Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU – Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xuất nhập khẩu là hoạt động ngoại thương quan trọng của nền kinh tế mỗi quốc gia. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có vị trí và vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Xuất nhập khẩu giúp tăng thu ngoại tệ, tăng thu ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, kích thích đổi mới công nghệ, cải tiến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân. Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Những năm vừa qua, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có nhiều phát triển. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm đều tăng. Một trong những nguyên nhân để có được những thành tựu như ngày hôm nay của xuất khẩu Việt Nam đó là việc định hướng thị trường mục tiêu đúng đắn, biết khai thác những thế mạnh xuất khẩu của mình. Những thị trường mục tiêu mà xuất khẩu Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi đáng ghi nhận đó là thị trường Hoa Kỳ, thị trường Liên minh Châu Âu (EU), thị trường Nhật Bản…

Hiện nay, thị trường EU đang được coi là một trong những thị trường trọng điểm của xuất khẩu Việt Nam. Là một thị trường phát triển, với 27 quốc gia thành viên, EU đã trở thành một liên minh kinh tế chính trị lớn nhất trên toàn thế giới, là nơi hội tụ đông đảo các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Không thể phủ nhận rằng EU là một đối tác thương mại quan trọng của rất nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.

Là một khu vực kinh tế chung, thống nhất, có quy mô rộng lớn, nhu cầu và sức mua ổn định, EU đã mở ra một thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tận dụng được những cơ hội lớn do thị trường EU đem lại sẽ góp phần nâng cao hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường thế giới, đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế nước nhà.

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi như vậy, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn nhất định khi thâm nhập vào thị trường này. Do vậy, việc tìm ra các giải pháp để phá vỡ những rào cản, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU đang là một bài toán cấp thiết đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Đề tài: “Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU_Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam” sẽ đi sâu vào việc phân tích những đặc điểm của thị trường EU, nêu ra những thành tựu, khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh như thị trường Châu Âu (EU), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này, những cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải khi thâm nhập vào thị trường EU và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU.

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU qua các năm từ năm 2001 đến nay.

3. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, phân loại, mô hình hóa. Đồng thời tham khảo tư liệu thông tin và kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây, nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành để thu thập các dữ liệu cần thiết. Khóa luận còn dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cũng như đường lối phát triển chính sách kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.

4. Kết cấu của Khóa luận

  • Chương I: Tổng quan về thị trường EU
  • Chương II: Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU
  • Chương III: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian tới.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG EU

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

1. Lịch sử hình thành và phát triển của EU

1.1. Giới thiệu về EU

Liên minh Châu Âu hay Liên hiệp Châu Âu (tiếng Anh: European Union) là một tổ chức liên chính phủ của các nước Châu Âu. Từ 6 thành viên ban đầu, hiện nay có 27 quốc gia thành viên. Liên minh được thành lập với tên gọi hiện nay theo Hiệp ước về Liên minh Châu Âu năm 1992, thường gọi là Hiệp ước Maastricht. Tuy nhiên, nhiều phương diện của Liên minh Châu Âu đã có từ trước, kể từ thập niên 1950, thông qua một loạt các tổ chức tiền thân.

Liên minh Châu Âu (EU) có trụ sở đặt tại thủ đô Brussels của Bỉ. Trước ngày 1 tháng 11 năm 1993 tổ chức này được gọi là Cộng đồng Châu Âu (EC).

Lịch sử của Liên minh Châu Âu bắt đầu từ chiến tranh thế giới thứ II. Có thể nói rằng ý tưởng về hội nhập Châu Âu đã được nhận thức sẽ giúp ngăn chặn chiến tranh không xảy ra nữa. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman là người đã nêu ra ý tưởng và đề xuất lần đầu tiên trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950. Cũng chính ngày này là ngày mà hiện nay được coi là ngày sinh nhật của EU và được kỉ niệm hàng năm là Ngày Châu Âu. Ban đầu, EU bao gồm 6 quốc gia thành viên là Bỉ, Đức, Italia, Luxembourg, Pháp, Hà Lan. Năm 1973, tăng lên thành 9 quốc gia thành viên. Năm 1981, tăng lên thành 10. Năm 1986, tăng lên thành 12. Năm 1995, tăng lên thành 15. Năm 2004 tăng lên thành 25. Năm 2007 tăng lên thành 27.

Sau đây là danh sách 27 quốc gia thành viên của EU xếp theo năm gia nhập:

  • 1957: Bỉ, Đức, Italia, Luxembourg, Pháp, Hà Lan
  • 1973: Đan Mạch, Ailen, Anh
  • 1981: Hy Lạp
  • 1986: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
  • 1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển
  • Ngày 1/5/2004; Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Kypros (Cộng hòa Síp)
  • Ngày 1/1/2007: Romania, Bulgaria

Hiện nay, EU có diện tích là 4.422.773 km2  với dân số là 492,9 triệu người (2006) với tổng GDP là 11.6 nghìn tỉ Euro (~15.7 nghìn tỉ USD) trong năm 2007. Hầu hết các quốc gia Châu Âu đều đang là thành viên của Liên minh Châu Âu (Theo Eurostat).

Vẫn còn 20 quốc gia gồm Albania, Andorra, Azerbaijan, Belarus, Bosna và Hercegovina, Gruzia, Iceland, Liechtenstein, Macedonia, Malta, Moldova, Monaco, Montenegro, Na Uy, Nga, San Marino, Serbia, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina, và Vatican chưa gia nhập Liên minh Châu Âu [21]

1.2. Quá trình thành lập Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Hơn nửa thế kỉ trước, chính sự tàn phá ở Châu Âu sau Thế chiến II đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng những mối quan hệ quốc tế để ngăn chặn những thảm kịch như vậy tái diễn. Hai chính khách Pháp Jean Monnet và Robert Schumann đã đưa ra triết lý: “Cái tốt nhất để bắt đầu tiến trình gắn kết Châu Âu là thông qua phát triển các quan hệ kinh tế”. Triết lý này là nền tảng cho:

Hiệp ước Paris được kí năm 1951: Cộng đồng Than Thép Châu Âu (ECSC) được thành lập.

Hiệp ước Roma (1957) đưa đến việc thành lập Cộng đồng Nguyên tử lượng (Euratom) và thành lập Cộng đồng kinh tế Châu Âu ( EEC).

Từ năm 1967, cơ quan điều hành của các cộng đồng trên được hợp nhất và gọi là Hội đồng Châu Âu (EC).

Năm 1987, EU bắt đầu triển khai xây dựng “Thị trường nội địa thống nhất Châu Âu”.

Hiệp ước Liên hiệp Châu Âu hay còn gọi là Hiệp ước Maastricht, ký tháng 12 năm 1991 thảo luận tại Maastricht, Hà Lan đã chính thức khai sinh Liên minh Châu Âu thay thế cho EC với mục đích thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đồng tiền chung và một ngân hàng trung ương độc lập thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp. Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu Âu.Và như vậy kể từ ngày 01/01/2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; các nước đứng ngoài là Anh, Đan Mạch và Thụy Điển.

Hiệp ước Amsterdam (còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, ký ngày 02/10/1997 tại Amsterdam) đã có một số sửa đổi và bổ sung trong một số lĩnh vực chính như:

  • Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử.
  • Tư pháp và đối nội.
  • Chính sách xã hội và việc làm.
  • Chính sách đối ngoại và an ninh chung.

Hiệp ước Schengen: Ngày 19/06/1990, Hiệp ước Schengen được thỏa thuận xong. Đến ngày 27/11/1990, 6 nước gồm Pháp, Đức, Luxembourg, Bỉ, Hà Lan và Ý chính thức ký Hiệp ước Schengen. Hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ký ngày 25/06/1991. Ngày 26/03/1995, Hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành viên. Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có Visa của 1 trong 9 nước trên là được phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen. Hiện nay, 14 trong 25 nước thành viên EU đã tham gia khu vực Schengen (ngoại trừ Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland).

Hiệp ước Nice (11/12/2000): tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để đón nhận các thành viên mới đồng thời tăng cường vai trò của Nghị viện Châu Âu, thành lập lực lượng phản ứng nhanh (RRF).

2. Cơ cấu tổ chức

EU có bốn cơ quan chính là: Hội đồng Bộ Trưởng, Ủy ban Châu Âu, Nghị Viện Châu Âu, Tòa án Châu Âu.

2.1. Hội đồng Bộ trưởng Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của EU, bao gồm các Bộ trưởng đại diện cho các thành viên. Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kì 6 tháng. Giúp việc cho Hội đồng có Ủy ban đại diện thường trực và Ban Tổng Thư ký.

Từ năm 1975, người đứng đầu Nhà nước, hoặc Chính phủ, các Ngoại trưởng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu có các cuộc họp thường kỳ để bàn quyết định những vấn đề lớn của EU. Cơ chế này gọi là Hội đồng Châu Âu hay Hội nghị thượng đỉnh EU.

Hội đồng Bộ Trưởng là cơ quan lãnh đạo tối cao của EU.

2.2. Ủy ban Châu Âu

Là cơ quan điều hành gồm 20 Ủy viên, nhiệm kỳ 5 năm do các Chính phủ nhất trí cử và chỉ bị bãi miễn với sự nhất trí của Nghị viện Châu Âu. Dưới các Ủy viên là các Tổng vụ trưởng chuyên trách từng vấn đề từng khu vực.

2.3. Nghị viện Châu Âu

Gồm 732 Nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Trong nghị viện, các Nghị sĩ ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo Quốc tịch.

Chức năng của Nghị viện Châu Âu là thông qua ngân sách, cùng Hội Đồng Châu Âu ra quyết định trong một số lĩnh vực kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của EU, có quyền bãi miễn các chức vụ ủy viên Ủy ban Châu Âu.

2.4. Toà án Châu Âu

Đặt trụ sở tại Lucxămbua, gồm 15 thẩm phán và 9 trạng sư do các chính phủ thỏa thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm. Toà án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của Ủy ban Châu Âu văn phòng chính phủ các nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU [21].

II. THỊ TRƯỜNG EU Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

1. Thương mại EU trong những năm vừa qua

Là khu vực phát triển kinh tế cao, EU với 27 nước thành viên có tổng diện tích khoảng 4 triệu Km2, dân số gần 500 triệu người, GDP khoảng 14.000 tỷ USD, bình quân đầu người 29.000 USD/năm (số liệu năm 2007 theo Eurostat).

Các lĩnh vực sản xuất có tính cạnh tranh nhất, chiếm 34% tổng giá trị sản xuất công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu của EU là: dược phẩm, máy móc và thiết bị, chế tạo máy bay và công nghệ vũ trụ, sản phẩm khoáng chất phi kim loại, in ấn và xuất bản, thiết bị khoa học.. Các lĩnh vực sản xuất có mức đóng góp thấp nhất là hàng điện tử, thiết bị văn phòng, giày dép, dệt may…, trong đó giày dép và dệt may đang ở tình trạng thiếu phát [30].

EU là một trong những khu vực đầu tư ra nước ngoài cũng như thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều nhất trên thế giới. Trong năm 2006, EU đã đầu tư ra nước ngoài 183 tỷ Euro, tăng 35% so với năm 2005 và được nhận 135 tỷ Euro FDI, tăng 42% so với năm 2005. Đầu tư nội bộ EU giảm 8% so với năm 2005.

Các nước thuộc EU đầu tư ra nước ngoài lớn là Pháp (39 tỷ Euro chiếm 21%), Đức (31 tỷ Euro). Các nước được nhận FDI nhiều nhất là Anh (56 tỷ Euro, chiếm 42%), Luxembourg (20 tỷ Euro) [29].

Trao đổi thương mại của EU với các nước ngoài khối năm 2006 là 2525,8 tỷ Euro và trong 9 tháng năm 2007 là 1935,5 tỷ Euro, trong đó: EU xuất khẩu 907,7 tỷ Euro và nhập khẩu 1045,8 tỷ Euro. Thâm hụt thương mại 138,1 tỷ Euro, trong đó với Trung Quốc là 114,5 tỷ Euro chiếm 82%.

Theo Eurostat, nếu tính cả thương mại nội khối thì EU dẫn đầu thế giới về tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa với kim ngạch là 1481,7 tỷ Đô La và chỉ chịu đứng thứ 2 sau Mĩ về tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu (1697,8 tỷ Đô La)

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của EU với các thị trường chủ yếu

Thương mại của EU27 với hầu hết các đối tác chủ yếu đều tăng, ngoại trừ xuất khẩu sang Hoa Kỳ (giảm 3% so với năm 2006) và Nhật Bản (giảm 2% so với năm 2006), nhập khẩu từ Nauy và Hàn Quốc cũng giảm 3%. Tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là sang Nga (tăng 23%) và tăng trưởng nhập khẩu lớn nhất là từ Brazil (tăng 20%). Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Do có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, những mặt hàng mà các nước EU có thế mạnh và có tính cạnh tranh cao hầu hết thuộc các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo, hóa chất, giao thông vận tải, hàng không, dược phẩm, mỹ phẩm cao cấp, thực phẩm, đồ uống và dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng lớn…Nhu cầu nhập khẩu của EU phần lớn là nguyên, nhiên vật liệu, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép, may mặc, thủy sản, nông sản, lương thực…

Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu một số nhóm hàng chủ yếu của EU27

Để tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại và tự do hóa thương mại hơn nữa, EU đang xúc tiến đàm phán ký kết một số thỏa thuận song phương và khu vực, như : Hiệp định thương mại với 78 nước ACP (Châu Phi, Caribe và Thái Bình Dương); thỏa thuận hợp tác kinh tế xuyên Đại Tây Dương và Hiệp định “ Bầu trời mở” với Mỹ; khởi động đàm phán các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với Hàn Quốc, Ấn Độ, ASEAN và Trung Mỹ; tăng cường hợp tác năng lượng với các nước Trung Á và Balkan; thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” toàn diện với Brasil…

Hiệp ước Lisbon (Hiệp ước đơn giản hay Hiệp ước cải cách) đã được các nhà lãnh đạo EU chính thức ký kết tại Lisbon (Bồ Đào Nha) tại Hội nghị thượng đỉnh EU vào ngày 13/12/2007 và sẽ có hiệu lực vào năm 2009. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để EU tiếp tục quá trình cải cách thể chế nhằm tăng cường sức mạnh và khả năng cạnh tranh của khối với mục tiêu đưa EU trở thành nền kinh tế tri thức và năng động bậc nhất thế giới vào năm 2010 [4].

2. Đặc điểm chung về thị trường EU

Từ năm 1986, EU đã là một thị trường thống nhất hải quan, có định mức thuế quan chung cho tất cả các nước thành viên. Ngày 07/02/1992, Hiệp ước Maastricht được kí kết tại Hà Lan mở đầu cho sự thống nhất kinh tế-tiền tệ, chính trị, an ninh quốc phòng giữa các nước thành viên EU. Ngày 17/01/1993, Hiệp ước Maastricht bắt đầu có hiệu lực, cũng là ngày thị trường chung Châu Âu được chính thức hình thành thông qua việc hủy bỏ các đường biên giới nội bộ trong liên minh (biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải quan). Thị trường chung có thể hiểu đơn giản là một không gian rộng lớn bao trùm lãnh thổ của tất cả các nước thành viên mà ở đó hàng hoá, sức lao động, vốn và dịch vụ được lưu chuyển hoàn toàn tự do giống như khi chúng ở trong một thị trường quốc gia. Gắn liền với sự ra đời của thị trường chung là một chính sách thương mại chung. Nó điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hoá, dịch vụ nội khối [35].

2.1. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng, kênh phân phối và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

2.1.1. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng

EU là một thị trường rộng lớn, với gần 500 triệu người tiêu dùng. Thị trường EU thống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá, dịch vụ và vốn giữa các thành viên. Mỗi thị trường thành viên có đặc điểm tiêu dùng riêng. Do vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá. Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị hiếu tiêu dùng giữa các thị trường quốc gia trong khối EU, nhưng nước thành viên có những điểm tương đồng về kinh tế và văn hoá. Người tiêu dùng EU thích sử dụng và quen tiêu dùng một số hàng hoá sau:

  • Hàng may mặc và giày dép: Người dân Áo, Đức và Hà Lan chỉ mua hàng may mặc và giày dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ (Azo-dyes). Khách hàng EU đặc biệt quan tâm tới chất lượng và thời trang của hai loại sản phẩm này. Nhiều khi yếu tố thời trạng lại có quyết định cao hơn nhiều so với giá cả. Thị hiếu của người tiêu dùng đối với mặt hàng này liên tục thay đổi, đặc biệt là về mẫu mốt.
  • Thủy hải sản: Người tiêu dùng EU không mua những sản phẩm thủy hải sản bị nhiễm độc do tác động của môi trường hoặc do chất phụ gia không được phép sử dụng. Đối với các sản phẩm thủy, hải sản đã qua chế biến, người Châu Âu chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản, hạn sử dụng, mã số, mã vạch. Người tiêu dùng EU tẩy chay các loại thủy, hải sản nhập khẩu có chứa khuẩn Salmonella, độc tố Lustamine, nhiễm V.Parahaemoliticus, nhiễm V.Cholerae.
  • Người tiêu dùng EU có thói quen sử dụng các sản phẩm nổi tiếng thế giới. Họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng có uy tín lâu đời. Người tiêu dùng EU rất sợ mua những sản phẩm có nhãn hiệu ít người biết đến vì họ cho rằng những sản phẩm của các nhà sản xuất không có danh tiếng sẽ không đảm bảo về chất lượng, vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng. Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU
  • Thị trường EU về cơ bản cũng giống như một thị trường quốc qia, do vậy có 3 nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) Nhóm có khả năng thanh toán mức cao, chiếm gần 20% dân số của EU, dùng hàng có chất lượng tốt nhất và giá cả đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo: (2) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68% dân số, sử dụng chủng loại hàng hóa có chất lượng kém hơn một chút so với nhóm 1 và giá cả cũng rẻ hơn; (3) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùng những loại hàng có chất lượng và giá cả đều thấp hơn so với hàng của nhóm 2. Hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường này gồm cả hàng cao cấp lẫn hàng bình dân phục vụ cho mọi đối tượng.
  • Xu hướng tiêu dùng trên thị trường EU đang có những thay đổi như: không thích sử dụng đồ nhựa mà thích dùng đồ gỗ, thích ăn thủy, hải sản hơn ăn thịt, yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hóa thay đổi nhanh, đặc biệt đối với những mặt hàng thời trang (giày dép, quần áo..). Ngày nay, người Châu Âu cần nhiều chủng loại hàng hóa với số lượng lớn và những hàng hóa có vòng đời ngắn. Tuy có sự thay đổi về sở thích và thói quen tiêu dùng như vậy, nhưng chất lượng hàng hóa vẫn là yếu tố quyết định đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu thụ trên thị trường này [8].

2.1.2. Kênh phân phối

Hệ thống phân phối EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của một quốc gia, gồm mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ. Hình thức tổ chức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là theo tập đoàn.

Rất ít trường hợp các siêu thị lớn hoặc các công ty bán lẻ độc lập mua hàng trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài. Mối quan hệ bạn hàng giữa các nhà bán buôn và bán lẻ trên thị trường EU không phải ngẫu nhiên mà phần lớn là do có quan hệ tín dụng và mua cổ phần của nhau. Các nhà bán buôn và bán lẻ trong hệ thống phân phối của EU thường có quan hệ làm ăn lâu đời và rất ít khi mua hàng của nhà cung cấp không quen biết cho dù giá hàng có rẻ hơn nhiều vì với họ uy tín kinh doanh với khách hàng được đặt lên hàng đầu, mà muốn giữ được điều này thì hàng hóa phải đảm bảo chất lượng và nguồn cung cấp ổn định. Họ liên kết với nhau chặt chẽ thành một chuỗi mắt xích trong kinh doanh bằng các hợp đồng kinh tế. Hệ thống phân phối của EU đã hình thành lên một tổ hợp rất chặt chẽ và có nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải là việc dễ đối với các nhà xuất khẩu của Việt Nam hiện nay [11].

2.1.3. Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát triển. Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệ thống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. EU đã thông qua những quy định về quyền lợi của người tiêu dùng, về độ an toàn chung của các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhãn hiệu…Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quy chế định chuẩn Quốc gia hoặc Châu Âu. Hiện nay ở EU có 3 tổ chức định chuẩn: Ủy Ban Châu Âu về định chuẩn, Ủy Ban Châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện định chuẩn Viễn Thông Châu Âu. Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị trường này với điều kiện phải đảm bảo tiêu chuẩn chung Châu Âu. Các luật và định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản xuất ra từ các nước có những điều kiện sản xuất chưa đạt mức an toàn ngang với tiêu chuẩn của EU.

Quy chế bảo đảm an toàn của EU đối với một số loại sản phẩm tiêu dùng như sau:

  • Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, nhãn mác, danh mục thành phẩm, thành phần, trọng lượng ròng, thời gian sử dụng, cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc thao tác bằng tay, mã số và mã vạch để dễ nhận dạng lô hàng.
  • Các loại thuốc men đều phải được kiểm tra, đăng ký và được các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thuộc EU cho phép trước khi sản phẩm được bán ra trên thị trường EU. Giữa các cơ quan có thẩm quyền này là Ủy ban Châu Âu về định chuẩn thiết lập một hệ thống thông tin trao đổi tức thời có khả năng nhanh chóng thu hồi bất cứ loại thuốc nào có tác dụng phụ đang được bán trên thị trường.
  • Đối với loại vải lụa, EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho biết các loại sợi cấu thành nên loại vải hay lụa được bán trên thị trường EU, bất cứ loại vải hay lụa nào được sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều loại sợi mà một trong các loại ấy chiếm tối thiểu 85%, hoặc ghi cấu thành chi tiết của sản phẩm. Nếu sản phẩm gồm hai hay nhiều loại sợi mà không loại nào đạt tỷ lệ 85% tổng trọng lượng thì trên mã hiệu ít nhất cũng phải ghi tỷ lệ của hai loại sợi quan trọng nhất, kèm theo tên các loại sợi khác đó được sử dụng.
  • Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, EU tích cực tham gia chống nạn hàng giả bằng cách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền.

Ngoài việc ban hành và thực hiện quy chế trên, EU cũng đưa ra các chỉ thị kiểm soát những nhóm hàng cụ thể về chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng [10].

2.2. Chính sách thương mại của EU Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

2.2.1. Chính sách nội khối

Chính sách thương mại nội khối hành thị trường chung Châu Âu nhằm tập trung vào việc xây dựng và vận xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải quan (xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan) để tự do lưu thông hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn, và điều hòa các chính sách kinh tế và xã hội của các nước thành viên. Thị trường chung Châu Âu dựa trên nền tảng của việc tự do lưu chuyển 4 yếu tố cơ bản của sản xuất: hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn. Cụ thể là mọi rào cản về thuế quan, hạn ngạch đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các quốc gia thành viên đều được xóa bỏ, người dân được tự do đi lại, di chuyển và cư trú, tự do cung cấp dịch vụ, tự do hưởng các dịch vụ..và hơn nữa, vốn cũng được tự do lưu chuyển [11].

Chính sách nội khối của EU bảo đảm tạo ra các cơ hội tương tự cho mọi người trong thị trường chung và ngăn ngừa cạnh tranh được tạo ra do sự méo mó về thương mại. Một thị trường đơn lẻ không thể vận hành một cách suôn sẻ nếu như không thống nhất các điều kiện cạnh tranh áp dụng. Vì mục đích này, các nước EU đều nhất trí tạo ra một hệ thống bảo hộ sự cạnh tranh tự do trên thị trường.

2.2.2. Chính sách ngoại thương

Tất các các thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung đối với các nước ngoài khối. Ủy ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho Liên minh trong việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này. Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Chính sách ngoại thương của EU gồm: Chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau: Không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số lượng , hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.

EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa: Đẩy mạnh tự do hóa thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu và tiến tới xóa bỏ hạn ngạch, GSP). Hiện nay, 27 nước thành viên EU cũng áp dụng biểu thuế quan chung đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ năm 1951 đến nay là những nhóm chính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập khẩu, chính sách tự do hóa thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện. Việc ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của liên minh trên thị trường thế giới. Ngoài các chính sách, EU có quy chế nhập khẩu chung.

Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các biện pháp: Chống bán phá giá (Anti-dumping), chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả. EU đã ban hành chính sách chống bán phá giá để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới thứ ba. Trong khi đó, các biện pháp chống hàng giả của EU cho phép ngăn chặn không cho nhập khẩu những hàng hóa bị đánh cắp bản quyền.

Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nước đang phát triển và chậm phát triển. Đó là hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)- một công cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước nói trên [11].

3. Các rào cản thương mại của EU

3.1. Hàng rào thuế quan

3.1.1. Thuế nhập khẩu

Các nước thuộc Liên minh Châu Âu áp dụng Hệ thống thuế quan chung của EU. Thuế nhập khẩu được tính bằng cách lấy giá trị hàng hóa nhập khẩu tính theo giá CIF nhân với thuế suất của loại hàng hóa đó. Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng nhập khẩu, được xây dựng trên nguyên tắc: Những mặt hàng trong nước sản xuất được hoặc sản xuất không đủ, hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp. Ngược lại, những mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay để khuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao. Theo nguyên tắc này, hầu hết nguyên liệu nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suất thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt. Cụ thể, các mặt hàng thịt, các sản phẩm sứa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và không chế biến chịu mức thuế cao nhất từ 0-470,8%. Đối với các mặt hàng khác có mức thuế suất từ 0-36,6% [11].

3.1.2. Thuế quan bảo hộ Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Các sản phẩm thực phẩm

Thuế đối với các sản phẩm thực phẩm đã được ban hành và thực thi ở EU trong nỗ lực nhằm bảo hộ sản xuất thực phẩm nội khối. Đối tượng điều chỉnh của chính sách này bao gồm cả sản phẩm nông nghiệp ôn đới. Các loại thuế được hợp nhất thành một hệ thống giá khởi điểm. Nếu giá nhập khẩu nằm dưới giá khởi điểm tối thiểu, một mức thuế bổ sung được đánh thêm vào thuế hải quan, mức thuế và giá khởi điểm phụ thuộc vào lý do này. Ví dụ: các sản phẩm bị ảnh hưởng là cam, quýt và nho. Các rau quả nhập khẩu không bị ảnh hưởng bởi hệ thống giá khởi điểm. Bên cạnh đó, để phù hợp với việc tự do hóa thuế nhập khẩu, giá khởi điểm tối thiểu cũng sẽ được tự do hóa [12].

Thuế chống bán phá giá:

Thuế chống bán phá giá là thuế đánh vào các sản phẩm nhập khẩu được bán ở EU ở mức giá thấp hơn so với mức giá được bán ở nước sản xuất. Khi các sản phẩm nhập khẩu gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đối với một ngành công nghiệp nội địa của EU, ngành công nghiệp này có thể gửi đơn kiện đến Brucxen. Nếu qua điều tra nhận thấy có hiện tượng bán phá giá, thì thuế chống bán phá giá được áp dụng đối với các sản phẩm trên cơ sở Điều khoản 113 của Hiệp ước về Liên minh Châu Âu. Thuế này có thể đánh vào hàng hóa ngay khi thông báo. Trước khi xuất khẩu, tất cả các nhà xuất khẩu nên thể hiện quan điểm của mình là chấp nhận mức thuế như vậy hay đòi hỏi phía EU phải tiếp tục điều tra. Thuế chống bán phá giá đặc biệt thích hợp trong khu vực công nghệ cao [12].

Thuế tiêu thụ:

Thuế tiêu thụ là thuế áp dụng đối với một số sản phẩm phụ thuộc vào dung lượng và áp dụng phổ biến đối với các sản phẩm nội địa và hàng nhập khẩu. Ví dụ, các sản phẩm đang phải đương đầu với loại thuế này là đồ uống có cồn và không có cồn, thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá, dầu khoáng sản được sử dụng làm nhiên liệu. Thuế tiêu thụ đánh vào dầu và các sản phẩm dầu bao gồm cả một loại “Thuế xanh” để gây quỹ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Điều đó nhấn mạnh rằng thuế tiêu thụ không được hài hòa ở EU. Do vậy, mức thuế tiêu thụ đối với một số sản phẩm nhất định có thể rất khác biệt giữa các nước thành viên EU [12].

Thuế giá trị gia tăng (VAT):

Tất cả các sản phẩm bán ở EU đều là đối tượng chịu thuế VAT. Nhìn chung mức thuế thấp áp dụng đối với các sản phẩm thiết yếu và mức thuế cao áp dụng đối với các sản phẩm xa xỉ. Mặc dù, mục tiêu ban đầu là hài hòa thuế quan, các miền thuế đã được thu hẹp nhưng sự khác biệt đáng kể vẫn còn tồn tại giữa các nước thành viên EU [12].

3.2. Hàng rào phi thuế quan Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

3.2.1. Các rào cản kỹ thuật

Tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: nhãn CE (Eropean Conformity):

Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu chung đối với các nhà sản xuất nhằm đảm bảo đưa ra những sản phẩm an toàn tại thị trường EU. Nhãn CE được coi là một giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có hiệu điện thế thấp, đồ chơi, các thiết bị an toàn cá nhân, các thiết bị y tế..trên thị trường EU. Tuy nhiên nhãn CE không áp dụng cho tất cả các hàng hóa công nghiệp, nó không áp dụng cho các sản phẩm trang trí nội thất, quần áo và các sản phẩm da. Nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm tuân thủ các yêu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng, nhưng nhãn CE không bảo đảm về chất lượng sản phẩm [24].

Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm HACCP (the Hazard Analysis Critical Control Point System):

Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm muốn xuất khẩu vào EU bắt buộc phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh hết sức chặt chẽ. Các doanh nghiệp này phải áp dụng hệ thống HACCP- Hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu, như là một yêu cầu bắt buộc khi muốn thâm nhập vào thị trường EU. Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chế biến với các nguyên tắc cơ bản: xác định tất cả các nguy cơ có thể xẩy ra cho sản phẩm trong chu kỳ sống của sản phẩm; xác định các Điểm kiểm soát tới hạn (Critical Control Point), các giai đoạn có thể kiểm soát được trong chu kỳ sống của sản phẩm; xác định những biên độ tiêu chuẩn cao nhất có thể cho phép mỗi điểm kiểm soát tới hạn; thiết kế và thực hiện một hệ thống kiểm soát kiểm nghiệm hoặc quan sát cho Điểm kiểm soát tới hạn, bao gồm 1 lịch trình theo thời gian; thiết kế và thực hiện các kế hoạch hành động chính xác cho mỗi Điểm kiểm soát tới hạn; đưa ra một tiến trình xác nhận, bao gồm các kiểm nghiệm và tiến trình khác nhằm kiểm tra tính hiệu quả và hiệu quả của hệ thống HACCP [27].

Tiêu chuẩn môi trường:

Các nhà xuất khẩu buộc phải xem xét ảnh hưởng môi trường của sản phẩm của mình, của quá trình sản xuất và đóng gói. Người tiêu dùng yêu cầu các sản phẩm mang tính môi trường. Do vậy các nhà xuất khẩu Việt Nam phải hiểu rằng việc tuân thủ các quy định về sản phẩm là rất cần thiết. Việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng EU là một trong những yếu tố quyết định thành công tại thị trường EU.

Các vấn đề nhạy cảm là mức độ thặng dư thuốc trừ sâu, phụ gia thực phẩm, sự hiện diện của kim loại nặng, của các chất gây ô nhiễm, sử dụng hóa chất, gỗ rừng nhiệt đới, ô nhiễm nguồn nước, không khí và việc sử dụng cạn kiệt các tài nguyên không thể tái tạo.

Các tiêu chuẩn quản lý môi trường là các tiêu chuẩn mang tính tự nguyện. Hiện nay tiêu chuẩn môi trường cho các quốc gia đang phát triển được áp dụng nhiều nhất là ISO 14001. Mục đích của tiêu chuẩn ISO14001 về bản chất cho phép mọi người biết rằng công ty được quản lý dưới hệ thống quản lý môi trường. Tiêu chuẩn ISO14001 có thể trở thành một yêu cầu không chính thức tăng khả năng cạnh tranh trong nhiều khu vực [12]. Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Tiêu chuẩn quản lý chất lượng:

Tổ chức Quốc tế Tiêu chuẩn hóa (International Organization for Standardisation-ISO) phát triển và chấp nhận seri ISO 9000 nhằm cung cấp một cơ cấu cho quản lý và bảo đảm chất lượng. Các nhà sản xuất xem chứng nhận ISO 9001, ISO 9002 như là một tài sản quan trọng và là điểm bắt đầu để cạnh tranh trong thị trường EU, tạo một niềm tin mạnh mẽ cho đối tác. Giấy chứng nhận ISO chỉ có giá trị trong 3 năm, do vậy để tiếp tục duy trì ISO, các đợt kiểm toán nội bộ (1-2 lần/năm) và kiểm toán từ bên ngoài (2 lần trong năm) cần được thực hiện. Điều này có nghĩa là công ty cần phải có 1 người quản lý chịu trách nhiệm cho các chính sách về quản lý chất lượng. Các tiêu chuẩn ISO 9000:9001 và 9002 là quan trọng nhất:

  • ISO 9000: Hướng dẫn cho việc lựa chọn và sử dụng hệ thống chất lượng; không đề cập đến sự tuân thủ những đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm.
  • ISO 9001: Mô hình bảo đảm chất lượng trong thiết kế, phát triển, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ.
  • ISO 9002: Mô hình bảo đảm chất lượng trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ.
  • ISO 9003: Mô hình bảo đảm chất lượng trong kiểm tra và kiểm định cuối cùng.
  • ISO 9004: Những hướng dẫn cho thiết kế và thực thi các hệ thống chất lượng.

Phiên bản ISO 9001 mới thay thế cho các phiên bản cũ của ISO 9001, ISO 9002, ISO 9003. Các nội dung tiêu chẩn thay đổi bao gồm: phù hợp với các tiêu chuẩn quản lý môi trường; dễ dàng áp dụng cho các tổ chức nhỏ, vừa và lớn trong khu vực tư nhân và công cộng; có thể áp dụng đều nhau trong các lãnh vực sản xuất, dịch vụ và phần mềm [8].

Tiêu chuẩn lao động:

Ủy ban Châu Âu có quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn này và sẽ đình chỉ hoạt động của các nhà sản xuất nội địa nếu phát hiện ra những doanh nghiệp này sử dụng lao động cưỡng bức (ví dụ như: lao động trẻ em, lao động tù nhân…) và cấm nhập khẩu những hàng hóa mà quá trình sản xuất sử dụng bất kỳ hình thức lao động cưỡng bức nào như được xác định trong hiệp ước Geneva ngày 25/09/1926 và 7/9/1956 và các Hiệp ước Lao động Quốc tế số 29 và 105 [12].

3.2.2. Giấp phép nhập khẩu

Đối với một số loại hàng hóa, EU áp dụng biện pháp cấp giấy phép nhập khẩu đối với các mặt hàng như: Sản phẩm văn hóa (bao gồm khảo cổ học, sản phẩm điêu khắc..), các mặt hàng nông sản (rượu, sữa, lúa mỳ, thịt, gạo), kim loại. Giấy phép nhập khẩu có thể được yêu cầu đối với hàng nhạy cảm và hàng chiến lược, trong đó có hàng dệt (theo quy tắc của Hiệp định MFA), các sản phẩm thép, than đá và ngũ cốc, vũ khí. Giấy phép nhập khẩu thông thường được cấp mà không có quá nhiều khó khăn và nhà nhập khẩu có trách nhiệm viết đơn xin cấp giấy phép. Nếu số lượng sản phảm giảm theo Hiệp định MFA và là đối tượng của hạn ngạch nhập khẩu, thì nhà xuất khẩu phải cung cấp cho nhà nhập khẩu giấy phép xuất khẩu hoặc giấy chứng nhận xuất khẩu để nhà nhập khẩu xin được giấy phép xuất khẩu [8].

3.2.3. Hạn ngạch Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

Hạn ngạch là sự hạn chế về số lượng hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu và được sử dụng để điều chỉnh nguồn cung. Hạn ngạch phổ biến nhất ở EU là hạn ngạch số lượng, loại hạn ngạch này giảm xuống theo Hiệp định MFA (Hiệp định hàng dệt may). Theo như mô tả ở trên thì Hiệp định MFA (Hiệp định hàng dệt may) đang tiến hành hủy bỏ dần hạn ngạch [11].

3.2.4. Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật

Các quy định về kiểm dịch thực vật có thể áp dụng đối với việc sản xuất các sản phẩm tươi như hoa quả. Điều đó có nghĩa là giấy chứng nhận kiểm dịch phải được cung cấp bởi nước có sản phẩm xuất khẩu trong điều kiện đảm bảo sức khỏe. Sản phẩm phải được giám định bởi cơ quan giám định thực phẩm có thẩm quyền của nước sản xuất để bảo đảm rằng không bị côn trùng và bệnh tật [11].

3.2.5. Lệnh cấm

EU còn áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu đối với một số mặt hàng. EU áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập khẩu khi đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm như: các sản phẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải. Một số mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU do ảnh hưởng đến an ninh và sức khỏe của cộng đồng như một số tân dược, thuốc trừ sâu, thực phẩm, sản phẩm điện, giống cây trồng, vật nuôi ngoại lai, các nông sản, thủy sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất độc vượt quá mức cho phép…

Qua những thông tin ở trên, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về Liên minh Châu Âu (EU) và thị trường EU. Những đặc điểm về thị trường: thị hiếu, tập quán, thói quen tiêu dùng, chính sách thương mại chung.. cũng như là những rào cản thương mại mà EU đặt ra sẽ là những thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thâm nhập vào thị trường khó tính này. Từ những thông tin trên, chúng ta có thể rút ra được những thuận lợi và khó khăn mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải khi thâm nhập vào thị trường EU và từ đó từng bước xây dựng những bước đi cụ thể để tiến tới đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường, đối tác thương mại quan trọng bậc nhất thế giới này. Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan thách thức xuất khẩu hàng hóa sang EU

One thought on “Khóa luận: Xuất khẩu hàng hóa vào thị trường EU

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464