  • Về khảo sát “Hình thức nào phù hợp để GV đi học và bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học?” Kết quả trả lời có 11/28 CBQL (39.3%), 51/254 GV (20.1%) chọn hình thức hiệu trưởng giới thiệu và đăng ký cho GV đến các trung tâm để học, có 04/28 CBQL (14.3%) và 44/254GV (17.3%) chọn hình thức yêu cầu GV tự đăng ký để học, có 01/28 CBQL (3.6%), 13/254 GV (5.1%) không ghi ý kiến. Tuy nhiên đáng ghi nhận nhất là có đến 12/28 CBQL (42.9%), 146/254 GV (57.5%) chọn hình thức hiệu trưởng nên tổ chức cho GV học tại trường với thời gian phù hợp.

Như vậy, nhìn tổng quát các nội dung khảo sát lấy ý kiến xác định tính cần thiết GV phải tham gia học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ chính trị, ngoại ngữ tin học để nâng cao chất lượng toàn diện GV. Kết quả, đa số CBQL và GV nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng GV, đa số ý kiến ủng hộ tính cần thiết với tỷ lệ cao, ngành GD&ĐT Quận 3, TP.HCM có kế hoạch chiến lược và chương trình hành động của ngành đề ra các chỉ tiêu phấn đấu về trình độ GV đến năm 2015 và đến năm 2020, khi đối chiếu chỉ tiêu cần đạt với sự ủng hộ tính cần thiết phải bồi dưỡng GV trong tình hình hiện nay và những năm tiếp theo, tác giả thấy sự cần thiết này là phù hợp để thực hiện kế hoạch chiến lược của Phòng GD&ĐT Quận 3.

Tuy nhiên, việc nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học, hiệu trưởng cần nghiên cứu thêm hình thức chọn lựa để GV học tập. Như kết quả số liệu khảo sát nêu trên với tỷ lệ 12/28 CBQL (42.9%), 146/254 GV (57.5%) chọn hình thức hiệu trưởng nên tổ chức cho GV học tại trường với thời gian phù hợp, là tỷ lệ cao nhất trong nội dung khảo sát được CBQL và GV chọn lựa nhiều nhất, đó cũng là thể hiện nguyện vọng chính đáng của GV. Để có cơ sở quan tâm đến nội dung này, tác giả đã tham khảo ý kiến thêm một số CBQL và GV khác (không phải đối tượng chọn mẫu) thì đa số cũng đồng tình với hình thức tổ chức cho GV học ngoại ngữ, tin học tại trường với điều kiện và thời gian phù hợp, vì nếu hiệu trưởng có kế hoạch tổ chức học tập bồi dưỡng ngoại ngữ và tin học tại trường thì có nhiều ưu điểm và thuận lợi hơn do hình thức học tập bồi dưỡng này vừa tập trung, vừa tạo bố trí thời gian phù hợp ở trường cho GV tham gia, với hình thức này GV có nhiều cơ hội trao đổi học tập lẫn nhau trong cùng một môi trường với đồng nghiệp, với hình thức này hiệu trưởng có thể quản lý được việc học của GV một cách chặt chẽ và hoàn thành kế hoạch nâng cao trình độ và chất lượng GV hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất trong giai đoạn hiện nay.

3.4.2. Kiểm chứng về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Với 8 nhóm biện pháp mà tác giả đã đề xuất là kết quả của quá trình lao động nghiên cứu của bản thân về lý luận và khảo sát, qua đó phân tích thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng GV THCS ở Quận 3, TP.HCM. Ngoài việc tác giả đã trình bày kết quả khảo sát được tổng hợp trong phần 3.3.1 nêu trên, để có căn cứ thêm vững chắc tác giả mạnh dạn đề xuất 8 biện pháp trên và cũng là cách để hạn chế tính chủ quan cá nhân, tác giả đã trưng cầu ý kiến độc lập của 11 hiệu trưởng trường THCS Quận 3, một số GV nòng cốt tại một số trường THCS tại Quận 3 (23 người), đại diện cán bộ mạng lưới chuyên môn thuộc ngành GD&ĐT Quận 3 (4 người), hiệu trưởng trường Bồi dưỡng giáo dục Quận 3 (1 người) và chuyên viên Phòng GD&ĐT Quận 3 (4 người), tổng số phiếu khảo sát là 43 phiếu. Kết quả thu lại được 100% số người và số phiếu trả lời đều ghi đầy đủ ý kiến vào các tiêu chí trưng cầu được ghi trong phiếu.

Từ bảng tổng hợp ý kiến đánh giá trong bảng 3.3 về mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp, tác giả đã nhận được những thông tin có giá trị (tỷ lệ đánh giá tích cực tham khảo thấp nhất là 81.4% và cao nhất là 95.3%) đồng tình là các biện pháp trên là cấp thiết và khả thi, trong đó biện pháp 1. “Nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng GV của CBQL và GV” được ủng hộ cao nhất (95.3% cho cả mức độ cấp thiết và khả thi), đây là điều quan trọng của mọi vấn đề yêu cầu về nhận thức đã được những người quan tâm nhất trí cao; kế đến là nội dung biện pháp 5. “Tăng cường các điều kiện CSVC, trang thiết bị, tài chánh hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng GV THCS” được đồng tình là 93% cho tính cấp thiết và 95.3% cho tính khả thi, đây là nội dung mà bất kỳ người CBQL nào, bất kỳ GV nào cũng mong muốn trường mình có được những điều kiện được đầu tư trang bị tốt nhất; kế đến là biện pháp 2. “Điều chỉnh mục tiêu, phát triển chương trình, đổi mới phương pháp, phương tiện và cải tiến các hình thức bồi dưỡng GV” được đánh giá là 90% cấp thiết và 93% khả thi, đây biện pháp trọng tâm về chuyên môn để mang lại chất lượng giáo dục như mong muốn.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, qua quá trình khảo sát toàn diện các mặt và các nội dung, dù không mong muốn nhưng tác giả cũng nhận được một số ý kiến kể cả từ CBQL đến GV, dù tác giả tôn trọng tính khách quan và trung thực của những người làm giáo dục tham gia khảo sát lấy ý kiến, nhưng tác giả vẫn nhận thấy có một tỷ lệ nhỏ CBQL và GV chưa thật sự quan tâm về những thông tin đến công tác này vì có luồng ý kiến như đã nêu trong chương 2 qua hầu hết các bảng khảo sát thể hiện không ý kiến, điều này cần lưu ý cho hiệu trưởng phải xem xét lại công tác quản lý của mình, cụ thể:

Thứ nhất: Hiệu trưởng cần phải tự xem xét và điều chỉnh trong công tác quản lý của mình, phải đổi mới công tác quản lý của mình một cách tích cực, khoa học để có thể quản lý tốt hơn đội ngũ GV trường mình, phải tạo cho được tập thể đội ngũ GV quan tâm hợp tác tốt hơn.

Thứ hai: Hiệu trưởng phải tập trung rà soát đội ngũ, đánh giá năng lực chuyên môn, kết quả giảng dạy, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và hoàn cảnh của GV nhất là những GV có năng lực và phẩm chất chưa đạt yêu cầu (bảng phụ lục 22) để tạo điều kiện giúp đỡ họ nâng cao nhận thức và phấn đấu thực hiện tốt hơn vai trò trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, hoặc nếu GV vẫn còn nhận thức yếu kém, tiếp tục không đạt yêu cầu về năng lực và phẩm chất thì có hướng đề xuất sắp xếp giải quyết phù hợp. Như vậy hiệu trưởng sẽ dần dần có được đội ngũ vừa tâm huyết có đầy đủ phẩm chất năng lực của một GV với đầy đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Kết luận chương 3 Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Giáo viên là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng của giáo dục. Lao động của GV hướng trực tiếp vào đào tạo con người đáp ứng nhu cầu của xã hội, lao động của GV nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Trong điều kiện đất nước còn nhiều thách thức, khó khăn, người GV buộc phải có những năng lực thích ứng với nhiệm vụ giảng dạy. Để có được năng lực thích ứng đó, người GV cần phải được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và cả đạo đức nghề nghiệp, họ phải được tạo mọi điều kiện để được học tập, bồi dưỡng, làm việc. Để giúp họ thì vai trò người hiệu trưởng trong nhà trường hết sức quan trọng.

Qua nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng GV, kết hợp những kết quả lấy ý kiến ở phần 3.4.1 và 3.4.2 tác giả cho rằng: Tăng cường công tác quản lý bồi dưỡng GV THCS trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết, những biện pháp mà tác giả đã đề xuất được phần lớn CBQL, GV và những nhà giáo dục có nhiều kinh nghiệm về chuyên môn đồng tình cho rằng sẽ thực hiện được và cần phải được quán triệt và làm ngay, đặc biệt với các chỉ tiêu cần đạt đối với CBQL và GV được nêu trong kế hoạch chiến lược của Phòng GD&ĐT Quận 3 đến năm 2015. Như vậy các biện pháp đề xuất trên nếu được hội đồng khoa học thẩm định chấp thuận, củng cố và góp ý thêm cho tác giả thì những biện pháp trên tác giả sẽ đề xuất áp dụng vào thực tế tại Quận 3, TP.HCM để nâng cao công tác quản lý bồi dưỡng GV nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV THCS ở Quận 3, TP.HCM trong thời gian tới.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn; từ kết quả nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp về công tác quản lý bồi dưỡng GV của hiệu trưởng các trường THCS Quận 3, TP.HCM, tác giả rút ra một số kết luận như sau:

1.1. Trong bối cảnh của nước ta đang đứng trước xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới và bùng nổ thông tin… GD&ĐT được Nghị quyết của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định là quốc sách hàng đầu [30] nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Muốn phát triển giáo dục, việc trước tiên là phải chăm lo xây dựng và củng cố đội ngũ GV vững vàng chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt và thông thạo các kỹ năng giáo dục, xử lý tốt các tình huống sư phạm. Nói như vậy để một lần nữa khẳng định vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người GV là vô cùng quan trọng, để đạt được chất lượng đội ngũ ngày càng tốt thì người GV phải được đặc biệt quan tâm bồi dưỡng nhiều mặt.

1.2. Tại Quận 3, TP.HCM, công tác bồi dưỡng cho đội ngũ GV THCS đã trải qua một chặng đường tương đối dài để giải quyết những bất cập về trình độ đào tạo do lịch sử để lại. Từ năm 2000 đến nay, Quận 3 được Bộ và Sở GD&ĐT TP.HCM chọn thực hiện dạy thí điểm chương trình thay sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học đã mang lại cho GV Quận 3 nhiều kinh nghiệm trong dạy học, việc bồi dưỡng chuẩn hóa GV đã được Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và hiệu trưởng các trường trong Quận quan tâm đẩy mạnh, GV không ngừng cố gắng học tập bồi dưỡng để đạt trình độ chuyên môn cao hơn, chất lượng giảng dạy ngày càng tốt hơn. Dù đến nay Quận 3 còn khoảng 1% GV THCS chưa đạt chuẩn theo chỉ đạo của ngành nhưng tỷ lệ GV có trình độ trên chuẩn khá cao (76,1%), đó cũng là kết quả của quá trình vận động phát triển đi lên của ngành giáo dục Quận đáng được ghi nhận.

1.3. Tuy nhiên, đến nay nhìn về góc độ toàn diện, chưa thể nói đội ngũ GV THCS Quận 3 là nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi vẫn còn hơn 10% GV chưa đạt yêu cầu tối thiểu trình độ tin học A để thực hiện áp dụng CNTT trong giảng dạy, tỷ lệ GV có chứng chỉ B trở lên cũng còn khá thấp, trình độ về ngoại ngữ và trình độ chính trị cũng còn thấp. Điều này cho thấy công tác quản lý của hiệu trưởng trong thời gian qua có quan tâm nhưng chưa đầy đủ để nâng chất lượng toàn diện GV. Việc sử dụng các quy định và biện pháp trong quản lý của hiệu trưởng chưa được kiên quyết đồng bộ, việc đầu tư trang bị CSVC và huy động mọi nguồn lực cho GV chưa được đầu tư phát huy hết hiệu quả. Đối với GV, tinh thần học tập nâng cao trình độ ở một bộ phận GV chưa được nhận thức sâu sắc, ý thức tự giác tự khắc phục khó khăn còn hạn chế, đời sống GV chưa được cải thiện tốt nên vẫn còn GV chưa yên tâm công tác.

1.4. Công tác bồi dưỡng GV hiện nay nói chung vẫn còn nặng tính hình thức, chưa thật sự tạo hứng thú cho GV tham gia, việc triển khai cấp Bộ, Sở chỉ tập trung một số nhỏ CB-GV được gọi là cốt cán với một thời gian ngắn. Thời gian bồi dưỡng chưa đủ thấm sâu để CB-GV cốt cán này có thể triển khai đại trà cho tất cả GV còn lại, đặc biệt việc bồi dưỡng GV thường chỉ triển khai chủ yếu trong dịp nghỉ hè, không xuyên suốt tạo cho GV tâm lý “đến hẹn lại lên” nên thiếu chủ động quan tâm.

1.5. Đời sống thực tế đội ngũ GV còn khó khăn nhiều mặt, các chế độ chính sách đãi ngộ, khuyến khích GV còn nhiều hạn chế, kinh phí dành cho học tập bồi dưỡng còn “nhỏ giọt” nên chưa thu hút GV. Điều quan trọng hiện nay với chính sách đãi ngộ giáo dục chưa hấp dẫn nên việc thu hút nhân tài tự nguyện tham gia phục vụ ngành giáo dục là điều chắc chắn còn khó khăn lâu dài.

1.6. Trong sự nghiệp phát triển GD&ĐT, đội ngũ CBQL nói chung và đội ngũ hiệu trưởng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng. Hiệu trưởng là nhân tố cơ bản và có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ của nhà trường. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao đòi hỏi người hiệu trưởng phải có nghiệp vụ quản lý, có trình độ chuyên môn và năng lực lãnh đạo cao. Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng GV THCS của hiệu trưởng trường THCS Quận 3, TP.HCM là điều cần thiết để thấy được mặt mạnh, mặt yếu của vấn đề và rút ra làm bài học kinh nghiệm, qua đó tìm biện pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của hiệu trưởng và nâng cao chất lượng GV. Với 8 biện pháp tác giả đề xuất trong chương 3 là kết quả của quá trình nghiên cứu khách quan và phản ánh đúng tình hình giáo dục Quận 3 kể từ năm 2005 đến nay, hy vọng những biện pháp đề xuất trên có thể áp dụng vào công tác quản lý tại Quận 3, đặc biệt là biện pháp 1, biện pháp 5 và biện pháp 2 là những nội dung được đánh giá là cấp thiết và có tính khả thi cao cần sớm được quan tâm đẩy mạnh.

2. Kiến nghị Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Từ những kết luận và mong muốn cho các biện pháp được quan tâm thực hiện hiệu quả trong công tác quản lý bồi dưỡng GV nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, đồng thời sau khi tham khảo những ý kiến đề xuất của CBQL và GV khi thực hiện tổng hợp phiếu khảo sát, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị sau:

2.1. Kiến nghị với lãnh đạo và chính quyền các cấp

Chúng ta đã có những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về công tác phát triển GD&ĐT, chúng ta có chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020 và tiền đề cho những năm tiếp theo. Vậy để giáo dục thật sự được xem là quốc sách hàng đầu thì rất cần sự quan tâm, tâm huyết của những nhà lãnh đạo các cấp từ Trung ương đến địa phương đối với sự nghiệp giáo dục nhằm tập trung chăm lo, đầu tư và thúc đẩy giáo dục phát triển.

Nhà nước, chính quyền địa phương cần tiếp tục nghiên cứu cải tiến chính sách ưu đãi, chính sách ưu tiên khuyến khích nhiều hơn nữa đối với giáo dục, đặc biệt là chế độ đảm bảo tiền lương GV đủ sống với nghề, các chế độ ưu đãi nghề nghiệp, các chế độ công tác và nguồn đầu tư trực tiếp cho GV tham gia bồi dưỡng, tăng cường đầu tư CSVC trường lớp khang trang hiện đại. Được như vậy, chúng ta mới có thể thu hút nhiều nhân tài (học sinh – sinh viên giỏi) tình nguyện tham gia phục vụ ngành giáo dục, chúng ta có thể đào tạo những nhân tài đó sớm trở thành những GV giỏi (nguồn nhân lực chất lượng cao) từ khi mới ra trường, và họ sẽ là lực lượng góp vào nguồn nhân lực có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu cao mà Đảng, Nhà nước và của ngành đặt ra nhiệm vụ trong thời gian tới, đồng thời với chế độ chính sách tốt cũng sẽ tạo sự an tâm đối với GV tâm huyết trong ngành để họ có thể toàn tâm, toàn lực phục vụ nghề nghiệp với kết quả lao động cao hơn. Mặt khác với chính sách tốt chúng ta có quyền đòi hỏi và đặt yêu cầu cao đối với GV về chất lượng dạy học và chất lượng của chính họ. Khi thực hiện nội dung này thì được biết, ngày 04/7/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2011/NĐ-CP “Quy định về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo”, có thể nói đây là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và là một tin vui cho tất cả nhà giáo có thâm niên công tác trong ngành.

2.2. Kiến nghị với lãnh đạo ngành các cấp Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

  • Cần sớm hoàn thiện và triển khai cụ thể chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước và phù hợp với từng địa phương như TP.HCM.
  • Nghiên cứu, xây dựng nội dung, chương trình đào tạo GV trong các trường sư phạm thiết thực hơn để GV mới khi ra trường có thể đáp ứng được ngay yêu cầu giáo dục trong các trường THCS.
  • Nghiên cứu, khảo sát, ban hành bổ sung cụ thể hơn các quy định về kế hoạch, nội dung, chương trình, hình thức bồi dưỡng GV làm sao cho đa dạng hơn, phong phú, hiện đại, phù hợp với từng địa phương, có thể xây dựng chương trình bồi dưỡng sao cho GV có thể tự bồi dưỡng mọi lúc mọi nơi nhằm đẩy mạnh nâng cao hiệu quả bồi dưỡng GV đáp ứng ngày càng cao của giáo dục.
  • Tham mưu với Đảng, Nhà nước phối hợp với các ban ngành đoàn thể quan tâm đầu tư ngày càng tốt hơn GD&ĐT, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để chăm lo cho sự nghiệp giáo dục nước nhà, nếu làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục sẽ tạo ra nhiều đột phá trong đổi mới quản lý và phát triển giáo dục.

Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM

  • Sở GD&ĐT TP.HCM cần đẩy mạnh thực hiện phát triển giáo dục của Thành phố giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến 2020, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015 của Sở GD&ĐT Thành phố về tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục nhằm tiến tới đổi mới toàn diện nhà trường và xây dựng nhà trường tiên tiến, chất lượng cao hội nhập quốc tế, trong đó phải có kế hoạch phát triển đội ngũ GV các quận, huyện.
  • Chỉ đạo, phối hợp với các trường Sư phạm đào tạo GV đảm bảo “đầu ra’’ có chất lượng nhằm đáp ứng ngay yêu cầu nhiệm vụ khi GV mới ra trường.
  • Nghiên cứu, xây dựng phong phú thêm nội dung, chương trình, hình thức bồi dưỡng GV hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương quận, huyện của Thành phố.
  • Quan tâm, tham mưu chính quyền Thành phố vận dụng tốt hơn các chế độ chính sách, đầu tư, ưu đãi cho công tác bồi dưỡng GV.
  • Chỉ đạo các Phòng GD&ĐT thực hiện tốt công tác phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.

Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 3

  • Do chức năng của Phòng GD&ĐT là quản lý và chỉ đạo trực tiếp các trường học và đơn vị trực thuộc trong quận thông qua hiệu trưởng, vì vậy hàng năm Phòng GD&ĐT phải quán triệt cho hiệu trưởng về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hưởng ứng các chủ đề giáo dục và các cuộc vận động của ngành, trong đó lưu ý những chủ trương về công tác bồi dưỡng GV.
  • Đẩy mạnh tổ chức các loại hình bồi dưỡng GV như những năm qua, đồng thời nghiên cứu thêm nhiều hình thức bồi dưỡng phong phú khác nhằm thu hút GV nhiệt tình hưởng ứng tham gia, giúp GV xem công tác bồi dưỡng trở thành một nhu cầu thật sự và thường xuyên cho chính bản thân mình.
  • Tham mưu cho lãnh đạo Quận ủy, UBND Quận 3, phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể, mạnh thường quân quan tâm hỗ trợ nhiều mặt cho GV tham gia học tập bồi dưỡng, có nhiều hình thức khuyến khích động viên khen thưởng cho những GV tích cực đi học tập bồi dưỡng đạt thành tích cao. Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3
  • Đề xuất với Bộ và Sở GD&ĐT TP.HCM những sáng kiến kinh nghiệm thực hiện bồi dưỡng hay, đồng thời nghiên cứu xây dựng thêm các chương trình bồi dưỡng thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế.
  • Triển khai thực hiện đề án phát triển mạng lưới giáo dục, kế hoạch phát triển giáo dục Quận 3 đến 2015 nâng cao tỷ lệ CBQL và GV có trình độ chuyên môn sau đại học, trình độ chính trị, tin học và ngoại ngữ trong giai đoạn đất nước hội nhập với các nước khu vực và quốc tế, đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng chuẩn của GV theo Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009. Triển khai chương trình hành động đến toàn ngành về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển GD&ĐT đến năm 2020.

Đối với hiệu trưởng trường THCS

  • Hiệu trưởng có vai trò rất quan trọng trong công tác bồi dưỡng GV, vì vậy người hiệu trưởng hơn ai hết phải nhận thức đầy đủ tinh thần “Đổi mới và tiếp tục đổi mới quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục”. Phải quán triệt đầy đủ mọi đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước cho chính bản thân mình và cho GV, đặc biệt về công tác bồi dưỡng GV.
  • Phải bám sát những chủ trương của ngành và những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội quận, lập kế hoạch và triển khai hiệu quả công tác bồi dưỡng, chuẩn hoá, nâng cao trình độ cho CBQL, GV để đạt chỉ tiêu bồi dưỡng theo kế hoạch của Phòng GD&ĐT Quận 3 giai đoạn đến năm 2015.
  • Hiệu trưởng phải nhạy bén nhận định tình hình, tận dụng khi có thời cơ thuận lợi, tranh thủ mọi nguồn lực chăm lo cho giáo dục và công tác bồi dưỡng GV, tạo ra mọi cơ hội cho GV học tập bồi dưỡng, luôn tác động tích cực để GV có ý thức việc bồi dưỡng vừa là yêu cầu bắt buộc trong việc nâng cao trình độ nghề nghiệp vừa là nhu cầu xác đáng tự giác bồi dưỡng.
  • Hiệu trưởng phải là người đầu tiên gương mẫu trong học tập, bồi dưỡng, hiệu trưởng phải luôn luôn thể hiện mình là tấm gương tham gia học tập suốt đời, thường xuyên trao dồi bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và phấn đấu để đạt Chuẩn hiệu trưởng theo quy định. Muốn thay đổi và nâng cao chất lượng giáo dục đầu tiên là phải thay đổi cách quản lý, muốn đổi mới phải đổi mới từ quản lý.

Đối với tổ trưởng bộ môn và giáo viên

  • Phải nâng cao nhận thức một cách sâu sắc về tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng GV, xem việc học tập bồi dưỡng vừa là quyền lợi và vừa là trách nhiệm của bản thân.
  • Phải rèn luyện để có tinh thần học hỏi cầu tiến, tự giác tham gia học tập bồi dưỡng với tinh thần và trách nhiệm cao.
  • Tranh thủ mọi cơ hội để tham gia học tập bồi dưỡng để tự nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp theo quy định cho chính mình.
  • Khắc phục mọi khó khăn để vừa tham gia bồi dưỡng vừa hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
  • Phải luôn là tấm gương “Tự học và sáng tạo” để học sinh noi theo.

Lời kết

Công tác quản lý bồi dưỡng GV tại Quận 3, TP.HCM đang là vấn đề đặt ra hết sức cần thiết nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng nhà giáo tại Quận, nếu luận văn nghiên cứu này được Hội đồng chấm luận văn góp ý bổ sung và thông qua, tác giả sẽ hoàn chỉnh tốt hơn nữa, đồng thời với chức năng nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực công tác được giao, tác giả cam kết sẽ quyết tâm thực hiện đề xuất tham mưu với các cấp lãnh đạo, Phòng GD&ĐT Quận 3 quan tâm tốt hơn nữa để đưa chất lượng đội ngũ GV Quận 3 TP.HCM đạt được các chỉ tiêu trọng yếu trong kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục THCS Quận 3 giai đoạn 2010-2015 cũng như đóng góp vào sự phát triển của Thành phố và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn 2011-2020.

Với tinh thần học hỏi, với kinh nghiệm còn ít ỏi của mình, tác giả rất mong nhận được những lời chỉ dạy, những kinh nghiệm quý báu áp dụng thành công từ quý Thầy, Cô và quý đồng nghiệp để tác giả có điều kiện học tập, bồi dưỡng và hoàn thiện tốt hơn nhằm phục vụ tốt công tác được giao của mình.

Xin chân thành cám ơn và kính chúc sức khỏe đến quý Thầy, Cô, qúy đồng nghiệp đã quan tâm và giúp đỡ tác giả thực hiện đề tài này. Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Bồi dưỡng giáo viên của các trường THCS quận 3

One thought on “Luận văn: Giải pháp tăng cường bồi dưỡng giáo viên quận 3

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên ở quận 3

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464