Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chiến lược đa dạng hoá hoạt động của sản xuất kinh doanh của tập đoàn bưu chính viễn thông quốc gia Việt Nam (VNPT) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Giới thiệu chung về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT

1. Quá trình hình thành và phát triển

Tiền thân của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ngày nay là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam được thành lập ngày 29/4/1995 theo quyết định số 249/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam được thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, sản xuất, lưu thông và sự nghiệp về Bưu chính Viễn thông Việt Nam, thuộc Tổng cục Bưu điện.

Ngày 26/03/2006, Thủ tướng chính phủ ra quyết định 06/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) – một mô hình được kỳ vọng sẽ làm cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, có khả năng cạnh tranh cao trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, có sự tham gia sâu rộng của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông được xác định là một tổ hợp kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, đa sở hữu trong đó sở hữu Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh doanh đa lĩnh vực trong đó lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin giữ vai trò nòng cốt. VNPT là công ty nhà nước, hạch toán kinh tế một cách độc lập, có tư cách pháp nhân, con dấu và biểu tượng riêng.

Tên đầy đủ: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Tên giao dịch quốc tế:  Vietnam Posts and Telecommunications Group (VNPT).

Trụ sở chính: Tầng 10 OCEAN PARK, số 1 Đào Duy Anh, Đống Đa, Hà Nội.

Vốn điều lệ: (tại thời điểm 01/01/2006) 36.955.000.000.000

Trong những năm qua, Tập đoàn đã góp phần to lớn vào thành quả phát triển của ngành Bưu điện. VNPT đã phát triển mạng lưới Bưu chính Viễn thông rộng khắp cả nước và nối mạng Bưu chính Viễn thông quốc tế, các loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng với tinh thần nhanh chóng hiện đại hoá thông tin liên lạc theo hướng số hoá. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đã mạnh dạn thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đưa thẳng thiết bị kĩ thuật số vào Bưu chính Viễn thông, lấy Viễn thông quốc tế làm bước đột phá, nhằm đưa trình độ Bưu chính Viễn thông Việt Nam tương xứng với trình độ công nghệ Bưu chính Viễn thông thế giới, nhanh chóng hoà mạng Bưu chính Viễn thông quốc tế.

2. Ngành nghề kinh doanh

VNPT có nhiệm vụ kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch và chính sách của Nhà nước, bao gồm trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp khác trong các ngành, nghề lĩnh vực sau:

  • Dịch vụ viễn thông đường trục
  • Dịch vụ viễn thông- Công nghệ thông tin (CNTT)
  • Dịch vụ truyền thông; quảng cáo
  • Khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt, bảo dưỡng các công trình viễn thông và CNTT
  • Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư, thiết bị viễn thông và CNTT
  • Dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng
  • Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng
  • Các ngành, nghề khác theo quy định của pháp luật

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

3. Cơ cấu tổ chức Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

3.1. Cơ cấu tổ chức Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Công ty mẹ)

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Công ty mẹ) là công ty Nhà nước do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật đối với công ty Nhà nước.

Hình 2: Cơ cấu tổ chức Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Cơ quan quản lý và điều hành Tập đoàn: gồm có:

Hội đồng quản trị: Là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại Tập đoàn và Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam cùng các đơn vị thành viên do Tập đoàn sở hữu 100% vốn điều lệ. Hội đồng quản trị gồm 09 thành viên do Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật.

Ban kiểm soát: là cơ quan giúp Hội đồng quản trị kiểm tra và giám sát việc tuân thủ pháp luật và quy định của Tập đoàn; tính hợp pháp, các hoạt động của Tập đoàn, các quyết định của Hội đồng quản trị.

Tổng giám đốc: người đại diện theo pháp luật của Tập đoàn, điều hành hoạt động hàng ngày của Tập đoàn theo mục tiêu, kế hoạch và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị. Tổng giám đốc là ủy viên Hội đồng quản trị, do Hội đồn quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản.

  • Ngoài ra, dưới Tổng giám đốc còn có các Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng.
  • Văn phòng Tập đoàn: là đơn vị hành chính tổng hợp, có chức năng phục vụ cho Hội đồng quản trị trong công tác quản lý, phục vụ cho Tổng giám đốc trong công tác điều hành. Văn phòng Tập đoàn là đơn vị kế hoạch được mở tài khoản tại Ngân hàng và dùng con dấu theo tên gọi “Văn phòng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam” để giao dịch.
  • Các cơ quan tham mưu, điều hành trực thuộc Tổng giám đốc: là các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ, thừa ủy nhiệm Tổng giám đốc trực tiếp điều hành theo từng lĩnh vực cụ thể thuộc chức năng nhiệm vụ được phân giao, được gọi chung là Ban kèm theo tên gọi gắn liền chức năng nhiệm vụ chính. Tập đoàn gồm có 09 Ban tham mưu.
  • Trung tâm Thông tin và quan hệ công chúng (PR): là đơn vị hạch toán phụ thuộc có chức năng thực hiện về công tác thông tin, tuyên truyền, quản lý và thực hiện hoạt động công chúng của Tập đoàn và các đơn vị thành viên.
  • Trung tâm Nghiên cứu – Phát triển (R&D) : là đơn vị hạch toán phụ thuộc có chức năng nghiên cứu và phát triển về chiến lược kinh doanh, đầu tư tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực.
  • Bộ phận quản lý, khai thác mạng viễn thông đường trục: là đơn vị hạch toán phụ thuộc, có chức năng tổ chức, xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác mạng lưới dịch vụ viễn thông liên tỉnh và quốc tế. Bộ phận này có địa bàn hoạt động trong nước và quốc tế, được tổ chức thành Công ty Viễn thông liên tỉnh (VTN) và Công ty Viễn thông quốc tế (VTI).

3.2. Các công ty thành viên

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con bao gồm như hình vẽ sau:

II. Phân tích môi trường kinh doanh và nội bộ Tập đoàn Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

1. Môi trường vĩ mô

1.1. Các yếu tố về kinh tế

Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng tới thành công và chiến lược của một doanh nghiệp8. Trải qua nhiều thời kỳ, các yếu tố về kinh tế có tác động khác nhau tới hoạt động sản xuất kinh doanh của VNPT.

Năm 1995, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam được thành lập theo mô hình Tổng công ty 91 trên cơ sở sắp xếp lại Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông trực thuộc Bộ Giao thông vận tải – Bưu điện. Giai đoạn năm 1995 – 1996 là giai đoạn có nhiều chuyển biến tích cực khi tư duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chính sách kinh tế và đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã bắt đầu có xu hướng ưu tiên phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn này vẫn không đáng kể vì vậy đối thủ cạnh tranh của VNPT vẫn gần như không có. Nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn và bước vào thời kỳ phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/năm, đạt mức cao nhất trong chu kỳ là 9,5% năm 1994, thất nghiệp chỉ còn 5,8%. Lạm phát giảm dần xuống chỉ còn có một con số. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần của khu vực nông, lâm ngư nghiệp. Trong giai đoạn này, Tổng công ty đã được chuyển thành trực thuộc Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho VNPT mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Giai đoạn 1997 – 1998 là giai đoạn đầy khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á và ảnh hưởng nặng nề của thiên tai. Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục suy giảm: năm 1997 đạt 8,15%; năm 1998 chỉ còn 5,83% và năm 1999 chỉ đạt 4,8%. Lạm phát cũng bắt đầu tăng trở lại : 3,5% năm 1997, 3,7% năm 1998 và lên tới 4,5% năm 1999. Điều này có tác động không nhỏ tới các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty, nền kinh tế phát triển chậm lại khiến cho nhu cầu của người dân về dịch vụ Bưu chính Viễn thông giảm sút. Hầu như trong khoảng thời gian tới năm 1999, VNPT không có thêm được một bước đột phá nào, mà chỉ dừng lại ở mức duy trì và củng cố các hoạt động hiện có.

Trong giai đoạn từ 1999 – 2007, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu hồi phục sau khủng hoảng vào năm 1999 và tăng trưởng mạnh. GDP liên tục tăng qua các năm và đạt 8,5% năm 2007, lạm phát vẫn được duy trì ở mức một con số (tới năm 2007 trở lại mức 02 con số). Các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa từng bước với tốc độ nhanh chóng. Thành phần kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng phát triển mạnh đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh cho các sản phẩm trong nước tạo thành động lực buộc VNPT phải có những thay đổi trong cách thức hoạt động, xóa bỏ sự trì trệ vốn có của các cơ quan Nhà Nước, và chính thức thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam vào năm 2006.

Từ năm 2008 cho đến nay, kinh tế Việt Nam lại vấp phải nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới. Sự suy yếu của thị trường tài chính thế giới, nền kinh tế Mỹ suy thoái đã lan rộng, ảnh hưởng đến nền kinh tế của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Năm 2008, tình hình phát triển của nền kinh tế trong nước đã ảnh hưởng lớn tới mức tiêu dùng của người dân, ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành, các doanh nghiệp. Việt Nam đã phải đối mặt, trải qua hai lần chuyển đổi mục tiêu với các nhóm giải pháp phù hợp. Lạm phát thời kỳ này tăng cao (giá tiêu dùng bình quân 2008 so với 2007 tăng 22,97%). Lãi suất vẫn còn cao làm cho các doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,23% so với năm 2007, tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là 7% nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng, điều kiện kinh tế nhiều nước suy giảm thì đây đã là một cố gắng rất lớn. Có thể nói, giai đoạn này là một khoảng thời gian khó khăn cho các doanh nghiệp nói chung và VNPT nói riêng.

1.2. Các yếu tố chính trị – pháp luật Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Kể từ năm 1990 đến nay, Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể về chính sách, mang lại nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và VNPT nói riêng. Kể từ sau khi bắt đầu Đổi mới vào năm 1986, cơ chế quan liêu bao cấp dần dần được xóa bỏ, đời sống nhân dân dần dần ổn định. Các văn bản Luật lần lượt được ban hành: Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty năm1991, Luật doanh nghiệp năm 2000 và sửa đổi năm 2005… giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động rõ ràng và nhanh chóng hơn.

Riêng trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin, hệ thống các văn bản pháp luật và chủ trương chính sách có liên quan cũng dần được ban hành hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện thực tế và thông lệ quốc tế. Sau hơn 10 năm phát triển thị trường Internet ở Việt Nam, theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông, Việt nam đã có những bước tiến dài trong việc cải tổ khung pháp lý cho ngành Bưu chính – Viễn thông và Internet. Năm 2002, Pháp lệnh Bưu chính – Viễn thông ra đời đã làm thay đổi rất nhiều môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp. Theo Pháp lệnh, chính sách của Nhà nước là khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh Bưu chính, Viễn thông trong môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch do Nhà nước quản lý với đầy đủ các loại hình dịch vụ, bảo đảm chất lượng và giá cước hợp lý. Đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế về Bưu chính, Viễn thông trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập… Với những chính sách này, môi trường kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam sẽ ngày càng sôi động hơn với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế cả trong và ngoài nước. Đặc biệt đối với 2 dịch vụ thành công nhất trong lịch sử ngành viễn thông là di động và Internet, cạnh tranh sẽ rất gay gắt vì nhu cầu và xu hướng sử dụng hai dịch vụ này ngày càng cao. Đây là một thách thức không nhỏ đối với VNPT. Bên cạnh đó, lĩnh vực bưu chính và chuyển phát tiếp tục được tạo điều kiện phát triển. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới đã tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động chuyển phát ở Việt Nam, tạo thuận lợi và hỗ trợ tích cực cho dịch vụ chuyển phát góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp. Ngoài ra, Nghị định 9/2009/NĐCP của Chính phủ mới được ban hành qui định các doanh nghiệp Nhà nước phải sử dụng tối thiểu 70% tổng nguồn vốn đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thuộc ngành nghề kinh doanh chính của công ty cũng tạo ra khó khăn cho VNPT trong việc sắp xếp và xem xét các lĩnh vực đầu tư kinh doanh một cách có hiệu quả và chọn lọc, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới ngày một lan rộng.

1.3. Các yếu tố về công nghệ

Là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực Bưu chính – Viễn thông – Công nghệ thông tin, các yếu tố về công nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới VNPT.

Trải qua quá trình xây dựng và phát triển đất nước, cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ của Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực. Công nghệ thông tin là một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh chóng nhất mấy năm gần đây. Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới mới đây, ngành công nghệ thông tin của Việt Nam đã vươn lên chín bậc trong năm 2007-2008, xếp thứ 73 trong bảng xếp hạng 127 quốc gia. Những thông tin chính thức cũng cho thấy Nhà nước đang dành cho ngành công nghệ thông tin rất nhiều ưu tiên. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Tuy vây, trình độ khoa học công nghệ của nước ta vẫn bị đánh giá là thấp so với các nước trong khu vực. Việt Nam vẫn bị coi là bãi rác thải công nghệ. Các công nghệ nhập khẩu về Việt Nam được là các công nghệ lạc hậu, lỗi thời so với thế giới. Theo đánh giá của nhiều tổ chức nước ngoài, tỷ lệ sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam thấp (khoảng 20%); vào thời điểm này, Philippin đã đạt được 29%, Malaysia là 51% và Singapore tới 73%. Tổ chức tình báo kinh tế EIU cho biết, chỉ số sẵn sàng điện tử Việt Nam xếp thứ 61 trong 65 nước phân tích, kém Malaysia 30 bậc và Singapore tới 54 bậc. Đây là một khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và VNPT nói riêng.

Tóm lại, Bưu chính – Viễn thông – Công nghệ thông tin là những lĩnh vực có sự thay đổi về công nghệ nhanh nhất. VNPT với lợi thế về vốn lớn do đó cần lập kế hoạch nguồn vốn sẵn sàng để đầu tư nghiên cứu, phát triển hoặc mua các phát minh mới về công nghệ, cải tiến, nâng cấp và ứng dụng kịp thời các công nghệ mới để luôn ở vị trí dẫn đầu so với các đối thủ cạnh tranh.

1.4. Các yếu tố văn hóa – xã hội Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Trải qua hơn 20 năm sau đổi mới, tình hình văn hóa – xã hội của Việt Nam ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực.

Cùng với những thay đổi của nền kinh tế, vấn đề giải quyết công ăn việc làm và tình trạng thất nghiệp cũng dần dần được giải quyết. Nếu như trong năm 1989, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta còn ở mức 13% thì sang đến năm 1994, và tới năm 2007, thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2%. Trong đó, số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực Bưu chính – Viễn thông – Công nghệ thông tin tuy không cao nhưng ngày càng tăng. Tuy rằng, từ năm 2008 đến nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam đang có dấu hiệu tăng trở lại (năm 2008 tăng lên 4,6%) nhưng nhu cầu lao động trong lĩnh vực Viễn thông – Công nghệ thông tin vẫn không hề giảm. Chỉ riêng TP.HCM, mỗi năm thành phố cần được cung ứng một lực lượng lao động ngành công nghệ thông tin lên đến 30.000 người và dự báo đến năm 2010 nhu cầu lao động ngành công nghệ thông tin sẽ cần đến hơn 91.000 người.

Tình hình dân số Việt Nam cũng có nhiều thay đổi. Quy mô dân số đã tăng từ 52,742 triệu năm 1979 lên 85,155 triệu năm 2007; cơ cấu dân số cũng thay đổi mạnh, đặc biệt là cơ cấu dân số theo nhóm tuổi; tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động tăng từ 51% lên 65%. Tương ứng, tỷ lệ những người ngoài độ tuổi lao động giảm từ 49% xuống còn 35%. Sự biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi đã và đang tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta theo cả hai chiều: tạo ra cơ hội và nảy sinh những thách thức lớn. Cùng với sự thay đổi tiến bộ về cơ cấu xã hội, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, thói quen tiêu dùng của người dân cũng có nhiều biến đổi rõ rệt. Trình độ dân trí của người dân Việt Nam được nâng cao không ngừng, nhu cầu về giải trí, dịch vụ cũng như tiếp cận thông tin cũng ngày một tăng mở ra một thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Bưu chính – viễn thông – công nghệ thông tin nói chung và VNPT nói riêng.

1.5. Các yếu tố tự nhiên

Các yếu tố về tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đất đai, các nguồn tài nguyên khoáng sản, … có thể khai thác vào trong sản xuất kinh doanh ở trong nước cũng như khu vực. Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chủ yếu là Bưu chính – Viễn thông, cung cấp dịch vụ như VNPT, các yếu tố về tự nhiên không có nhiều tác động tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Môi trường ngành Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

2.1. Các doanh nghiệp hiện tại

Là một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, VNPT luôn có các đối thủ cạnh tranh trong từng lĩnh vực hoạt động. Ở đây sẽ xem xét trên ba lĩnh vực kinh doanh chính của Tập đoàn là Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin.

Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Viễn thông và Công nghệ thông tin, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của VNPT là FPT và Viettel. Bên cạnh đó có thể kể đến EVN Telecom và Công ty Viễn thông Sài gòn SPT a. Tập đoàn FPT (FPT Corporation)

FPT là một trong những đối thủ cạnh tranh lớn nhất của VNPT trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị viễn thông – công nghệ thông tin và cung cấp dịch vụ Internet

Thành lập năm 1988, FPT gồm có sáu công ty con, trong đó Công ty phân phối FPT và Công ty giải pháp phần mềm FPT là nổi bật trong việc đem lại lợi nhuận cho công ty mẹ. FPT hiện là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thiết bị viễn thông – công nghệ thông tin lớn nhất trên thị trường với thế mạnh là mạng lưới phân phối lớn nhất tại Việt Nam gồm hơn 956 đại lý tại 53/64 tỉnh thành trong toàn quốc, trong đó có 396 đại lý phân phối các sản phẩm công nghệ thông tin và 560 đại lý phân phối sản phẩm điện thoại di động. Trên lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet, FPT Telecom được đánh giá là nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) có chính sách dịch vụ tốt nhất tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong năm 2008, FPT đã để mất vị trí nhà cung cấp dịch vụ nắm giữ thị phần lớn thứ hai vào tay Viettel do sự hạn chế về hạ tầng viễn thông hậu thuẫn cho dịch vụ ADSL. Hiện FPT chiếm khoảng 19% thị phần Internet ADSL tại Việt Nam.

Công ty điện tử Viễn thông quân đội Viettel

Viettel được coi là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất của VNPT trên tất cả các dịch vụ viễn thông10. Tuy sử dụng công nghệ tương đồng với VNPT nhưng thực sự Viettel là một công ty có tiềm lực mạnh, có thể có được sự ủng hộ lớn từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước do xuất thân từ đội ngũ quốc phòng an ninh. Sự tham gia của Viettel trên thị trường sẽ tạo ra một nguy cơ lớn đối với VNPT. Hiện Viettel đã thay thế vị trí của FPT để trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn thứ hai Việt Nam với khoảng 21% và đồng thời cũng nắm giữ thị phần điện thọai lớn thứ hai Việt Nam với 31%, chỉ đứng sau VNPT (47%)11.

Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực EVNTelecom

Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực là thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt nam.

EVNTelecom là một trong 3 doanh nghiệp đã được Bộ Bưu chính – Viễn thông cấp phép cung cấp đầy đủ các loại hình dịch vụ viễn thông tại Việt nam. Là đơn vị thành viên của Tổng công ty Điện lực Việt nam, EVNTelecom có thế mạnh về cơ sở hạ tầng của ngành Điện cùng hệ thống đại lý kinh doanh điện rộng khắp nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc chăm sóc khách hàng. Vì vậy, EVN Telecom được kỳ vọng là doanh nghiệp có tiềm lực đủ sức cạnh tranh với VNPT. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

EVN Telecom hiện là doanh nghiệp dẫn đầu về số thuê bao điện thoại không dây với gần 2,8 triệu thuê bao trên tổng số 3,8 triệu thuê bao tính đến quý II/2008

  • Tập đoàn Bưu chính Viễn thông, Tài liệu tham khảo phục vụ lãnh đạo và cán bộ quản lý – số tháng 3 năm 2008, trang 17
  • Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT, Báo cáo Viễn thông Việt Nam – Quý IV/2008, trang 07 trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với HomePhone của Viettel (700.000 thuê bao) và Gphone của VNPT(300.000 thuê bao). Như vậy, có thể coi EVN Telecom là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của VNPT trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ điện thoại cố định.

Công ty Viễn thông Sài Gòn (Saigon Postel – SPT)

Tháng 9/2001, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cấp phép cho Saigon Postel cung cấp dịch vụ ĐTDĐ. Đây là kết quả hợp tác giữa SaiGon Postel và Công ty SLD Telecom Pte Ltd trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Giữa tháng 3/2003, công ty này đã kết nối dịch vụ của mình với mạng của VNPT. Ngày 01/7/2003, Saigon Postel chính thức cung cấp dịch vụ điện thoại di động S-Fone và đây là dịch vụ mũi nhọn được quan tâm đầu tư của SPT. Hiện S-Fone là mạng lớn nhất trên thị trường CDMA với 6 triệu thuê bao trên tổng số 8 triệu vào thời điểm tháng 12/2008, góp phần giúp SPT nắm giữ 8% thị phần điện thoại Việt Nam năm 2008.

Tuy nhiên, SPT lại gặp khó khăn trong điều kiện chạy đua triển khai mạng lưới, tốc độ xây dựng mở rộng hạ tầng mạng và mở thêm đại lý do tiềm lực kinh tế còn hạn chế.

Hình 4: Thị phần dịch vụ điện thoại và thuê bao ADSL năm 2008

Trên lĩnh vực Bưu chính, trong những năm trước đây, VNPost của VNPT vẫn luôn giữ vị trí chủ đạo trên thị trường cạnh tranh thì hiện nay, cục diện thị trường đã bắt đầu thay đổi. Tại thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh, Viettel vẫn là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của VNPT. Nếu như trước đây dịch vụ EMS của VNPT nắm giữ khoảng 80% thị phần trong nước và 25% thị phần quốc tế thì nay khoảng cách đã bị rút ngắn lại khi chỉ riêng trong năm 2008 doanh thu của Viettel đã đạt khoảng tỷ đồng. Lĩnh vực tài chính được coi là dịch vụ đầy tiềm năng của Bưu chính cũng đang đối mặt với cạnh tranh khốc liệt. Dịch vụ chuyển tiền của VNPost không thể cạnh tranh nổi với dịch vụ của Ngân hàng với mức phí thấp hơn hay sự tiện lợi của thẻ ATM.

2.2. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Theo Nghị định 121/2008/NĐ-CP, 3 năm đầu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu được liên doanh với các đối tác Việt Nam kinh doanh cung cấp dịch vụ viễn thông hoặc chuyển phát dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, 100% vốn nước ngoài. Vì vậy, có thể xác định đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn của VNPT là các đối thủ nước ngoài có kinh nghiệm kinh doanh lâu đời trên trường quốc tế như AT & T, Qualcom… Trên lĩnh vực viễn thông, HT Moblie đã cùng với Vimpelcom – nhà cung cấp dịch vụ di động lớn thứ nhì của Nga thành lập liên doanh với công ty Gtel của Bộ công an. Tuy rằng cho tới tận thời điểm cuối năm 2008, Gtel Telecom dường như vẫn chưa có bất cứ động tĩnh gì nhưng với tiềm lực về kinh tế cũng như kinh nghiệm của Vimpelcom, đây sẽ là một đối thủ nặng ký trong tương lai của VNPT.

Tại lĩnh vực bưu chính, sự xuất hiện của các hãng nước ngoài tại Việt Nam như FedEx, TNT hay các doanh nghiệp tư nhân như Công ty Cổ phần chuyển phát nhanh Hợp Nhất (HNC) cũng là mối đe dọa trong tương lai trên thị trường chuyển phát nhanh mặc dù rằng cho tới nay, VNPT vẫn hầu như thống trị tại lĩnh vực Bưu chính.

2.3. Áp lực từ nhà cung cấp

Đặc thù của ngành Bưu chính Viễn thông là công nghệ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng dịch vụ và các dịch vụ cung cấp. Công nghệ như thế nào sẽ quyết định các dịch vụ khai thác trên đó. Và công nghệ trong lĩnh vực Bưu chính viễn thông – công nghệ thông tin luôn luôn thay đổi, đòi hỏi VNPT liên tục cập nhật, nâng cấp. Việc thay đổi công nghệ tiên tiến hơn sẽ khiến cho VNPT phải chịu áp lực từ phía các nhà cung cấp trên thế giới khi mà hoạt động Nghiên cứu phát triển của Tập đoàn nói riêng và Việt Nam nói chung còn nhiều hạn chế, công nghệ mới chủ yếu là phải mua từ các doanh nghiệp thế giới.

Bên cạnh đó, VNPT còn phải chịu áp lực từ các nhà cung cấp hệ thống, cụ thể hơn là các nhà cung cấp kênh viễn thông. Tuy nhiên, năm 2008, khi VinaSat-I đi vào hoạt động, áp lực này giảm đi rõ rệt. Tập đoàn không những đáp ứng được nhu cầu của nội bộ mà còn cung cấp dịch vụ thuê kênh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Ngoài nhà cung cấp hệ thống, các nhà cung cấp thiết bị đầu cuối cũng ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của VNPT. Phần lớn cơ sở hạ tầng dịch vụ Tập đoàn vẫn phải mua từ các nhà cung cấp nước ngoài, cụ thể trong những năm gần đây là các Tập đoàn Acatel (Pháp), Tập đoàn Huawei (Trung Quốc),…

2.4. Áp lực từ phía khách hàng Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, việc đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo là một yêu cầu khách quan đặt ra không chỉ với VNPT mà cho tất cả các doanh nghiệp.

Khách hàng bao giờ cũng mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình. Điều đó đồng nghĩa với việc đòi hỏi doanh nghiệp phải cung cấp dịch vụ ngày càng có giá cước rẻ hơn nhưng chất lượng phải tốt hơn, mạng lưới phủ sóng rộng hơn. Khi xuất hiện thêm các nhà cung cấp mới họ lại càng có quyền lựa chọn nhà cung cấp mà họ ưa thích. Đặc biệt khi xuất hiện các nhà khai thác nước ngoài tham gia thị trường với các hình thức thanh toán đa dạng, loại hình dịch vụ sử dụng phong phú, công tác chăm sóc khách hàng hiệu quả… thì việc khách hàng dễ dàng từ bỏ để chuyển sang sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp khác là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Nhìn chung, VNPT phải chịu một số áp lực như:

Giảm cước: Khi thị trường dịch vụ bưu chính – viễn thông cạnh tranh sôi động hơn, cước các loại dịch vụ sẽ tiếp tục giảm xuống. Đối với khách hàng, giảm cước là tín hiệu đáng mừng vì tăng khả năng được sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, việc giảm cước sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của các nhà cung cấp dịch vụ. Khi đó, VNPT sẽ phải chịu áp lực thúc đẩy tăng thuê bao để bù đắp lại phần doanh thu bị giảm do giảm giá cước.

Cung cấp các dịch vụ mới: Ngoài việc giảm giá cước, các nhà khai thác chủ đạo và các đối thủ mới tham gia thị trường bắt đầu cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và giới thiệu ngày càng nhiều dịch vụ giá trị gia tăng với nhiều tính năng sử dụng mới. áp lực từ giảm cước sẽ buộc VNPT phải mở thêm nhiều loại hình dịch vụ mới nhằm vào nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Chính vì vậy, cạnh tranh sẽ làm cho các dịch vụ ngày càng đa dạng hơn và khách hàng có cơ hội lựa chọn nhiều hơn.

2.5. Áp lực từ phía sản phẩm thay thế

Như đã đề cập ở trên, công nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng dịch vụ và các dịch vụ cung cấp trong lĩnh vực Bưu chính viễn thông – Công nghệ thông tin. Các sản phẩm dịch vụ mới có công nghệ cao hơn sẽ sẵn sàng thay thế các sản phẩm dịch vụ hiện tại. Hiện nay, áp lực từ phía sản phẩm thay thế lớn nhất đến từ các dịch vụ ứng dụng công nghệ 3G trên lĩnh vực di động khi mà xu hướng công nghệ di động trên thế giới đang tiến dần tới 3G, 4G và chuẩn IMT-2000.

3. Môi trường nội bộ doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

3.1. Hoạt động tài chính

VNPT là doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn, trong những năm gần đây, các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh có tốc độ phát triển mạnh. Cụ thể: tổng doanh thu phát sinh đạt 55.732,49 tỷ đồng, tăng 19,04% so với năm 2007, con số này của năm 2007 là 46.302 tỷ đồng, tăng 14,08% so với năm 2006. Mặc dù vậy, lợi nhuận của năm 2008 chỉ đạt 11.752 tỷ đồng, bằng 91,27% so với năm 2007. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang bị ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái thì đây vẫn là một là một kết quả kinh doanh khả quan.

Bảng 1 : Doanh thu của Tập đoàn và các đơn vị trực thuộc

Trong những năm qua, năng lực tài chính của Tập đoàn tiếp tục được củng cố ; thực hiện tốt nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước ; nguồn vốn được bảo toàn và phát triển. Các hoạt động đầu tư tài chính đã được tăng cường trên cơ sở có chọn lọc, các quan hệ tài chính tiếp tục phát triển.

Về công tác huy động và sử dụng vốn, Tập đoàn đã tổ chức rà soát toàn bộ nguồn vốn của các năm trước và khối lượng đầu tư thực hiện, xác định rõ nguồn vốn tái đầu tư để sử dụng cho đầu tư phát triển của tập đoàn, đồng thời đưa ra dự báo nguồn vốn bổ sung và kế hoạch đầu tư trước cho từng năm. Trong năm 2008, tổng giá trị vốn thực hiện là 14.505 tỷ đồng (con số này năm 2007 là 12.476 tỷ đồng), trong dó giá trị giải ngân từ nguồn vốn vay là 1.208 tỷ đồng. Về tình hình quả lý công nợ, Tập đoàn đã giám sát chặt chẽ và thường xuyên chỉ đạo Trung tâm thanh khoản – Công ty VTN thực hiện công tác đối soát cước kết nối với các doanh nghiệp khác để kịp thời thông báo tới các Viễn thông tỉnh, thành phố. Bên cạnh đó, Tập đoàn còn đưa ra các chính sách khuyến khích gắn kết quả thu nợ với tiền lương, khen thưởng nên đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu nợ.

Nhìn chung, VNPT là một doanh nghiệp có nội lực tài chính mạnh mẽ. Đây là một trong những yếu tố tạo nên thế mạnh của Tập đoàn, là nền tảng để Tập đoàn có thể mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực khác và là lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng ngành.

3.2. Hoạt động Marketing Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Sản phẩm: Các sản phẩm đến từ VNPT đều hết sức đa dạng trên tất cả

các lĩnh vực. Trong quá trình hoạt động, VNPT liên tục đưa ra các dịch vụ mới phù hợp với nhu cầu của từng phân đoạn thị trường và có tính cạnh tranh cao như các dịch vụ mạng Di động, các dịch vụ do Vinasat cung cấp; MegaVNN; Mega Wan; IP-Centrex; IP-TV; các dịch vụ trên nền mạng NGN; dịch vụ thuê kênh riêng, các dịch vụ mạng như đào tạo từ xa, chính phủ điện tử; hội nghị trực tuyến; các dịch vụ băng thông rộng… Ngoài ra, VNPT còn đưa ra các sản phẩm phần mềm của các công ty trực thuộc như: phần mềm VNPT school, Hệ thống tính cước cho khách hàng; quản trị dịch vụ; hệ thống quản trị công văn AIS, phần mềm quản lý kinh doanh, phần mềm báo cáo nhanh trực tuyến, …

  • Chính sách giá: Trong quá trình hoạt động, VNPT đã chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể điều chỉnh giá cước các dịch vụ Viễn thông của Tập đoàn và điều hành công tác giá cước theo tình hình thị trường. Bên cạnh đó, Tập đoàn cũng nhiều lần đề xuất với Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý giá cước dịch vụ Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin nhằm bảo vệ tính tự chủ cho doanh nghiệp nhằm theo kịp các biến thông cạnh tranh của thị trường. VNPT đã chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh giá cước phù hợp với thị trường, đưa ra các khung cước, mức cước, phương thức tính cước linh hoạt đối với các dịch vụ có tính cạnh tranh cao như : dịch vụ di dộng GSM, MegaVNN, thuê kênh riêng và đường dài trong nước, quốc tế.
  • Phân phối: VNPT có một mạng lưới bưu chính viễn thông, tin học rộng khắp cả nước, đủ năng lực đáp ứng nhanh và đầy đủ nhu cầu đa dạng của mọi khách hàng. Tính đến năm 2008, VNPT có 19.000 bưu cục 73 tuyến đường thư trong nước với 144 chuyến thư mỗi ngày.Các mạng truyền số liệu và viễn thông đã kết nối với nhiều đối tác nước ngoài và đi vào tận vùng sâu, vùng xa của đất nước.
  • Xúc tiến kinh doanh: Trong những năm gần đây, VNPT đã bắt đầu có sự quan tâm đúng mức tới các hoạt động xúc tiến kinh doanh. Tập đoàn đã liên tục ban hành các biện pháp bán hàng linh hoạt dựa trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật : ban hành chiết khấu, hoa hồng, ra soát điều chỉnh những bất hợp lý trong quy trình cung cấp dịch vụ. Các chương trình khuyến mãi trình khuyến mãi ngày một đa dạng, chủ yếu tập trung đẩy mạnh việc phát triển các dịch vụ Internet băng rộng, di dộng, cố định và các dịch vụ viễn thông đường dài, quốc tế. Bên cạnh đó, trong thời gian qua, VNPT cũng đã xây dựng cho mình một chiến lược thương hiệu. Đó cũng chính là sự định hướng tổng thể cho các hoạt động quảng cáo tiếp thị, truyền thông, xây dựng biểu trưng… Công tác PR của VNPT đã được chú trọng phát triển theo hướng chuyên nghiệp hoá. VNPT đã kết hợp được các hoạt động quảng cáo (cả thương hiệu và nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ), tài trợ, thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại (triển lãm, hội chợ) với hoạt động thông tin báo chí, tuyên truyền để phát huy hiệu quả PR tổng hợp; góp phần tích cực làm cho uy tín, hình ảnh, thương hiệu của VNPT ngày càng trở nên gần gũi, tin cậy hơn đối với khách hàng và xã hội.

3.3. Hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Nghiên cứu phát triển công nghệ mới, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao như viễn thông và công nghệ thông tin là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu phát triển, VNPT cũng đã có những đầu tư nhất định cho hoạt động này. Tập đoàn đã có các tổ chức chuyên về nghiên cứu là Viện Kinh tế Bưu Điện, Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu Điện, Trung tâm Công nghệ thông tin trực thuộc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông với mục tiêu gắn kết giữa các khâu đào tạo – nghiên cứu – sản xuất trong Tập đoàn.

Trong giai đoạn trước khi chuyển thành tập đoàn, hoạt động R&D tại VNPT chưa thực sự được quan tâm đúng mực. Mức chi cho các đơn vị vẫn còn rất khiêm tốn. Số lượng các đề tài R&D các sản phẩm công nghiệp trong 8 năm (từ năm 1996 đến năm 2004) của Tập đoàn chỉ là 67 đề tài bao gồm các đề tài nghiên cứu chế thử, còn mang tính nhỏ lẻ, chủ yếu là các thiết bị phục vụ cho công tác đo kiểm, bảo dưỡng thiết bị viễn thông, một số thiết bị đầu cuối, … Tổng kinh phí nghiên cứu cho cả giai đoạn này chỉ đạt gần 8,5 tỷ đồng cho phần cứng và 19 tỷ đồng cho nghiên cứu phần mềm13. Hơn nữa, nguồn chi cho R&D chỉ là những khoản kinh phí còn hạn hẹp, được gọi là các khoản chi cho đề tài khoa học, chi sáng kiến, cải tiến kỹ thuật… Tuy có tên trong khoản mục chi phí nhưng những hướng dẫn cụ thể cho khoản chi phí này còn chung chung hoặc nếu hướng dẫn (đối với các đơn vị nghiên cứu) thì được xác định là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp với các định mức và đơn giá còn hết sức chặt chẽ, nhiều khi chưa hợp lý. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Bảng 2. Chi phí của một số đơn vị nghiên cứu thuộc Tập đoàn

Kể từ năm 2006 đến nay, công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ liên tục được đổi mới, và được đầu tư nhiều hơn. Tập đoàn đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản hướng dẫn mới về công tác quản lý để phù hợp với các quy định mới của pháp luật và nâng cao tính thực tiến, chất lượng của các đề tại. Chỉ trong năm 2008, số lượng đề tài nghiên cứu đã có 12 đề tài và 48 nhiệm vụ với tổng kinh phí hơn 29 tỷ đồng14 được Tập đoàn giao chính thức cho các đơn vị thực hiện. Các nội dung nghiên cứu đều xuất phát từ nhu cầu thực tế cấp bách của tập đoàn và luôn đảm bảo hiệu quả đầu tư.

3.4. Nguồn nhân lực

Trong những năm đầu của chiến lược tăng tốc độ phát triển Bưu chính Viễn thông, mức tăng lao động bình quân hàng năm của VNPT là 7%. Từ những năm 1995 trở lại đây, thực hiện chủ trương nâng cao năng suất lao động, đầu tư theo chiều sâu, phát huy nội lực nguồn lực sẵn có của Tập đoàn, mức tăng lao động bình quân hàng năm là 4.2%. Trong số lao động được tuyển dụng hàng năm, có tới 60% trí thức trẻ thuộc các lĩnh vực điện tử, viễn thông, tin học; 20% quản trị kinh doanh và 20% thuộc các lĩnh vực kinh tế kỹ thuật, chuyên môn khác.

Tính đến năm 2008, tổng số cán bộ của VNPT đã lên tới con số 73.906 cán bộ nhân viên. Trong đó, số lượng cán bộ nhân viên tập trung đông nhất là tại TP Hồ Chí Minh (5123 người) và Hà Nội (3795 người). Cán bộ quản lý của VNPT đa số là những người đã được đào tạo qua trường lớp, trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm lâu năm trong ngành viễn thông, gắn bó và hết lòng vì sự phát triển của Tập đoàn. Đặc biệt, tỷ trọng nhân viên có trình độ trên đại học tại văn phòng Tập đoàn và một số công ty then chốt chính là khá lớn (Vinaphone 74.9%; VTI 71%; VDC 78.2%; VASC 64.4%; văn phòng Tập đoàn 79%15).

Bảng 3: Cơ cấu trình độ lao động VNPT

Tuy nhiên, cán bộ quản lý điều hành kinh doanh, đặc biệt là lĩnh vực Marketing còn chưa được chú trọng đào tạo, tuyển dụng. Chủ yếu vẫn chưa qua đạo tào chuyên sâu về lĩnh vực này, do đó hiệu quả công việc chưa cao dẫn đến công tác Marketing của VNPT còn yếu kém.Trên thực tế, tác phong làm việc vẫn ảnh hưởng cơ chế bao cấp của Nhà nước, còn dựa vào thế độc quyền của doanh nghiệp nên tác phong làm việc ở nhiều bộ phận chưa chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm chưa cao, chưa làm việc hết năng suất, ý thức cạnh tranh kém, còn biểu hiện coi thường khách hàng, …

4. Mô hình phân tích tổng hợp các yếu tố từ môi trường kinh doanh bên ngoài và nội bộ doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn khác nhau, các điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức đến với doanh nghiệp là khác nhau. Một yếu tố có thể là điểm mạnh của doanh nghiệp trong thời kỳ này nhưng lại trở thành điểm yếu ở thời kỳ khác. Trong khuôn khổ của một khóa luận, người viết xin phân tích trong giai đoạn từ năm 2006 trở lại đây.

4.1. Điểm mạnh (Strengths)

Một trong những điểm mạnh lớn nhất của VNPT từ trước đến nay đó là tập đoàn vẫn doanh nghiệp nắm giữ phần lớn thị phần tại thị trường bưu chính – viễn thông. Trên thị trường viễn thông, xét riêng trong lĩnh vực kinh doanh Internet tốc độ cao ADSL, VNPT hiện là doanh nghiệp đứng đầu thị trường với khoảng trên 1,3 triệu thuê bao chiếm 60% thị phần so với 19% thị phần của FPT và 20% của Viettel16 và vẫn đang gia tăng khoảng cách với các đối thủ. Tương tự như vậy đối với thuê bao cố định: Hiện VNPT vẫn đang nắm giữ ưu thế gần như tuyệt đối với thị trường điện thoại cố định cho dù dịch vụ này hiện đang có tới 5 nhà cung cấp dịch vụ. Với khoảng 11 triệu thuê bao cố định hữu tuyến, VNPT đang chiếm khoảng 80% thị phần dịch vụ điện thoại cố định. Đây sẽ là nền tảng tốt để VNPT phát triển dịch vụ ADSL và các dịch vụ băng rộng khác.

Bên cạnh đó, VNPT còn có lợi thế về cơ sở hạ tầng và mạng lưới dịch vụ hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành. Từ trước đến nay, VNPT vẫn đang nắm giữ hệ thống đường trục viễn thông quốc gia – đường trục viễn thông duy nhất của đất nước. Đây là lợi thế rất lớn khi mà các doanh nghiệp Viễn thông khác muốn hoạt động đều phải dựa vào đường trục này. Bên cạnh đó, cho tới năm 2007, Tập đoàn đã có mạng lưới kết nối tới trên 240 nước và vùng lãnh thổ với 16 kênh thu phát hình lưu động và đi quốc tế. Với hơn 19000 bưu cục trải rộng khắp đất nước, mạng lưới bưu chính của VNPT cũng hiện diện tại khắp mọi nơi, tạo ra một thị trường rộng lớn. Đặc biệt, khi vệ tinh Vinasat – 1 của Việt Nam do VNPT làm chủ đầu tư được phóng thành công, mạng lưới của VNPT càng được mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ.

Ngoài ra, VNPT còn có có thế mạnh về vốn. Vốn sản xuất kinh doanh của VNPT là rất lớn, khả năng huy động vốn cao từ nhiều nguồn khác nhau: Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cấp, vốn tự bổ sung, vốn vay Ngân hàng, vốn huy động của CBCNV, của dân (hình thức Tiết kiệm Bưu Điện, phát hành tín phiếu…), vốn vay của nước ngoài (nguồn viện trợ phát triển chính thức ODA, tín dụng xuất khẩu, đầu tư trực tiếp FDI, hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC…). Với kết cấu hạ tầng như Bưu chính Viễn thông trong trường hợp khoa học phát triển không chỉ dựa vào vốn

Ngân sách Nhà nước cấp. Vốn tự bổ sung của Doanh nghiệp là nguồn vốn quan trong nhất trong chiến lược phát triển vốn. Vốn tự bổ sung chiếm bình quân 28% trong tổng vốn và tăng bình quân qua các năm là 22%. Đây là một nguồn vốn quan trọng mà VNPT có thể dựa vào đó để đầu tư đổi mới thiết bị mạng lưới Bưu chính Viễn thông.

4.2. Điểm yếu (Weakness) Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Mặc dù hoạt động dưới hình thức là một tập đoàn kinh tế, tại VNPT vẫn tồn tại một số hạn chế thường thấy ở các doanh nghiệp Nhà Nuớc. Việc sắp xếp, bố trí sử dụng lao động, hệ thống cơ chế phân phối thu nhập, khuyến khích thu hút lao động chất lượng cao… còn có những điểm chưa hợp lý; hiện tượng lao động trình độ khá, giỏi “rời bỏ” doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến. Tác phong làm việc của nhân viên đa số vẫn ảnh hưởng cơ chế bao cấp của Nhà nước, chưa thực sự hiệu quả. Điều này có thể dễ dàng thấy được khi so sánh với Viettel: tính đến cuối năm 2007, số lượng nhân viên VNPT làm trong lĩnh vực viễn thông sẽ còn lại là 5,5 vạn. Doanh thu của VNPT năm 2007 đạt 48.000 tỉ VNĐ. Trong khi đó, đến cuối năm 2007, đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường viễn thông là Viettel có khoảng 10.000 nhân viên nhưng cũng đạt 16.000 tỉ VNĐ. Như vậy bình quân một năm một nhân viên của VNPT làm ra 872 triệu VNĐ/năm trong khi đó một nhân viên Viettel sẽ làm ra 1600 triệu/năm. Như vậy, năng suất lao động hay hiệu quả sử dụng lao động của VNPT chỉ bằng một nửa Viettel. Đây là một điểm yếu rất lớn của Tập đoàn.

4.3. Cơ hội (Opportunities)

Ngành Viễn Thông Việt Nam phát triển với tốc độ khá nhanh nhưng mới chỉ đáp ứng được 11,95 triệu thuê bao cố định và 20.7 triệu người sử dụng Internet17 cho hơn 87 triệu dân. Bên cạnh đó, với triển vọng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và sự đô thị hóa đang lan nhanh ra các tỉnh thành, nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông trong các giao dịch kinh doanh và giao tiếp cá nhân tiếp tục tăng cao và đặc biệt là các dịch vụ băng rộng, dịch vụ chất lượng cao. Ngoài ra, việc thực hiện các cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thực sự tạo cơ hội hợp tác với các đối tác lớn của nước ngoài do uy tín và niềm tin đối với doanh nghiệp có nhiều lợi thế như VNPT. Hơn nữa, hiện nay, khoảng cách về số người sử dụng dịch vụ giữa nông thôn và thành thị còn khá lớn, trong khi mạng lưới cơ sở hạ tầng và điểm phục vụ ở nông thôn của VNPT đã được phủ rộng. Các yếu tố trên đã chứng tỏ rằng tiềm năng phát triển của ngành viễn thông còn rất lớn, và còn rất lâu nữa mới đến điểm bão hòa. Với dân số trên 87 triệu người và mới có khoảng 2,2 triệu thuê bao, thị trường băng rộng cũng được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng tại Việt Nam, đòi hỏi VNPT đưa ra những phương án chiến lược để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.

4.4. Thách thức (Threats) Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Trước hết, Tập đoàn gặp phải những thách thức không nhỏ khi hoạt động trên lĩnh vực Viễn thông.

Đầu tiên, việc phát triển Internet băng rộng tại Việt Nam có khoảng cách lớn giữa nông thông và thành thị. Các số liệu thống kê cho thấy, có 65% số thuê bao băng rộng tập trung tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, 35% còn lại tập trung tại 62 tỉnh thành18. Điều này có nghĩa là 70% dân số Việt Nam chỉ chiếm 30-35% thị trường dịch vụ Viễn thông. Với vai trò là một Tập đoàn kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ vào các dịch vụ viễn thông công ích, VNPT sẽ phải tìm ra những giải pháp phát triển viễn thông nông thôn nhằm thu hẹp khoảng cách số đang tồn tại.

Thứ hai, trong năm năm tới, số lượng nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được dự báo sẽ giảm đi ít nhất một nửa. Khi đó, các thị trường vốn tách biệt trước đây – mỗi thị trường có một nhà cung cấp dịch vụ riêng – sẽ hội tụ lại và kết quả một tiến trình hợp nhất ồ ạt trong ngành viễn thông. Vì vậy, VNPT cần xây dựng những kết hoạch chi tiết, kỹ lưỡng về thời điểm mà từng chức năng viễn thông sẽ được thay thế hay sát nhập, và trước đó phải hoàn tất việc thống nhất các nhóm quản lý tương ứng.

Cuối cùng, như đã đề cập ở trên, VNPT có thế mạnh về vốn. Hiện nay chưa có đối thủ cạnh tranh nào có được ưu thế về vốn như VNPT, tuy nhiên trong tương lai, khi các tập đoàn viễn thông lớn đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực Viễn thông và Điện thoại di động thì VNPT có thể sẽ không còn duy trì được thế mạnh này nữa.

Điều này đòi hỏi VNPT cần tận dụng tốt thế mạnh trong thời gian tới và tiếp tục tạo ra thế mạnh khác thay thế trong tương lai.

Mặt khác, VNPT cũng phải đối diện với những thách thức trên lĩnh vực bưu chính. Nguy cơ sụt giảm doanh thu từ việc làm đại lý thu gom và phát hàng quốc tế ngày càng hiện rõ. Từ hơn 10 năm nay, Việt Nam đã có mặt hàng chục hãng chuyển phát quốc tế hàng đầu như DHL, Fedex, TNT, DPD, các hãng này hợp tác chủ yếu với Bưu chính Việt Nam theo hình thức đại lý, hoa hồng đại lý chiếm tới 1/3 tổng doanh thu của dịch vụ EMS. Tuy nhiên, từ năm 2006 trở lại đây mức hoa hồng ngày càng giảm. Cụ thể, năm 2006 đạt 87 tỷ đồng, đến năm 2007 giảm còn 69 tỷ đồng, năm 2008 còn thấp hơn con số này. Theo cam kết gia nhập WTO, năm 2011 các doanh nghiệp nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh. Như vậy, Tập đoàn sẽ phải đối diện với nguy cơ các hãng lớn sẽ rời bỏ các đại lý để lập doanh nghiệp 100% vốn. Và đến thời điểm đó VNPT không những mất đi nguồn thu lớn mà còn có nguy cơ phải cạnh tranh với các đối thủ nặng ký, cho nên VNPT cần có sự chuẩn bị trước để đối mặt với những thách thức này. Ngoài ra, thách thức tiếp theo đến từ chính điểm mạnh của VNPT. Mạng lưới bưu chính rộng khắp cũng đặt ra yêu cầu VNPT phải có cơ chế quản lý thật sự hiệu quả, và cũng đòi hỏi một nguồn vốn không nhỏ để duy trì, nâng cấp mạng lưới.

III. Chiến lược đa dạng hóa hoạt động của VNPT Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một loại hình của tập đoàn kinh tế hoạt động trong linh vực thương mại dịch vụ, bởi vậy, VNPT mang đầy đủ những đặc điểm của tập đoàn kinh tế nói chung. Tuy nhiên, Tập đoàn cũng có những đặc thù riêng khác với các tập đoàn kinh tế khác ở chỗ: Nếu như các tập đoàn kinh tế nói chung bắt nguồn kinh doanh từ lĩnh vực đầu tư vào sản xuất hàng hoá, với các chiến lược kinh doanh tập trung vào đầu tư nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, ứng dụng tiến bộ công nghệ để sản xuất những sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường… thì VNPT lại bắt đầu lĩnh vực hoạt động kinh doanh bằng việc đầu tư vào xây dựng hạ tầng mạng lưới Bưu chính viễn thông và bắt đầu các hoạt động kinh doanh của mình qua việc cung cấp các dịch vụ Bưu chính Viễn thông (bưu phẩm, điện thoại…), và tổ chức các kênh phân phối dịch vụ đến khách hàng. Do vậy chiến lược kinh doanh của VNPT là tập trung đầu tư vào phát triển hạ tầng mạng lưới, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ và tổ chức các kênh phân phối để thoả mãn tối đa các nhu cầu đa dạng của các thị trường về hàng hoá (thiết bị đầu cuối, hệ thống mạng…) và dịch vụ Bưu chính Viễn thông. Từ đó, VNPT sẽ mở rộng liên kết với các nhà cung cấp khác nhau để hình thành nên các kênh phân phối hàng hoá, dịch vụ đa dạng, rộng khắp đảm bảo khai thác, thâm nhập và mở rộng được cả thị trường trong nước và thị trường thế giới. Bên cạnh đó, cùng với khả năng tích tụ và tập trung vốn của tập đoàn được nâng lên, VNPT đã mở rộng kinh doanh đầu tư sang các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác có lợi thế nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, hoạt động kinh doanh thương mại và sản xuất được tích hợp, trở thành tập đoàn kinh tế vừa chuyên sâu vừa tổng hợp dựa trên các liên kết kinh tế đa chiều.

Dựa trên những ý tưởng kinh doanh ban đầu rất sơ khai được nảy sinh trong quá trình hoạt động của mình, VNPT đã dần xây dựng nên chiến lược đa dạng hóa hoạt động dựa trên cơ sở phân tích kỹ càng môi trường kinh doanh bên trong và bên ngoài của Tập đoàn. Từ một lĩnh vực kinh doanh chính ban đầu là bưu chính – viễn thông, nhờ tận dụng khá tốt những nguồn lực sẵn có của các đơn vị thành viên trước đây, VNPT đã vươn tới các lĩnh vực kinh doanh hoàn toàn mới. Nhìn chung, có thể chia chiến lược đa dạng hóa hoạt động của VNPT được chia ra làm 02 dạng cơ bản sau đây:

1. Chiến lược đa dạng hóa liên kết Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Bản “Kế hoạch phát triển 5 năm 2006 – 2010” của VNPT có xác định rõ: Mục tiêu tổng quát đến năm 2010 là xây dựng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quốc gia Việt Nam trở thành Tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam,..; kinh doanh đa ngành trong đó bưu chính, viễn thông, và công nghệ thông tin là ngành kinh doanh chính với nhiều loại hình sở hữu…19. Vì vậy, chiến lược đa dạng hóa hoạt động liên kết đã được các nhà lãnh đạo Tập đoàn sử dụng như một công cụ để đạt được mục tiêu đề ra. Từ lĩnh vực cung cấp các dịch vụ bưu chính – viễn thông – Công nghệ thông tin (CNTT) ban đầu, VNPT đã dần dần phát triển sang các lĩnh vực khác như sản xuất, kinh doanh vật tư, thiết bị Viễn thông, sản phẩm công nghệ thông tin, thiết kế các công trình viễn thông, đào tạo nhân lực viễn thông, … Và ở lĩnh vực nào, VNPT cũng đạt được những thành công nhất định.

Hình 5: Mô hình đa dạng hóa liên kết hoạt động của VNPT

Trước hết, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một Tập đoàn kinh doanh đa ngành có sự khác biệt so với các Tập đoàn kinh tế khác do bối cảnh hoạt động cũng như lịch sử hình thành. Phát triển từ một doanh nghiệp Nhà nước độc quyền trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông, tiền thân của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, xa hơn nữa là

Tổng cục Bưu điện, quá trình đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của VNPT cũng có sự khác biệt so với các doanh nghiệp khác.

1.1. Lĩnh vực Công nghiệp Viễn thông Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Năm 1995, vào thời điểm được thành lập, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (tiền thân của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam) đã là một doanh nghiệp đa ngành bởi vì thực chất việc thành lập Tổng công ty chỉ là việc tổ chức sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, sản xuất lưu thông, sự nghiệp về Bưu chính-Viễn thông thuộc Tổng cục Bưu điện, tách công tác quản lý Nhà nước ra khỏi công tác điều hành kinh doanh.

Vào thời điểm này, ngoài lĩnh vực cung cấp các dịch vụ Bưu chính – Viễn thông, VNPT còn hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp Bưu chính Viễn thông với sự tồn tại của một vài nhà máy xí nghiệp sản xuất và các xí nghiệp liên doanh như Xí nghiệp liên doanh sản xuất thiết bị viễn thông (VTC), Nhà máy Cáp và Vật liệu Viễn thông (SACOM)… Tuy nhiên, công nghiệp viễn thông cho đến thời điểm mới chỉ ở thời điểm bắt đầu. Các cơ sở công nghiệp với những thiết bị dây chuyền lạc hậu, cũ kỹ, không đồng bộ, chỉ có thể sản xuất một số vật tư cho bưu chính, các hộp đầu cuối cáp,…

Ngay khi vừa mới thành lập, VNPT đã từng bước tìm hiểu thị trường công nghiệp viễn thông thế giới, xây dựng các dự án chuyển giao công nghệ, liên doanh lắp ráp, sản xuất thiết bị tại Việt Nam với các đối tác có công nghệ tiên tiến, có tiềm năng kinh tế và thiện chí chuyển giao công nghệ cho Việt Nam nhằm phát triển lĩnh vực công nghiệp viễn thông. Hết năm 1995, Tập đoàn đã thực hiện liên doanh với 6 doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thiết bị công nghiệp thông tin.

Năm 1996, theo quyết định của Tổng cục Bưu điện, một loạt các công ty, nhà máy hoạt động trong ngành công nghiệp viễn thông được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại các xí nghiệp cũ và trở thành thành viên của VNPT, bao gồm: Nhà máy Thiết bị Bưu điện (nay là Công ty cổ phần Thiết bị Bưu điện POSTEF); Công ty Thiết bị Điện thoại (nay là Công ty Cổ phần Công nghệ Viễn thông VITECO); Nhà máy Vật liệu Bưu điện (nay là Công ty cổ phần Vật liệu Bưu điện PMC); Công Ty

Vật Tư Bưu Điện I (nay là Công Ty Cổ Phần Thương Mại Bưu Chính Viễn Thông COKYVINA); Công Ty Vật Tư Bưu Điện II (nay là Công ty Cổ phần Vật tư Bưu Điện POSTMASCO). Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Trong quá trình hoạt động, VNPT và các đơn vị thành viên đã xây dựng được một lực lượng các nhà sản xuất thiết bị, cung cấp nhiều sản phẩm chủ yếu cho ngành viễn thông. Các sản phẩm cũng hết sức đa dạng về chủng loại như tổng đài viễn thông Alcatel, EWSD, VK50…; các thiết bị truyền dẫn của VFT, CT-IN, Kasati…; cáp quang của VinaGSC, Focal; cáp đồng của VinaDeasung, Sacom; các thiết bị đấu nối của Postef, PTC…; các thiết bị bưu chính của Postef, Công ty In Tem Bưu điện… Từ đó, công nghiệp Bưu điện phát triển vững chắc, đáp ứng ngày càng nhiều tỷ lệ các sản phẩm nội địa, bảo đảm chất lượng cho mạng lưới bưu chính viễn thông. Cho đến nay, khối công nghiệp của Tập đoàn đã đáp ứng được 50% tổng giá trị đầu tư thiết bị cho mạng viễn thông của Tập đoàn. Các sản phẩm công nghiệp Viễn thông của VNPT được đánh giá là tương đối phong phú, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển mạng viễn thông, chất lượng tương đương thiết bị công nghệ cao của khu vực. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường tích tụ về vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận, trong đó điểm mấu chốt là tập trung sắp xếp đổi mới quản lý, xác lập lại cơ cấu sản xuất kinh doanh, lành mạnh hóa các quan hệ tài chính trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tập đoàn đã tiến hành Cổ phần hóa cho các công ty con trên lĩnh vực này và cho tới nay, việc cổ phần hóa đã hoàn tất và thu được những kết quả tích cực. Hầu hết các doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hoá đều kinh doanh có lãi, có tích luỹ và nộp ngân sách nhà nước.

Trong quá trình hoạt động, VNPT dần dần mở rộng sang lĩnh vực xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp viễn thông và bước đầu xác lập được một số thị trường xuất khẩu. Mặc dù vậy, với một số mặt hàng, sản phẩm, do chỉ hoạt động trên các dây chuyển sản xuất nhỏ nên vẫn mới chỉ đáp ứng được nhu cầu của Tập đoàn là chính. Chẳng hạn như việc sản xuất thẻ viễn thông, hiện tại mới chỉ lắp ráp với mức đầu tư nhỏ, sản lượng thấp nên khả năng cạnh tranh với các hãng nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường nội địa và xuất khẩu còn khó khăn.

Cho tới hết năm 2008, lĩnh vực công nghiệp Viễn thông đã cùng với lĩnh vực công nghệ thông tin (được gộp chung là khối công nghiệp) đã thu được 5.730 tỷ đồng doanh thu, chiếm 10% trong tổng doanh thu toàn Tập đoàn (55.732 tỷ đồng). Đây là một con số không hề nhỏ khi so sánh với doanh thu của một số lĩnh vực khác của Tập đoàn như Tài chính, quảng cáo,…

1.2. Lĩnh vực Công nghệ thông tin

Năm 1997, Công nghệ doanh chính của VNPT với 11/1997. thông tin bắt đầu trở thành một trong ba ngành kinh việc chính thức khai trương mạng Internet vào tháng

Bên cạnh đó, Tập đoàn còn thành lập một số đơn vị chuyên về tin học như Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC), Công ty Tin học Bưu điện Tp Hồ Chí Minh (Netsoft), Trung tâm Tin học Tp Hà Nội, Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC) và các Trung tâm Tin học của Bưu điện các tỉnh/thành phố. Các đơn vị này không chỉ có khả năng phát triển, sản xuất các phần mềm ứng dụng mà còn cung cấp các giải pháp Công nghệ thông tin cho các đơn vị trong và ngoài ngành: trong lĩnh vực bưu chính là các phần mềm như định vị EMS, chương trình xây dựng mã vạch, phần mềm ứng dụng cho dịch vụ chuyển tiền truyền thống CTT95…. Nhiều phần mềm cho lĩnh vực viễn thông cũng đã được phát triển với chủng loại đa dạng, phong phú về giao diện như: hệ thống tính cước ghi sê, chương trình tính cước cho các tổng đài Host và các loại tổng đài độc lập khác nhau… Năm 1999, Tập đoàn lại mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh sang lĩnh vực xuất khẩu phần mềm với việc Trung tâm dịch vụ Giá trị gia tăng (VASC) thuộc Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC) (nay là Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC)) ký hợp đồng gia công và xuất khẩu sản phẩm phần mềm đầu tiên tại Việt Nam cho nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Trong quá trình hoạt động và phát triển , chiến lược đa dạng hóa của VNPT được thực hiện xuyên suốt xuống tới các đơn vị. Các công ty chuyên về tin học cũng đã dần dần từng bước đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cũng như lĩnh vực kinh doanh của mình, bắt đầu mở rộng sang lĩnh vực lĩnh vực dịch vụ Công nghệ thông tin với nhiều dịch vụ đa dạng như: bảo hành, bảo trì, lưu trữ, xử lý số liệu, đào tạo, tư vấn, dịch vụ nội dung số, tích hợp hệ thống… Và đây là một lĩnh vực phát triển đầy tiềm năng trong tương lai.

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin cũng trở thành một trong những ngành kinh doanh chính của VNPT, từng bước giúp Tập đoàn khẳng định vai trò và vị trí của mình trong sự phát triển công nghệ thông tin cuả đất nước.

1.3 Lĩnh vực đào tạo

Cũng trong năm 1997, VNPT bắt đầu bước chân vào lĩnh vực đào tạo nhân lực với sự kiện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông chính thức ra mắt ngày 17/9/1997 theo Quyết định số 516/TTg ngày 11/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu điện, Viện Kinh tế Bưu điện, Trung tâm Đào tạo Bưu chính-Viễn thông I, Trung tâm Đào tạo Bưu chính- Viễn thông II. Đây được coi là một mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho hiện nay và mai sau của ngành bưu điện. Ngoài nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho ngành, Học viện còn đảm nhiệm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tư vấn, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông và công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

Trải qua các giai đoạn phát triển, cho đến nay, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã đào tạo được 9.578 kỹ sư và cử nhân, 264 thạc sỹ, 43 tiến sỹ cùng hàng nghìn kỹ sư văn bằng 2, đào tạo từ xa; hàng ngàn cử nhân cao đẳng và trung cấp; bồi dưỡng ngắn hạn trực tiếp cho 276.511 lượt người; đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn qua mạng cho 20.419 lượt người. Các thế hệ học viên sau khi ra trường đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của mạng lưới Bưu chính Viễn thông và Công nghệ Thông tin của đất nước.

1.4. Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện thuộc lĩnh vực Bưu chính Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Ngày 25.4.1999, VNPT thành lập Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC), với chức năng ban đầu là huy động vốn từ dân cư và chuyển giao cho Quỹ

Hỗ trợ phát triển để đầu tư cho các công trình trọng điểm về viễn thông của quốc gia.

Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC) đi vào hoạt động với 2 sản phẩm là Tiết kiệm có kỳ hạn lãi cuối kỳ rút một lần và Tiết kiệm gửi góp với số bưu cục cung cấp dịch vụ là 39 điểm. Các dịch vụ của VPSC đã nhận được nhiều phản ứng tích cực từ thị trường. Sau những thành công ban đầu đó, VPSC đã triển khai quyết liệt việc mở rộng địa bàn hoạt động, số bưu cục cung cấp dịch vụ tăng dần. Đến cuối năm 1999, tổng số bưu cục cung cấp dịch vụ đã lên tới 202 điểm và ngày một được mở rộng. Năm 2000, VPSC thành lập chi nhánh Công ty tại TP.HCM và bắt đầu triển khai thử nghiệm dịch vụ tài khoản Tiết kiệm cá nhân – gửi, rút nhiều nơi và dịch vụ nhận trả lương qua tài khoản cho cán bộ nhân viên Công ty. Vào thời điểm này, số lượng bưu cục của VPSC đã đạt tới con số 539 điểm. Ngoài việc tích cực mở rộng phát triển hoạt động kinh doanh của mình, VPSC cũng bắt đầu chú trọng tới việc phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ. Công ty bắt đầu nối mạng tin học trực tuyến Tiết kiệm Bưu điện cho các bưu cục vào năm 2002. Đến năm 2003, VPSC chính thức triển khai dịch vụ thanh toán giữa hai tài khoản Tiết kiệm cá nhân tại tất cả các bưu cục nối mạng tin học trực tuyến trong hệ thống Tiết kiệm Bưu điện. Nhận thức được nhu cầu của người dân về sử dụng dịch vụ của các tổ chức tài chính ngân hàng tại Việt Nam, mặc dù bị giới hạn trong việc cung cấp một số dịch vụ, VPSC đã tiến hành đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, mở rộng phạm vi phục vụ để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tại các vùng sâu, vùng xa nơi mà các dịch vụ tài chính ngân hàng khó tiếp cận, đưa thương hiệu VNPT cùng VPSC tới mọi nơi. Năm 2005, khi Trung tâm Chuyển tiền thuộc Công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế sáp nhập vào Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, số lượng dịch vụ của VPSC lại tăng lên và trở nên phong phú hơn bao giờ hết khi Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 270/2005/QĐ-TTg về việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn tiền gửi Tiết kiệm, thay thế cho Quyết định số 215/2005/QĐ-TTg ban hành ngày 04/11/1998. Theo đó, ngoài cung cấp dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện truyền thống (huy động vốn để chuyển cho Quỹ Hỗ trợ phát triển và Ngân hàng Chính sách xã hội), VPSC còn được bổ sung chức năng, nhiệm vụ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, cung ứng một số phương tiện thanh toán như séc rút tiền mặt, thẻ ATM, mở tài khoản, làm đại lý, nhận ủy thác phát hành trái phiếu…

Hoạt động cung ứng các dịch vụ trong lĩnh vực Ngân hàng, song, các dịch vụ của VPSC lại được xếp là dịch vụ Bưu chính, và trách nhiệm chính của VPSC vẫn chỉ là huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư rồi chuyển cho Quỹ Hỗ trợ phát triển. Vì vậy, khi thành lập VPSC, chưa thể nói VNPT đã đa dạng hóa hoạt động của mình sang lĩnh vực Ngân hàng. Tuy nhiên, năm 2007, Tâp đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã trình Chính phủ đề án thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần trên cơ sở chuyển đổi từ VPSC và đã được chấp thuận. Nếu việc chuyển đổi thành công, lúc đó, các dịch vụ của VPSC sẽ không còn xếp vào các dịch vụ Bưu chính nữa, và VNPT sẽ chính thức bước chân vào lĩnh vực Ngân hàng. Khi mở rộng hoạt động sang lĩnh vực Ngân hàng, hình thức đa dạng hóa hoạt động của VNPT sẽ là đa dạng hóa liên kết, vì khi đó VPSC sẽ tiếp tục thông qua các bưu cục của mình để cung cấp các dịch vụ, sử dụng các công nghệ do các đơn vị tin học cung cấp để thực hiện các dịch vụ thanh toán. Và một phần lượng vốn huy động được của doanh nghiệp vẫn tiếp tục được chuyển cho Quỹ Hỗ trợ phát triển.

Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện tại, khi Ngân hàng của VNPT chưa được thành lập, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện VPSC đã tạo được một kênh huy động vốn hiệu quả và ổn định cho đầu tư phát triển đất nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng mạng lưới bưu chính, cùng các Ngân hàng đưa dịch vụ tiết kiệm đến gần dân hơn, giảm lượng thanh toán bằng tiền mặt trong dân cư, tạo nên được một hình ảnh mới cho dịch vụ Bưu chính của VNPT .

2. Chiến lược đa dạng hóa không liên kết

Với tiềm lực tài chính mạnh và vị thế của một Tập đoàn kinh tế, VNPT đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình, đầu tư sang lĩnh vực đầu tư tài chính và kinh doanh vốn nhà nước, kinh doanh bất động sản và cho thuê văn phòng, bảo hiểm, du lịch, vận chuyển hàng hóa và cả lĩnh vực y tế. Trong khuôn khổ của khóa luận, người viết xin được tập trung vào phân tích chiến lược đa dạng hóa sang lĩnh vực Tài chính – Bảo hiểm, lĩnh vực đa dạng hóa không liên kết mạnh nhất từ trước tới nay của Tập đoàn và đã trở thành một trong những mục tiêu chiến lược của Tập đoàn.

2.1. Quá trình thực hiện chiến lược Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Năm 1997, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam) đã lập đề án trình Tổng cục Bưu điện (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) xin thành lập Công ty tài chính Bưu điện (PTF). Và đến năm 1998, Công ty Tài chính Bưu điện được thành thành lập theo Quyết định số 415/1998/QĐ -TCCB ngày 08/07/1998 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu Điện với số vốn điều lệ ban đầu là 70 tỷ đồng. Từ đây, VNPT chính thức “đặt chân” vào lĩnh vực tài chính.

Công ty Tài chính Bưu điện (PTF) có vị trí quan trọng trong dây chuyền vốn – tín dụng, là trung gian tài chính – cầu nối giữa VNPT với thị trường tài chính và các tổ chức trung gian tài chính khác. PTF có chức năng huy động vốn, cho vay, đầu tư tài chính và thực hiện các hoạt động tư vấn và kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Thông qua PTF, VNPT đã và đang tham gia vào nhiều công đoạn, như xây dựng phương án đầu tư, phương án gọi vốn, tham gia quản lý dự án và quản lý doanh nghiệp của hàng chục dự án lớn nhỏ, điển hình là các dự án đầu tư ra nước ngoài của VNPT, dự án Trường đại học dân lập Lương Thế Vinh (Nam Định), dự án Trung tâm Thương mại Cầu Giấy, dự án Cầu Nhơn Trạch (TP.HCM – Đồng Nai)… hay tham gia góp vốn vào các liên doanh, Quỹ và Công ty cổ phần như: Quỹ Đầu tư chứng khoán Sài Gòn, Quỹ Đầu tư Việt Nam, Quỹ thành viên VCB… Ngoài ra, PTF đã tham gia giao dịch chứng khoán ngay từ khi Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM đi vào hoạt động. Hoạt động đầu tư tài chính của VNPT dần dần từng bước được khẳng định.

Cùng thời gian này, VNPT cũng bắt đầu mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thông qua việc trở thành một trong những cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) vào tháng 6 năm 1998. Từ đó, PTI trở thành công ty trực thuộc Tập đoàn, hoạt động theo đường lối chiến lược của VNPT. Ngoài việc cung cấp các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ và kinh doanh tái bảo hiểm, PTI còn thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính có liên quan. Mặc dù ra đời muộn hơn các công ty bảo hiểm khác nhưng PTI đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam và có uy tín cao đối với khách hàng nhờ có định hướng kinh doanh đúng đắn cũng như tiềm lực về vốn của các cổ đông sáng lập.

Trong quá trình hoạt động, các công ty hoạt động liên tục đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp của mình. Từ đó, dịch vụ VNPT cung cấp trong lĩnh vực tài chính và bảo hiểm cũng ngày một đa dạng và mở rộng thêm.

Từ hoạt động đầu tư tài chính ban đầu, Công ty Tài chính Bưu điện (PTF) đã mở rộng dịch vụ sang tư vấn và tín dụng. Trong mảng tín dụng, số vốn thông qua Công ty Tài chính Bưu Điện cho tới năm 2003 đã đạt gần 1.000 tỷ đồng, với đối tác là tất cả các ngân hàng thương mại lớn và khách hàng là hơn 100 đơn vị thành viên của VNPT. Dịch vụ tư vấn cũng được coi là một nội dung quan trọng, không chỉ đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động, đào tạo và nâng cao trình độ cho các chuyên gia đầu tư tài chính và các nhà quản lý doanh nghiệp, mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới, tái thiết doanh nghiệp, hỗ trợ đắc lực cho việc quyết định tài trợ vốn hoặc đầu tư vốn. Danh mục các doanh nghiệp cổ phần hóa, các đơn vị tái cơ cấu, doanh nghiệp cần xây dựng lại các quy chế quản lý do PTF tư vấn đã lên đến con số trên 30 đơn vị trong và ngoài VNPT, trong đó, có những công ty lớn như Công ty Xây dựng bưu điện, Công ty cổ phần Xây lắp bưu điện Hà Nội HACISCO, Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng bưu chính viễn thông SAICOM, Công ty cổ phần Viễn thông tin học bưu điện CT-IN, Công ty Tái bảo hiểm quốc gia VINARE…

Doanh thu từ dịch vụ tư vấn của Công ty năm 2008 đạt gần 2 tỷ đồng. Năm 2003, PTF chính thức gia nhập đội ngũ các đơn vị được thực thi hoạt động ngoại hối, bắt đầu mở rộng cung cấp các dịch vụ liên quan đến ngoại hôi. Năm 2006, khi Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam được thành lập trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại một số đơn vị của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, nhận thức được hình thức kinh doanh đã không còn phù hợp, VNPT đã tách bộ phận Đầu tư tài chính chuyển về Công ty mẹ và chuyển đổi Công ty Tài chính Bưu điện thành Công ty cổ phần Dịch vụ Tài chính Bưu điện. Ngày 26/3/2007, theo Quyết định số 624/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, vốn điều lệ của PTF được tăng lên 500 tỷ đồng trong năm tài chính 2007. Từ đó, tiềm lực và khả năng hoạt động của PTF trên thị trường tài chính càng được nâng cao. Cho đến nay, PTF đã làm tốt vai trò công cụ hoạt động tài chính của VNPT và giành được uy tín trên thị trường. Hoạt động đầu tư tài chính đã trở thành một trong những lĩnh vực chiến lược của Tập đoàn. Hàng năm, Tập đoàn đều dành một số vốn lớn cho hoạt động đầu tư tài chính. Trong Kế hoạch phát triển 5 năm 2006 – 2010, VNPT đã dành 2000 tỷ đồng cho hoạt động này. Con số này đã cho thấy mức độ quan tâm đến lĩnh vực đầu tư tài chính của VNPT. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

Tại lĩnh vực bảo hiểm, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) không ngừng phát triển, ngày càng tạo vị thế vững chắc cho VNPT. Trong quá trình hoạt động, với sự quản lý, định hướng của VNPT và các cổ đông sáng lập khác, PTI đã tìm và xác định được định hướng để triển khai các hoạt động nghiệp vụ của mình. Hoạt động ngày càng được triển khai mạnh mẽ đem lại hiệu quả và bước đầu thực hiện được mục tiêu nhiệm vụ đặt ra khi thành lập Công ty. Để đảm bảo an toàn tài chính của công ty, khả năng bồi thường cho khách hàng và năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, trong quá trình phát triển, PTI đã tạo lập quan hệ hợp tác lâu dài, tốt đẹp và đã ký kết những hợp đồng tái bảo hiểm cố định với các công ty, tập đoàn tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế như: Swiss Re, Munich Re, CCR, Mitsui Sumitomo, Tokio Marine, Hannover Re, Vinare… và các công ty môi giới hàng đầu như: Marsh, Aon, Willis, Arthur J. Gallagher… Nhờ vậy, PTI có khả năng nhận và thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường quốc tế các dịch vụ bảo hiểm có giá trị tới hàng trăm triệu USD, đặc biệt là các dự án xây dựng quy mô lớn như: thuỷ điện, xi măng, cầu, đường… Tổng doanh thu nhận tái bảo hiểm năm 2006 đạt 24 tỷ VNĐ. Tổng năng lực hợp đồng tái bảo hiểm của PTI năm 2007 là 21 triệu USD. Tỷ lệ bồi thường trung bình hành năm của PTI 25% trên doanh thu bảo hiểm. PTI cũng không ngừng phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm của mình và cho đến nay, gần 50 sản phẩm bảo hiểm chất lượng cao, mức phí cạnh tranh đã được công ty triển khai rộng khắp trên phạm vi cả nước. Cùng những thành tích đã đạt được, PTI đang ngày càng phát triển với mức tăng trưởng về doanh thu bảo hiểm gốc đạt trung bình 30% năm. PTI đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường bảo hiểm Việt Nam và quốc tế và là một trong 5 doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Tuy cả PTF và PTI là hai định chế tài chính lớn nhất của VNPT nhưng trong quá trình hoạt động và phát triển, hai công ty hoạt động gần như độc lập với nhau. Chỉ cho đến ngày 30/11/2007, Công ty Tài chính Bưu điện (PTF) và Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) mới chính thức ký kết thoả thuận hợp tác. Với vị thế là hai định chế tài chính của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, việc PTI và PTF ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược sẽ tạo ra một cơ chế hợp tác phát triển tối ưu. Với thoả thuận này, hai bên cam kết trở thành cổ đông chiến lược của nhau thông qua việc nắm giữ cổ phần của đối tác. Hai bên cũng sẽ chia sẻ các cơ hội đầu tư tiềm năng với nhau thông qua việc góp vốn đầu tư các dự án tiềm năng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực huy động, quản lý ngồn vốn và dịch vụ tài chính, ngân hàng, Bảo hiểm PTI sẽ ưu tiên PTF trong việc tiếp cận, quản lý các nguồn vốn của mình nhằm đạt được hiệu qủa tốt nhất. Bên cạnh đó, PTF cũng cung cấp các dịch vụ cho vay ưu đãi đối với PTI và cán bộ công nhân viên của PTI. Đồng thời với việc ưu tiên sử dụng các sản phẩm bảo hiểm của PTI, PTF sẽ giới thiệu khách hàng tiếp cận các sản phẩm này. Việc ký thoả thuận hợp tác này sẽ mở ra một thời kỳ mới, hướng tới việc xây dựng những định chế tài chính của VNPT trở thành những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và bảo hiểm.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, VNPT cũng liên tục đa dạng hóa các hình thức tham gia đầu tư, phát triển hợp tác với nhiều đối tác lớn trong lĩnh vực đầu tư tài chính và bảo hiểm nhằm khai thác tốt nhất lợi thế, thế mạnh của đối tác và bản thân Tập đoàn, tạo cơ hội đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mỗi doanh nghiệp. Năm 2007, VNPT đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược với nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm, đầu tư… lớn tại Việt Nam như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Hàng hải (Maritime Bank), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB), Tập đoàn Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam,… Trong quá trình hợp tác, VNPT và các đối tác sẽ dựa vào lợi thế của nhau để khai thác tiềm năng, đẩy mạnh tăng trưởng, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh. Hai bên cùng xúc tiến các liên doanh liên kết để hỗ trợ nhau mở rộng phát triển kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, đa mô hình quản lý để khai thác tối ưu nhất tiềm năng của thị trường trong và ngoài nước, trong lĩnh vực kinh doanh truyền thống cũng như các lĩnh vực khác mà hai bên cùng quan tâm. Ngoài ra, để thực hiện mục tiêu kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, VNPT đã cùng các đối tác chiến lược thống nhất thành lập các công ty quản lý quỹ với vai trò là các sáng lập viên cốt lõi và cùng xem xét thành lập các Quỹ đầu tư trong các lĩnh vực như: Năng lượng, Viễn thông, Bất động sản, Khoáng sản, … trong đó VNPT sẽ đóng vai trò là cổ đông chiến lược cùng với các đối tác khác.

2.2. Kết quả thu được

Năm 2007, sau khi chủ động mở rộng các hình thức đầu tư tài chính, Tập đoàn đã thực hiện đầu tư tài chính ngắn hạn với tổng giá trị vốn đầu tư là 24.266 tỷ đồng và thu được doanh thu là 1.263 tỷ đồng, tăng 60% so với năm 2006 20. Với việc góp thêm vốn vào các doanh nghiệp đang hoạt động kết hợp với đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp mới thành lập có nhiều tiềm năng với tổng giá trị vốn đầu tư là 840 tỷ đồng, doanh thu hoạt động tài chính từ đầu tư tài chính dài hạn đạt 250 tỷ đổng. Tuy đây chỉ là một con số nhỏ so với tổng doanh thu của năm (46.302 tỷ đồng) nhưng đã bước đầu khẳng định vai trò của lĩnh vực này trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của VNPT

One thought on “Khóa luận: Thực trạng đa dạng hóa kinh doanh tại VNPT

  1. Pingback: Khóa luận: Chiến lược đa dạng hoá kinh doanh của VNPT

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464