Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
II. Thực trạng quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
1. Về số lượng
Chủ trương CPH DNNN đã được thí điểm từ trước năm 1992, thực hiện từ năm 1993, được triển khai mạnh từ năm 1998 và đẩy mạnh hơn từ năm 2003.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đề ra phải rà soát và thu hẹp hơn nữa diện các DNNN giữ 100% vốn hoặc có Cổ phần chi phối, tập trung vào một số ngành và lĩnh vực then chốt thật sự cần có vai trò của kinh tế Nhà nước; đẩy mạnh CPH DNNN, mở rộng diện các DNNN CPH, kể cả những doanh nghiệp lớn và một số Tổng công ty kinh doanh có hiệu quả. Nhờ đó, tính đến nay, tổng số DNNN được sắp xếp là 5.366 doanh nghiệp, trong đó nhiều nhất là sắp xếp theo hình thức CPH được 3.756 DNNN, đặc biệt đã CPH nhiều DNNN quy mô lớn [49]. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Theo Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Chính phủ quyết tâm tiếp tục rà soát, sắp xếp lại DNNN. Đến cuối năm 2010, cả nước chỉ còn 745 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chỉ còn lại khoảng 60 tập đoàn, Tổng công ty do Nhà nước giữ Cổ phần chi phối [49].
Qua 15 năm thực hiện CPH DNNN, tính đến hết năm 2007, số lượng các DNNN CPH là 3.756, đạt 82,4% mục tiêu của kế hoạch CPH đến năm 2010. Số DNNN được CPH chiếm 17% tổng số vốn Nhà nước tại DNNN. Như vậy, có thể thấy rằng, CPH DNNN đã đạt được kết quả nhất định, tuy nhiên tốc độ CPH DNNN như vậy là chậm, còn không ít vướng mắc đang tồn tại cần giải quyết [46].
Năm 2007, cả nước đã triển khai sắp xếp được 257 doanh nghiệp, trong đó CPH 136 doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp được CPH tuy không nhiều nhưng chất lượng công tác CPH đã được nâng lên rõ rệt. Đã có nhiều DNNN lớn trong các ngành, lĩnh vực quan trọng như: Điện lực, Dầu khí, Tài chính-Ngân hàng,… được CPH. Đặc biệt, phải kể đến việc tiến hành CPH và phát hành lần đầu Cổ phiếu ra công chúng (IPO) của
Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam cùng với việc hình thành Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Việt Nam, IPO Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt đề án CPH Tổng công ty Rượu bia và Nước giải khát Hà Nội, Tổng công ty Rượu bia và Nước giải khát Sài Gòn. Với việc ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 187/2004/NĐ-CP trước đây về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty Cổ phần, cơ chế, chính sách CPH về cơ bản đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và theo cơ chế thị trường. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính trong việc kết hợp CPH với niêm yết trên thị trường chứng khoán. Cho đến nay có 250 Công ty niêm yết với giá trị vốn hoá thị trường đạt tới 20 tỷ USD, tương đương gần 40% GDP [24].
Về cơ chế sắp xếp, CPH DNNN được hoàn thiện, việc tổ chức thực hiện kế hoạch có lộ trình chặt chẽ đã thúc đẩy hoạt động sắp xếp, CPH doanh nghiệp. Đặc biệt, công tác bán Cổ phần lần đầu thông qua phương thức đấu giá đã tăng thu cho Nhà nước 5,6 lần so với mệnh giá và tăng 1,6 lần so với giá khởi điểm. CPH gắn với niêm yết đã tạo ra những Cổ phiếu có chất lượng cao cho thị trường chứng khoán [24].
Theo kế hoạch CPH các tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước đã được thủ tướng Chính phủ phê duyệt, số lượng tập đoàn, Tổng công ty thực hiện CPH trong giai đoạn 2007-2010 là 71, trong đó năm 2007 là 20, năm 2008 là 26, năm 2009 là 19 và năm 2010 là 6. Tuy nhiên, kế hoạch CPH 20 tập đoàn và Tổng công ty Nhà nước năm 2007 đã không thực hiện được. Ngoài tập đoàn Bảo Việt và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã hoàn thành CPH trong năm, nhiều doanh nghiệp được giới đầu tư quan tâm như: Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội, Tổng công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội phải chuyển tiếp sang năm 2008 để CPH cùng với những tên tuổi như: Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Hoá chất, Tổng công ty Xi măng,… là những đơn vị được CPH vào 2 năm cuối 2009 và 2010 [24].
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Về cơ cấu Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Thứ nhất, về cơ cấu vốn điều lệ hay cơ cấu sở hữu đã có những thay đổi đáng khích lệ. Cải cách DNNN, đặc biệt là CPH đã củng cố khu vực tư nhân và làm giảm nợ công, phần nào cải thiện được cơ cấu sở hữu trong các DNNN.
Từ năm 2001 đến hết năm 2005, nước ta đã thực hiện CPH 2.472 DNNN với khoảng 11% tổng số vốn của các DNNN. Tuy nhiên, sang năm 2006, chỉ có thêm 595 doanh nghiệp được CPH với tổng số vốn đạt 12%; còn năm 2007 thì chỉ CPH được vỏn vẹn 82 doanh nghiệp đưa tổng số vốn đã CPH lên 17%; đồng thời đưa tổng vốn Nhà nước ở doanh nghiệp CPH lên tới 29.766 tỷ đồng, bằng 42% tổng vốn Nhà nước của các doanh nghiệp đã CPH [36].
Theo Bộ Tài chính, tính đến tháng 8 năm 2007, tỷ lệ Cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã CPH như sau: nắm giữ Cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần 30% số doanh nghiệp. Xem xét cụ thể hơn có thể thấy, số vốn Nhà nước đã được CPH chỉ mới chiếm 12% và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%. Vì thế, số vốn mà Nhà nước CPH được bán ra ngoài mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%) .
Với cơ cấu vốn Nhà nước đã CPH như trên có thể thấy bức tranh CPH DNNN ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn khái niệm Cổ phần “chi phối” của Nhà nước.
Nhìn tổng thể, xét về đối tượng CPH thì so với quy định ban đầu, chúng ta đã bổ sung đối tượng CPH là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các Tổng công ty Nhà nước. Tuy vậy cho đến nay, 77% số doanh nghiệp đã CPH chỉ có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Riêng đối với loại doanh nghiệp CPH mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trong vốn điều lệ thì đều là doanh nghiệp nhỏ có vốn Nhà nước dưới 1 tỷ đồng và kinh doanh kém hiệu quả. Loại doanh nghiệp nhỏ này chiếm gần 30% số doanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện CPH [36].
Sự lựa chọn các doanh nghiệp thực hiện CPH như vậy đã làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương CPH; các DNNN chưa thể hiện được rõ những ưu thế của doanh nghiệp đã CPH so với những doanh nghiệp chưa CPH, chưa thực hiện được các mục tiêu CPH đề ra. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Thứ hai, về cơ cấu cổ đông, cổ đông trong các doanh nghiệp đã CPH là cán bộ, công nhân viên nắm 29,6% Cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp nắm 24,1% Cổ phần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% Cổ phần [35].
Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nước khó mua được lượng Cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ được mua số lượng Cổ phần hạn chế (mới có trên 20 Công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài). Các cổ đông chiến lược vì thế không có nhiều cơ hội để tham gia vào phát triển sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này làm cho các doanh nghiệp đã CPH rất khó hoạt động có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, khi nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
Bên cạnh đó, có tình trạng một số DNNN sau khi CPH đang dần chuyển hoá thành doanh nghiệp tư nhân do một số cổ đông đã bán, chuyển nhượng số Cổ phần của mình, hoặc làm trung gian thu gom Cổ phần cho tư nhân ngoài doanh nghiệp nắm giữ, có trường hợp đã nắm hơn 50% tổng giá trị Cổ phần danh nghĩa để trở thành chủ nhân đích thực của doanh nghiệp. Đây là điều trái với chủ trương CPH của Đảng và Nhà nước [46].
3. Về chất lượng
Thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp sau CPH DNNN cho thấy, khoảng 90% số doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh tốt hơn so với trước khi CPH, góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách Nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động [17].
Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DNNN, tổng số đơn vị được sắp xếp lên 5.366 doanh nghiệp, trong đó CPH 3.756 doanh nghiệp. Qua tổng hợp báo cáo của 1.616 doanh nghiệp có thời hoạt động sau CPH hơn 1 năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 58,6%; doanh thu tăng 48,2%; lợi nhuận tăng 331,8%; nộp ngân sách tăng 44,2%; thu nhập của người lao động tăng 51,8%; cổ tức đạt 13%. Tuy nhiên, có 109 doanh nghiệp thua lỗ (chiếm 7,1% số doanh nghiệp có báo cáo). Đáng lưu ý là số lượng doanh nghiệp được sắp xếp trong năm 2007 còn ít, chỉ bằng trên 17% phương án đã được duyệt [36].
Có được kết quả như vậy là do sau CPH, các doanh nghiệp có điều kiện gia tăng vốn đầu tư; đổi mới, hiện đại máy móc, trang thiết bị; tinh giản bộ máy quản lý, đổi mới cách thức điều hành,… nên đã nâng cao được chất lượng hàng hoá, dịch vụ; cải tiến mẫu mã; hạ giá thành,…. Với những ưu thế đó, các doanh nghiệp hình thành từ CPH DNNN không chỉ giữ được thị trường mà còn mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận. Trước thực tế đó, ở một số địa phương đã có những doanh nghiệp nếu theo đúng lộ trình thì chưa đến thời gian phải CPH nhưng đã xin CPH trước, hoặc có doanh nghiệp có thể được ưu tiên giữ lại là DNNN nhưng cũng xin được CPH và tiến hành CPH với thời gian ngắn nhất. Như vậy, có thể thấy rằng, doanh nghiệp hình thành từ CPH DNNN đi vào hoạt động có hiệu quả, sức cạnh tranh tăng đã góp phần nâng cao nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động về quá trình CPH DNNN.
III. Đánh giá thực trạng quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
1. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
CPH DNNN ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1992. Hơn 15 năm qua, trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dần sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, chương trình CPH đã có những thành tựu bước đầu. Tính từ năm 1992 đến hết năm 2006, cả nước đã CPH được 3.200 DNNN. Nhìn chung, DNNN đã giảm mạnh về số lượng. Cơ cấu DNNN đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng chỉ nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu. Đa số các doanh nghiệp sau khi CPH đều có tình hình tài chính tốt hơn so với trước đó. Các chỉ tiêu về doanh thu, năng suất lao động, tiền lương và đầu tư tài sản cố định đều tăng đáng kể [36].
Mặc dù đã đạt được một số tiến bộ nhất định như vậy song tiến trình CPH DNNN vẫn còn rất chậm trễ. Vấn đề đặt ra là làm sao để có thể đẩy mạnh vấn đề này trong thời gian tới? Để trả lời câu hỏi này trước hết chúng ta cần xem xét một số mặt thuận lợi và khó khăn đang đặt ra hiện nay.
1.1. Những thuận lợi Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Công tác CPH DNNN ở nước ta diễn ra khá thuận lợi do:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta nhận thức được tầm quan trọng của CPH nên đã đề ra và ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và kịp thời nhằm hiệu quả hoá công tác CPH DNNN. Trong đó, cần phải khẳng định tính đúng đắn của Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX một lần nữa khẳng định tính nhất quán của Đảng ta trong chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần; kiên quyết đẩy nhanh việc sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả DNNN, đã đề ra một số chủ trương giải pháp mới. Và sau khi có Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX, sự thống nhất trong tư tưởng, nhận thức của cán bộ, Đảng viên, công nhân viên và nhân dân lao động cao hơn trước. Đây là thuận lợi rất cơ bản trong thời gian tới. Ngoài ra, những kết quả đạt được của các doanh nghiệp sau khi CPH trong thời gian qua, cùng với hiệu quả trong việc thực thi Luật Doanh nghiệp cho thấy sự đa dạng hoá chủ sở hữu trong nền kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần đang là động lực thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ và cải thiện năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập thành công kinh tế quốc tế.
Thứ hai, tình hình Chính trị trong nước và quốc tế nhìn chung ổn định, an ninh và trật tự-an toàn xã hội được đảm bảo, tạo điều kiện tốt để tiến hành CPH DNNN.
Thứ ba, môi trường pháp lý đã được xác lập về cơ bản, đặt tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật. Nhiều Bộ Luật, Pháp lệnh và các văn bản dưới Luật lần lượt được ban hành như: Luật DNNN năm 1995, Luật DNNN năm 1999, Luật đầu tư nước ngoài,… đã tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất-kinh doanh.
Thứ tư, tình hình kinh tế-tài chính của đất nước có nhiều biến chuyển tích cực. Giá cả hàng hoá trên thị trường được duy trì ở trạng thái tương đối ổn định, lạm phát được kiềm chế ở mức độ thích hợp, đất nước về cơ bản đã thoát khỏi đói nghèo và khủng hoảng.
1.2. Những khó khăn Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Các doanh nghiệp quy mô lớn bán đấu giá và niêm yết trên thị trường chứng khoán đã cung cấp cho thị trường hàng hoá có chất lượng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thị trường vốn, đồng thời tăng cường sự kiểm soát của xã hội đối với hoạt động doanh nghiệp. Tuy nhiên, những khó khăn của công tác CPH DNNN là:
Khó khăn lớn nhất thuộc về vấn đề nhận thức tư tưởng, vấn đề hậu CPH chưa được quan tâm đúng mức, sự hiểu biết pháp luật về Công ty Cổ phần còn hạn chế. Các nhà quản lý lo ngại sự “chệch hướng xã hội chủ nghĩa”, nếu thúc đẩy nhanh quá trình CPH sẽ dẫn đến thu hẹp phạm vi của các DNNN, làm kinh tế Nhà nước bị suy yếu đi. Người lao động trong DNNN chưa hiểu rõ thực chất và nội dung quá trình CPH, e ngại sự xáo trộn có thể xảy ra khi CPH DNNN. Cán bộ lãnh đạo DNNN e ngại mất quyền và lợi liên quan đến cương vị nắm giữ, muốn tranh thủ sự bảo hộ và bao cấp của Nhà nước. Cán bộ cơ quan quản lý cấp trên e ngại mất đi “quyền lực” với DNNN và các lợi ích cá nhân cục bộ gắn với DNNN “trực thuộc”. Chính vì vậy, trong thực tế đã xảy ra hiện tượng “chạy trốn” CPH bằng nhiều cách khác nhau.
Thứ hai là những vướng mắc về cơ chế chính sách. Mặc dù các Nghị định, cơ chế, chính sách của Chính phủ đưa ra trong thời gian từ năm 1992 đến nay về vấn đề CPH đã được hoàn thiện, bổ sung theo hướng tạo ra những điều kiện rõ ràng và thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp tiến hành CPH; song, việc thực hiện trong thực tế vẫn còn những vướng mắc chưa hoàn toàn được tháo gỡ. Hơn nữa, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và lợi ích của người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại DNNN CPH chưa được quy định đầy đủ nên các hoạt động diễn ra còn lúng túng.
Trong khi các cơ chế tài chính cho việc chuyển đổi DNNN sang Công ty Cổ phần còn thiếu đồng bộ, nhiều điểm không phù hợp, chậm được sửa đổi bổ sung thì bản thân tài chính trong DNNN khi thực hiện CPH phần lớn còn thiếu lành mạnh, rõ ràng, công nợ nhiều Công ty không đối chiếu được, lỗ lãi không rõ ràng, không xác định được nguyên nhân.
Một loạt những vướng mắc mà sau khi DNNN chuyển đổi sang Cổ phần gặp phải như: vay vốn ngân hàng, chính sách cho cán bộ, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng,… làm cho Công ty Cổ phần bị phân biệt đối xử. Tình trạng này chậm được bổ sung sửa đổi đã làm giảm động lực cho các Công ty Cổ phần phát triển, vừa làm cho các cán bộ công nhân viên của các DNNN thuộc diện CPH lo lắng, thiếu quyết tâm. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Thủ tục, quy tắc CPH còn rườm rà, phức tạp, cứng nhắc, chưa gắn được với cải cách hành chính làm cho các doanh nghiệp, các Tổng công ty, thậm chí các bộ ngành, các tỉnh cũng rơi vào thế bị động. Từ quá trình xây dựng tới thực hiện đề án đều bộc lộ tình trạng chưa đi sát thực tế, thiếu sự kết hợp giữa các ngành và lãnh thổ, không ít nơi thiếu dân chủ bàn bạc với doanh nghiệp và người lao động, nhiều nơi cán bộ công chức còn gây phiền hà cho doanh nghiệp, thiếu thống nhất trong chỉ đạo thực hiện, còn e dè, lảng tránh và có cả hữu khuynh trong xử lý vấn đề.
Hiện nay, ngoài những vướng mắc nêu trên thì khi tiến hành CPH Tổng công ty và các Công ty có quy mô lớn, nhiều khó khăn mới đang đặt ra. Khung pháp lý đang cần được sửa đổi kịp thời. Chẳng hạn, phương pháp CPH không thể áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; vấn đề phát hành Cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán; vai trò của cổ đông thiểu số; của Nhà nước đối với Tổng công ty Cổ phần; xác định giá trị quyền sử dụng đất, thương hiệu, thương quyền,….
Nhìn một cách tổng quát thì các DNNN sau khi thực hiện CPH còn bộc lộ một số vấn đề sau:
- Nếu căn cứ vào số liệu về cơ cấu vốn Cổ phần thì thực chất vẫn là CPH khép kín, chưa thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, chưa thay đổi cơ bản được phương thức quản lý doanh nghiệp. Các mục tiêu CPH chưc được thực hiện đầy đủ. Nhiều đánh giá cho rằng, thực chất quá trình CPH vẫn nặng nề giải quyết chính sách, xử lý lao động, xử lý tài chính doanh nghiệp.
- Vốn Nhà nước được bán cho người lao động và cổ đông ngoài doanh nghiệp mới chỉ chiếm 8,2%, chủ yếu bằng hình thức bán bớt vốn Nhà nước và CPH các Công ty nhỏ, làm ăn kém hiệu quả. Nhìn tổng thể quá trình đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả của DNNN thì tính hấp dẫn của giải pháp CPH chưa cao, chưa được thay đổi về chất đối với Công ty Cổ phần mới được thành lập từ các DNNN trước đây [35].
- Trong cơ cấu Hội đồng quản trị, nhiều Công ty Cổ phần thuộc các tỉnh, người đại diện phần vốn Nhà nước lại là cán bộ, công chức Nhà nước. Trong khi đó, phần đông những cá nhân này có sự am hiểu về doanh nghiệp, trình độ quản trị kinh doanh trong cơ chế thị trường chưa được cập nhật nên tính mạo hiểm thấp, chủ yếu là lo “canh giữ” phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Đây thực chất là lực cản lớn trong việc phát huy tính năng động, sáng tạo, tìm giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp CPH.
- Một số khâu trong quá trình CPH dễ phát sinh tiêu cực, dễ bị lợi dụng như: đất đai, định giá tài sản doanh nghiệp, xoá nợ, lỗ, tiền chính sách của người lao động, bán Cổ phiếu ra ngoài doanh nghiệp,… đang để xảy ra quá nhiều sơ hở làm cho cán bộ, công nhân viên và nhân dân thiếu lòng tin, hoài nghi dẫn đến thiếu an tâm. Chưa kể nhiều nơi có biểu hiện ở cả hai thái cực: chính quyền vẫn tiếp tục can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp sau CPH; có nơi lại buông lỏng quản lý Nhà nước gây tâm lý không an tâm của người lao động.
Điều đáng quan tâm là những vấn đề trên không phải chỉ mới xuất hiện mà đã tồn tại từ nhiều năm trước đây. Sự chậm trễ trong việc giải quyết những vấn đề đó đã gây nên ảnh hưởng dây chuyền trong việc làm chậm trễ quá trình đổi mới và phát triển DNNN nói chung và nhiệm vụ CPH DNNN nói riêng. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có những chủ trương, giải pháp để đẩy nhanh tiến trình CPH trong thời gian tới.
2. Những thành công đạt được Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
CPH DNNN là một chủ trương lớn của Đảng, một nội dung cơ bản và quan trọng nhất của tiến trình đổi mới hệ thống DNNN. Hơn 10 năm qua, kể từ năm 1992 đến nay, CPH DNNN đã đem lại những kết quả rõ rệt. Cụ thể là:
Về vấn đề cơ cấu lại DNNN [29]:
Việc hoàn thành CPH 3.060 DNNN không chỉ đơn thuần là giảm được số lượng DNNN mà còn để DNNN có được bước cơ cấu lại quan trọng. Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, đã tập trung vào hơn 39 ngành, lĩnh vực then chốt của ngành kinh tế, trong đó nhiều ngành, lĩnh vực, DNNN cần chi phối để Nhà nước làm công cụ điều tiết vĩ mô.
Quy mô vốn của DNNN sau CPH cũng được tăng lên đáng kể. Vốn bình quân của một Công ty Cổ phần khoảng 24 tỷ đồng (năm 2001) đến năm 2004 đã tăng lên đến 63,6 tỷ đồng. Tỷ trọng các doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng giảm đáng kể và đến nay hầu như không còn Công ty Cổ phần có vốn Nhà nước dưới 1 tỷ đồng.
Tài chính doanh nghiệp được lành mạnh hoá hơn một bước thông qua việc cơ cấu lại các khoản nợ; xử lý tài sản là vật tư, hàng hoá ứ đọng, tồn kho lâu ngày, kém hoặc mất phẩm chất, máy móc thiết bị không dùng hạch toán vào chi phí hoạt động kinh doanh, giảm vốn Nhà nước hoặc bán cho Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp.
Lao động của Công ty Cổ phần được cơ cấu lại một bước. Tính đến 31/12/2004 đã có 654 doanh nghiệp được duyệt kinh phí giải quyết cho 27.674 lao động dôi dư với số tiền trợ cấp là 812,113 tỷ đồng, bình quân mỗi người được 30 triệu đồng.
Về việc huy động vốn xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh:
Trong quá trình CPH DNNN, vốn Nhà nước tại doanh nghiệp đã được đánh giá lại khách quan hơn, tiếp cận hơn với kinh tế thị trường. Mặt khác đã huy động được 12.411 tỷ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội vào doanh nghiệp để kinh doanh, đầu tư phát triển sản xuất. Đồng thời, Nhà nước cũng thu lại được 10.169 tỷ đồng để đầu tư vào các DNNN và sử dụng vào mục đích khác khuyến khích DNNN phát triển. Phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp CPH không những không bị giảm đi mà còn được bảo toàn và phát triển nhờ hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp CPH ngày càng tăng. Ở một số doanh nghiệp, tỷ trọng vốn Nhà nước giảm là do Nhà nước bán phần vốn Nhà nước trong Công ty Cổ phần hoặc Nhà nước không bổ sung thêm tiền để duy trì tỷ lệ vốn Nhà nước theo phương án CPH ban đầu khi Công ty Cổ phần phát hành thêm Cổ phiếu để tăng vốn điều lệ cho Công ty.
Trong quá trình hoạt động, các Công ty Cổ phần đã phát hành các loại Cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng để huy động vốn. Sự chuyển nhượng các loại Cổ phiếu và trái phiếu này trên thị trường chứng khoán đã tạo nên sự phân bổ linh hoạt các nguồn vốn xã hội. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh đa ngành, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài nước.
CPH thúc đẩy quá trình ra đời, hình thành và phát triển thị trường chứng khoán. Đến cuối năm 2004, đã có 26 Công ty Cổ phần hình thành từ CPH DNNN được niêm yết, mặc dù số lượng còn ít nhưng đây mới chỉ là kết quả ban đầu. Sự thành công và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc vào quá trình CPH DNNN. CPH đang ngày càng tạo ra nhiều hàng hoá đủ tiêu chuẩn và chất lượng cho hoạt động của thị trường chứng khoán. Ngược lại, thị trường chứng khoán được phát triển lại có tác động đẩy nhanh tiến độ và quy mô CPH.
Về cơ chế quản lý của Công ty sau CPH [13]:
Việc chuyển từ DNNN thành Công ty Cổ phần đã mang lại cho Công ty cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả, thích nghi với nền kinh tế thị trường. Nhờ CPH đã xác định rõ người chủ đích thực của doanh nghiệp-Công ty Cổ phần. Đó là các cổ đông, bao gồm Nhà nước, lao động-cổ đông trong doanh nghiệp và các cổ đông ngoài doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, hạch toán kinh tế thật sự.
Sau CPH, doanh nghiệp được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Theo cơ cấu có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban giám đốc Công ty. Có sự phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của chủ sở hữu và người sử dụng tài sản của Công ty trong kinh doanh. Mô hình tổ chức quản lý mới đã tạo thêm động lực và tính năng động trong sản xuất kinh doanh, đồng thời đã loại bỏ hoặc hạn chế về cơ bản những hiện tượng tiêu cực trong các hoạt động kinh doanh và quản lý. Công ty được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong đầu tư phát triển, phân phối lợi nhuận, sắp xếp tổ chức và bổ nhiệm cán bộ. Thực tế sau CPH, các Công ty đã và đang thực hiện nhiều biện pháp tiết kiệm trong kinh doanh và quản lý, đem lại hiệu quả rõ rệt. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Các chi phí gián tiếp, quản lý đã giảm được khoảng 25%, cá biệt có Công ty giảm 50% so với trước CPH. Nhiều Công ty Cổ phần đã tiến hành rà soát lại và xây dựng mới các nội quy hoạt động như: quy chế tài chính, quy chế lao động, tuyển dụng,…. Qua đó, CPH cũng góp phần đào tạo, rèn luyện, dần hình thành đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp thích nghi với cơ chế thị trường.
Về vai trò của người lao động trong doanh nghiệp:
Cổ phần đã tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ của doanh nghiệp. Chính sách CPH cho phép người lao động đang làm việc trong DNNN khi chuyển sang Công ty Cổ phần trở thành cổ đông. Người lao động-cổ đông là chủ thực sự phần vốn góp của mình, có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp một cách có hiệu quả bằng việc dự Đại hội cổ đông để thông qua điều lệ Công ty, bầu các thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, biểu quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông như: chiến lược kinh doanh, kế hoạch phát triển dài hạn và hàng năm, tăng giảm vốn điều lệ, đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất, phân chia lợi nhuận,…. Nhờ đó, họ nâng cao được tính chủ động, ý thức kỷ luật, tinh thần tự giác, tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho hiệu quả doanh nghiệp ngày càng tăng.
Việc kiểm tra, giám sát của người lao động-cổ đông và xã hội đối với Công ty Cổ phần, nhất là những Công ty niêm yết, thực sự có hiệu quả, tài chính của Công ty Cổ phần được minh bạch, công khai, cùng với những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông nói trên, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệp một cách đầy đủ và khá triệt để.
- Về hiệu quả sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH [36]: Nhìn chung, đại đa số các doanh nghiệp sau CPH hoạt động có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về tình hình doanh nghiệp của 850 DNNN hoàn thành CPH đã hoạt động trên một năm cho thấy các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả hơn theo tất cả các chỉ tiêu chủ yếu. Cụ thể là:
- Vốn điều lệ tăng bình quân 44%.
- Doanh thu tăng bình quân 23,6%, trong đó 71,4% số doanh nghiệp có doanh thu tăng.
- Lợi nhuận tăng bình quân 39,7%; trên 90% số doanh nghiệp sau khi Cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi.
- Nộp ngân sách tăng bình quân 24,9%, mặc dù các doanh nghiệp này được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất, tiền thu sử dụng vốn Nhà nước.
- Thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%.
- Số lao động bình quân tăng 6,6% do các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng việc làm.
- Cổ tức bình quân đạt 17,11%, cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi ngân hàng. Tính chung tới 71,4% số doanh nghiệp có cổ tức cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng.
Tóm lại, những kết quả đạt được nêu trên đã khẳng định chủ trương CPH DNNN của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. CPH là giải pháp cơ bản, là nội dung quan trọng và chủ yếu nhất của tiến trình sắp xếp, đổi mới và phát triển DNNN ở nước ta.
3. Một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
3.1. Một số vấn đề tồn tại
Trong hơn 15 năm vừa qua, khung pháp luật về CPH doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và pháp luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nên đã khắc phục được nhiều hạn chế, bất cập và đã có tác động tích cực đến tiến độ và chất lượng CPH Công ty Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của khu vực DNNN và thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay, CPH Công ty Nhà nước nói chung và nhất là CPH các doanh nghiệp quy mô lớn, Tổng công ty Nhà nước vẫn còn một số bất cập, hạn chế cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng :
Thứ nhất, quy mô CPH còn nhỏ, tốc độ chậm và còn nhiều bất cập. Hầu hết các DNNN được CPH trong thời gian qua là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số 3.756 doanh nghiệp đã được CPH, chỉ có khoảng hơn 20% là có quy mô vốn trên 10 tỷ đồng. Như vậy, rõ ràng là tình trạng độc quyền của Nhà nước trong quản trị doanh nghiệp về cơ bản vẫn chưa được xoá bỏ. Đây là nguyên nhân chính tiếp tục kìm hãm sức phát triển của nền kinh tế, làm giảm hiệu quả đầu tư.
Việc huy động vốn trong quá trình CPH DNNN còn hạn chế. Thời kỳ đầu, do chưa khuyến khích việc bán Cổ phần ra bên ngoài nên số vốn huy động ngoài xã hội vào sản xuất-kinh doanh chưa cao. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH.
Tiến trình CPH ở hầu hết các lĩnh vực then chốt, những Tổng công ty “đỉnh”, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng vẫn khá ỳ ạch. Kế hoạch CPH của nhiều Công ty, Tổng công ty lớn liên tiếp bị trì hoãn từ năm này qua năm khác với nhiều lý do khác nhau. Bên cạnh đó, CPH các Công ty “màu mỡ” hầu như vẫn là cuộc “độc diễn” của các đại gia, chưa có “đất” cho các nhà đầu tư đại chúng. Nói cách khác là có tình trạng CPH “khép kín” ở một số đơn vị.
Thứ hai, một bộ phận DNNN sau khi được CPH vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý, nghĩa là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Có tới gần 10% doanh nghiệp hậu CPH tiếp tục nằm trong tình trạng thua lỗ,….
Trong một số Công ty Cổ phần, người lao động-cổ đông do nhận thức chưa đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình và về pháp luật đối với Công ty Cổ phần nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy. Họ hầu như không có thực quyền trong việc kiểm soát phần vốn của mình cũng như trong việc thực thi đầy đủ các quyền cơ bản của cổ đông. Thực quyền chi phối doanh nghiệp nằm trong tay một số ít người có trách nhiệm và nắm được thông tin. Vì thế, xảy ra hiện tượng lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Nhiều Công ty Cổ phần nhiều năm không tiến hành Đại hội cổ đông, không công khai báo cáo tài chính,…. Ngược lại, có nơi lạm dụng quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Giám đốc. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý Công ty Cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng,… vẫn áp dụng như DNNN. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Thứ ba, chính sách và quy trình CPH ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa trên tư duy cũ. Chúng ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục “đổi mới tư duy kinh tế” khi chuyển sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã CPH đều tồn tại nhiều vấn đề: việc giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi CPH còn nhiều bất cập như: xác định giá trị doanh nghiệp để CPH chưa đúng, gây thất thoát và lãng phí tài sản Nhà nước. Việc xác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau: trong giai đoạn chưa có Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 11/6/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty Nhà nước thành Công ty Cổ phần, việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận, dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp nên phần lớn Cổ phần rơi vào tay một nhóm người. Trong giai đoạn sau khi có Nghị định số 187/2004/NĐ-CP: sự thất thoát tài sản Nhà nước đã được hạn chế nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty Cổ phần để thay thế Nghị định số 187/2004/NĐ-CP.
Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng cũng còn nhiều khó khăn. Bởi khi CPH, vì một lý do nào đó, các khoản nợ của DNNN được CPH không được bàn giao cho Công ty Cổ phần tại thời điểm CPH thì sau khi đã chuyển thành Công ty Cổ phần, ngân hàng rất khó thực hiện thu hồi khoản nợ này do không xác định được ai phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ. DNNN thì đến thời điểm đó không còn tồn tại, trong khi Công ty Cổ phần lại không chịu nhận trách nhiệm do không được bàn giao. Hơn nữa, việc xử lý nợ xấu mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính. Tính đến ngày 31/12/2005, dư nợ cho vay đối với các Công ty Cổ phần vào khoảng 51.603 tỷ đồng.
Thứ tư, chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp do các tổ chức định giá xác định giá trị doanh nghiệp chưa sát với thị trường, làm hạn chế sự thành công của các phiên đấu giá Cổ phần qua các trung tâm giao dịch chứng khoán. Bên cạnh đó, các tổ chức tư vấn chưa gắn kết hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn xây dựng phương án CPH, bán đấu giá Cổ phần và niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán với nhau. Hiện nay, các tổ chức tư vấn chủ yếu chỉ thực hiện nghiệp vụ định giá, tư vấn CPH, còn quá trình sau CPH thuộc về doanh nghiệp trong khi khả năng của doanh nghiệp lại rất hạn chế đối với quá trình này và bản thân lãnh đạo các doanh nghiệp cũng chưa được cập nhật kiến thức về thị trường chứng khoán. Quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán Cổ phần.
Mặt khác, trên thị trường chứng khoán, việc rò rỉ thông tin từ những nhân vật có trách nhiệm của các Công ty sắp niêm yết đang trở thành một vấn nạn nhức nhối. Hiện tượng “làm giá” đối với các chứng khoán đang và sắp niêm yết cũng là một vấn đề. Thực trạng đó đòi hỏi phải gióng lên một hồi chuông về quy chuẩn đạo đức cho thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như phải tiếp tục hoàn thiện các chế tài quản lý.
Thứ năm, quy trình CPH (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian CPH. Bình quân thời gian để thực hiện CPH một doanh nghiệp mất khoảng 260 ngày. Sau khi CPH, nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý Nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn Nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%.
Như vậy, DNNN do chế độ công hữu hoá xã hội chủ nghĩa trước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường.
Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân.
3.2. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do nhận thức về chủ trương CPH DNNN chưa thống nhất nên các đơn vị còn thiếu quyết tâm. Vẫn còn tình trạng chưa chấp hành nghiêm quyết định của Nhà nước, chưa tích cực, kiên quyết trong tổ chức thực hiện; chưa chú trọng đúng mức CPH DNNN không cần giữ 100% vốn.
Về chính sách CPH, xét cả quá trình thì có những quy định ban hành chậm, thiếu đồng bộ, hoặc thay đổi, bổ sung nhiều lần gây khó khăn, vướng mắc trong thực hiện CPH. Quy trình CPH còn phức tạp, một số nội dung chưa cụ thể, thủ tục rườm rà như: xác định giá trị doanh nghiệp nói chung và xác định giá trị quyền sử dụng đất nói riêng, trình tự, thủ tục chuyển giao quyền sử dụng đất; xác lập quyền sở hữu tài sản cho Công ty Cổ phần; xử lý công nợ các tổ chức tín dụng Nhà nước; tiêu chuẩn và phương pháp cụ thể xác định giá trị thương hiệu, giá trị tiềm năng, lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp; tiêu chí xác định cổ đông chiến lược,….
Chưa chủ động xử lý dứt điểm các tồn đọng trước khi CPH. Các ngân hàng không muốn chuyển nợ vay thành vốn góp. Nhiều khoản nợ không hấp dẫn Công ty mua bán nợ mua theo giá thoả thuận. Các tổ chức tài chính trung gian, các định chế tài chính chưa đóng vai trò là “nhà môi giới” để đưa Cổ phần các doanh nghiệp đến với các nhà đầu tư. Công tác giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các đề án CPH đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chưa thường xuyên, thiếu kiên quyết,….
Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong chỉ đạo, hướng dẫn CPH, giải quyết tồn tại về tài chính, về quyền sử dụng đất đai,… còn thiếu đồng bộ và chưa kịp thời.
Vốn Nhà nước trong các DNNN đã CPH còn quá nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình CPH chưa nhiều.
Kết quả CPH cho thấy, mặc dù đã CPH được khoảng trên 60% số DNNN (tính đến hết năm 2004) song số vốn Nhà nước được CPH còn quá nhỏ bé, mới được 17,7 ngàn tỷ đồng, bằng 8,2% tổng số vốn Nhà nước tại các DNNN. Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn quá cao trong tổng vốn điều lệ các doanh nghiệp đã được CPH, bình quân tới 46,5%. Trong khi đó tỷ lệ vốn này của lao động-cổ đông trong doanh nghiệp và của các cổ đông ngoài doanh nghiệp thì thấp, tương ứng là 38,1% và 15,4%. Hầu hết số DNNN được CPH là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà vốn Nhà nước thường tập trung ở các doanh nghiệp lớn.
Nhà nước cũng còn nắm giữ Cổ phần chi phối ở gần 80% tổng số Công ty Cổ phần và nắm giữ 100% vốn tại 1.200 DNNN. Điều này cho thấy, Nhà nước vẫn còn đầu tư tràn lan, dàn trải ra phần lớn các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế. Đồng thời, tình trạng này cũng hạn chế việc mua Cổ phần tham gia đầu tư của công nhân viên trong doanh nghiệp, đặc biệt là của các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp ở trong nước và những nhà đầu tư nước ngoài [35]. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
Việc đa dạng hoá sở hữu trong CPH còn hạn chế.
Điều này thể hiện ở tỷ lệ vốn của Nhà nước trong tổng vốn điều lệ còn lớn. Nhiều doanh nghiệp thuộc diện không cần giữ Cổ phần chi phối nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ. Nhiều người lao động trong doanh nghiệp chưa đủ khả năng mua Cổ phần với số lượng lớn ngoài số lượng Cổ phần ưu đãi. Trong khi đó, không ít người lao động không những không mua Cổ phần lại bán Cổ phần ưu đãi ngay sau khi mua. Việc thu hút Cổ đông ngoài doanh nghiệp cũng chưa được nhiều (mới chỉ đạt 15,4% vốn điều lệ) và chưa rộng rãi; các cổ đông chiến lược vì thế cũng không có nhiều cơ hội để trở thành những người chủ có vai trò nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp thực hiện CPH “khép kín”, có tới 860 doanh nghiệp (38,4%) không có Cổ phần bán ra ngoài doanh nghiệp. Ở một số nơi có hiện tượng định giá doanh nghiệp thấp hơn so với giá trị trường gây thất thoát tài sản của Nhà nước.
Việc cơ cấu lại DNNN chưa được thực hiện triệt để theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX và chương trình hành động của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều doanh nghiệp thuộc diện CPH nhưng vẫn chưa tiến hành, lộ trình CPH ở nhiều bộ, địa phương, Tổng công ty Nhà nước không đảm bảo. Ở nhiều bộ, địa phương, DNNN vẫn còn dàn trải. Tỷ trọng DNNN có vốn dưới 5 tỷ đồng tuy có giảm nhưng vẫn còn quá cao. Tài chính doanh nghiệp còn nhiều tồn tại và lao động dôi dư vẫn đang tiếp tục là trở ngại không nhỏ đối với việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN [13].
Các DNNN sau CPH chưa có sự đổi mới, chuyển biến thực sự.
Đây là điểm hạn chế nổi bật trong quản lý doanh nghiệp sau CPH. Phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn tiếp tục duy trì như khi còn là DNNN. Điều này thường tồn tại ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ Cổ phần quá lớn (trên 70%) và chi phối; chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc và các cán bộ quản lý khác đều từ DNNN trước đó chuyển sang; đồng thời sự hiểu biết, nắm vững và áp dụng pháp luật Công ty Cổ phần, quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cổ đông còn hạn chế. Những thông lệ quản trị doanh nghiệp tốt chưa được áp dụng nhiều trong các Công ty Cổ phần, điều lệ bắt buộc đối với các Công ty niêm yết trên thực tế cũng mới chỉ có tính chất tham khảo. Các Công ty Cổ phần chưa được khuyến khích mạnh mẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Trong một số Công ty Cổ phần, người lao động-cổ đông chưa nhận thức đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình và về pháp luật đối với Công ty Cổ phần nên có chỗ quyền làm chủ chưa được phát huy đầy đủ. Ngược lại, ở những
Công ty khác, những quy định của pháp luật lại bị lạm dụng quá mức, gây khó khăn cho quản lý của Hội đồng quản trị, điều hành của Giám đốc và đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn bế tắc, việc xử lý kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình CPH. Về pháp lý, cổ đông thiểu số cũng chưa có được những hế định bảo vệ đúng mức nên vai trò còn mờ nhạt. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý Công ty Cổ phần vẫn chưa được thay đổi mà phần lớn các Công ty vẫn áp dụng như DNNN.
Một số Công ty Cổ phần có kết quả kinh doanh thấp, giảm so với trước khi CPH.
Những Công ty này là những Công ty hoạt động trong những ngành, lĩnh vực điều kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, chi phí kinh doanh cao hơn mức trung bình. Cụ thể trong đó có 28,6% số doanh nghiệp có doanh thu giảm; 10% số doanh nghiệp bị thua lỗ; 42% số doanh nghiệp có số nộp ngân sách giảm so với trước khi CPH. Nhiều doanh nghiệp có số lao động giảm, chủ yếu là do doanh nghiệp được giải quyết lao động dôi dư, sắp xếp lại lao động, tinh giảm biên chế [46].
Như vậy, theo đánh giá chung, qua hơn 15 năm tiến hành, CPH DNNN đã được triển khai thực hiện đúng hướng, đường lối của Đảng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Nó đã làm thay đổi bộ mặt của các DNNN, góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong các DNNN tiến hành CPH. Tuy nhiên, bên cạnh đó, trong CPH cũng có nhiều tồn tại, đòi hỏi phải có những chủ trương, giải pháp phù hợp để đẩy nhanh trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng Cổ phần hoá các doanh nghiệp Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các DN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam