Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại Việt Nam- Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Quan điểm và phương hướng nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động FDI
1. Quan điểm
Dựa trên các mục tiêu tổng quát và hiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển KT-XH thời kỳ 2006-2010, các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam và Quốc tế cũng như đánh giá tình hình công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động FDI trong thời gian qua, cần quán triệt những nguyên tắc sau:
Để tạo sức hấp dẫn của môi trường đầu tư ở Việt Nam cần đáp ứng động lực của FDI là tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư cao. Bởi vậy, QLNN cần tạo ra môi trường thuận lợi như môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường luật pháp thông thoáng nhằm tạo thúc đẩy hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Động lực quan trọng nhất của FDI là sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn vốn của mình, hiệu quả này được thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư. Vì vậy, muốn kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà cần tạo ra môi trường thuận lợi để kinh doanh có hiệu quả, có được tỷ suất lợi nhuận cao hơn hoặc bằng các nước trong khu vực. Trong xu thế tự do hóa thương mại, mặt bằng giá cả thế giới như nhau, muốn có lợi nhuận, nhà đầu tư phải giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí đầu vào. Sức cạnh tranh của môi trường đầu tư nước chủ nhà chính là sức cạnh tranh của các yếu tố đầu vào, là giá nhân công rẻ với trình độ cao, các dịch vụ hành chính với giá rẻ, nếu nguyên liệu là nhập khẩu thì thủ tục nhập khẩu phải thuận lợi, thuế nhập khẩu đầu vào thấp. Để khuyến khích hơn nữa, Nhà nước có thể bảo hộ thị trường, phải tính toán kỹ đến lợi ích của nhà đầu tư, lợi ích của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
QLNN phải tạo ra được cơ chế vừa phát huy sức mạnh của vốn đầu tư nước ngoài, vừa chuyển hóa các lợi thế này thành sức mạnh nội sinh của các doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam. Trên con đường tìm kếm lợi nhuận, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chỉ thực hiện chuyển giao các công nghệ dễ chuẩn hóa, phổ thông, lạc hậu. Vấn đề đặt ra với công tác QLNN và quản lý doanh nghiệp của Việt Nam là sự lựa chọn loại công nghệ nào? Đối với ngành sản xuất nào? Từ đối tượng đầu tư nào? Giá cả bao nhiêu trong điều kiện bất lợi là thiếu vốn phải phụ thuộc vào nhà đầu tư nước ngoài? Để thiệt hại về giá cả là ít nhất, để dẫn tới làm chủ công nghệ.
QLNN cần thiết kế được các thể chế kiểm soát và giảm khả năng độc quyền của nhà đầu tư nước ngoài. Với sức mạnh độc quyền về công nghệ, về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm và khả năng thay thế các giao dịch thị trường bằng giao dịch nội bộ cho cả các sản phẩm đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất. Thế mạnh này đem lại lợi ích rất lớn cho nhà đầu tư, giúp Việt Nam tiếp cận thị trường thế giới. nhưng chính lợi thế này cũng gây thiệt hại cho bên Việt Nam.
Với độc quyền về công nghệ, khi góp vốn dưới hình thức chuyển giao công nghệ, nhà đầu tư có thể tính giá cao so với thị trường các thiết bị máy móc, vật tư, phí bản quyền, phí tư vấn thiết kế dẫn đến sự thiệt hại cho bên Việt Nam về tỷ lệ góp vốn, cùng với tỷ lệ phân chia lợi nhuận trong suốt quá trình kinh doanh và quyền tham gia quản lý.
Với thế mạnh thị trường, nhà đầu tư của công ty đa quốc gia có thể thực hiện chiến lược tài chính áp dụng cho các công ty con ở các quốc gia như hình thức chuyển giá: là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu10. Vì vậy, việc định giá chuyển giao có thể nói là một nghệ thuật quản trị kinh doanh nhằm xác định một mức giá chuyển nhượng nôi bộ có thể cao hoặc thấp hơn so với giá thị trường trong quan hệ mua bán “sòng phẳng” tùy theo mục đích khác nhau.
Để phát huy sức mạnh của FDI và hạn chế tác động tiêu cực của nó cần nâng cao năng lực khu vực kinh tế trong nước. Nâng cao năng lực khu vực kinh tế trong nước xét dưới góc độ QLNN trước hết cần quán triệt quan điểm các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có được sức mạnh cạnh tranh khi được phát triển trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường nội địa và tiến tới trên thị trường quốc tế theo lịch trình mà Việt Nam đã cam kết tham gia trong khuôn khổ AFTA, trong hiệp định thương mại Việt Mỹ và các hiệp đinh khi gia nhập WTO. Chính quá trình cạnh tranh mới tạo ra động lực cho khu vực kinh tế trong nước nâng cao khả năng hợp tác đầu tư, khai thác thế mạnh của FDI về công nghệ, về quản lý và thị trường. trên cơ sở đó cùng với sự nâng đỡ có trọng điểm của Nhà nước để từng bước chuyển hóa thế mạnh FDI thành thế mạnh của các doanh nghiệp trong nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Phương hướng Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
2.1. Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước với FDI một cách toàn diện
Tầm vĩ mô, QLNN được nâng cao thông qua khả năng vận dụng các công cụ điều hành kinh tế vĩ mô tạo môi trường đầu tư có hiệu quả cho hoạt động FDI. Đó là các công cụ quản lý như tỷ giá hối đoái, lãi suất, phát triển hệ thống ngân hàng, tạo sự lành mạnh cho thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ và thị trường hàng hóa. Đây là những yếu tố liên quan mật thiết đến hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. tầm vi mô, tính toàn diện và đồng bộ của hoạt động QLNN được thể hiện ở khả năng hoàn thiện cơ chế quản lý và các thủ tục để điều hành công tác quản lý từ khâu vận động đầu tư hình thành dự án, thẩm định cấp giấy phép, triển khai dự án và quản lý khi dự án đi vào hoạt động trên tinh thần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động đầu tư và kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, bên cạnh đó cũng nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, thế mạnh của FDI và hạn chế tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực của nó.
2.2. Thường xuyên quán triệt nguyên tắc hai bên cùng có lợi, xử lý thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa hai bên nước ngoài và Việt Nam
QLNN đối với hoạt đồng FDI vừa phải đảm bảo thực hiện được mục tiêu kinh tế xã hội đặt ra, vừa đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền dân tộc và pháp luật Việt Nam.
Lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài được đảm bảo trên cơ sở hoạt động kinh doanh có lãi, còn lợi ích của Việt Nam được thể hiện thông qua hiệu quả kinh tế xã hội khi sử dụng vốn đầu tư nước ngoài. Hiệu quả sử dụng vốn nước ngoài đối với một quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư không chỉ được đánh giá thông qua tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn thể hiện hiệu quả của việc chuyển giao công nghệ, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh đó cũng cần chú ý tới hiệu quả về mặt xã hội như tác động tới môi trường, ảnh hưởng tới văn hóa xã hội.
2.3. Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước được thể hiện thông qua đổi mới phương pháp hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật theo nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi hơn, định hướng lâu dài và ngày càng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế
Việc hoạch định chính sách pháp luật áp dụng với đầu tư nói chung và FDI nói riêng là khâu quan trọng trong việc hoạt động QLNN đối với khu vực này. Các chính sách và quy định của pháp luật là cơ sở hình thành nề nếp làm ăn và phương thức kinh doanh của nhà đầu tư bởi hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính dài hạn. Đây là nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động đầu tư. Chính vì vậy, chính sách và pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh cũng phải đảm bảo tính thống nhất, ổn định và đảm bảo tính lâu dài, nếu không sẽ phá vỡ toàn bộ kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư. Mặt khác, hoạch định chính sách pháp luật đối với đầu tư nước ngoài cần tuân theo những thông lệ và tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế, nhất là những yêu cần về hội nhập khu vực và toàn cầu, làm định hướng lâu dài cho công tác hoạch định chính sách pháp luật. Như thế, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không cảm thấy bỡ ngỡ e ngại khi đầu tư vào một môi trường kinh doanh mới.
2.4. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
Việc cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa là điều kiện tiên quyết cho việc nâng cao hiệu quả QLNN đối với FDI. Chính các thủ tục hành chính phiền hà, phức tạp rắc rối trong thời gian qua đã gây nhiều ách tắc, cản trở đối với hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Phương hướng cải cách thủ tục hành chính thể hiện ở việc đơn giản hóa các bộ phận trong bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn, thực hiện chế độ hành chính theo cơ chế “một cửa”, xóa bỏ các đầu mối trung gian, đảm bảo phối hợp thống nhất giữa các cơ quan QLNN từ Trung Ương tới địa phương và các cơ quan quản lý ngành, quản lý các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước của các doanh nghiệp. Nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, tránh tình trạng gây sách nhiễu đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi giải quyết các thủ tục hành chính.
2.5. Đổi mới công tác kiểm tra giám sát Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Hoạt động kiểm tra, giám sát phải gắn với mục đích hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả theo quy định của pháp luật. Do đó, hoạt động kiểm tra, thanh tra và giám sát phải được đổi mới phương thức hoạt động theo hướng gắn với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chuyển từ hình thức kiểm tra trực tiếp sang hình thức giám sát thông qua thiết lập hệ thống thông tin và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan QLNN, nâng cao năng lực của bộ máy quản lý. Hoạt động kiểm tra, thanh tra tránh tình trạng tùy tiện làm giảm uy tín và hiệu lực của hoạt động kinh tế, của bộ máy Nhà nước và gây tâm lý e ngại từ phía các nhà đầu tư nước ngoài.
2.6. Tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Hoạt động QLNN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gắn liền với việc mở rộng phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp không chỉ trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Do đó, việc chính phủ mở rộng quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng việc phê chuẩn các hiệp định quốc tế về đầu tư, thương mại và dịch vụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ đầu tư trong khu vực và toàn cầu, ký kết các hiệp định song phương, đa phương, phát triển các hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại có nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển của doanh nghiệp. Đây là một trong những điều kiện quan trọng phục vụ cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo phạm vi hoạt động rộng hơn cho doanh nghiệp và phát huy một cách hiệu quả tác động của các công cụ QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
II. Giải pháp nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với FDI Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách thủ tục hành chính về đầu tư nước ngoài
1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật
Xây dựng hệ thống luật pháp và các chính sách có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam một cách đồng bộ, đảm bảo tính rõ ràng, nhất quán, dễ hiểu, dễ thực hiện đối với tất cả các nhà đầu tư.
Từ thực tiễn phát triển với một đạo luật chuyên ngành về ĐTNN tại Việt Nam hơn 20 năm trước đây tới nay nước ta đã có cả khuôn khổ pháp luật về đầu tư nói chung và ĐTNN nói riêng khá đồ sộ, với hàng chục đạo luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Nếu cộng thêm cả các văn bản dưới luật, tức là các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành và địa phương thì số lượng các văn bản mà nhà ĐTNN cần tuân thủ khi đầu tư tại Việt Nam là rất đồ sộ. Điều này đem lại hệ quả là nhà ĐTNN có thể đang bị rơi vào một “rừng luật”, dễ bị lạc hướng, vấp ngã. Thêm vào đó, với thực tiễn và năng lực xây dựng và pháp luật hiện nay của nước ta thì khả năng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật khác nhau là có, thậm chí là rất nhiều. Chính vì vậy, một điều quan trọng là Cơ quan QLNN về ĐTNN cần sớm tiến hành rà soát toàn bộ các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh đầu tư nói chung và ĐTNN nói riêng để có thể hệ thống hoá, phận loại, pháp điển hoá, loại bỏ những quy định không còn hiệu lực hay mâu thuẫn, chồng chéo, giúp cho khuôn khổ pháp luật về ĐTNN được đơn giản và thuận lợi hơn cho việc chấp hành, tuân thủ và thực hiện; cũng là để cho dễ áp dụng hơn đối với các thiết chế giải quyết tranh chấp khi xảy ra.
Tính ổn định của luật pháp, chính sách của ta chưa cao. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi đột ngột của luật pháp và chính sách đã làm đảo lộn phương án kinh doanh của các nhà đầu tư. Hoặc có nơi, việc vận dụng luật pháp, chính sách thiếu thống nhất, tùy tiện, có khi phụ thuộc vào ý chí của người thi hành công vụ… Tiến hành cải cách, sửa chữa những thiếu sót này, tức là chúng ta đã góp phần đáng kể vào việc làm thay đổi, chuyển biến theo hướng tích cực của môi trường đầu tư. Và tốc độ khắc phục những tồn tại, thiếu sót và xây dựng đồng bộ hệ thống luật pháp khoa học, phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tiễn là một trong những yếu tố quyết định tốc độ rút ngắn khoảng cách về độ hấp dẫn của môi trường đầu tư giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Không thể xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh tất cả các vấn đề của một lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội, mà cần xây dựng một cách đồng bộ cả hệ thống pháp luật như một chỉnh thể thống nhất. Điều này không đồng nghĩa với việc phải xây dựng cùng một lúc tất cả các đạo luật mà việc xây dựng luật cần được xác định dựa trên cơ sở những chương trình xây dựng pháp luật được soạn thảo một cách khoa học, công phu, được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và năng lực lập pháp và thực thi pháp luật của nước ta. Thực tiễn cho thấy Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987, dù có được sửa đổi nhiều lần, nhưng cũng không thể điều chỉnh hết các vấn đề đặt ra. Chính vì vậy, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về ĐTNN trong thời gian tới cần gắn chặt với việc thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các nỗ lực cải cách hành chính, hội nhập kinh tế quốc tế, lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế liên quan tới đầu tư…
Cụ thể hơn, các nhà lập pháp khi xem xét sửa đổi, hoàn thiện pháp luật ĐTNN tại Việt Nam, phải luôn luôn xác định nó trong mối liên hệ với các đạo luật khác, với cả hệ thống pháp luật, không chỉ những cái hiện hành, mà phải tính đến những dự báo hoàn thiện trong thời gian tới.
Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về ĐTNN không thể tách khỏi việc quan tâm và làm tốt hơn công tác thực thi pháp luật về ĐTNN. Mặc dù nhiều quy định pháp luật về ĐTNN của Việt Nam được đánh giá là thông thoáng, thuận lợi cho nhà ĐTNN, nhưng nếu nhìn vào những thông tin đánh giá về độ tin cậy hay mức độ thực thi các quy định pháp luật này trên thực tế thì chúng ta phải nhận ra “khoảng cách” giữa văn bản pháp luật và thực tiễn thi hành. Cơ chế giải quyết các tranh chấp, kể cả cơ chế toà án và trọng tài liên quan tới nhà ĐTNN trong quan hệ với cơ quan Nhà nước và đối tác kinh doanh, chưa thực sự nhận được sự chấp nhận rộng rãi trong các nhà ĐTNN. Một trong những văn bản quan trọng đặc trưng của nền kinh tế thị trường là Luật Phá sản, theo đánh giá của nhiều nhà đầu tư, là chưa đủ đi vào cuộc sống. Công việc nâng cao năng lực, hiệu quả áp dụng và thực thi pháp luật là công việc phức tạp, đòi hỏi thời gian công sức, kể cả việc phải làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng pháp luật, đào tạo nghề nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật của mọi người, nhất là cán bộ, công chức, thực thi có hiệu quả pháp luật về phòng chống tham nhũng (tức yếu tố con người), tới các vấn đề về tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, đây là công việc nước ta có thể làm được và phải làm tốt khi tất cả chúng ta cùng quyết tâm và chia sẻ công việc này.
Tiếp tục nghiên cứu và sớm cho sửa đổi một số chính sách nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chẳng hạn, sửa đổi bổ sung một số chính sách có liên quan tới quyền sử dụng đất, về giải phóng mặt bằng, … Phát triển mạnh và đồng bộ hệ thống thị trường vốn nhằm tạo ra các điều kiện để hầu hết các doanh nghiệp có thể huy động vốn cho đầu tư một cách thuận lợi, cũng như có thể tham gia đầu vào mọi lĩnh vực mà Nhà nước không cấm. Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan tới ĐTNN trong 20 năm qua cũng cho nước ta không ít bài học kinh nghiệm. Chẳng hạn, đối với không ít quy định pháp luật trong nước về ĐTNN có khi là mới và phức tạp đối với chúng ta, nhưng đó lại là những quy định thường thấy trong pháp luật về đầu tư của các nước hay trong các điều ước quốc tế hiện đại về đầu tư trên thế giới. Do đó, việc thường xuyên nghiên cứu, đánh giá, tổng kết về việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế của Việt Nam về đầu tư, cũng như việc tìm hiểu, lựa chọn những quy định thích hợp của pháp luật quốc tế và nước ngoài để tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về đầu tư là điều quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc tiếp tục nghiên cứu để chuẩn bị đàm phán, ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế, kể cả Công ước Washington năm 1965 về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước và công dân của Nhà nước khác, tham gia tích cực và chủ động vào việc đàm phán các nội dung của Vòng đàm phán Doha (hiện đang đi vào giai đoạn cuối cùng) trong khuôn khổ WTO và một số điều ước về đầu tư khác…cần có sự quan tâm thích đáng. Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng năm 2020.
Pháp luật về ĐTNN của Việt Nam tuy vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, nhưng là một bộ phận quan trọng của pháp luật Việt Nam, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Chính sách tiếp tục thu hút mạnh ĐTNN của Đảng và Nhà nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà hầu hết các nước đều đã mở cửa đón nhận và cạnh tranh để có được ĐTNN, đang đặt ra những yêu cầu mới cho việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về ĐTNN tại Việt Nam.
1.2. Đơn giản hóa thủ tục hành chính
QLNN đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài có một vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI. Xét trên nhiều khía cạnh, QLNN về kinh tế nói chung và về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng thuộc về môi trường đầu tư theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng có vai trò riêng của nó.
Tác động của QLNN đối với hoạt động FDI được quy định bởi mức độ can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động này. Mỗi quốc gia có đường lối và chiến lược phát triển kinh tế riêng, do đó có những quy chế quản lý riêng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài. Song trong điều kiện khu vực hóa và toàn cầu hóa, các quy chế này phải tiến đến những chuẩn mực chung, và hơn nữa mang tính cạnh tranh so với các nước khác. Như vậy, quan điểm chỉ đạo trong việc đổi mới QLNN về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là đơn giản hóa, thuận lợi hóa và tự do hóa. Các tài liệu hiện có và những quan sát thực tế cho thấy chúng ta còn có rất nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này.
Trước hết, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục đăng ký đầu tư, hạn chế và xóa bỏ những thủ tục rườm rà, phức tạp, khó hiểu và khó vận dụng trong thực tế. Bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục, cần phải rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, tránh những thủ tục trùng lặp. Cần phải thống nhất các quy định, thứ tự thực hiện các thủ tục hành chính trong tổng thế quy trình đăng ký đầu tư để có thể thực hiện đồng nhất ở các địa phương.
Phân định rõ và xóa bỏ những chồng chéo về QLNN đối với hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ yếu là giữa Bộ Kế hoạch Đầu tư, chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ban quản lý các KCN-KCX.
Tuy nhiên, việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư không chỉ đơn thuần là “cắt xén” mà phải dựa trên các tiêu chí như: sự cần thiết, tính hợp lý và tính hợp pháp của thủ tục. Trong khi đó, không ít thủ tục trong lĩnh vực đầu tư, có nhiều quy định liên quan đến doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài nên nếu bãi bỏ, sửa đổi không khéo sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nhưng nếu quy định quá chặt chẽ sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoặc vi phạm các quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Chính vì vậy, để đảm bảo việc đơn giản hóa thủ tục, cần phải huy động lực lượng chuyên gia có kinh nghiệm tham gia rà soát lại thủ tục. Bên cạnh đó cũng cần tăng cường thu thập kiến nghị của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài về thủ tục hành chính, khảo sát thực tiễn những thủ tục hiện hành, so sánh với những quốc gia đang phát triển có điều kiện tương đối giống Việt Nam để từ đó xem xét đơn giản hóa lại thủ tục.
2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước đối với các dự án FDI Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Tiếp tục thực hiện phân cấp QLNN về ĐTNN cho các địa phương. Phân cấp QLNN về ĐTNN cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các Ban quản lý KCN phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất về quy hoạch, cơ cấu, chính sách, cơ chế quản lý; tăng cường sự hướng dẫn và kiểm tra, giám sát của các Bộ, Ngành trung ương; nâng cao kỷ luật thực hiện để vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, vừa tránh phá vỡ quy hoạch, tránh mọi sơ hở. Việc phân cấp liên quan đến mọi khâu của QLNN đối với FDI, kể cả các khâu trước và sau khi cấp giấy phép đầu tư.
Cần hoàn thiện cơ chế giám sát đánh giá đầu tư, nâng cao tính minh bạch chính xác của các báo cáo giám sát đánh giá cũng như cụ thể hóa các chế tài xử lý phạm để nâng cao chỉ số lòng tin đối với những người quyết định đầu tư dự án.
Cần ban hành cơ chế pháp lý thống nhất để các cơ quan QLNN tổ chức giám sát, đánh giá toàn bộ hoạt động đầu tư theo đúng quy định.
Chú trọng vào công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật của các địa phương tránh tình trạng ban hành chính sách ưu đãi vượt khung; giảm dần sự tham gia trực tiếp của cơ quan quản lý trung ương vào xử lý các vấn đề cụ thể, trong đó nhiệm vụ giám định đầu tư và hậu kiểm được tăng cường; đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý từ trung ương đến địa phương thông qua tổ chức tập huấn, đào tạo ngắn hạn.
Thực hiện có hiệu quả cơ chế “một cửa” trong thủ tục hành chính và giải quyết kịp thời các vấn đề vướng mắc phát sinh giúp các doanh nghiệp triển khai dự án thuận lợi; khuyến khích họ đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn. (Đây là cách tốt nhất chứng minh có sức thuyết phục về môi trường ĐTNN ở Việt Nam đối với các nhà ĐTNN tiềm năng).
Không ngừng hoàn thiện bộ máy QLNN đối với các doanh nghiệp có vốn FDI, đảm bảo phân công, phân nhiệm rõ trách nhiệm, quyền hạn và thẩm quyền đối với các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương có liên quan trong quản lý và thẩm định cấp giấy phép đầu tư nước ngoài. Từng bước hoàn thiện quy trình quản lý kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp sau khi được cấp giấy phép đầu tư cũng như tập trung tháo gỡ những khó khăn và vướng mắc trong việc triển khai thực hiện dự án, hỗ trợ các doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Kiên quyết giải thể các dự án không có khả năng triển khai nhằm thu hồi đất cho các dự án mới, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án lớn, các dự án chuyển giao công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở mục tiêu thu hút FDI cần đặc biệt chú ý xây dựng chiến lược thu hút FDI và coi đó là một bộ phận trong tổng thể của nền kinh tế nói chung và chiến lược kinh tế đối ngoại nói riêng. Chiến lược thu hút FDI phải thống nhất với chiến lược kinh tế đối ngoại và phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Từng bước nâng cao chất lượng của công tác dự báo về xu hướng phát triển kinh tế quốc tế và tăng cường dự trữ quốc gia để chủ động đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm đối phó với những biến động của thị trường quốc tế, giúp các doanh nghiệp giảm bớt rủi ro trong đầu tư và kinh doanh. Việc thực hiện chức năng dự báo và chịu trách nhiệm về chất lượng dự báo thuộc về các cơ quan quản lý vĩ mô của Chính phủ, gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ quản lý ngành và quản lý chức năng khác. Thay vì tập trung vào những công việc điều hành mang tính chất tác chiến, các cơ quan này cần tập trung vào việc dự báo ngắn hạn và trung hạn, từ đó tham mưu cho Chính phủ điều chỉnh các chính sách một cách kịp thời và có hiệu quả đối với những biến động bất lợi trên trường quốc tế.
Hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài bằng cơ chế chính sách khuyến khích, ưu đãi trong lập qũy, vay vốn đầu tư ; đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc cấp phép, mở rộng chế độ đăng ký cấp phép. Tiến hành rà soát những lĩnh vực cấm đầu tư và lĩnh vực hạn chế đầu tư, kết hợp với những thoả thuận theo các hiệp định và điều ước song phương, đa phương mà Việt Nam đã ký kết để đưa ra một cơ chế cho phép rộng rãi hơn với đầu tư nước ngoài.
Giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước và các nhà đầu tư nước ngoài trong phát triển các doanh nghiệp có vốn FDI. Mục đích của các nhà đầu tư là tối đa hoá lợi nhuận, còn mục đích của Nhà nước là hiệu quả kinh tế – xã hội mà các dự án đem lại. Vì thế cần phải xem xét đến nhu cầu, khả năng và lợi thế của mỗi bên, hợp tác đầu tư giữa Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài thực chất là tìm “điểm gặp nhau” về lợi ích trên nguyên tắc thoả thuận, tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Để xử lý thoả đáng mối quan hệ này cần phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa quyền QLNN và quyền tự chủ của các doanh nghiệp có vốn FDI. Về phần vốn, tài sản hoặc tài nguyên của Nhà nước trong các doanh nghiệp, cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản để từ đó xác định quyền hạn, trách nhiệm của những người thay mặt Nhà nước quản lý và sử dụng.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy mạnh ban hành các cơ chế khuyến khích FDI
Chính sách ưu đãi về đất đai
Thực hiện tốt chính sách về đất đai, giải phóng mặt bằng. Sớm chấm dứt cơ chế góp vốn đầu tư bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển sang thực hiện chế độ Nhà nước cho thuê đất dài hạn (khoảng 50-70 năm), thu tiền một lần khi kí hợp đồng đất để bổ sung cho các quỹ phát triển của thành phố. Theo đó, các nhà đầu tư có toàn quyền định đoạt, sử dụng, cho thuê, thế chấp trong thời hạn thuê đất. Giảm mức tiền thuê đất và các chi phí dịch vụ khác. Điều chỉnh, sắp xếp lại danh mục các địa bàn quận-huyện khi xác định tiền cho thuê đất phù hợp với thực tế khả năng thu hút đầu tư từ nước ngoài.
Tiếp tục bổ sung quy đất cho phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và cho phép chuyển một phần đất nông, lâm nghiệp để hình thành các cụm công nghiệp theo quy hoạch. Xây dựng các chính sách ưu đãi về đất đai nhằm khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh.
Đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất, cần có cơ chế riêng về cho thuê đất, theo nguyên tắc giảm tới mức tối thiểu tiền cho thuê; trong một số trường hợp đặc biệt, có thể không thu tiền thuế đất trong một thời hạn nhất định. Áp dụng thống nhất một chính sách đền bù khi Nhà nước thu hồi đất (không phân biệt đất dùng cho an ninh – quốc phòng hay đầu tư nước ngoài). Giá đất tính đền bù phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm hiện hành. Đơn giản hoá các thủ tục giao đất, cho thuê đất. Tổ chức được giao đất, thuê đất có trách nhiệm chi trả tiền đền bù cho người có đất bị thu, nhưng phía Việt Nam phải chịu trách nhiệm giải toả mặt bằng và chỉ giao đất cho chủ dự án FDI khi đã giải quyết xong mặt bằng. Khẩn trương công bố và cắm mốc thực địa công khai các quy hoạch đất đai. Mặt khác, nới lỏng, tự do hoá việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để kích thích đầu tư xây dựng từ mọi nguồn vốn trong và ngoài nước, phát triển mạnh mẽ thị trường bất động sản trên địa bàn. Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Chính sách ưu đãi về tài chính ngoại hối
Trong chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài của các nước, khuyến khích về tài chính luôn chiếm vị trí quan trọng và luôn được coi là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Các khuyến khích về tài chính thường bao gồm các mức thuế, thời gian miễn giảm thuế, ưu đãi tín dụng, lệ phí và quy định thời gian khấu hao. Đây là những công cụ quan trọng không chỉ tạo nên sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn hướng dẫn họ đầu tư theo định hướng phát triển của nước chủ nhà.
Mức độ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào việc quy định mức thuế đầu tư đối với họ. Nếu các mức thuế đầu tư thấp và hợp lý sẽ góp phần giảm được chi phí đầu tư, nhờ đó tăng cơ hội thu lợi nhuận cao. Mặt khác, cơ cấu thuế đầu tư còn ảnh hưởng đến việc lựa chọn đối tượng, định hướng, quy mô và hình thức đầu tư. Để khuyến khích đầu tư nước ngoài theo định hướng phát triển của nước chủ nhà, các lĩnh vực, định hướng, hình thức đầu tư ưu tiên thường được áp dụng mức thuế suất thấp. Vì vậy, cần tiếp tục duy trì các ưu đãi về thuế suất và miễn giảm thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất… cho các doanh nghiệp FDI. Cần áp dụng luật thuế một các nhất quán, tránh thay đổi nhiều lần gây tâm lý lo lắng cho doanh nghiệp, làm ảnh hướng tới kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp.
Giảm thuế thu nhập cá nhân cho các chuyên gia khoa học trong nước và nước ngoài thực hiện chuyển giao công nghệ. Tăng chi ngân sách Nhà nước và khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển các dịch vụ đào tạo nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức Nhà nước các cấp và lao động Việt Nam liên quan đến công tác quản lý hoặc trực tiếp làm việc trong các DN có vốn Đầu tư nước ngoài. Có quy định khuyến khích tài chính (giảm thuế) cụ thể đối với các dự án FDI về đào tạo công nghệ, tay nghề, huấn luyện kĩ thuật, đào tạo công nhân và người quản lý cho các dự án đầu tư trung và dài hạn.
Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường vốn, được vay tín dụng, kể cả trung và dài hạn tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và có thể đảm bảo bằng tài sản của các công ty mẹ ở nước ngoài.
Xây dựng Quy chế quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp FDI, ban hành các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp; đồng thời đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Thêm vào đó, cần bổ sung các chính sách ưu đãi có sức hấp dẫn cao đối với những lĩnh vực, địa bàn cần thu hút ĐTNN:
- Thực hiện chính sách thuế khuyến khích các dự án công nghệ cao, sản xuất thiết bị điện tử, viễn thông, cơ khí chế tạo, công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện; khuyến khích đẩy nhanh chương trình nội địa hóa, chuyển giao công nghệ; sử dụng các sản phẩm trung gian phục vụ xuất khẩu.
- Bổ sung các ưu đãi cao hơn đối với các dự án chế biến nông, lâm, thủy sản; đầu tư vào nông thôn và các địa bàn khó khăn, các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội như các ưu đãi về thuế, ưu đãi về sử dụng đất đai. Có chính sách hỗ trợ cần thiết để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến xuất khẩu.
- Sử dụng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích ĐTNN hướng mạnh vào xuất khẩu (khuyến khích chế biến sâu, sử dụng nguyên vật liệu sẵn có trong nước, tạo giái trị gia tăng cao) và khai thác thị trường xuất khẩu mởi, sản phẩm xuất khẩu mới.
- Đối với một số dự án đặc biệt quan trọng, cần xử lý đặc cách và có chính sách hỗ trợ hợp lý trong khuôn khổ những cam kết theo lộ trình hội nhập.
3. Đẩy mạnh công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội phục vụ việc thu hút vốn FDI Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Quy hoạch rõ ràng, môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, không phân biệt đối xử là một trong những yêu cầu hàng đầu của nhà đầu tư. Bởi vậy, vấn đề quy hoạch là một trong những công tác được đặt lên hàng đầu trong công tác QLNN đối với FDI. Các quy hoạch phải gắn bó với nhau và đảm bảo tính hiệu quả. Đặc biệt, quy hoạch của từng địa phương cần được xây dựng dựa trên quy hoạch vùng. Quy hoạch ngành phải gắn với quy hoạch vùng và phù hợp với các thỏa thuận và các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập.
Bộ Kế hoạch và đầu tư cần làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu. Trước hết, cần khẩn trương quy hoạch các KCN, KCX các sản phẩm quan trọng thuộc các ngành công nghiệp chế biến như: chế biến thực phẩm, dệt may; công nghiệp chế tạo như cơ khí, hóa chất, điện tử, vật liệu xây dựng,…; công nghiệp hóa lọc dầu, công nghiệp luyện kim, công nghệ thông tin. Trên cơ sở đó, xác định các dự án trong nước tự đầu tư hoặc vay vốn để đầu tư, những dự án có thể kêu gọi đầu tư theo ngành và lãnh thổ cũng như xác định yêu cầu tương ứng về công nghệ.
Cần công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất một cách có hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
Các ngành cần hoàn chỉnh thêm một bước quy hoạch, phối hợp với các thành phố, địa phương xây dựng quy hoạch trên địa bàn lãnh thổ, nhằm thu hút một cách hiệu quả hơn, đảm bảo quản lý thuận tiện và khắc phục tình trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng. Trừ một số dự án đặc thù như khai thác chế biến khoáng sản, chế biến nông sản gắn với vùng nguyên liệu; các dự án đầu tư vào miền núi, Tây Nguyên,… cần tập trung hơn, giảm bớt tỷ lệ đầu tư phân tán. Hướng dẫn công bố rộng rãi các danh mục các ngành, lĩnh vực đầu tư vào các khu vực nói trên.
Cần quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của Luật đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế, bảo đảm quốc phòng an ninh.
Trong việc quy hoạch vùng lãnh thổ cần chú ý tới các điểm sau:
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu, rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án.
- Cần phải tính đến yếu tố vùng, miền cho các định hướng ưu tiên, đặc thù phù hợp với thực tế để dần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn nói riêng và cả nước nói chung. Như vậy thì việc sử dụng nguồn vốn ĐTNN mới phát huy được tác dụng và đạt được mục đích sử dụng nguồn vốn này là phát triển kinh tế đất nước.
4. Đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Những kết quả thu hút FDI thời gian gần đây không thể thiếu vai trò của công tác xúc tiến đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư đã thu được những kết quả nhất định, góp phần xây dựng hình ảnh môi trường đầu tư hấp dẫn tại Việt Nam. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều bất cập và cần có những giải pháp hoàn thiện, đổi mới.
Cần tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư, chú trọng các đối tác chiến lược. Cùng với việc tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu về môi trường đầu tư chung tại các địa bàn và đối tác đã được nghiên cứu và xác định qua kinh nghiệm vấn đề đầu tư tại Nhật Bản vừa qua, cần tăng cường vận động trực tiếp các tập đoàn lớn đầu tư vào các dự án cụ thể. Bên cạnh đó, tổ chức các cuộc hội thảo chuyên ngành, hoặc lĩnh vực tại các địa bàn có thế mạnh với sự tham gia của các cơ quan chuyên ngành.
Cần xây dựng bộ máy cơ quan XTĐT chuyên nghiệp từ trung ương tới địa phương, với tư cách là bộ phận cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư. Cần xác lập cơ chế trao đổi, phối hợp giữa cơ quan XTĐT ở trung ương với địa phương và giữa các địa phương với nhau. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác giữa cơ quan XTĐT trong nước với bộ phận XTĐT vủa Việt Nam tại nước ngoài.
Kết hợp với các chuyến đi thăm, làm việc nước ngoài của các nhà lãnh đạo Đảng, Chính phủ để tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu môi trường đầu tư, mời các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại các cuộc hội thảo nhằm xây dựng hình ảnh tốt về sự quan tâm của Chính phủ đối với ĐTNN.
Công tác vận động xúc tiến đầu tư cũng cần được đổi mới trên cơ sở đa dạng hóa các phương thức xúc tiến đầu tư. Nâng cao chất lượng thông tin, ấn phẩm tuyên truyền về đầu tư, đổi mới các phương pháp trình bày tại các hội thảo, các phương tiện nghe nhìn nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư… Nâng cấp trang thông tin website về ĐTNN. Biên soạn lại các tài liệu giới thiệu về ĐTNN (guidebook, in tờ gấp giới thiệu về cơ quan quản lý đầu tư, cập nhật các thông tin về chính sách, pháp luật liên quan đến ĐTNN).
Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gian thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,…; chú trọng và đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định đầu tư song phương giữ Việt Nam và các đối tác lớn.
Xây dựng văn bản pháp quy về công tác Xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trong công tác QLNN, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư.
Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư. Vận động và phối hợp các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở các lớp đào tạo về xúc tiến quản lý ĐTNN, tiếp tục kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư với các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh đạo cấp cao Đảng, Quốc hội, Chính phủ nhằm quảng bá môi trường đầu tư Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư – thương mại – du lịch; khẩn trương triển khai việc thành lập các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm theo kế hoạch.
5. Nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác quản lý FDI Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, yếu tố con người bao giờ cũng quyết định đến mức độ thành công của hoạt động. Hiện nay, trình độ của đội ngũ cán bộ QLNN đối với nguồn vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều bất cập. Do đó, cần chú trọng công tác bồi dường năng lực cho đội ngũ cán bộ.
Trước hết là về năng lực công tác. Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, công chức Nhà nước, và công nhân kỹ thuật. Theo đó, xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dự án cả về kiến thức phát luật, các quy trình thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA cả về ngoại ngữ và các kiến thức quản lý dự án theo các chuẩn mực quốc tế. Chuyên môn hoá các Ban quản lý dự án và giảm tình trạng cán bộ kiêm nhiệm. Các ban quản lý dự án chú trọng hơn đến hình thức đào tạo tại chỗ: bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ thông thạo chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, ngoại ngữ, kinh nghiệm quản lý hiện đại…Công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ cho cán bộ quản lý dự án phải phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện này. Song song với việc đào tạo kiến thức cơ bản cần tạo điều kiện cho cán bộ quản lý nghiên cứu về kinh tế thị trường và các kiến thức liên quan như thị trường vốn, thị trường xây dựng, thị trường bất động sản,… Cần xây dựng các cơ chế thích hợp, tạo điều kiện để cán bộ các ngành tham dự các khoá đào tạo chuyên sâu, tập huấn, tham quan khảo sát chuyên đề ở nước ngoài, học hỏi các kinh nghiệm phục vụ ứng dụng vào thực tế của thành phố. Trao đổi cán bộ giữa các ban quản lý dự án, cũng là hình thức để học hỏi kinh nghiệm quản lý và thực hiện dự án.
Thứ hai là về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Các cán bộ QLNN cần phải tự tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, nêu cao ý thức trách nhiệm công việc, nâng cao tính tự trọng và tự hào nghề nghiệp. Có như vậy, xử lý công viêc mới hiệu quả hơn, khắc phục được tư tưởng ỷ lại, trông chờ, tạo ra chuyển biến tích cực trong quản lý.
Nhà nước cũng cần quan tâm nhiều hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ trong công tác, đồng thời phải căn cứ vào kết quả công tác của họ để có chế độ đãi ngộ đối xử công bằng, trả lương thỏa đáng theo chức năng, nhiệm vụ dựa trên kết quả và chất lượng công việc của cán bộ quản lý dự án.
KẾT LUẬN
Thu hút FDI là tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhất là trong xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay. Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI một cách có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào chính sách QLNN đối với FDI của mỗi quốc gia.
Việt Nam tuy là nước đi sau trong lĩnh vực thu hút FDI so với nhiều nước khác trên thế giới nhưng cũng đã bước đầu xây dựng được một hệ thống quản lý FDI bao gồm các công cụ quản lý, các hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và cách thức quản lý dành riêng cho hình thức đầu tư này. Hệ thống QLNN đối với FDI của nước ta đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện qua những thành tựu đáng kể mà nguồn vốn FDI đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước. Nhờ có các công cụ quản lý của Nhà nước đối với FDI, môi trường đầu tư đã được cải thiện đáng kể, có sức hấp dẫn đối với các nhà ĐTNN, tạo ra những thành công lớn trong hoạt động thu hút FDI. Những thành tựu đạt được trong hoạt động này, đến lượt nó, đã có ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội của công cuộc đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới cũng như bối cảnh kinh tế vĩ mô của đất nước có nhiều biến động, sự tăng trưởng mạnh mẽ, mang tính đột biến của nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian qua đã làm cho những mặt hạn chế vốn có nhưng chưa hoặc chậm được khắc phục của hệ thống QLNN ngày càng bộc lộ rõ nét và trở nên gay gắt hơn. Đó là những hạn chế trong công tác hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách; công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng; công tác xúc tiến đầu tư;… Những hạn chế đó cần phải được khắc phục triệt để, đặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hiệp định song phương, khu vực và đa phương cũng như các diễn đàn, các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới để có thể phù hợp với yêu cầu của các tổ chức quốc tế cũng như “luật chơi chung” của thế giới.
Để có thể tiếp tục quá trình hoàn thiện công tác QLNN đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách có hiệu quả, trước hết cần phải đánh giá lại thực trạng quản lý trong thời gian qua bên cạnh đó cũng cần nhận định rõ bối cảnh, tình hình trong nước cũng như thế giới; phải nhất quán các quan điểm, nguyên tắc của Đảng và Nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập đầu tư quốc tế nói riêng; đồng thời nắm vững các mục tiêu, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thu hút FDI cũng như hội nhập đầu tư quốc tế. Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý FDI tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam