Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Với thực trạng các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, việc hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở các tổng Công ty nhà nước có đủ điều kiện. Đó là các tổng Công ty có quy mô khá lớn, đã có mạng lưới doanh nghiệp thành viên rộng khắp. Các doanh nghiệp này đã có quan hệ tương đối mật thiết, đang có liên doanh với nhiều đối tác trong và ngoài nước nên càng có điều kiện để trở thành hạt nhân trong mô hình Tập đoàn mới.Tập đoàn kinh tế là mô hình còn khá mới mẻ với nước ta do vậy để phát triển thành công mô hình này cần phải học hỏi kinh nghiệm nhiều từ các quốc gia phát triển đi trước đặc biệt là những nước có hoàn cảnh và điều kiện cụ thể tương đồng với Việt Nam. Phương thức hình thành Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam có những đặc trưng gần giống với cách thức hình thành Tập đoàn kinh tế tại một số nước Đông á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Sau đây là một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển Tập đoàn ở các quốc gia này.

1. Kinh nghiệm phát triển Tập đoàn kinh tế của Trung Quốc Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Trung Quốc có kế hoạch chuẩn bị thành lập Tập đoàn kinh tế từ những năm 80 của thế kỷ XX với 2 đợt thí điểm thành lập 120 Tập đoàn doanh nghiệp vào các năm 1991 và 1997. Nhà nước Trung Quốc đã tạo ra khung pháp lý cho Tập đoàn doanh nghiệp ra đời và phát triển như quy định tạm thời về việc thành lập doanh nghiệp Tập đoàn của ủy ban Kinh tế và Mậu dịch nhà nước: Luật về đăng ký kinh doanh của Tập đoàn doanh nghiệp. Với cách làm thận trọng từ chỗ khuyến khích sự liên kết, hợp tác kinh tế, thực hiện hình thức ―cùng quản lý‖ giữa các doanh nghiệp mà không làm thay đổi hình thức sở hữu đến việc chính thức hình thành Tập đoàn doanh nghiệp. Từng bước nới lỏng sự quản lý nhà nước, giao thêm quyền tự chủ kinh doanh cho các Tập đoàn doanh nghiệp.

Mở rộng dần sự hợp tác liên doanh giữa các doanh nghiệp từ lĩnh vực sản xuất đến cung ứng, lưu thông cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm sang các lĩnh vực khác như nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chia sẻ thông tin, liên doanh với nước ngoài, v.v… Đặc biệt là thực hiện mối liên kết kinh tế giữa Công ty mẹ và các Công ty con chủ yếu dựa trên góp vốn cổ phần. Từ những hoạt động trên, kết quả, nếu như năm 1989 Trung Quốc mới có 1.630 Tập đoàn doanh nghiệp thì đến năm 2001 có tới 2.710 Tập đoàn doanh nghiệp.

Tốc độ tăng trưởng bình quân trên các chỉ tiêu chủ yếu của các Tập đoàn doanh nghiệp từ năm 1997-2001 như sau:

Về quy mô: Tập đoàn kinh tế Trung Quốc tuy có quy mô nhỏ so với Tập đoàn kinh tế khác trên thế giới nhưng ở trong nước cũng ở mức khá lớn như: số vốn bình quân một Tập đoàn kinh tế là 4,8 tỷ nhân dân tệ tương đương 0,56 tỷ USD. Trong đó, 32 Tập đoàn với tổng số vốn trên 50 tỷ nhân dân tệ chiếm 1,2% tổng số Tập đoàn. Vùng duyên hải chiếm 68% tổng số Tập đoàn, chiếm 83% tổng giá trị tài sản, 84% tổng doanh thu của các Tập đoàn kinh tế của cả nước.

Xét về mặt sở hữu: Sở hữu nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, trong số 2.710 Tập đoàn kinh tế, năm 2001 có tới 65,9% Tập đoàn có sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối. Số Tập đoàn này chiếm 93% tổng giá trị tài sản và 88,4% doanh thu hoạt động của Tập đoàn kinh doanh. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Mặc dù vậy Tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc còn gặp những thách thức như:

  • Quy mô Tập đoàn nhỏ
  • Cơ cấu tổ chức một số Tập đoàn doanh nghiệp chưa hợp lý (không đủ vốn đăng ký 100 triệu nhân dân tệ , có ít hơn 5 thành viên theo quy định. Cá biệt còn có Tập đoàn doanh nghiệp không có Công ty con.
  • Hình thức sở hữu chưa đa dạng hoá, mức độ kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực còn hạn chế. Số lượng Tập đoàn doanh nghiệp nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn.
  • Còn tình trạng độc quyền, do đó kém sức cạnh tranh.
  • Sự phân bố Tập đoàn kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ chưa đồng đều. Cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chậm đổi mới.
  • Một số Tập đoàn doanh nghiệp chưa hình thành đại hội cổ đông, chưa có Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; thiếu cơ chế khuyến khích và phân công trách nhiệm không rõ ràng. Không có hệ thống Công ty mẹ – Công ty con rõ ràng, đầy đủ.
  • Tập đoàn còn thiếu năng lực sáng tạo khoa học, công nghệ mặc dù tăng trưởng về chi cho nghiên cứu phát triển hàng năm đạt ở mức cao, song 76% Tập đoàn doanh nghiệp có chi phí bình quân cho nghiên cứu phát triển chỉ chiếm tỷ lệ 1% trong thu nhập hoạt động hàng năm.
  • Các Tập đoàn doanh nghiệp nhà nước không thiết lập được cơ chế khuyến khích và tinh thần trách nhiệm có hiệu quả. Đặc biệt là tỷ lệ sinh lời của các Công ty mẹ thuộc sở hữu nhà nước chiếm phần chi phối chỉ dưới 10% năm 2000 và 2001 trong khi các Tập đoàn khác đạt tới 60% năm tỷ lệ sinh lời. Số Tập đoàn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chiếm tới 21%.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, thành lập một Tập đoàn doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là lắp ghép các doanh nghiệp thành viên lại với nhau mà phải tạo nên một chỉnh thể kết hợp hữu cơ với một cơ cấu nhiều tầng cấp. Việc hình thành Tập đoàn kinh tế cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

  • Phù hợp với chính sách sản xuất và chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước. Việc hình thành Tập đoàn kinh tế phải có tác động tích cực tới điều chỉnh cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm của chính doanh nghiệp đó. Trước hết cần hình thành các Tập đoàn trọng điểm có khả năng thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển, tác động tới việc nghiên cứu và triển khai sản xuất các mặt hàng chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường.
  • Khuyến khích cạnh tranh, hạn chế độc quyền. Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nghiêm cấm các hoạt động lũng đoạn thị trường hoặc phong toả khu vực.
  • Phân định rạch ròi chức năng quản lý kinh doanh với chức năng quản lý hành chính. Công ty mẹ của Tập đoàn không thể thực hiện cả hai chức năng quản lý kinh doanh và quản lý hành chính. Tập đoàn cần được xác định không phải là Hiệp hội ngành nghề mà là một tổ chức kinh tế. Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên được thiết lập trên cơ sở nắm giữ cổ phần hoặc quan hệ kỹ thuật sản xuất, không phải là quan hệ lệ thuộc hành chính.
  • Thực hiện nguyên tắc đầu tư tự nguyện. Việc hình thành Tập đoàn phải tuân theo các quy luật kinh tế, không thể lắp ghép bằng mệnh lệnh hành chính. Việc hình thành Tập đoàn phải tuân theo phương thức tự nguyện đóng góp cổ phần, tham gia cổ phần của người đầu tư, với sợi dây liên kết giữa các doanh nghiệp chủ yếu là vốn. Như vậy mới đảm bảo các mối quan hệ rõ ràng trong nội bộ Tập đoàn và ổn định cơ cấu tổ chức.

Hay nói cách khác, nguyên tắc hình thành Tập đoàn doanh nghiệp ở Trung Quốc là cùng có lợi, tự do tham gia và rút khỏi Tập đoàn, chống độc quyền trong hoạt động. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Tập đoàn kinh tế được hình thành trong những điều kiện nhất định, đó là các điều kiện bên trong và các điều kiện bên ngoài. Trung Quốc cho rằng để Tập đoàn kinh tế hoạt động có hiệu quả thì việc hình thành Tập đoàn cần đảm bảo các điều kiện sau đây:

  • Sản xuất phải đạt đến một trình độ xã hội hoá nhất định dẫn đến đòi hỏi khách quan phải lựa chọn hình thức tổ chức Tập đoàn kinh tế có quy mô lớn, nhiều vốn và có độ tập trung sản xuất cao.
  • Nền kinh tế thị trường phải đạt đến một trình độ nhất định và thiết lập được một cơ cấu thị trường tương đối hoàn thiện.
  • Chính phủ ban hành tương đối đầy đủ các quy định và chính sách liên quan đến hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế.
  • Khi hình thành Tập đoàn kinh tế cũng cần đáp ứng các điều kiện bên trong của Tập đoàn kinh tế gồm: quy mô vốn đăng ký của Công ty mẹ, tổng vốn đăng ký của cả Tập đoàn, số lượng doanh nghiệp thành viên tối thiểu, tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp thành viên.
  • Ngoài ra, để Tập đoàn kinh tế hoạt động có hiệu quả, các điều kiện về nhân lực, bộ máy quản lý, trình độ khoa học công nghệ… cũng là những điều kiện quan trọng cần phải xem xét khi hình thành Tập đoàn kinh tế.

Từ thực tiễn phát triển Tập đoàn kinh doanh của Trung Quốc có thể rút bài học kinh nghiệm về xây dựng phát triển Tập đoàn kinh tế cho Việt Nam như sau:

  • Thứ nhất: Tập đoàn kinh tế là sản phẩm tất yếu khách quan, ra đời và phát triển theo quy luật tích lũy, tích tụ tập trung, quy luật thị trường cạnh tranh và lợi ích kinh tế với lợi nhuận tối đa… Do vậy, không nên chủ quan duy ý chí nóng vội, áp đặt ý nghĩ chủ quan vào quá trình phát triển của Tập đoàn kinh tế.
  • Thứ hai: Những mối liên hệ giữa các Công ty theo chiều dọc, chiều ngang, đa dạng hoá Công ty đa quốc gia, theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con phải tôn trọng tính tự nguyện, lợi ích kinh tế, thông qua lợi ích dẫn đến việc liên kết không phải dùng mệnh lệnh hành chính áp đặt.
  • Thứ ba: Nhà nước chủ yếu giữ vai trò hỗ trợ gián tiếp, làm chất xúc tác, tạo khuôn khổ pháp lý định hướng phát triển, nhà nước không làm thay, hoặc tạo ra Tập đoàn kinh tế kiểu nhà nước hoá.
  • Thứ tư: Phải thực hiện đa thành phần, đa sở hữu và nhà nước chỉ chiếm tỷ lệ chi phối ở những ngành lĩnh vực thật cần thiết.
  • Thứ năm: Hạn chế độc quyền của một số Tập đoàn kinh tế, không sáp nhập một cách vô nguyên tắc làm thiệt hại đến lợi ích quốc gia, tạo cơ chế, môi trường cạnh tranh lành mạnh.
  • Thứ sáu: Xây dựng tính pháp quy và các mối quan hệ giữa: Công ty mẹ con, giữa Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc; giữa kiểm toán nội bộ với kiểm toán quốc gia, quốc tế…
  • Thứ bảy: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế Tập đoàn từ thấp đến cao, từ liên kết dọc đến liên kết ngang tuân theo trình độ xã hội hoá sản xuất và trình độ tổ chức quản lý. Sử dụng có hiệu quả đòn bẩy khuyến khích lợi ích kinh tế cá nhân, nhóm, khu vực với tự giác lao động sản xuất kinh doanh.
  • Thứ tám: Nhận thức được mối liên kết hợp quy luật, liên kết có tính khoa học, để biến Công ty nhỏ bé, đơn lẻ, yếu ớt, thành những Công ty đa quốc gia được đặt trong một hệ thống tổ chức và quản lý khoa học phù hợp với quy luật xã hội hoá quá trình sản xuất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Kinh nghiệm phát triển Tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Về bản chất, Chính phủ và các Tập đoàn kinh tế lớn đã là những đối tác của nhau trong quá trình phát triển đất nước. Về mặt hình ảnh so sánh, mối quan hệ giữa Chính phủ Hàn Quốc và các Tập đoàn lớn giống như các bộ phận của một doanh nghiệp với nhiều đơn vị – được gọi một cách không chính thức là Công ty Hàn Quốc (Korea Inc.) hay Tổ chức nội bộ (QIO). Chính phủ đại diện cho cơ quan đầu não, trong khi các Tập đoàn tham gia vào tổ chức là các đơn vị kinh doanh, hay nói cách khác Chính phủ đóng vai trò là Công ty mẹ trong khi các Tập đoàn đóng vai trò là các Công ty con. Việc phát triển các ngành công nghiệp nặng thường liên quan đến việc thực hiện một số các dự án mang tính hỗ trợ (thường có mối quan hệ theo chiều dọc với những ngành nói trên).

Do vậy, việc phối hợp một cách hiệu quả thời điểm, các bước triển khai và quy mô của từng dự án riêng lẻ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành công của toàn bộ chương trình này. Việc quy định chỉ có một số lượng hạn chế những doanh nghiệp có tiềm lực tham gia vào dự án sẽ là hiệu quả hơn việc để cho thị trường tự quyết định. ở Hàn Quốc, hoạt động của QIO là khá thành công. Thành công này có thể là do một số nhân tố sau:

Thứ nhất, Chính phủ, thường là bản thân tổng thống, là người giám sát hiệu quả việc thực hiện các nhiệm vụ. Đây là điều có thể kỳ vọng có được ở sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ và thực hiện đầy đủ các cam kết về phát triển kinh tế. Trong thực tế, bản thân tổng thống đã rất quan tâm đến các dự án, sự động viên khích lệ mỗi khi đạt được thành tựu. Với việc làm này, khả năng xảy ra những hành vi trục lợi của những Công ty tham gia vào dự án hay sử dụng sai mục đích các khoản cho vay của ngân hàng cho dự án có thể giảm tới mức tối đa. Trong một số trường hợp hiếm hoi xảy ra hành động như vậy, Công ty hay Tập đoàn kinh tế đó sẽ bị trừng phạt rất nặng.

Thứ hai, các chính sách ưu đãi rất hấp dẫn dành cho các doanh nghiệp tham gia, mà nếu không có những chính sách này các doanh nghiệp đã không tham gia một cách chủ động vào thực hiện dự án, bất kể dự án có tính chiến lược như thế nào với đất nước. Vì các dự án trong lĩnh vực công nghiệp nặng và hóa chất thường đòi hỏi nhiều vốn và rủi ro (do thời gian thực hiện dài). Để lôi kéo sự tham gia của các doanh nghiệp vào thực hiện dự án, Chính phủ Hàn Quốc đã sẵn sàng là một đối tác ngầm chia sẻ rủi ro với các doanh nghiệp. Chính phủ đã áp dụng các chính sách thuế khác nhau hết sức ưu đãi cho doanh nghiệp, thúc giục các ngân hàng cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi đối với vốn nước ngoài, thậm chí đã bảo đảm thanh toán cho các khoản vay vốn nước ngoài, và thực hiện bảo hộ chống lại hàng nhập khẩu.

Thứ ba, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thành tích có thể nhận biết được trong hoạt động của QIO. Nếu không có những tiêu chuẩn đánh giá đúng đắn, toàn bộ mục đích nhiệm vụ – điều phối và giám sát – sẽ thất bại. ở Hàn Quốc, tiêu chuẩn quan trọng nhất là thành tích xuất khẩu – được coi là thuốc thử phương thức đánh giá duy nhất đối với hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Tiêu chuẩn này – dù có thể chưa hoàn hảo – là rất rõ ràng và dễ quản lý mà không gây ra nhiều nhầm lẫn hay chệch hướng.

Liên hệ đến mối quan hệ giữa Chính phủ và phát triển Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam:

Chính phủ Việt Nam hiện đang trong quá trình chuyển đổi các tổng Công ty thành Tập đoàn kinh tế. Các tổng Công ty được thành lập trên cơ sở sáp nhập mang tính mệnh lệnh hành chính. Mỗi Tập đoàn dự kiến sẽ được xây dựng dưới hình thức thành lập một Công ty mẹ (do sáp nhập một số doanh nghiệp nhà nước) và các Công ty con trực thuộc được Công ty mẹ kiểm soát thông qua quan hệ đầu tư tài chính. Hình thức cấu trúc Tập đoàn này giúp giải quyết nhiệm vụ định hướng chiến lược và kiểm soát – sẽ phụ thuộc rất lớn vào năng lực của cơ quan chịu trách nhiệm quản lý vốn nhà nước là Hội đồng quản trị của Công ty mẹ, và việc lựa chọn ban giám đốc ở cấp cao nhất. Chức năng của Hội đồng quản trị có rất nhiều nét giống chức năng trong mô hình Hội đồng quản trị kiểu Anh – Mỹ. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Trong bất cứ trường hợp nào, yếu tố then chốt nhất trong việc vận hành một Tập đoàn kinh tế là vai trò của trung tâm đầu não. Nhiệm vụ của trung tâm này là hoạch định chiến lược phát triển Tập đoàn, lên kế hoạch đầu tư và huy động vốn, điều phối các Công ty thành viên để tối đa hóa lợi ích của Tập đoàn và giám sát hiệu quả hoạt động của các Công ty con. Để thực hiện các chức năng này, trong quá khứ, các Tập đoàn kinh doanh ở Hàn Quốc đã thành lập Văn phòng Kế hoạch và Điều phối trực tiếp hỗ trợ Chủ tịch Tập đoàn.

Trong thời kỳ đầu khi các Tập đoàn kinh doanh ở Hàn Quốc mới phát triển, các Tập đoàn này thường tiến hành đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ở những lĩnh vực không có mối liên hệ về mặt hoạt động khi những Tập đoàn này chủ trương thâm nhập vào bất kỳ ngành nào có cơ hội kinh doanh tốt. Tuy nhiên, ở giai đoạn sau, những Tập đoàn này đã hướng trọng tâm vào việc đa dạng hóa trong những lĩnh vực có mối liên hệ về mặt hoạt động thông qua việc mở rộng phạm vi kinh doanh trong những Công ty con then chốt ở một số ngành khác nhau. Việc đa dạng hóa kinh doanh trong những ngành có liên quan đã tạo cơ hội thực hiện các giao dịch trong nội bộ Tập đoàn, tạo điều kiện làm nảy sinh hành vi trục lợi nhằm đem lại lợi ích tối đa cho những cổ đông có quyền kiểm soát Tập đoàn kinh tế.

Khi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho gia đình, các Tập đoàn kinh doanh ở Hàn Quốc đã bộc lộ thêm nhiều kiểu hành vi cơ bản khác ngoài hành vi giao dịch độc quyền trong nội bộ. Thứ nhất, những Tập đoàn này hết sức miễn cưỡng trong việc từ bỏ việc kiểm soát hoạt động quản lý điều hành, và chức Chủ tịch Tập đoàn là được thừa kế bởi các thành viên trong gia đình mà hầu như không có ngoại lệ nào. Thứ hai, để duy trì sự kiểm soát đối với hoạt động quản lý điều hành trong hoàn cảnh tài sản của gia đình chỉ có hạn, các Tập đoàn này dựa chủ yếu vào hình thức đi vay và vốn góp của các Công ty thành viên để mở rộng hoạt động kinh doanh – khiến cho cấu trúc vốn của Tập đoàn trở nên xấu đi. Cuối cùng, những Tập đoàn này tiếp tục đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, gia tăng số lượng Công ty thành viên tới vài chục Công ty để trở thành những Tập đoàn lớn nhất. Tăng thêm Công ty thành viên có nghĩa là sẽ có nhiều cơ hội hơn để làm giàu cho gia đình thông qua việc thực hiện nhiều giao dịch nội bộ hơn. Hậu quả của việc theo đuổi mục tiêu phục vụ cho lợi ích của gia đình thông qua những hành vi không công bằng như vậy đã khiến các nguồn lực bị phân bổ lệch lạc, bảng cân đối kế toán thiếu lành mạnh và sự tập trung quyền lực kinh tế cao độ mà hậu quả đỉnh cao là cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997.

Tỷ lệ nợ/vốn cổ phần ở 30 Tập đoàn kinh tế lớn nhất năm 1996 lên tới 387%. Số Công ty con trung bình của 5 Tập đoàn lớn nhất vào năm 1997 là 52,4 Công ty và của 30 Tập đoàn lớn nhất là 27,3 Công ty. Hoạt động giao dịch nội bộ, tính trung bình ở 5 Tập đoàn lớn nhất vào năm 1997 lên tới hơn 30% tổng doanh thu. Cuối cùng, tỷ suất lợi nhuận/vốn chỉ ở mức 1,3% từ năm 1994-1997 ở 30 Tập đoàn hàng đầu (tỷ suất này chỉ là -0,6% đối với các Tập đoàn xếp hạng từ 11 đến 309) so với tỷ suất lợi nhuận 1,7% trong tất cả các ngành và 1,9% đối với những Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc.

3. Kinh nghiệm phát triển Tập đoàn kinh tế của Nhật Bản

Tại Nhật Bản, cái nôi của những Tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, giới phân tích nhận định rằng điểm khác biệt giữa nhà quản trị quốc tế (quản lý các hoạt động kinh doanh xuyên quốc gia) và nhà quản trị trong nước (quản lý các hoạt động kinh doanh trong nội bộ quốc gia) là nhà quản trị quốc tế phải biết tìm cách làm cho các hoạt động kinh doanh của Công ty mẹ tại một nước phù hợp với các chi nhánh, Công ty con địa phương ở nước ngoài và quan hệ tốt với Chính phủ nước đó. Nhiệm vụ của các nhà quản trị chi nhánh và Công ty con ở nước ngoài thường nặng nề hơn so với các nhà quản trị trong nước, bởi vì họ phải đương đầu với khó khăn về thông tin liên lạc giữa các cơ quan đầu não của Công ty và chi nhánh. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Các Tập đoàn kinh tế Nhật Bản thường thích bổ nhiệm các nhà quản trị là người ngay tại địa phương hơn là những người từ nơi khác đến, vì các nhà quản trị địa phương thông hiểu những điều kiện hoạt động và môi trường kinh doanh ở địa phương, ít tốn kém, hơn nữa người địa phương có thể tập trung vào các hoạt động nhằm phục vụ cho mục tiêu dài hạn của Tập đoàn mình sao cho phù hợp với địa phương. Với cách thức này, các Tập đoàn Nhật Bản chỉ cần điều động một số ít chuyên gia ra nước ngoài để truyền đạt những kỹ năng chuyên môn cần thiết và cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh chính yếu, đồng thời kiểm soát các hoạt động ở nước ngoài và phát triển năng lực cho nhà quản trị.

Tuy nhiên, dù ở trong nước hay ngoài biên giới thì nội dung của các hoạt động quản trị cũng không khác biệt nhiều lắm và đều cần đến những công thức thành công chung. Ông Masao Nemoto, cựu giám đốc điều hành Tập đoàn Honda, đã khuyến cáo các nhà quản trị doanh nghiệp: ―Một trong những chức năng quan trọng của người quản trị là thực hiện tốt sự phối hợp giữa bộ phận của mình với những bộ phận khác‖. Và một kết luận rút ra là giới quản trị cấp cao không nên giao phó những công việc quan trọng chỉ cho một phòng ban duy nhất.

Các nhà quản trị cần chú ý đến các kỹ năng huấn luyện và thuyết trình. Các nhà quản trị tại Tập đoàn điện tử Sony, Nhật Bản, luôn chú trọng việc giúp các nhân viên phát triển kỹ năng diễn giải và trình bày về công việc của mình trước tập thể để họ có được những sự cộng tác đầy đủ và hữu hiệu hơn. Hãng Honda thì lại có chính sách luân phiên huấn luyện nhân viên. Thông thường, những nhà quản trị đều có xu hướng muốn giữ những nhân viên giỏi nhất của mình không cho luân chuyển sang bộ phận khác, nhưng về lâu dài, chính sách luân chuyển nhân viên giỏi sẽ rất có lợi cho toàn thể Công ty. Các nhà quản trị và người trưởng nhóm giám sát thường có rất nhiều buổi thuyết trình và báo cáo vì trong chương trình kiểm tra chất lượng thường phải có báo cáo về tiến độ thực hiện công việc. Đó là những dịp rèn luyện kỹ năng thuyết trình và khám phá những vấn đề mới hoặc những thiếu sót của vấn đề.

Tập đoàn Toyota hay Mitsubishi, luôn có truyền thống ―tạo cơ hội để được lắng nghe cấp thấp nhất‖. Nếu thuộc cấp có yêu cầu giúp đỡ điều gì, nhà quản trị nên cố gắng thực hiện theo yêu cầu ấy ngay khi có thể. Nói một cách khác, nếu các nhân viên cảm nhận rằng nhà quản trị cấp cao quan tâm và sẵn sàng giải quyết vấn đề của họ, thì họ sẽ tích cực, lạc quan hơn việc thực thi nhiệm vụ được giao và sẽ có thái độ nghiêm túc hơn đối với những mục tiêu chung mà nhà quản trị đề ra.

Và cuối cùng ―Làn sóng văn minh thứ tư‖ đang hướng các Công ty, Tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản đến việc phá vỡ những chương trình quản lý cũ thông qua việc mở ra những phương pháp mới nhằm tăng cường đầu tư vào sáng tạo, đổi mới các qui trình quản trị lãnh đạo theo yêu cầu của tình hình mới… Có thể nói, tính sáng tạo đang ngày càng có ảnh hưởng lớn và giữ vai trò tiên phong trong cuộc cách mạng quản trị diễn ra ở Nhật Bản kể từ những năm đầu của thiên niên kỷ mới.

4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Thứ nhất: Bài học kinh nghiệm rút ra cho các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn thành lập Tập đoàn kinh tế là nên xây dựng phương thức quản trị cho Tập đoàn mình. Phương pháp quản trị và xây dựng quản lý theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con phải phù hợp với môi trường hoàn cảnh của quốc gia và ngành nghề hoạt động kinh doanh của mình. Về nhân sự quản trị cho Công ty mẹ, Công ty con nên sử dụng thật phù hợp, tránh lãng phí và phân bổ không đúng người tại mỗi vị trí. Phối hợp thật tốt giữa bộ phận này và bộ phận khác hay Công ty này với Công ty khác của Tập đoàn kinh tế. Chú trọng đầu tư cho đổi mới công nghệ cho Tập đoàn, tạo ra phương pháp nghiên cứu mới cho hoạt động kinh doanh, sản phẩm mới…

Thứ hai: Đối với Việt Nam, khi những doanh nghiệp mang tính gia đình đã đủ lớn để bắt đầu chia sẻ quyền sở hữu của họ với các nhà đầu tư khác, và đã sở hữu nhiều Công ty con dưới hình thức một Tập đoàn kinh doanh, những doanh nghiệp này cần phải được quản lý chặt chẽ bằng các quy định và cơ chế quản trị doanh nghiệp lành mạnh. Tuy nhiên, ở Việt Nam có lẽ sẽ không xuất hiện các Công ty gia đình lành mạnh trong thời gian tới. Do vậy, nhiệm vụ trước mắt là phải đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là ở các Công ty mẹ của Tập đoàn. Làm thế nào để chọn ra được những nhà quản lý cấp cao có năng lực tốt nhất và làm thế nào để tạo động lực cho họ nỗ lực hết sức trong hoạt động quản lý điều hành Tập đoàn? Ai sẽ là người hoạch định chiến lược cho Tập đoàn, trong khi không can thiệp vào hoạt động quản lý điều hành của ban giám đốc này?

Thứ ba: Tại Việt Nam, cần phải có sự tách biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý vốn sở hữu của nhà nước với cơ chế hoạt động của thị trường và các chức năng khác. Hơn thế, sự đại diện với tư cách chủ sở hữu phần vốn nhà nước, cần được coi trọng và thực hiện nhất quán. Việc lựa chọn Ban giám đốc và các thành viên khác trong Hội đồng quản trị nên được tiến hành trên năng lực thực sự của họ. Hội đồng quản trị nên có đủ số lượng thành viên cần thiết là cổ đông bên ngoài và cần xây dựng tiêu chuẩn cao về tính minh bạch và công khai. Việt Nam cũng có thể áp dụng hệ thống đánh giá kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước của Hàn Quốc đi đôi với việc xây dựng chính sách khen thưởng hấp dẫn cũng như nguyên tắc cấm sự tham gia của các quan chức Chính phủ vào hoạt động quản lý điều hành các doanh nghiệp nhà nước hay tiến hành tuyển chọn ban giám đốc thông qua đấu thầu công khai.

Cuối cùng, Việt Nam nên xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp riêng của mình, ví dụ, bằng cách nâng cao vai trò của người lao động trong doanh nghiệp. Để kiềm chế khả năng xảy ra sự lạm dụng quyền lực của người lao động, các ngân hàng thương mại nên được khuyến khích đóng vai trò nào đó trong doanh nghiệp sau khi đã tiến hành tái cơ cấu và cải cách hệ thống quản trị Công ty.

II. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Việc hình thành Tập đoàn kinh tế ở nước ta là tất yếu khách quan đòi hỏi vừa phải kết hợp với các nguyên tắc của thị trường vừa sử dụng 1 cách chủ động, linh hoạt các chính sách của nhà nước để tác động có hiệu quả nhất. Để xây dựng và phát triển thành công mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:

1. Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường pháp lý để phát triển Tập đoàn kinh tế

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cần thiết cho các Tập đoàn kinh tế hoạt động như các thực thể kinh tế độc lập: Nhà nước đã có những chính sách tạo ra môi trường pháp lý thích hợp với mô hình Tập đoàn kinh tế. Tạo ra khung cơ chế thực sự cho việc hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế, xác định rõ nội dung, kể cả phương diện pháp lý như địa vị pháp lý của Tập đoàn kinh tế, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các doanh nghiệp trong Tập đoàn kinh tế, báo cáo hợp nhất, nộp thuế, quan hệ trong nội bộ Tập đoàn kinh tế.

Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật: Trước hết, các quyết định ban hành cần đề cập đúng bản chất và đặc thù về mô hình, tổ chức quản lý và hoạt động của Tập đoàn kinh tế. Trong chiến lược phát triển Tập đoàn kinh tế phải kiểm tra, kiểm soát thị trường bằng những biện pháp mà chúng ta đã cam kết khi gia nhập WTO, bao gồm:

Về luật pháp, chính sách, triển khai thực hiện có hiệu quả Luật doanh nghiệp đã ban hành. Nhà nước đã xây dựng các văn bản hướng dẫn và qui định khác có liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của các Tập đoàn kinh tế nhưng vẫn chưa đầy đủ. Cần rà soát và có chương trình triển khai theo đúng tiến độ các cam kết hội nhập liên quan đến mở cửa thị trường; công bố các cam kết của nước ta với các nước trong các Hiệp định song phương và đa phương tạo ra sự minh bạch về các điều kiện phát triển Tập đoàn kinh tế, nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của môi trường đầu tư nhằm phát triển Tập đoàn kinh tế ở nước ta.

Về thủ tục hành chính, rà soát các vướng mắc về thủ tục hành chính ở tất cả các lĩnh vực, các thủ tục liên quan tới triển khai dự án đầu tư như thủ tục về đất đai, xuất nhập khẩu, cấp dấu, xử lý tranh chấp… Đồng thời, cần tập trung xử lý dứt điểm các vướng mắc trong quá trình cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư và các vấn đề vướng mắc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hình thành các Tập đoàn kinh tế. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Về kết cấu hạ tầng, tiếp tục tập trung nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng nói chung, trước mắt giải quyết tốt vấn đề nhu cầu năng lượng cho các doanh nghiệp. Có cơ chế khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển các công trình kết cấu hạ tầng, trong đó có các nhà máy điện độc lập, các công trình giao thông, cảng biển…

Về lao động, tiền lương, tăng cường công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các Tập đoàn kinh tế. Đặc biệt chú ý đào tạo, xây dựng được đội ngũ những nhà quản trị trẻ tài năng. Bên cạnh đó, phải khắc phục tình trạng đình công bất hợp pháp trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã diễn ra trong thời gian qua. Đồng thời nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong các Tập đoàn kinh tế, đặc biệt là trong các Tập đoàn kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Về phát triển công nghiệp phụ trợ, triển khai các giải pháp đồng bộ để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho việc hình thành các Tập đoàn kinh tế

Về xúc tiến đầu tư, thúc đẩy triển khai kết quả từ các cuộc vận động đầu tư của Việt Nam tại các nước trong thời gian qua. Nghiên cứu để có các giải pháp thu hút đầu tư thích hợp đối với các Tập đoàn kinh tế lớn, các Tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) của một số nước phát triển, trước hết là Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU. Sự thu hút này diễn ra theo cả hai hướng: Thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu và tạo điều kiện để một số Tập đoàn xuyên quốc gia xây dựng các trung tâm nghiên cứu phát triển, xây dựng vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài giàu tiềm năng tiến hành đầu tư vào Việt Nam.

2. Nhóm giải pháp khuyến khích thành lập Tập đoàn kinh tế

Xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho việc hình thành Tập đoàn kinh tế. Ban hành các chính sách tài chính đối với các tổng Công ty để tạo điều kiện cho các tổng Công ty tự tích tụ vốn, chủ động tái đầu tư phát triển và chú trọng nuôi dưỡng nguồn thu.

Phát triển các thị trường tài chính, lao động, bất động sản, thị trường vốn, công nghệ tạo ra sự đồng bộ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các thị trường này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi hình thành các Tập đoàn kinh tế.

Khuyến khích hỗ trợ và thúc đẩy hình thành các Tập đoàn kinh tế: Nhà nước cần quan tâm hơn nữa chính sách huy động vốn qua kênh cổ phần hóa, qua thị trường chứng khoán, các chính sách khác như chính sách khoa học, công nghệ cũng tạo động lực mạnh để hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế. Phải nhanh chóng tạo ra cơ chế, chế tài, quy chế để các Tập đoàn kinh tế hoạt động một cách thuận lợi, đạt được những tiêu chuẩn của xu thế phát triển Tập đoàn kinh tế trên thế giới, từng bước nâng cao sức cạnh tranh của các Tập đoàn kinh tế trong nước với các Tập đoàn kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

3. Nhóm giải pháp hỗ trợ các Tập đoàn kinh tế phát huy vai trò và tác dụng là những “ trọng điểm và mũi nhọn kinh tế”. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Tăng cường tích tụ về vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận, trong đó điểm mấu chốt là tập trung sắp xếp đổi mới quản lý, xác lập lại cơ cấu sản xuất kinh doanh, lành mạnh hóa các quan hệ tài chính trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các Tập đoàn kinh tế. Phải nhanh chóng đổi mới tư duy về phát triển Tập đoàn kinh tế từ các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, từng bước xây dựng một thể chế phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, phát triển Tập đoàn kinh tế từ các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Mấy năm gần đây, Chính phủ rất quan tâm phát triển hạ tầng và tạo điều kiện thuận lợi cho các Tập đoàn kinh tế phát triển theo xu hướng này.

Phải khẩn trương xây dựng quy chế tổ chức và quy chế tài chính của Tập đoàn kinh tế để các Tập đoàn kinh tế sớm đi vào hoạt động có hiệu quả. Việc tiến hành chia tách, sáp nhập, đòi hỏi có cơ chế rõ ràng, đảm bảo cho các Tập đoàn kinh tế hoạt động tốt, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm việc làm cho người lao động.

Các Tập đoàn kinh tế cần tiếp tục đổi mới trên cơ sở tiến hành sắp xếp các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong khu vực dịch vụ mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn thì sớm tiến hành cổ phần hóa. Một số đơn vị đã tiến hành theo mô hình Công ty cổ phần và đang có uy tín trên thị trường chứng khoán thì đưa lên sàn giao dịch chứng khoán. Cần nghiên cứu triển khai dịch vụ mới trên cơ sở phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân, viên chức và lực lượng, cơ sở vật chất có sẵn. Những ngành nghề, lĩnh vực đang được phép thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế thì phải sớm tổng kết, đánh giá để hoàn thiện các kinh nghiệm về Tập đoàn kinh tế.

Các Tập đoàn kinh tế đang hoạt động, cần sớm trình Chính phủ kế hoạch phát triển theo từng giai đoạn, trong đó nhấn mạnh giải pháp phát triển về công nghệ, thể hiện vai trò Tập đoàn kinh tế là mũi nhọn phát triển kinh tế của đất nước.

Các Tập đoàn kinh tế cần tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, mở cửa với bên ngoài. Chính phủ Việt Nam đã cam kết tiếp tục ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư kinh doanh tại thị trường Việt Nam.

Điều lệ hoạt động, quy chế tài chính của các Tập đoàn kinh tế phải được soạn thảo với sự vận dụng sáng tạo các chủ trương và khuôn khổ thử nghiệm mà Chính phủ cho phép và việc áp dụng kinh nghiệm của các Tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới.

Bước sang thế kỷ của nền kinh tế tri thức, các Tập đoàn kinh tế cần có mục tiêu về phát triển khoa học công nghệ, khẳng định và đẩy mạnh vai trò nghiên cứu khoa học công nghệ gắn với sản xuất kinh doanh của Tập đoàn kinh tế, đặc biệt chú ý phát triển mạnh các tiềm năng về vật chất và nhân lực để có thể tiếp cận công nghệ mới của thế giới. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế chính sách nhằm thu hút vốn cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các Tập đoàn kinh tế thông qua hoạt động hợp tác và trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực quản lý và phát triển công nghệ.

4. Nhóm giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại hình Tập đoàn kinh tế. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại hình Tập đoàn kinh tế cần phải dựa vào các tổng Công ty nhà nước với một số chính sách sau:

  • Chính sách thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư và liên kết kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính sách này hướng vào việc đẩy mạnh cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nước, phát triển thị trường chứng khoán, thúc đẩy liên kết kinh doanh giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài.
  • Hoàn thiện về tổ chức và thể chế tạo điều kiện cho hoạt động của Tập đoàn. Đó là cơ chế một đầu mối thực hiện chức năng chủ sở hữu Nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại Công ty mẹ của Tập đoàn. Bên cạnh đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về Công ty tài chính, trong đó có hướng dẫn cụ thể về Công ty tài chính của các Tập đoàn kinh tế.
  • Đối với Tập đoàn kinh tế hình thành trên cơ sở các tổng Công ty Nhà nước, cần có hướng dẫn về vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính hợp nhất của các đơn vị doanh nghiệp là thành viên của Tập đoàn kinh tế. Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo tổng hợp của cả Công ty mẹ và các Công ty con, sau khi loại trừ những chi phí giao dịch trong nội bộ Tập đoàn kinh tế, sẽ phản ánh chính xác giá trị sản phẩm và lợi nhuận thực đạt được. Trong đó, quy định các giao dịch tài chính giữa các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn phải được báo cáo đầy đủ và công khai. Báo cáo này do Công ty mẹ thực hiện. Công ty mẹ tổng hợp báo cáo quyết toán tài chính của các Công ty con do Công ty mẹ nắm giữ toàn bộ vốn và Công ty con có cổ phần, vốn góp chi phối và báo cáo lên đầu mối chủ sở hữu Nhà nước. Báo cáo tài chính hợp nhất của Tập đoàn phải đề cập đến vốn, nợ, chi phí, doanh thu, lợi nhuận, thuế thu nhập của cả Tập đoàn sau khi đã loại bỏ các giao dịch giữa Công ty mẹ và các Công ty con cũng như giữa các Công ty con với nhau. Khi tính vốn của Tập đoàn, báo cáo tài chính hợp nhất không tính khoản đầu tư cổ phần hoặc vốn góp của Công ty mẹ vào các Công ty con hoặc giữa các Công ty con.
  • Chính sách đối với các tổng Công ty xây dựng đề án phát triển thành Tập đoàn kinh tế, hiện nay cần khẳng định quan điểm có nên thành lập chính sách riêng trong một giai đoạn nhất định đối với các tổng Công ty xây dựng đề án phát triển thành Tập đoàn kinh tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc đã có chính sách riêng đối với những doanh nghiệp xây dựng đề án phát triển thành Tập đoàn kinh tế và điều này là cần thiết. Đối với các tổng Công ty của Việt Nam, cần đổi mới chính sách phân phối lợi nhuận cho các tổng Công ty có xây dựng đề án hình thành Tập đoàn kinh tế trong thời gian nhất định, nhằm tạo điều kiện và động lực cho các doanh nghiệp xây dựng đề án phát triển thành Tập đoàn kinh tế. Nên cho phép Công ty mẹ sử dụng phần lợi nhuận sau thuế, phân chia theo nguồn vốn Công ty mẹ tự huy động để tăng vốn tại Công ty mẹ để tăng tốc độ và khả năng tích tụ, tập trung vốn của các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
  • Về thuế thu nhập doanh nghiệp, tuỳ tính chất và đặc thù của Tập đoàn, cho phép Tập đoàn thí điểm nộp thuế theo một trong hai phương thức sau đây:

Một là, phương thức nộp theo loại hình doanh nghiệp, tức là Công ty mẹ và các Công ty con có 100% vốn sở hữu của Công ty mẹ, thì nộp chung thuế với mức thuế được tính theo tổng doanh thu hoặc lợi nhuận của toàn bộ các Công ty này.

Hai là, phương thức nộp theo loại hình hoạt động. Đối với các hoạt động kinh doanh riêng rẽ, từng doanh nghiệp thành viên sẽ nộp thuế theo quy định hiện hành. Đối với các hoạt động mang tính chất chung, dây chuyền khép kín trong Tập đoàn, liên quan đến toàn bộ các doanh nghiệp thành viên được tính riêng để Công ty mẹ thay mặt Tập đoàn kinh tế nộp thuế tổng hợp. Riêng Công ty mẹ không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận thu được từ phần vốn góp vào các Công ty con và Công ty khác, nếu các Công ty này đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trước khi chia lãi cho các bên góp vốn.

Về tín dụng, cho phép Công ty mẹ được bảo lãnh tín dụng cho các Công ty con bằng toàn bộ số vốn của Tập đoàn được ghi trong quyết định thành lập. Thông qua Tập đoàn, các doanh nghiệp thành viên được huy động vốn để kinh doanh dưới các hình thức: phát hành trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu; vay vốn của các tổ chức ngân hàng, tín dụng, các tổ chức tài chính khác, của cá nhân, tổ chức bên ngoài tổng Công ty; huy động vốn của những người lao động trong tổng Công ty và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Chính sách đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn kinh tế. Cho phép Công ty mẹ (là đại diện của Tập đoàn) được sử dụng năng lực của toàn bộ các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn để tham gia các hoạt động đấu thầu, kể cả đấu thầu quốc tế. Trường hợp trúng thầu, Công ty mẹ được chia gói thầu cho các Công ty con thực hiện. Tuy nhiên, Công ty mẹ là người chịu trách nhiệm cuối cùng.

Chính sách đối với thương hiệu của Tập đoàn kinh tế. Tập đoàn kinh tế có thương hiệu chung. Thương hiệu của Công ty mẹ có thể trở thành thương hiệu chung của Tập đoàn kinh tế. Trong một số trường hợp, các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn kinh tế sử dụng thương hiệu chung này bên cạnh thương hiệu của mình. Các doanh nghiệp thành viên Tập đoàn sử dụng thương hiệu của Công ty mẹ trong hoạt động giao dịch kinh doanh nhưng phải được phép của Công ty mẹ và theo thoả thuận với Công ty mẹ.

Thực hiện đồng thời chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế, tạo tiền đề thuận lợi cho việc hình thành Tập đoàn kinh tế với chính sách khuyến khích cạnh tranh và hạn chế độc quyền của Tập đoàn kinh tế. Thực hiện các chính sách này cũng là hoàn thiện quản lý nhà nước đối với Tập đoàn kinh tế. Trước hết là nhanh chóng triển khai các quy định và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn Luật cạnh tranh, nhất là triển khai thành lập và hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh và hội đồng quản lý cạnh tranh hoặc kiểm soát độc quyền. Cần mở rộng phạm vi chức năng của cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc kiểm soát quá trình tập trung kinh tế bao gồm sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh các doanh nghiệp

KẾT LUẬN

Việc thành lập các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam là cần thiết khách quan, phù hợp với xu thế chung trên thế giới cũng như yêu cầu phát triển các loại hình kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, là một chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Nó góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả Tập đoàn cũng như từng Công ty thành viên, là giải pháp hữu hiệu cho việc đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học vào sản xuất kinh doanh của các Công ty thành viên; giúp nước ta thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa xây dựng một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa mang lại hiệu quả kinh tế cao và hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế quốc tế…Song, quả thực là còn nhiều khó khăn, tồn tại phải giải quyết để các Tổng Công ty theo mô hình Tập đoàn kinh tế phát triển đúng hướng và mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, đánh giá một cách biện chứng thì bất kỳ một tổ chức kinh tế nào ra đời cũng phải trên cơ sở những điều kiện nhất định và khi đã được hình thành thì nó sẽ phải tự vận động để hoàn thiện và phải tự tạo các điều kiện thuận lợi để có thể đứng vững và phát triển mạnh hơn-Đó cũng là quy luật của sự tồn tại.

Do đó, chúng ta phải nhận thức được rõ vai trò và mục tiêu của việc thành lập Tổng Công ty theo mô hình Tập đoàn kinh doanh nhằm phát huy những thành quả, khắc phục tồn tại để hoạt động của Tập đoàn sẽ đạt được hiệu quả cao nhất cũng như sẽ có một cục diện mới trong tương lai, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464